Quả Chuông Ác Mộng

Lượt đọc: 13 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mười hai

❊ ❊ ❊

Bệnh viện tư của bác sĩ Gordon ngự trên một gò đất cao phủ đầy cỏ phía cuối xa lộ tĩnh mịch lát vỏ sò trắng. Tường ván màu vàng của ngôi nhà lớn có hàng hiên bao quanh lấp lánh dưới ánh nắng, nhưng chẳng thấy bóng dáng ai đi lại trên bãi cỏ xanh rì.

Khi mẹ và tôi tới gần, cái nóng mùa hè chụp xuống đầu chúng tôi, tiếng ve ngân vang trên cây sồi màu đồng phía đằng sau nghe như tiếng máy xén cỏ. Tiếng ve chỉ làm tăng thêm cảnh tĩnh mịch mà thôi.

Một cô y tá đón chúng tôi tại cửa.

“Mời bà và cô đợi tại phòng khách. Bác sĩ Gordon sẽ ra ngay bây giờ.”

Tôi băn khoăn vì thấy mọi thứ trong nhà đều có vẻ bình thường, dẫu biết rằng nơi đây đầy rẫy những kẻ tâm thần. Tôi có thể thấy cửa sổ không có chấn song, cũng chẳng hề có tiếng la hét man dại nào. Ánh nắng tự chia thành những mảnh oval trên tấm thảm đỏ đã mòn nhưng còn mềm mại, cỏ mới cắt tỏa mùi dịu ngọt.

Tôi dừng lại trước ngưỡng cửa phòng khách.

Trong thoáng chốc tôi có ý nghĩ đó là bản sao của phòng đợi tại nhà nghỉ trên một hòn đảo mà tôi đã có dịp thăm viếng ngoài khơi Maine. Ánh sáng trắng chói chang xuyên qua khung cửa kiểu Pháp, một chiếc đàn đại dương cầm choán ở góc xa căn phòng, mọi người mặc áo quần mùa hè ngồi ở bàn chơi bài, ngả lưng thoải mái trong những chiếc ghế bành lộn xộn đan bằng liễu thường thấy nơi những bãi nghỉ mát ven biển.

Thế rồi tôi chợt nhận ra không ai trong số họ cử động.

Tôi quan sát kỹ càng hơn, cố khám phá ra nguyên do khiến họ ngồi trong tư thế cứng ngắc. Tôi phân biệt được đàn ông, đàn bà và thanh niên, thanh nữ trẻ trung cỡ tuổi tôi, nhưng khuôn mặt họ cùng một biểu hiện, như thể bị xếp xó lâu ngày trên kệ sách, thiếu ánh sáng mặt trời, dưới những lớp bụi mờ mờ.

Rồi tôi thấy có một vài người cử động, nhưng cử chỉ của họ cực kỳ vi tế khiến ban đầu tôi không nhận ra.

Một người có bộ mặt xám ngồi đếm lá bài: một, hai, ba, bốn… Tôi cứ tưởng ông ta soát lại bộ bài xem có đủ không, nhưng sau khi đếm xong, ông ta bắt đầu đếm lại. Cạnh ông ta là một bà béo đang ngồi nghịch xâu hạt gỗ. Bà ta gom tất cả các hạt về một đầu rồi để chúng rơi trở lại đầu bên kia.

Ngồi bên chiếc đàn dương cầm là một cô gái trẻ đang lật mấy tờ nhạc phổ, nhưng khi biết tôi đang nhìn, cô ta cúi đầu xuống và xé đôi bản nhạc.

Mẹ khẽ chạm vào tay tôi, và tôi theo bà vào trong phòng.

Chúng tôi im lặng ngồi xuống một chiếc sofa gồ ghề và kêu răng rắc mỗi khi có ai đó cử động. Ánh mắt tôi lướt qua mọi người rồi nhìn về phía bên kia những bức rèm xanh mờ trong, tôi cảm thấy như mình đang ngồi trong một cửa hàng bách hóa khổng lồ. Những hình nhân quanh tôi không phải là người mà chỉ là các mô hình giả ở cửa tiệm, được tô son trát phấn cho giống người và bày ra cử chỉ hệt con người.

Tôi theo sau tấm lưng mặc chiếc áo khoác đen của bác sĩ Gordon.

