Những Đứa Trẻ Đường Tàu

Lượt đọc: 53 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
Những Người Lính Cứu Hỏa Nghiệp Dư

❊ ❊ ❊

“Chiếc trâm cài của cô bé trông xinh xắn đấy,” bác khuân vác Perks bảo; “bác chẳng thấy thứ gì giống bông hoa mao lương hơn thế, trừ phi nó CHÍNH LÀ một bông hoa mao lương thật.”

“Vâng ạ,” Bobbie đáp, vừa mừng rỡ vừa đỏ ửng mặt trước lời khen. “Cháu cũng luôn thấy nó giống hệt một bông mao lương thật—và cháu CHẲNG BAO GIỜ dám nghĩ nó sẽ thuộc về mình, của riêng cháu—thế rồi Mẹ đã tặng cháu nhân dịp sinh nhật.”

“Ồ, cháu vừa có sinh nhật ư?” bác Perks nói, vẻ mặt đầy ngạc nhiên, cứ như thể sinh nhật là thứ chỉ dành riêng cho vài kẻ may mắn hiếm hoi.

“Vâng ạ,” Bobbie nói; “thế sinh nhật bác là ngày nào, bác Perks?” Mấy đứa trẻ đang ngồi uống trà cùng bác Perks trong phòng dành cho người khuân vác, giữa những ngọn đèn dầu và đống lịch đường sắt. Chúng mang theo tách riêng và mấy chiếc bánh nướng nhân mứt. Bác Perks pha trà trong một chiếc vỏ lon bia như thường lệ, và ai nấy đều cảm thấy vô cùng vui vẻ, gần gũi.

“Sinh nhật bác à?” bác Perks vừa nói vừa nghiêng lon rót thêm chút nước trà nâu đậm vào tách của Peter. “Bác đã thôi không đón sinh nhật từ trước khi các cháu ra đời rồi.”

“Nhưng bác cũng phải được sinh ra vào MỘT LÚC NÀO ĐÓ chứ,” Phyllis trầm ngâm tiếp lời, “cho dù là hai mươi năm trước—hay ba mươi, sáu mươi, hoặc bảy mươi năm.”

“Chưa lâu đến thế đâu, cô bé,” bác Perks nhoẻn miệng cười. “Nếu cháu thực sự muốn biết, thì đến ngày mười lăm tháng này là tròn ba mươi hai năm đấy.”

“Thế sao bác lại không tổ chức kỷ niệm?” Phyllis hỏi.

“Bác còn phải lo những thứ khác quan trọng hơn sinh nhật nhiều,” bác Perks đáp ngắn gọn.

“Ồ! Thứ gì thế ạ?” Phyllis háo hức hỏi. “Có phải những điều bí mật không?”

“Không,” bác Perks nói, “là lũ nhóc với bà nhà bác.”

Chính cuộc trò chuyện này đã khiến lũ trẻ bận lòng suy nghĩ, rồi chẳng mấy chốc rủ nhau bàn tán. Xét cho cùng, bác Perks là người bạn thân thiết nhất mà chúng kết thân được ở đây. Tuy không bệ vệ như ông Trưởng ga, nhưng bác lại dễ gần hơn—dẫu chẳng quyền uy như ông cụ, nhưng bác lại ấm áp, đáng tin cậy hơn nhiều.

“Chẳng có ai mừng sinh nhật cho bác ấy thì buồn thật,” Bobbie nói. “Tụi mình có thể làm gì đó không nhỉ?”

“Ra cầu kênh rồi bàn tiếp,” Peter đề nghị. “Sáng nay anh vừa xin được sợi dây cước mới từ bác đưa thư. Bác ấy cho anh để đổi lấy bó hoa hồng anh hái cho người yêu bác ấy. Chị ấy đang bị ốm.”

“Thế thì em nghĩ anh nên tặng hoa cho chị ấy không công mới phải chứ,” Bobbie tỏ vẻ bất bình.

“Lại bắt đầu rồi đấy!” Peter khó chịu đáp rồi đút tay vào túi quần.

