Phòng chờ của bác sĩ Gordon yên tĩnh và toàn một màu be.
Tường màu be, thảm màu be, ghế đệm và sofa đều màu be. Trên tường chẳng có gương hoặc tranh ảnh gì, chỉ thấy treo các loại bằng cấp khác nhau của các trường Y với tên của bác sĩ Gordon bằng tiếng La tinh. Những bình gốm cắm dương xỉ xanh nhạt chen lẫn loại cây lá kim đặt trên những chiếc bàn trà, bàn cà phê và bàn để tạp chí.
Thoạt tiên tôi tự hỏi tại sao căn phòng lại toát ra vẻ bình yên đến thế. Về sau tôi chợt nhận ra là nó không có một cửa sổ nào.
Máy lạnh chạy làm tôi run lên.
Tôi vẫn còn mặc chiếc áo trắng và váy xanh của Betsy. Bộ đồ đã trở nên nhàu nhĩ vì ba tuần không giặt. Lớp vải đẫm mồ hôi toát ra một mùi chua chua gần gũi.
Tôi cũng chẳng gội đầu suốt ba tuần nay.
Tôi cũng chẳng chợp mắt được bảy ngày rồi.
Mẹ bảo tôi phải gắng ngủ lấy một chút, không thể nào thức trắng suốt một thời gian dài như vậy, nhưng hễ lên giường là mắt tôi lại mở thao láo, dõi theo những chiếc kim giây, kim phút, kim giờ dạ quang của chiếc đồng hồ để cạnh giường, hoặc quay một vòng, hoặc quay nửa vòng, cứ thế trong suốt bảy đêm liền, không bỏ một giây, một phút hay một giờ nào.
Lý do tôi không giặt đồ hoặc gội đầu là vì công việc đó xem ra thật ngớ ngẩn.
Tôi thấy năm tháng của cuộc đời trải dài trước mặt tựa một chuỗi những chiếc hộp trắng sáng ngời, từng chiếc được ngăn cách nhau bởi những giấc ngủ, như những bóng đen. Đối với tôi, bóng đen chia cắt những chiếc hộp này đột nhiên biến mất, và tôi thấy ngày nối tiếp ngày phía trước mặt chỉ còn như một đại lộ thênh thang, trắng xóa và tột cùng hoang vu.
Và có vẻ thật ngớ ngẩn nếu tôi phải giặt giũ hôm nay rồi lại tiếp tục phải làm chính việc ấy vào hôm sau.
Chỉ nghĩ đến thôi cũng đủ làm tôi phát mệt.
Tôi ước sao việc gì cũng chỉ làm một lần là xong vĩnh viễn.
Bác sĩ Gordon quay quay cây bút chì màu bạc.
“Mẹ cô cho tôi biết là cô đang chán nản.”
Tôi ngồi thu mình trong chiếc ghế bọc da, đối diện với bác sĩ Gordon qua một mặt bàn làm việc bóng lộn.
Bác sĩ Gordon chờ đợi. Ông ta gõ nhè nhẹ cây bút lên tập giấy nháp gọn ghẽ màu xanh.
Lông mi ông ta vừa dài vừa dày, trông như lông mi giả. Hai hàng mi viền quanh đôi mắt xanh lạnh như hai hồ băng.
Nét mặt của bác sĩ Gordon thật hoàn hảo đến mức có thể cho rằng ông ta đẹp trai.
Nhưng tôi lại thấy ghét ông ta ngay khi bước qua cửa.
Trước đó tôi đã tưởng tượng ra một người đàn ông tử tế, xấu xí với trực giác mạnh mẽ, ngẩng lên nói “A!” với vẻ khích lệ như thể ông thấy được điều mà tôi không nhìn ra. Sau đó tôi sẽ tìm cách kể cho ông ta nghe nguyên nhân khiến tôi sợ hãi, cảm giác như bị nhét vào một cái túi đen ngòm mỗi lúc một sâu hơn, ngột ngạt và không lối thoát.