Lúc ở tầng dưới, tôi cố hỏi ông ta về việc điều trị bằng xung điện là thế nào, nhưng khi mở miệng thì chẳng nói nên lời, mắt tôi mở lớn chăm chú nhìn khuôn mặt tươi cười quen thuộc đang bồng bềnh trước mặt tôi như một cái đĩa đầy ú ụ niềm tin.

Lên đến đầu cầu thang, tấm thảm đỏ ngừng trải. Thay vào đó là một tấm vải sơn màu nâu đính chặt vào sàn, vươn tới tận hành lang có những cánh cửa trắng im ỉm. Tôi đang đi theo bác sĩ Gordon thì một cánh cửa bật mở từ phía xa xa, tôi nghe thấy tiếng một phụ nữ la hét.

Ngay tức khắc một cô y tá xuất hiện ngay góc hành lang trước mặt chúng tôi, tay dắt một người đàn bà mặc áo choàng xanh, tóc dài rối bù xù. Bác sĩ Gordon lùi lại còn tôi đứng dẹp vào tường.

Khi người đàn bà bị kéo ngang qua chỗ tôi, bà giơ tay vùng vẫy khỏi cô y tá, và la lớn: “Tôi sẽ nhảy ra ngoài cửa sổ! Tôi sẽ nhảy ra ngoài cửa sổ! Tôi sẽ nhảy ra ngoài cửa sổ!”

Cô y tá có thân hình lùn mập và chắc nịch, mặc bộ đồng phục nhem nhuốc phía trước, đeo một cặp kính dày đến nỗi có tới bốn mắt chăm chú nhìn tôi sau lớp kính. Tôi đang cố nhận ra mắt nào là thật, mắt nào là giả, và trong đôi mắt thật, con mắt nào lé, con mắt nào thẳng, thì cô ta ngước lên nhìn tôi với một nụ cười ngoác miệng, thì thào như để trấn an tôi: “Bà ấy nghĩ mình sẽ nhảy qua cửa sổ nhưng không được đâu! Mọi cửa sổ đều lắp chấn song rồi.”

Quả nhiên khi bác sĩ Gordon đưa tôi vào một căn phòng trống không phía sau nhà, tôi thấy tất cả các cửa sổ đều gắn chấn song, ngoài ra, cửa phòng, cửa tủ, ngăn bàn và tất cả những gì đóng mở được đều có lỗ khóa để có thể khóa lại.

Tôi nằm xuống giường.

Cô y tá có đôi mắt lé trở lại. Cô ta cởi đồng hồ đeo tay của tôi bỏ vào túi mình, sau đó sửa sang tất cả những kẹp tóc trên đầu tôi.

Bác sĩ Gordon đang mở tủ. Ông ta lôi từ trong đó ra một cái bàn có bánh xe, trên đó có một cái máy và đẩy lại phía sau đầu giường. Cô y tá bắt đầu bôi một thứ thuốc mỡ lên thái dương tôi.

Khi cô ta vươn người để với tới phía đầu tôi đang kề sát tường, bộ ngực đồ sộ của cô ta chèn vào mặt tôi tựa một đám mây hoặc một chiếc gối. Da thịt cô ta thoang thoảng mùi thuốc hôi hám.

“Đừng lo,” cô y tá cười toe toét với tôi. “Lần đầu tiên ai cũng sợ muốn chết.”

Tôi cố mỉm cười nhưng da mặt cứng lại, như da thuộc.

Bác sĩ Gordon áp hai miếng kim loại lên hai bên đầu tôi. Ông ta nịt chúng cố định bằng một đai da vòng qua trước trán, rồi bắt tôi cắn chặt một sợi dây điện.

Tôi nhắm mắt lại.

Một khoảnh khắc yên lặng trôi qua, như thể đang nín thở.

Rồi một cái gì đó đổ xuống, tóm lấy tôi và giật mạnh như thể tận thế tới nơi. Uy… uy… uy… âm thanh rít lên, không gian vụn vỡ bởi những ánh xanh lóe sáng, những ánh chớp làm tôi giật nảy người cho tới khi tôi có cảm giác như xương cốt gãy vụn ra, nhựa sống bắn tung hết ra ngoài như thân cây bị đốn.

Tôi tự hỏi mình đã làm gì nên tội mà phải chịu quả báo này?