“Anh ấy có lấy công đâu,” Phyllis vội phân bua; “vừa nghe tin chị ấy ốm là tụi em đã hái hoa sẵn rồi đứng đợi ngoài cổng rồi. Lúc ấy chị đang bận nướng bánh mì ăn sáng. Đến khi bác ấy nói lời cảm ơn vì bó hoa—cảm ơn nhiều hơn mức cần thiết—bác ấy mới rút sợi cước ra đưa cho Peter. Đó không phải là đổi chác, mà là tấm lòng biết ơn của người ta thôi.”

“Ôi, chị XIN LỖI Peter nhé,” Bobbie nói, “chị thực sự xin lỗi.”

“Không có gì,” Peter nói giọng đầy rộng lượng, “anh biết thế nào chị cũng sẽ nói vậy mà.”

Thế là cả ba cùng rảo bước ra cầu kênh. Dự tính ban đầu là đứng trên cầu buông cần, nhưng sợi cước lại hơi ngắn.

“Không sao đâu,” Bobbie nói. “Cứ đứng đây ngắm cảnh cũng được mà. Mọi thứ đẹp quá chừng.”

Quả đúng như vậy. Mặt trời đang lặn xuống, nhuộm ráng đỏ rực rỡ lên những ngọn đồi xám tím, còn dòng kênh thì phẳng lặng, lấp lánh trong bóng chiều tà—mặt nước không gợn một gợn sóng. Trông nó hệt như một dải lụa xám nằm giữa hai bờ cỏ xanh mướt như gấm vóc trải dài hai bên.

“Đẹp thật đấy,” Peter nói, “nhưng chẳng hiểu sao anh chỉ thấy cảnh đẹp hơn hẳn khi tay chân có việc gì đó để làm thôi. Xuống lối đi ven kênh câu cá đi.”

Phyllis và Bobbie nhớ lại lần bị mấy đứa nhóc trên thuyền chở than ném than vào người, liền nhắc nhở cậu em.

“Ôi dào, vớ vẩn,” Peter gạt phắt. “Giờ làm gì có đứa nào ở đây. Có thì anh cũng đánh cho một trận.”

Hai cô chị đủ tế nhị để không nhắc lại chuyện lần trước bị ném than cậu đã KHÔNG HỀ đánh lại ra sao. Thay vào đó, hai cô bé bảo: “Được rồi,” rồi cẩn thận lần theo bờ dốc trèo xuống lối đi ven sông. Sợi cước được móc mồi cẩn thận, suốt nửa tiếng đồng hồ cả ba kiên nhẫn câu trong vô vọng. Chẳng có lấy một cái nhấp mồi nào để nhen nhóm niềm hy vọng trong lòng chúng.

Cả ba đứa đều chăm chú dán mắt vào làn nước lờ đờ trôi—dòng nước như cố tình vờ như chưa từng có bóng dáng một con cá nhỏ nào—thì bỗng một tiếng quát tháo thô lỗ khiến chúng giật thót tim.

“Này!” tiếng quát vang lên đầy cộc cằn, “cút khỏi đó ngay, có nghe không hả?”

Một con ngựa trắng già đang lững thững đi dọc lối ven kênh, chỉ còn cách chúng chừng năm sáu thước. Lũ trẻ bật dậy, vội vã trèo ngược lên bờ dốc.

“Đợi họ đi qua rồi tụi mình lại trèo xuống,” Bobbie thì thào.

Nhưng than ôi, chiếc sà lan, đúng theo thói thường của loài thuyền bè, lại đỗ xịch ngay dưới chân cầu.

“Nó sắp thả neo rồi,” Peter nói; “đen đủ đường!”

Thực ra chiếc sà lan không hề thả neo, bởi thuyền kênh chẳng bao giờ trang bị mỏ neo, nhưng nó được buộc chặt bằng dây thừng ở cả đầu lẫn đuôi—dây được cột ghì vào hàng rào gỗ và những chiếc xà beng cắm sâu xuống đất.

“Nhìn cái gì mà nhìn?” gã lái thuyền gầm gừ giận dữ.

“Tụi cháu có nhìn đâu ạ,” Bobbie đáp; “tụi cháu đâu có thô lỗ thế.”

“Thô với chả lỗ,” gã đàn ông nói; “biến đi cho khuất mắt!”