Ông ta sẽ ngả người vào ghế, chắp hai tay lại như một ngọn tháp nhỏ và nói cho tôi biết nguyên do tại sao tôi không ngủ được, không đọc sách được và không ăn được, và cả tại sao mọi người lại khiến tôi có cảm giác ngu xuẩn, khi cuối cùng ai cũng sẽ phải chết.
Và rồi, tôi nghĩ ông ta sẽ từng bước một giúp tôi trở lại thành chính mình.
Nhưng bác sĩ Gordon chẳng giống vậy chút nào. Ông ta trẻ trung và bảnh bao và tôi có thể thấy ngay là ông ta hơi tự phụ.
Trên bàn làm việc của bác sĩ Gordon có một bức ảnh lồng trong khung bạc, nửa quay về phía ông ta nửa quay về chiếc ghế da tôi đang ngồi. Đó là một bức ảnh gia đình, có một người phụ nữ tóc đen xinh đẹp, có thể là chị em gái của bác sĩ, đang mỉm cười đằng sau hai đứa trẻ tóc vàng.
Tôi đoán một đứa là con trai, một đứa là con gái, nhưng cũng có thể cả hai đều là con trai hoặc ngược lại, thật khó nhận biết khi chúng còn quá nhỏ. Tôi nghĩ trong hình còn có một con chó, đứng đằng sau - giống chó sục hoặc chó săn golden, nhưng có khi chỉ là một hình vẽ trên váy người phụ nữ.
Vì một lý do nào đó, bức ảnh làm tôi nổi giận.
Tôi không hiểu vì lẽ gì bức ảnh lại nửa quay về phía tôi, trừ phi bác sĩ Gordon muốn tỏ cho tôi thấy rằng ông ta cưới được một người vợ tuyệt đẹp và tôi không nên có bất cứ ý nghĩ ngớ ngẩn nào.
Tôi tự hỏi làm thế nào ông bác sĩ này có thể giúp được cho tôi với một người vợ mỹ miều, đàn con xinh xắn và con chó đẹp đẽ, đứng quanh ông như những thiên thần trên thiệp Giáng sinh?
“Hãy cố gắng kể cho tôi nghe điều cô thấy không ổn.”
Tôi cân nhắc những lời ông ta vừa thốt ra với vẻ nghi ngờ, giống như cầm lên những viên sỏi tròn được nước biển mài cho trơn nhẵn và chúng có thể bất thần giương vuốt ra rồi biến thành một vật nào khác.
Điều tôi thấy không ổn?
Điều đó nghe như thể chẳng có cái gì thực sự không ổn cả, chỉ là tôi nghĩ nó không ổn thôi.
Bằng một giọng chán nản, đều đều - để chứng tỏ rằng mình không bị vẻ đẹp trai của ông và bức ảnh gia đình đánh lừa - tôi kể cho bác sĩ Gordon nghe về việc mất ngủ, kém ăn và không đọc sách được. Tôi không kể ông ta nghe về chuyện viết chữ, vốn làm tôi phiền lòng hơn cả.
Sáng hôm ấy, tôi đã cố viết thư gửi cho Doreen ở Tây Virginia, hỏi về việc tôi có thể đến ở nhờ và kiếm một việc làm tại trường của cô như bồi bàn hoặc gì đó.
Nhưng khi cầm bút lên, tôi lại viết ra những hàng chữ to đùng, nguệch ngoạc như của trẻ con, dòng cũng bị xô nghiêng từ trái dốc qua phải như có ai đó đến bên thổi đổ chúng.
Biết mình không thể gửi đi một lá thư như thế, tôi xé nó thành mảnh vụn, bỏ vào xắc tay cạnh hộp trang điểm đa năng, phòng khi bác sĩ muốn xem.
Dĩ nhiên bác sĩ Gordon không đòi xem nó một khi tôi không nhắc tới, tôi thấy hài lòng vì trí thông minh của mình. Tôi nghĩ chỉ cần kể về điều mình mong muốn và giữ gìn hình ảnh của mình trong mắt ông ta bằng cách giấu giếm, trong khi ông ta tự cho mình là kẻ rất đỗi thông minh.