***

Tôi ngồi trên ghế, tay cầm ly nước ép cà chua. Chiếc đồng hồ đã được trả về trên cổ tay nhưng tôi thấy nó thật kỳ quặc; tôi nhận ra mình đang đeo ngược đồng hồ. Tôi cũng cảm thấy những cái kẹp tóc không ở vị trí cũ trên đầu.

“Cô cảm thấy thế nào?”

Một chiếc đèn đứng bằng kim loại đã cũ hiện ra trong tâm trí tôi. Một trong số ít ỏi những di vật trong phòng làm việc của bố tôi ngày trước, một cái chuông đồng bao lấy bóng đèn, từ đó một sợi dây có sọc như da hổ đã sờn nối suốt chiều dài của giá đèn tới ổ cắm điện trên tường.

Một ngày nọ tôi bỗng nảy ra ý định dời chiếc đèn bên giường của mẹ lên bàn học của tôi ở góc bên kia phòng. Dây điện đủ dài nên tôi không tháo nó ra. Tôi dùng cả hai tay nắm chặt cây đèn và sợi dây đã sờn.

Ngay lúc đó, một cái gì đó thoát khỏi cây đèn dưới hình dạng ánh chớp xanh, giật tôi đến mức răng va vào nhau lập cập, tôi cố hết sức buông tay ra nhưng chúng đã bị dính cứng, tôi la lên, đúng hơn là tiếng la thoát ra khỏi cổ họng bởi tôi không nhận ra mà chỉ nghe nó rung lên vọt vào không trung tựa như linh hồn hung bạo rời khỏi thể xác.

Sau đó tay tôi giật tung ra và tôi ngã vật về phía sau lên giường của mẹ. Một cái lỗ nhỏ, đen như đầu bút chì in giữa lòng bàn tay phải của tôi.

“Cô thấy thế nào?”

“Ổn cả.”

Nhưng không phải vậy, tôi cảm thấy thật kinh khủng.

“Cô bảo là đã học ở trường đại học nào nhỉ?”

Tôi nói tên trường mình.

“A!” Khuôn mặt bác sĩ Gordon rạng rỡ hẳn lên với một nụ cười chậm rãi, gần như nồng nhiệt. “Ở đó có một trạm WAC, phải vậy không, trong thời chiến tranh?”

***

Đốt ngón tay của mẹ tôi trắng trơ xương như thể bị lột da trong suốt một giờ chờ đợi. Bà hết nhìn tôi rồi nhìn bác sĩ Gordon, ông ta hẳn phải gật đầu hoặc mỉm cười, vì tôi thấy gương mặt bà giãn ra.

“Chỉ cần thêm vài lần điều trị xung điện nữa, bà Greenwood ạ,” tôi nghe tiếng bác sĩ Gordon nói. “Bà sẽ nhận ra ngay sự tiến triển tuyệt vời.”

Cô gái vẫn còn ngồi trên ghế đàn piano, bản nhạc bị rách nằm dưới chân như một con chim đã chết. Cô ta nhìn tôi chăm chăm, tôi cũng nhìn lại. Cô ta nheo mắt, thè lưỡi ra.

Mẹ tôi theo bác sĩ Gordon đến tận cửa. Tôi tha thẩn theo sau và khi họ vừa khuất bóng, tôi quay lại phía cô gái, đưa hai ngón tay cái lên tai làm trò. Cô ta rụt lưỡi lại, gương mặt bỗng trở nên vô cảm.

Tôi bước ra ngoài nắng.

Chiếc xe màu đen của Dodo Conway đậu dưới bóng cây, thân xe lốm đốm như da báo.

Chiếc xe du lịch này vốn ban đầu được một quý bà thượng lưu đặt mua. Chiếc xe đen tuyền không một tì vết, cả nệm xe cũng bọc màu đen, nhưng khi nó xuất hiện lại làm quý bà ấy thất vọng. Nó giống hệt một cái xe tang, bà ta bảo thế và mọi người đều nghĩ như vậy nên chẳng ai thèm mua, thế là nhà Conway mua lại với giá rẻ, tiết kiệm được vài trăm đô la.

Tôi ngồi ở băng trước giữa Dodo và mẹ, bải hoải và thẫn thờ. Mỗi lần cố tập trung, tâm trí tôi lại lướt đi như trượt ván vào khoảng không mênh mông trống rỗng, xoay tít mù không điểm tựa.