“Bác tự đi mà biến,” Peter cãi lại. Cậu nhớ lại những lời ba hoa lúc nãy về chuyện đánh nhau với lũ trẻ con, hơn nữa lại thấy mình đang đứng an toàn ở lưng chừng bờ dốc. “Tụi cháu có quyền ở đây chẳng kém gì ai.”

“À, THẾ CƠ ĐẤY!” gã đàn ông gằn giọng. “Để xem nào.” Nói rồi gã bước phăm phăm qua boong tàu, bắt đầu trèo xuống mạn thuyền.

“Ôi, chạy đi, Peter, chạy mau!” Bobbie và Phyllis hoảng hốt đồng thanh hét lên.

“Không đời nào,” Peter nói, “nhưng HAI NGƯỜI thì nên chạy đi.”

Hai cô gái trèo tót lên đỉnh dốc, đứng thủ thế sẵn sàng cắm đầu chạy về nhà ngay khi thấy em trai thoát nạn. Đường về nhà toàn dốc xuôi. Cả hai đều biết mình chạy rất nhanh. Còn gã lái thuyền trông chẳng có vẻ gì là chạy giỏi. Mặt gã đỏ gay, người ngợm nặng nề, hộ pháp.

Thế nhưng ngay khi chân gã vừa chạm xuống bờ kênh, lũ trẻ mới vỡ lẽ là mình đã đánh giá sai lầm.

Gã chỉ nhún người nhảy một bước vọt lên bờ dốc, túm chặt lấy chân Peter rồi lôi tuột cậu bé xuống—xốc đứng dậy, lắc cho một cái—rồi vặn chặt lấy tai cậu mà quát lớn:—

“Thế nào, muốn gì đây hả? Mày không biết đoạn sông này cấm câu à? Mày không có quyền câu cá ở đây—chưa kể cái thói láo xược của mày nữa đấy.”

Sau này Peter luôn tự hào mỗi khi nhớ lại rằng, dẫu ngón tay dữ dằn của gã lái sà lan đang bóp nghến lấy tai mình, gương mặt đỏ gay của gã kề sát mặt cậu, hơi thở nóng hổi của gã phả vào cổ cậu, cậu vẫn đủ can đảm để nói sự thật.

“Cháu ĐÂU CÓ câu được cá,” Peter nói.

“Đấy là vì mày không câu ĐƯỢC, chứ báu bở gì,” gã đàn ông vừa nói vừa vặn tai Peter thêm một cái—không quá mạnh—nhưng vẫn đủ đau điếng.

Peter không thể cãi lại điều đó. Ở phía trên, Bobbie và Phyllis bám chặt vào lan can, nhảy cẫng lên vì lo lắng. Bỗng nhiên, Bobbie lách qua hàng rào rồi lao thục mạng xuống bờ dốc về phía Peter, hăng đến mức Phyllis cẩn thận trèo xuống theo sau cứ ngỡ chắc mẩm chị mình sẽ lao thẳng xuống nước kênh. Mà hẳn là thế thật, nếu gã lái thuyền không buông tai Peter ra—rồi kịp giơ cánh tay áo len thô kệch đỡ lấy cô bé.

“Con ranh này xô đẩy ai đấy hả?” gã nói, đỡ cô bé đứng ngay ngắn lại.

“Ôi,” Bobbie thở hổn hển, “cháu không cố ý xô ai đâu ạ. Ít nhất là không cố tình. Xin bác đừng mắng em Peter. Đương nhiên, nếu dòng kênh này là của bác, tụi cháu xin lỗi và sẽ không bén mảng tới nữa. Nhưng tụi cháu đâu biết nó là của bác.”

“Cút xéo đi cho rảnh,” gã lái sà lan nói.

“Vâng, tụi cháu đi ngay đây ạ; đi thật mà,” Bobbie tha thiết nói; “nhưng tụi cháu thật lòng xin lỗi bác—và quả thật tụi cháu chưa câu được con cá nào cả. Nếu câu được cháu đã nói thật ngay rồi, cháu thề danh dự đấy.”

Cô bé chìa hai bàn tay ra, còn Phyllis thì lộn cả chiếc túi áo con trống rỗng ra ngoài để chứng minh rằng mình thực sự không giấu giếm con cá nào.