Trong lúc tôi nói, bác sĩ Gordon cúi đầu xuống như đang cầu nguyện, ngoài giọng buồn bã đều đều của tôi, chỉ có tiếng gõ cộp cộp cộp của cây bút chì ông đang cầm gõ lên tập giấy nháp màu xanh, nghe như tiếng gậy gõ trên sàn.
Khi tôi nói xong, bác sĩ Gordon ngước lên. “Cô nói là đã học đại học ở đâu nhỉ?” Tôi bối rối trả lời. Tôi không hiểu đại học thì liên quan gì đến chuyện này. Bác sĩ Gordon “à” lên một tiếng và ngả người vào ghế, nhìn vào khoảng không sau vai tôi, miệng mỉm cười như đang hoài niệm.
Tôi nghĩ ông ta sắp chẩn bệnh cho tôi, có lẽ tôi đánh giá ông hơi vội vã và nghiệt ngã. Nhưng ông chỉ nói: “Tôi vẫn còn nhớ rõ ngôi trường của cô. Tôi đã tới đó hồi còn chiến tranh. Ở đó có một trại quân đoàn phụ nữ WAC phải không nhỉ? Hay là đội nữ thanh niên xung phong WAVES?”
Tôi nói rằng mình không biết.
“Phải, một trại WAC. Tôi nhớ rồi. Tôi là bác sĩ ở đó trước khi ra hải ngoại. Chao! Quả là rất đông các cô gái.”
Bác sĩ Gordon cười lớn.
Sau đó bằng một động tác mềm mại, ông đứng dậy và đi quanh góc bàn về phía tôi ngồi. Tôi không biết ông định làm gì nên cũng đứng lên theo.
Bác sĩ Gordon vươn tay nắm lấy tay phải tôi lắc lắc.
“Hẹn gặp cô tuần tới.”
Tán lá um tùm của những cây du hai bên tạo thành một đường hầm xanh phủ bóng lên những mặt tiền các ngôi nhà bằng gạch vàng và đỏ dọc theo đại lộ Commonwealth, một con tàu điện lướt về phía Boston trên đường ray hẹp màu bạc. Tôi chờ cho chiếc tàu điện đi qua rồi mới băng ngang đường tới chỗ chiếc Chevrolet màu xám đang đậu.
Tôi thấy khuôn mặt của mẹ đầy vẻ lo âu và nhợt nhạt như một lát chanh đang nhìn tôi qua cửa chắn gió.
“Sao, ông ấy nói thế nào?”
Tôi đóng cửa xe lại nhưng nó không khớp. Tôi lại đẩy ra và đóng sầm một cái.
“Ông ta bảo tuần sau sẽ gặp con.”
Mẹ tôi thở dài.
Phí khám cho bác sĩ Gordon là 25 đô la mỗi giờ.
***
“Xin chào, tên em là gì nhỉ?”
“Elly Higginbottom.”
Tay lính thủy bám theo và tôi mỉm cười.
Tôi nghĩ cánh lính thủy trên phố Common cũng nhiều như bồ câu vậy. Bọn họ dường như vừa đi ra từ trong những trại tuyển mộ tối tăm, nơi đầy những poster hai màu xanh trắng với dòng chữ “Hãy gia nhập Hải quân” dán trên các bảng thông báo và phía sau bức tường.
“Em từ đâu đến, Elly?”
“Chicago.”
Tôi chưa lần nào đến Chicago nhưng có một vài người bạn học ở Đại học Chicago, đó có vẻ là một nơi trái với bình thường, dành cho tất cả mọi hạng người.
“Hẳn là nhà em ở rất xa.”
Tay lính thủy choàng tay qua eo tôi và chúng tôi cứ đi như vậy rất lâu dọc theo phố Common, anh ta vuốt ve hông tôi qua làn váy xanh, còn tôi thì mỉm cười bí ẩn, cố giữ không để lộ điều gì rằng mình là người Boston và bất cứ lúc nào tôi cũng có thể bị bà Willard hoặc những người bạn khác của mẹ tôi bắt gặp, các bà thường đi qua phố Common sau khi uống trà ở Beacon Hill hoặc mua sắm ở Filene’s Basement.