“Con ngán ông bác sĩ Gordon quá rồi,” tôi nói sau khi xuống và Dodo cùng chiếc xe đen tuyền của bà khuất sau hàng thông. “Mẹ gọi điện báo ông ấy rằng tuần tới con không đến nhé.”

Mẹ tôi cười. “Mẹ biết cục cưng của mẹ không như vậy đâu.”

Tôi nhìn bà: “Như thế nào cơ ạ?”

“Như những người đáng sợ ban nãy đó. Không khác gì người đã chết ở bệnh viện.” Mẹ tôi ngưng lại. “Mẹ biết con sẽ hồi phục thôi.”

***

MỘT NGÔI SAO VỤT TẮT SAU 68 GIỜ HÔN MÊ

Tôi mò mẫm trong xắc tay, giữa ngổn ngang những mẩu giấy, hộp trang điểm, vỏ lạc và những đồng xu các loại cùng chiếc hộp xanh đựng mười chín lưỡi dao cạo Gillette, cho tới khi tôi tìm thấy tấm ảnh chụp lúc chiều ở bốt chụp ảnh sọc cam và trắng.

Tôi so sánh nó với tấm ảnh nhem nhuốc của cô gái quá cố. Rất giống nhau, miệng giống miệng, mũi giống mũi. Điểm khác biệt duy nhất là đôi mắt. Cặp mắt trong bức ảnh mở lớn còn trên báo thì khép lại. Nhưng tôi biết rằng nếu đôi mắt của cô gái quá cố mở ra, chúng cũng sẽ mang một vẻ chết chóc, u ám, và trống rỗng như trong bức hình của tôi.

Tôi nhét nó trở lại trong xắc.

“Mình chỉ ngồi trên ghế này dưới ánh nắng thêm năm phút nữa như cái đồng hồ nóc nhà kia chỉ,” tôi tự nhủ, “rồi sẽ đi đâu đó làm việc ấy.”

Tôi thầm hát một giai điệu trong lòng.

Mi không thích việc đang làm sao, Esther?

Mi biết đấy, mi thần kinh thật rồi.

Sẽ chẳng đi tới đâu cả, Sẽ chẳng đi tới đâu cả, Sẽ chẳng đi tới đâu cả.

Có một đêm hè nóng nực, tôi đã hôn một sinh viên luật lông lá trông tựa khỉ đến từ Yale trong suốt một tiếng đồng hồ, chỉ vì thương hại, anh ta thật xấu xí. Xong xuôi rồi anh ta nói: “Anh biết em thuộc tuýp người nào rồi. Em sẽ là một kẻ đạo đức giả ở tuổi bốn mươi.”

“Giả tạo!” Giáo sư dạy môn Sáng tác văn học đã phê lên một truyện ngắn của tôi với tựa đề Kỳ nghỉ lớn cuối tuần như vậy.

Không hiểu ý nghĩa của lời phê đó, tôi liền tra từ điển.

Giả tạo: giả bộ, thiếu tự nhiên.

Sẽ chẳng đi tới đâu cả.

Tôi đã không chợp mắt hai mươi mốt đêm liền.

Tôi nghĩ đẹp đẽ nhất đời hẳn là những chiếc bóng, thiên hình vạn trạng và thật vô vọng. Bóng tối trong ngăn kéo, trong tủ, trong va li. Bóng trải dưới nhà cửa, cây cối và đá. Bóng tối ẩn sau ánh mắt và nụ cười, bóng tối trải hàng dặm, hàng dặm khi nửa trái đất chìm trong đêm.

Tôi nhìn xuống hai chiếc băng màu da đính thành hình chữ thập trên bắp chân phải của mình.

Sáng hôm ấy tôi đã bắt đầu thực hiện.

Tôi nhốt mình trong phòng tắm, mở nước ấm đầy bồn, rồi lấy ra một lưỡi dao cạo Gillette.

Khi người ta hỏi một triết gia cổ đại La Mã hay đại loại thế, rằng ông muốn chết theo cách nào, ông ta đáp bằng cách cắt tĩnh mạch trong một bồn nước ấm. Tôi nghĩ điều đó thật dễ dàng, cứ nằm trong bồn tắm nhìn chùm hoa đỏ tươi tuôn ra từ cổ tay, hòa lẫn vào nước trong cho tới khi rơi vào giấc thiên thu như chìm giữa biển hoa anh túc sặc sỡ.