“Thôi được,” gã lái sà lan dịu giọng hơn, “chuồn mau đi, và đừng có bén mảng lại đây nữa, thế thôi.”

Lũ trẻ vội vã leo ngược lên bờ dốc.

“Quăng cho tao cái áo khoác, M'ria!” gã đàn ông hét lớn. Một người phụ nữ tóc đỏ choàng chiếc khăn kẻ ô màu xanh lá bế đứa bé bước ra từ cửa cabin, ném chiếc áo khoác cho gã. Gã xỏ áo vào, trèo lên bờ dốc rồi lê bước qua cầu hướng về phía ngôi làng.

“Cho thằng bé ngủ xong thì cứ lên quán ‘Hoa hồng và Vương miện’ mà tìm tao,” gã đứng trên cầu gọi với lại.

Đợi khi bóng gã khuất hẳn, lũ trẻ mới chầm chậm quay trở lại. Đó là do Peter nằng nặc đòi thế.

“Con kênh có thể là của gã,” cậu nói, “dù anh chả tin đâu. Nhưng cây cầu này là của chung mọi người. Bác sĩ Forrest đã bảo anh đây là tài sản công cộng. Đừng hòng gã hay bất kỳ ai đuổi được anh ra khỏi cây cầu này, anh nói cho mà biết.”

Tai Peter vẫn còn ê ẩm, và lòng tự ái của cậu cũng đau không kém.

Hai cô gái lẳng lặng đi theo sau cậu, hệt như những người lính dũng cảm dõi theo vị chỉ huy trong một trận đánh tuyệt vọng.

“Ước gì anh đừng làm thế,” hai cô bé chỉ biết khuyên nhủ bấy nhiêu.

“Sợ thì về nhà đi,” Peter gắt; “mặc kệ anh. ANH chả sợ.”

Tiếng bước chân của gã đàn ông xa dần rồi chìm hẳn trên con đường vắng lặng. Không gian chiều hôm tĩnh mịch không hề bị phá vỡ bởi tiếng hót của loài chích đầm lầy hay giọng hát ru con của người đàn bà trên sà lan. Đó là một bài ca buồn bã. Gì đó về chàng Bill Bailey và nỗi lòng mong mỏi chàng sớm quay về tổ ấm.

Mấy đứa trẻ đứng tựa tay lên thành cầu; chúng mừng vì có được vài phút yên tĩnh bởi tim đứa nào đứa nấy vẫn còn đập thình thịch trong lồng ngực.

“Tôi chẳng việc gì phải để lão lái thuyền già đuổi đi cả, đừng có hòng,” Peter ấm ức lầu bầu.

“Dĩ nhiên rồi,” Phyllis vỗ về; “anh đâu có chịu thua gã! Thế nên giờ tụi mình về nhà được rồi chứ nhỉ?”

“KHÔNG,” Peter gạt đi.

Chẳng ai nói thêm lời nào cho đến khi người phụ nữ bước ra khỏi sà lan, leo lên bờ dốc rồi đi ngang qua cầu.

Chị ngập ngừng nhìn ba tấm lưng của lũ trẻ, rồi cất giọng: “Hèm.”

Peter vẫn đứng trơ ra đó, nhưng hai cô bé liền ngoái lại.

“Mấy đứa đừng để bụng lão Bill nhà chị làm gì,” người phụ nữ nói; “lão miệng hùm gan sứa ấy mà. Lũ nhóc miệt Farley dưới kia nghịch như quỷ sứ. Chính tụi nó chọc lão nổi điên lên vì cứ réo câu vè ‘ai ăn bánh nhân thịt chó con dưới gầm cầu Marlow’.”

“Thế AI ăn ạ?” Phyllis tò mò hỏi.

“Chị chịu,” người phụ nữ đáp. “Có ma mới biết! Nhưng chẳng hiểu sao, chẳng rõ đầu đuôi thế nào mà mấy lời ấy cứ như thuốc độc chọc điên mấy ông lái sà lan. Mấy đứa đừng bận tâm. Lão đi phải hai tiếng nữa mới về. Từ giờ đến lúc ấy tha hồ mà câu cá. Trời còn sáng sủa chán,” chị bồi thêm.