Tôi nghĩ nếu có lần nào đó mình tới được Chicago, tôi có thể sẽ đổi hẳn tên mình thành Elly Higginbottom. Lúc đó sẽ chẳng ai biết tôi đã bỏ qua học bổng của một trường đại học lớn dành cho nữ sinh viên ở miền Đông để sống sa đọa một tháng trời ở New York. Cũng chẳng ai biết tôi đã từ chối lời cầu hôn của một sinh viên Y khoa xuất sắc, hội viên tương lai của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ và sẽ kiếm được bộn tiền.
Ở Chicago, mọi người sẽ đánh giá con người thực của tôi.
Tôi sẽ chỉ là Elly Higginbottom, một cô gái mồ côi. Mọi người sẽ quý mến bản chất ngọt ngào và thầm lặng của tôi. Họ sẽ không bắt tôi đọc và viết những bài tràng giang đại hải về những đứa trẻ sinh đôi trong tác phẩm của James Joyce. Rồi một ngày nào đó tôi sẽ lấy một người thợ sửa xe rắn rỏi nhưng hiền lành và có một gia đình đông đúc như Dodo Conway.
Nếu quả tôi có thích như vậy.
“Anh định làm gì khi ra khỏi Hải quân?” Tôi bất ngờ hỏi tay lính thủy.
Đó là câu nói dài nhất của tôi khiến anh ta hơi sửng sốt. Anh ta đẩy chiếc mũ trắng sang một bên và gãi đầu.
“Ồ, anh cũng chưa biết nữa Elly,” tay lính thủy nói. “Có thể anh sẽ học đại học nhờ món tiền trợ cấp quân nhân xuất ngũ.”
Tôi im lặng, sau đó gợi ý thêm: “Anh có bao giờ nghĩ đến chuyện sẽ mở một gara không?”
“Không,” tay lính thủy đáp. “Chưa từng.”
Tôi liếc nhìn tay lính thủy. Gã xem ra không quá mười sáu tuổi, dù chỉ một ngày.
“Anh có biết tôi bao nhiêu tuổi không?” Tôi nghiêm giọng.
Gã thủy thủ nhìn tôi cười: “Không, anh không quan tâm đến điều đó.”
Bất chợt tôi bỗng thấy tay lính thủy đẹp trai một cách kỳ lạ. Gã dường như là người Bắc Âu và còn tân. Từ khi đầu óc tôi trở nên giản đơn, tôi thường hấp dẫn những anh chàng đẹp trai lương thiện.
“Tôi ba mươi tuổi,” tôi nói rồi chờ đợi.
“Gì cơ, em trông không tới vậy đâu, Elly,” tay lính thủy siết chặt eo tôi.
Sau đó hắn đảo mắt nhìn quanh. “Elly này, lại bậc thềm đằng kia đi, dưới đài kỷ niệm ấy, anh muốn hôn em.”
Đúng lúc ấy, tôi nhận ra một bóng người mặc đồ nâu, đi đôi giày nâu bóng đang băng qua phố Common đi về phía tôi. Từ xa, tôi không tài nào thấy rõ từng đường nét trên khuôn mặt, nhưng tôi biết đó là bà Willard.
“Nhờ anh chỉ giúp tôi đường tới ga xe điện ngầm.” Tôi nói lớn với tay lính thủy.
“Hả?”
“Xe điện ngầm tới trại giam Deer Island?”
Khi bà Willard đi tới, tôi phải giả vờ hỏi đường tay lính thủy và hoàn toàn không quen biết gì hắn cả.
“Buông tay ra,” tôi nói qua kẽ răng.
“Chuyện gì thế Elly?”
Bà kia đi tới và lướt qua mà chẳng thèm nhìn ngó hay gật đầu chào, dĩ nhiên đó không phải là bà Willard. Bà ấy đang ở nhà mình tại Adirondacks.
Tôi dõi theo người phụ nữ đang đi khuất với ánh mắt bất thiện.
“Sao nào Elly…”
“Tôi nghĩ đó là một người quen,” tôi nói. “Một con mụ già đáng nguyền rủa ở trại mồ côi tại Chicago.”
Tay lính thủy lại choàng tay quanh eo tôi.