Nhưng đúng lúc thực hiện, tôi bỗng thấy làn da nơi cổ tay trắng trẻo yếu ớt quá, đến nỗi không thể nào xuống tay được. Hình như điều tôi muốn hạ thủ không nằm trong làn da hoặc trong những mạch máu xanh mỏng manh đang đập dưới ngón tay cái của tôi, mà ở một nơi nào khác sâu hơn, rất khó chạm tới.

Cần đến hai động tác. Cổ tay này và cổ tay khác. Có thể là ba nếu tính cả việc chuyển lưỡi dao từ tay nọ sang tay kia. Rồi tôi sẽ bước vào bồn tắm và nằm xuống.

Tôi đi tới trước tủ thuốc. Nếu tôi vừa nhìn gương vừa thực hiện thì cũng chẳng khác gì đang xem một ai đó làm, như trong sách hay trong kịch vậy.

Nhưng người trong gương dường như bị tê liệt, quá ngu ngốc không làm nên việc gì.

Tôi nghĩ có lẽ nên thử chịu chảy máu một chút trước cho quen, thế là tôi ngồi xuống thành bồn tắm, vắt mắt cá phải lên đầu gối trái, tay phải thả lưỡi dao rơi xuống; bằng trọng lượng riêng của nó, lưỡi dao chạm vào bắp chân tôi như lưỡi máy chém.

Chẳng cảm thấy gì cả. Thế rồi một chút đau nhói và miệng vết cắt ứa ra một dòng máu đỏ tươi. Vệt máu nhanh chóng sẫm lại như trái cây, lăn xuống mắt cá chân rồi chảy vào lòng chiếc giày da màu đen của tôi.

Rồi tôi định bước vào bồn tắm, nhưng chợt nhận ra mình đã phí hoài gần hết cả buổi sáng, mẹ có thể về đến nhà và phát giác ra tôi trước khi mọi việc xong xuôi.

Thế là tôi băng bó vết thương, gói mấy lưỡi dao cạo Gillette lại rồi bắt chuyến xe 11 giờ 30 đi Boston.

“Này cô bé, rất tiếc là chẳng có chuyến tàu điện ngầm nào đi nhà giam Deer Island cả, vì nó nằm trên một hòn đảo.”

“Không, nó đâu có nằm trên đảo, trước kia thì đúng thế thật, nhưng người ta đã lấp đất để nối nó với đất liền rồi.”

“Nhưng không có tàu điện ngầm.”

“Nhưng cháu phải đến đó.”

“Này,” một ông béo trong quầy vé nhìn tôi chằm chặp qua tấm cửa lưới. “Đừng khóc. Cưng có người quen ở đó à, họ hàng?”

Mọi người chen lấn xô đẩy tới tối tăm mặt mũi, vội vã nhảy lên những chuyến tàu đang ra vào đường hầm phía dưới quảng trường Scollay. Tôi cảm nhận được nước mắt mình ứa ra thành dòng.

“Là bố cháu.”

Ông béo nhìn bảng lịch trình gắn trên tường quầy vé. “Vậy thế này nhé,” ông nói. “Cháu lên chuyến tàu đằng kia và xuống ở Orient Heights, sau đó bắt xe bus có đề chữ The Point.” Ông cười với tôi. “Nó sẽ đưa thẳng cưng tới ngay cổng nhà tù.”

***

“Này cô!” Một gã trai trẻ mặc đồng phục xanh đứng trong trạm gác vẫy tay.

Tôi vẫy lại và tiếp tục đi.

“Này cô!”

Tôi ngừng lại rồi từ từ đi về phía trạm gác nằm trên một bãi cát hoang.

“Này, cô không được phép đi xa hơn. Đó là địa phận nhà giam, không ai được phép xâm nhập.”

“Tôi cứ tưởng được đi bất cứ nơi nào dọc bờ biển chứ,” tôi đáp. “Miễn là không vượt qua vạch thủy triều.”

Gã ta suy nghĩ một phút rồi nói: “Bờ biển này thì không được.”

Gã có khuôn mặt vui vẻ, tươi tắn.

“Chỗ của anh đẹp thật,” tôi nói. “Giống như một căn nhà nhỏ.”