“Cháu cảm ơn cô,” Bobbie nói. “Cô tốt bụng quá. Thế em bé đâu rồi ạ?”

“Ngủ trong cabin rồi,” người phụ nữ nói. “Thằng bé ngoan lắm. Chẳng bao giờ thức giấc trước mười hai giờ đêm đâu. Đều đặn như chuông nhà thờ ấy.”

“Tiếc quá,” Bobbie nói; “cháu rất muốn được nhìn em bé ở cự ly gần.”

“Chẳng đứa nào kháu khỉnh bằng đâu cô bé ạ, dẫu là mẹ nó tự khen thì cũng phải nói thế.” Gương mặt người phụ nữ rạng rỡ hẳn lên khi nói về con.

“Cô không sợ khi để em bé lại một mình sao?” Peter hỏi.

“Lạy trời, sợ gì chứ,” người phụ nữ bảo; “ai nỡ lòng nào làm hại một sinh linh bé bỏng như thế? Huống hồ còn có con Vện ở đó nữa. Chào mấy đứa nhé!”

Người phụ nữ rảo bước bỏ đi.

“Tụi mình về nhà thôi chứ?” Phyllis hỏi.

“Hai người về đi. Anh sẽ câu cá,” Peter cụt ngủn đáp.

“Em tưởng tụi mình lên đây để bàn chuyện sinh nhật bác Perks cơ mà,” Phyllis nhắc.

“Sinh nhật bác Perks để sau cũng được.”

Thế là chúng lại leo xuống bờ kênh và Peter tiếp tục câu. Cậu chẳng bắt được con nào cả.

Trời đã gần như tối mịt, hai cô bé bắt đầu thấm mệt, và như Bobbie nói thì đã quá giờ đi ngủ, bỗng nhiên Phyllis thất thanh kêu lên: “Cái gì thế kia?”

Cô bé chỉ tay về phía chiếc thuyền. Khói đang bốc ra từ ống khói của cabin, thực ra nó vẫn lượn lờ nhè nhẹ vào làn gió chiều từ nãy đến giờ—nhưng lúc này, từng cuộn khói khác đang ngùn ngụt bốc lên, và lần này là từ cánh cửa cabin.

“Cháy thuyền rồi—có thế thôi,” Peter thản nhiên nói. “Đáng đời lão.”

“Ôi—sao anh CÓ THỂ nói thế được?” Phyllis kêu lên. “Nghĩ đến con chó tội nghiệp xem.”

“EM BÉ!” Bobbie thét lên.

Chỉ trong chớp mắt, cả ba đứa lao vụt về phía chiếc sà lan.

Dây thừng buộc thuyền bị chùng, và một làn gió nhẹ, tuy khó lòng cảm nhận được, nhưng cũng đủ sức đẩy đuôi thuyền dạt sát vào bờ. Bobbie chạy trước—rồi đến Peter, và chính Peter là người trượt chân ngã nhào. Cậu bé chìm nghỉm xuống dòng kênh tới tận cổ, chân không chạm tới đáy, may sao tay kịp bám vào mạn thuyền. Phyllis túm chặt lấy tóc cậu. Đau điếng người, nhưng nhờ thế mà cậu trèo lên được. Giây tiếp theo, cậu đã nhảy tót lên thuyền, Phyllis theo sát ngay sau.

“Đừng vào!” cậu hét lên với Bobbie; “ĐỂ ANH, người anh ướt rồi.”

Cậu đuổi kịp Bobbie ngay trước cửa cabin, rồi gạt phắt cô bé sang một bên hết sức thô bạo; nếu như lúc thường đang chơi đùa, cú đẩy mạnh ấy hẳn đã làm Bobbie phải bật khóc vì đau và giận. Nhưng lúc này, dù bị xô ngã dúi dụi vào thành khoang hàng đến nỗi trầy da tróc vảy ở đầu gối và khuỷu tay, cô bé chỉ hét lên:—

“Không—đừng để anh—ĐỂ EM,” rồi gượng đứng dậy. Nhưng đã không kịp nữa.