“Ý em là em không có bố mẹ hả Elly?”
“Không.” Một giọt lệ ứa ra, khiến tôi nóng ấm cả đôi má.
“Nào Elly đừng khóc. Mụ đó nghiệt ngã với em lắm hả?”
“Mụ ta… mụ ta thật kinh khủng.”
Nước mắt tôi trào ra thành dòng, chúng tôi tới dưới bóng cây du, tay lính thủy ôm lấy tôi, thấm khô hàng lệ bằng chiếc khăn tay lớn bằng vải lanh trắng sạch sẽ. Tôi thầm coi người phụ nữ mặc bộ đồ nâu đó thật kinh khủng, bất kể bà ta có biết hay không, thì bà ta vẫn phải chịu trách nhiệm vì mọi sự lầm đường lạc lối của tôi và cả những chuyện bất hạnh xảy ra sau đó.
***
“Này Esther, tuần này cô thấy trong người thế nào?”
Bác sĩ Gordon mân mê cây viết chì như viên đạn bạc nhỏ nhắn.
“Vẫn thế.”
“Vẫn thế à?” Ông ta nhướng lông mày lên như không tin vào điều đó.
Bằng thứ giọng buồn bã đều đều, có khác chăng là pha thêm chút tức giận vì ông quá chậm hiểu, tôi kể lại cho ông ta rằng mình mất ngủ đã mười bốn đêm liền, không viết lách, đọc hoặc nuốt bất cứ một thứ gì.
Bác sĩ Gordon không tỏ vẻ ấn tượng gì cả.
Tôi thò tay vào xắc lôi ra những mảnh vụn của lá thư viết cho Doreen và ném trên tập giấy nháp còn nguyên vẹn của ông Gordon. Chúng trông tựa như những cánh hoa cúc rải rác trên bãi cỏ mùa hè.
“Ông nghĩ gì về điều đó?” Tôi hỏi.
Tôi đoán bác sĩ Gordon sẽ thấy nét chữ của tôi hết sức tồi tệ, nhưng ông ta chỉ nói: “Tôi muốn gặp mẹ cô. Cô không phản đối chứ?”
“Không!” Nhưng quả tôi không thích cái ý tưởng để ông ta gặp mẹ tôi một chút nào. Tôi ngờ ông ta có thể sẽ bảo mẹ nhốt tôi lại. Tôi nhặt lại từng mảnh vụn của lá thư gửi Doreen, khiến bác sĩ Gordon không cách nào chắp nối chúng lại và biết được ý định bỏ trốn của tôi, rồi bước ra khỏi phòng khám không nói một lời.
Tôi dõi theo bóng mẹ tôi càng lúc càng nhỏ dần rồi mất hút vào khung cửa tòa nhà có phòng khám của bác sĩ Gordon. Một lúc sau bóng bà lại xuất hiện, càng lúc càng lớn dần, khi trở lại xe.
“Sao ạ?” Tôi biết mẹ vừa mới khóc.
Mẹ không nhìn tôi. Bà nổ máy xe.
Mãi tới khi xe lướt trong bóng râm của những cây du mát lạnh như biển khơi, bà mới cất tiếng: “Bác sĩ nói rằng con chẳng tiến triển hơn chút nào cả. Ông ấy đề nghị đưa con đến điều trị bằng xung điện ở bệnh viện tư của ông tại Walton.”
Tôi cảm thấy rất đỗi tò mò như thể vừa đọc được một hàng tít kinh khủng trong báo nói về một người nào khác.
“Ý ông ta là sống ở đó chứ gì?”
“Không phải,” mẹ đáp, cằm hơi run run.
Tôi đoán là mẹ đang nói dối.
“Mẹ phải nói thật cho con biết,” tôi nói. “Bằng không con sẽ chẳng bao giờ nói chuyện với mẹ nữa.”
“Mẹ có bao giờ dối con đâu?” Mẹ tôi đáp lại rồi bật khóc.
***
MỘT VỤ TỰ TỬ BẤT THÀNH Ở TẦNG BẢY.