Gã liếc nhìn về phía phòng mình với thảm trải sàn và rèm cửa sặc sỡ. Gã mỉm cười.

“Chúng tôi còn có cả bình pha cà phê nữa đấy.”

“Trước kia tôi cũng sống ở gần đây.”

“Đừng đùa nhé. Chính tôi đã sinh ra và lớn lên ở thị trấn này.”

Tôi nhìn qua bãi cát về phía bãi đậu xe và cổng có rào ngăn, bên kia rào là một con đường hẹp được biển cả bao bọc hai bên, dẫn tới nơi trước kia từng là đảo.

Nhà tù xây bằng gạch đỏ nhìn quen thuộc như một ngôi trường miền duyên hải. Trên bãi cỏ xanh bên trái, tôi thấy một chấm trắng và một chấm hồng nhạt lớn hơn đang di chuyển. Tôi hỏi người lính gác và gã đáp: “Lợn và gà đấy!”

Tôi chợt nghĩ nếu trước đây mình cứ sống ở thị trấn cũ kỹ ấy, rất có thể tôi đã gặp người lính gác này lúc còn đi học, cưới anh ta và có một bầy con lít nhít rồi. Thật tuyệt khi được sống ở gần biển với một bầy con cùng đám lợn gà, mặc thứ mà bà nội tôi vẫn gọi là đồ giặt giũ, ngồi đâu đó giữa những bức tường bếp phủ vải sơn với đôi tay mập mạp và uống cà phê.

“Làm thế nào để vào được trong nhà tù đó?”

“Phải xin giấy thông hành.”

“Không! Làm cách nào để bị giam cơ?”

“Ồ,” gã phá lên cười, “trộm một chiếc xe hay cướp một cửa hàng chẳng hạn.”

“Trong đó có tù phạm sát nhân không?”

“Không. Đám sát nhân bị đưa đến nhà tù tiểu bang.”

“Còn ai khác nữa không?”

“À, hồi đầu mùa đông, chúng tôi có tiếp nhận một bọn du thủ du thực ở Boston tới. Chúng ném đá vào cửa sổ nhà người ta rồi bị bắt. Thế là suốt mùa đông chúng không còn phải chịu lạnh nữa, ngồi xem truyền hình, ăn uống ê hề, cuối tuần còn được chơi bóng rổ nữa.”

“Tuyệt thật.”

“Tuyệt, nếu cô thích,” gã lính gác đáp.

Tôi tạm biệt gã rồi đi tiếp, chỉ ngoái lại sau lưng có một lần. Người lính gác vẫn đứng ở cửa trạm gác và khi tôi sắp đi khuất, gã liền giơ tay lên chào.

Tôi ngồi trên một khúc cây lớn, đầy mùi hắc ín. Dưới cây cột xám của tháp nước sừng sững trên đồi cao, bãi cát chạy dài ra tới bờ biển. Khi thủy triều lên, nó bị ngập hoàn toàn dưới làn nước.

Tôi vẫn còn nhớ rất rõ bãi cát này. Dưới những chỗ trũng là nơi một loài sò không bờ biển nào có ẩn náu.

Loại sò ấy dày, trơn, lớn bằng ngón tay cái, thường có màu trắng, đôi khi màu hồng hoặc màu trái đào. Nó giống như ốc xà cừ loại thường.

“Mẹ ơi, cô kia vẫn còn ngồi ở đó.”

Tôi miễn cưỡng ngẩng đầu lên, thấy một chú bé dính đầy cát đang được người mẹ kéo lên khỏi bờ nước. Người phụ nữ ấy gầy gò có đôi mắt sắc sảo, mặc quần soóc đỏ với áo nịt chấm đỏ trắng.

Tôi không thể ngờ là bãi biển tràn ngập người đi nghỉ hè. Trong mười năm tôi xa vắng, những căn lều lục, lam, hồng đua nhau mọc trên bãi cát như loài nấm vô vị, những chiếc máy bay lấp lánh ánh bạc và những khí cầu hình điếu xì gà đã được thay thế bằng máy bay phản lực, thỉnh thoảng lại từ phi trường bay lướt qua vịnh, thổi tung bụi các mái nhà.