Peter đã lao xuống hai bậc thang cabin, chìm vào đám khói mù mịt dày đặc. Cậu khựng lại, nhớ lại tất cả những gì từng nghe nói về hỏa hoạn, liền rút chiếc khăn tay ướt sũng trong túi ngực ra buộc quanh miệng. Vừa kéo khăn ra, cậu vừa hét với lại:—

“Không sao đâu, hầu như chẳng có lửa mấy!”

Và điều này, dù cậu biết mười mươi là mình đang nói dối, lại là một cử chỉ rất đỗi nghĩa hiệp của Peter. Cậu làm vậy chỉ cốt để Bobbie không lao vào chốn nguy hiểm theo mình. Lẽ dĩ nhiên là cô bé chẳng thèm nghe.

Bên trong cabin rực lên một màu đỏ quạch. Một chiếc đèn dầu hỏa vẫn đang cháy bình thản giữa làn sương khói màu cam.

“Này,” Peter kéo chiếc khăn khỏi miệng trong chốc lát, cất tiếng gọi. “Này, Em bé ơi—em ở đâu?” Cậu sặc khói ho sù sụ.

“Ôi, để EM vào cho,” Bobbie gào lên ngay sát phía sau. Peter lại thô bạo đẩy cô bé lùi lại một lần nữa, rồi tiếp tục dò dẫm bước tới.

Giờ đây chẳng biết cơ sự sẽ ra sao nếu đứa bé không cất tiếng khóc—nhưng đúng vào khoảnh khắc ấy, tiếng khóc ĐÃ vang lên. Peter mò mẫm trong màn khói đen đặc, chạm phải một thứ gì đó nhỏ nhắn, mềm mại, ấm áp và còn sống, cậu bế thốc nó lên rồi lùi vội ra ngoài, suýt nữa thì va sầm vào Bobbie đang đứng ngay sau lưng. Một con chó đớp vào ống quần cậu—cố sủa lên nhưng lại bị sặc khói nghẹn lại.

“Anh bế được đứa bé rồi,” Peter giật phăng chiếc khăn tay ra, lảo đảo bước lên boong tàu.

Bobbie chộp lấy nơi phát ra tiếng sủa, hai tay ôm trọn lấy tấm lưng tròn lẳn của một chú chó lông mượt. Nó quay ngoắt lại ngoạm lấy tay cô bé, nhưng rất khẽ khàng, như thể muốn nói:—

“Bổn phận của tôi là phải sủa và cắn khi có người lạ xông vào cabin của chủ, nhưng tôi biết các người có ý tốt, nên tôi sẽ không cắn THẬT đâu.”

Bobbie thả con chó xuống.

“Không sao đâu, cún ngoan. Chó ngoan lắm,” cô bé nói. “Đưa đây—đưa em bé cho chị, Peter; người em ướt sũng thế kia sẽ làm em bé bị cảm lạnh mất.”

Peter mừng rỡ trao ngay bọc nhỏ kỳ lạ đang ngọ nguậy khóc thút thít trong vòng tay mình.

“Bây giờ,” Bobbie dồn dập bảo, “em chạy thẳng đến quán ‘Hoa hồng và Vương miện’ báo cho họ biết ngay đi. Chị với Phil sẽ ở lại đây trông cục cưng. Ngoan nào, bé cưng, thiên thần nhỏ của chị! Đi NGAY đi, Peter! Chạy mau!”

“Em chẳng chạy nổi với đống quần áo này đâu,” Peter quả quyết; “nó nặng như chì ấy. Em đi bộ thôi.”

“Thế thì để CHỊ chạy,” Bobbie nói. “Trèo lên bờ đi Phil, chị chuyền em bé cho.”

Đứa bé được cẩn thận trao tay. Phyllis ngồi bệt xuống bờ kênh, dỗ dành cho bé nín. Peter cố hết sức vắt nước khỏi tay áo và hai ống quần lửng, còn Bobbie thì phóng như bay qua cầu, lao vút đi trên con đường làng dài hun hút, trắng xóa và tĩnh lặng trong ánh hoàng hôn để đến quán ‘Hoa hồng và Vương miện’.