Sau hai giờ đứng trên gờ tường hẹp trên tầng bảy, phía dưới là bãi đậu xe nền bê tông có đám đông người tụ tập, ông George Pollucci đã được hạ sĩ Will Kilmartin thuộc lực lượng cảnh sát phố Charles cứu thoát qua một chiếc cửa sổ gần đó.
Tôi bóc một củ lạc lấy trong gói mười xu dành cho chim bồ câu và ăn thử. Nó nhạt nhẽo như một mảnh vỏ cây.
Tôi đưa tờ báo lên gần mắt để nhìn kỹ khuôn mặt ông George Pollucci hơn, hình ông ta nổi bật như mặt trăng hiện ba phần tư trên bức tường gạch mờ ảo và nền trời u tối. Tôi cảm thấy ông ta như có điều hệ trọng muốn bày tỏ cùng tôi, nó hiển hiện trên nét mặt của ông.
Nhưng những đường nét bẩn thỉu trên khuôn mặt ông George Pollucci như tan chảy khi tôi nhìn chăm chú, chúng biến thành những điểm sáng, tối và xám có quy luật.
Mẩu tin bằng mực đen trên báo không cho tôi biết nguyên do ông Pollucci ra đứng trên gờ tường hay hạ sĩ Kilmartin đã làm gì để kéo được ông ta qua cửa sổ.
Điều phiền toái của việc nhảy lầu nằm ở chỗ nếu không chọn đúng số tầng, rất có thể bạn sẽ vẫn còn sống khi rơi xuống đất. Tôi nghĩ bảy tầng là một khoảng cách an toàn.
Tôi gấp tờ báo lại nhét vào kẽ giữa các thanh ghế băng. Đó chính là loại báo mẹ tôi thường gọi là lá cải, đầy rẫy chuyện cướp giết hiếp và tự tử, hầu như trang nào cũng có hình một phụ nữ bán khỏa thân, cặp vú nhô ra khỏi viền áo còn đôi chân thì trong tư thế khiến bạn có thể nhìn thấy mép tất dài.
Tôi không hiểu tại sao trước đây mình chẳng mua loại báo này. Đó là những điều duy nhất tôi đọc được. Các mẩu tin lơ thơ xen giữa những bức hình, những con chữ chưa có cơ hội thể hiện mình thì đã kết thúc. Ở nhà, thứ duy nhất mà tôi được đọc là tờ Christian Science Monitor được đặt trên bậu cửa vào 5 giờ sáng hàng ngày trừ Chủ nhật, trong đó những chuyện tự tử, hiếp dâm, tai nạn máy bay coi như không bao giờ xảy ra.
Một con thiên nga trắng chở đầy đám nhóc con hướng tới chiếc ghế tôi đang ngồi, lượn vòng quanh hòn đảo nhỏ rậm rạp đầy vịt, rồi lui về dưới vòm cầu u tối. Mọi vật tôi đang nhìn đều có vẻ rực rỡ và nhỏ xíu.
Cảm giác giống như tôi nhòm qua lỗ khóa của một cánh cửa không tài nào mở nổi, thấy chính tôi và anh trai chỉ cao tới đầu gối tôi, tay cầm những quả bóng có tai thỏ, đang leo lên một chiếc thuyền thiên nga và tranh nhau chỗ ngồi sát thành, mặt nước phủ đầy vỏ lạc. Miệng tôi phả ra một làn hơi tinh khiết bạc hà. Nếu ngoan ngoãn tại phòng chữa răng, mẹ sẽ luôn mua vé cho chúng tôi đi chơi thuyền.
Tôi dạo một vòng quanh công viên… bước trên cầu, dưới những tượng đài màu xanh, ngang qua dãy cờ Mỹ tới lối ra vào, nơi bạn có thể chụp hình dưới một căn lều sọc cam và trắng chỉ mất có hai mươi lăm xu… và nhẩm đọc tên các loài cây.
Tôi thích nhất loại cây ngải có tên “Học giả đổ lệ”. Tôi đoán xuất xứ của nó là Nhật Bản. Người Nhật thường am hiểu những vấn đề tâm linh.
Họ mổ bụng tự sát khi làm hỏng bất cứ chuyện gì.