Tôi là cô gái duy nhất trên bãi biển mặc váy và đi giày cao gót, hẳn điều này sẽ khiến tôi nổi bật. Tôi đã cởi đôi giày chỉ sau một lát bị lún khi đi trên cát. Tôi thích thú khi tưởng tượng ra chúng nằm trên khúc cây màu bạc, mũi hướng ra biển như một loại la bàn cho linh hồn sau khi tôi chết.

Tôi lần giở hộp dao cạo trong chiếc xắc tay.

Liền đó tôi nghĩ mình thật ngu ngốc. Tôi có lưỡi dao cạo nhưng không có bồn tắm nước nóng.

Tôi nghĩ đến việc thuê một căn phòng. Hẳn rất sẵn nhà trọ ở những khu nghỉ hè. Nhưng tôi lại không có hành lý. Điều đó sẽ khiến người ta nghi ngờ. Thêm nữa ở nhà trọ thường có rất nhiều người cần dùng phòng tắm. Tôi khó lòng có thì giờ thực hiện việc ấy và nằm lì trong bồn khi có người đang đập cửa.

Những con mòng biển đậu trên cột gỗ cất tiếng kêu meo meo như mèo, rồi vỗ cánh bay lên, từng con một, với bộ lông màu tro, vừa lượn quanh đầu tôi vừa kêu gào.

“Cô ơi, cô không nên ngồi đây, thủy triều đang lên đấy.”

Đứa bé ngồi cách tôi vài bước. Nó nhặt một hòn sỏi tím, tròn ném xuống nước. Làn nước nuốt chửng nó với một tiếng “bõm” vọng lại. Đứa bé lại bới chung quanh và tôi nghe tiếng những viên sỏi sột soạt chạm vào nhau như những tờ tiền.

Nó lia một hòn đá ngang mặt nước xanh nhạt, viên đá nảy lên bảy lần trước khi trượt khỏi tầm mắt.

“Sao cháu không về nhà?” Tôi hỏi.

Đứa bé lại lia một viên đá khác nặng hơn. Nó chìm nghỉm sau khi nảy lên hai lần.

“Không thích.”

“Mẹ đang đi tìm cháu đấy.”

“Không đâu.” Nó nói có vẻ lo lắng.

“Nếu cháu về nhà, cô sẽ cho cháu kẹo.”

Đứa bé bước tới gần hơn. “Kẹo gì vậy?”

Nhưng không cần nhìn, tôi cũng biết trong xắc tay chỉ có toàn vỏ lạc.

“Cô sẽ cho cháu tiền mua kẹo.”

“Ar…thur!”

Quả nhiên một người phụ nữ xuất hiện trên bãi cát, bà trượt ngã và hẳn đã rủa thầm bởi đôi môi mấp máy lên xuống giữa những tiếng gọi rành rọt và nghiêm khắc.

“Ar…thur!”

Bà ta lấy tay che mắt như để nhìn rõ chúng tôi hơn qua ánh hoàng hôn đang càng lúc càng mờ mịt trên biển.

Tôi có cảm tưởng sự chú ý của đứa bé giảm đi vì sự hối thúc của người mẹ tăng dần. Nó giả vờ như không quen biết gì tôi. Nó đá văng vài hòn sỏi như đang tìm kiếm cái gì đó rồi chạy biến.

Tôi rùng mình.

Những viên sỏi nằm trơ khấc, lạnh lẽo dưới đôi chân trần của tôi. Khiến tôi không ngớt nghĩ về đôi giày đen đang nằm trên bờ biển. Một con sóng lùi xa bờ như bàn tay rụt lại, rồi tiến lên chạm vào chân tôi.

Cái ướt rượt như tới từ tận đáy biển, nơi những con cá trắng mù lòa tự mình phát sáng xuyên thấu giá lạnh. Tôi trông thấy rải rác những chiếc răng cá mập cùng xương cá voi như mộ bia.

Tôi chờ đợi, chờ biển cả sẽ quyết định thay mình.

Làn sóng thứ hai tan dưới chân tôi, bọt trắng khẽ hôn đôi chân. Một cơn ớn lạnh vồ lấy mắt cá kéo theo cơn đau khủng khiếp.

Thịt da tôi kinh khiếp, run sợ trước cái chết này.

Tôi vội lượm xắc tay lên, vượt qua bãi sỏi lạnh giá quay trở lại nơi đôi giày vẫn chưa thôi cảnh giác trong hoàng hôn màu tím.

Trần Quế Chi (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.