Tôi cố tưởng tượng xem họ làm chuyện đó như thế nào. Hẳn là họ phải có một con dao cực kỳ sắc bén. Không, phải là hai con dao cực kỳ sắc bén. Sau đó họ ngồi xếp bằng, mỗi tay cầm một con dao. Họ sẽ đâm chéo hai dao vào hai bên bụng. Họ sẽ phải khỏa thân, bằng không dao sẽ mắc vào quần áo.
Rồi trong chớp nhoáng, trước khi kịp suy nghĩ kỹ càng, họ sẽ thọc dao sâu và xoáy vòng, một lưỡi uốn vòng lên và một lưỡi uốn vòng xuống, tạo thành một vòng tròn viên mãn. Da bụng sẽ rời ra như một cái đĩa, ruột xổ ra và họ chết.
Phải can đảm lắm mới chết theo kiểu đó được.
Vấn đề của tôi là tôi ghét nhìn thấy máu.
Tôi nghĩ mình sẽ ở lại ngoài công viên suốt đêm.
Sáng hôm sau, Dodo Conway sẽ lái xe đưa mẹ và tôi tới Walton, nếu tôi tính đến chuyện bỏ trốn thì đây chính là lúc thích hợp. Tôi xem lại ví, còn vỏn vẹn 1 đô la tiền giấy và một mớ các đồng 25 xu, 5 xu và 1 xu, tổng cộng 79 xu.
Tôi hoàn toàn không biết đi Chicago sẽ mất bao nhiêu tiền, nhưng lại không dám tới ngân hàng rút hết tiền trong đó, tôi nghĩ có thể bác sĩ Gordon đã báo cho nhân viên ngân hàng ngăn tôi lại nếu tôi có bất cứ hành vi nào.
Tôi chợt nảy ra ý định đi nhờ xe, nhưng lại không biết các tuyến đường từ Boston tới Chicago. Tìm đường trên bản đồ cũng tương đối dễ nhưng tôi hoàn toàn không phân biệt nổi phương hướng khi bị ném tới một nơi nào đó. Mỗi lần muốn xác định hướng đông hay tây thì hoặc là đang buổi trưa, hoặc trời đầy mây thật vô ích, hoặc đêm đã xuống mà ngoại trừ chòm sao Bắc Đẩu và chòm sao Thiên Hậu, thì các vì sao cũng chẳng giúp gì được cho tôi, chính điểm này đã luôn luôn làm cho Buddy Willard chán nản.
Tôi quyết định đi bộ tới bến xe bus để hỏi giá vé đi Chicago. Sau đó có lẽ tôi sẽ đi tới ngân hàng rút vừa đủ số tiền đó để mọi người khỏi hồ nghi.
Tôi vừa bước qua cửa kính của bến xe, đang đưa mắt lướt qua những bảng đầy màu sắc ghi lộ trình và giờ giấc các chuyến xe thì chợt nhận ra ngân hàng ở thị trấn nhà tôi sắp đóng cửa vì đã là giữa buổi chiều, tôi sẽ chẳng rút nổi một xu nào trước ngày mai cả.
Cuộc hẹn của tôi ở Walton vào đúng 10 giờ.
Vừa lúc đó, loa phóng thanh vang lên thông báo các điểm dừng của một chuyến xe bus sắp khởi hành ở ngoài bến. Tiếng loa rè rè khiến người ta không nghe được rõ từng từ, rồi trong những tiếng lạo xạo đó tôi nghe thấy ra một cái tên quen thuộc, rõ ràng như âm La trưởng của đàn dương cầm giữa một đống các nhạc cụ khác của dàn nhạc đang chỉnh âm.
Đó là tên điểm dừng cách nhà tôi hai khối phố.
Tôi phóng ra ngoài trời nóng nực và bụi bặm của một buổi chiều cuối tháng Bảy, người ướt mồ hôi và miệng khô rang, vội vàng như thể đang trễ hẹn một cuộc phỏng vấn khó khăn, rồi leo lên chiếc xe bus đỏ đã nổ máy.
Tôi đưa tiền xe cho người tài xế, bản lề xoay và cửa xe đóng lại sau lưng tôi.