Tại quán ‘Hoa hồng và Vương miện’ có một căn phòng cổ kính rất ấm cúng, nơi những người lái sà lan và vợ của họ thường tụ tập vào mỗi buổi tối để nhâm nhi vại bia bữa tối, và nướng miếng pho mát của mình trên một rổ than hồng rực chìa ra giữa phòng dưới chiếc ống khói hình mũ trùm đầu khổng lồ—nơi ấy ấm áp, xinh xắn và dễ chịu hơn bất kỳ lò sưởi nào mà tôi từng được thấy.

Bên bếp lửa là một nhóm người đi sà lan đang chuyện trò rôm rả. Bạn có thể không thấy thú vị, nhưng họ thì có; bởi tất cả họ đều là bạn bè hoặc người quen biết, họ có chung những sở thích và nói chung một kiểu chuyện. Đó chính là bí quyết thực sự của một hội nhóm vui vẻ. Gã lái thuyền Bill, kẻ mà lũ trẻ thấy cộc cằn đến thế, lại được các bạn thuyền coi là một người bạn tuyệt vời. Gã đang kể về một mối oan ức của chính mình—một chủ đề bao giờ cũng đầy ly kỳ. Gã đang nói về chiếc sà lan của mình.

“Và lão ta gửi lời nhắn ‘sơn lại từ trong ra ngoài cho tao’, chẳng thèm bảo là màu gì, các bác thấy không? Thế là tôi lấy cả đống sơn xanh lá rồi phết từ mũi đến lái, tôi nói thật với các bác trông nó oách xà lách cực kỳ. Thế rồi LÃO ĐẾN, lão bảo: ‘Sao mày lại sơn cả cái thuyền một màu thế kia hả?’ Tôi mới bảo: ‘Vì tôi nghĩ trông nó sẽ sang nhất trần đời, và giờ tôi vẫn nghĩ thế.’ Lão bèn gắt: ‘THẾ CƠ À? Thế thì tự móc tiền túi ra mà trả tiền sơn nhé con trai.’ Thế là tôi phải è cổ ra trả đấy.” Một tiếng rì rầm đầy cảm thông vang lên khắp phòng. Chặn ngang bầu không khí ấy là sự xuất hiện ồn ào của Bobbie. Cô bé xô bật cánh cửa xoay—thở không ra hơi mà hét lớn:—

“Bác Bill! Cháu cần gặp bác lái thuyền Bill!”

Cả căn phòng sững sờ im phăng phắc. Những vại bia đang dở dang trên đường đưa lên miệng những kẻ khát nước bỗng chốc khựng lại giữa không trung.

“Ôi,” Bobbie thốt lên khi nhìn thấy người vợ lái thuyền liền lao ngay về phía chị. “Cabin sà lan của cô cháy rồi. Mau về đi ạ.”

Người phụ nữ bật dậy, ôm chặt bàn tay to thô đỏ ửng vào mạng sườn bên trái, nơi người ta thường ôm lấy trái tim mình mỗi khi kinh hãi hoặc đau khổ cùng cực.

“Reginald Horace!” chị thét lên một tiếng kinh hoàng; “Reginald Horace của tôi!”

“Không sao đâu ạ,” Bobbie nói, “nếu cô muốn nói đến em bé; tụi cháu đã đưa em ra an toàn rồi. Cả con chó nữa.” Cô bé chẳng còn hơi sức để nói thêm gì ngoài câu: “Đi mau đi—lửa cháy đùng đùng rồi.”

Nói đoạn, cô bé ngã phịch xuống băng ghế trong quán bia, cố hít lấy luồng dưỡng khí để hồi sức sau khi chạy thục mạng—thứ mà người ta vẫn gọi là ‘lấy lại hơi’. Nhưng cô bé cảm thấy như thể lồng ngực mình sẽ chẳng bao giờ thở lại được nữa.

Bill, gã lái sà lan, nặng nề và chậm chạp đứng dậy. Nhưng vợ gã đã chạy tót đi xa cả trăm thước trên đường trước khi gã kịp hiểu rốt cuộc có chuyện quái quỷ gì đang xảy ra.

Phyllis đang run rẩy bên bờ kênh, vừa mới nghe thấy tiếng bước chân dồn dập đến gần thì người phụ nữ đã nhào qua hàng rào, lăn lông lốc xuống bờ dốc rồi giật phăng đứa bé khỏi tay cô bé.

“Đừng mà,” Phyllis hờn dỗi trách móc; “cháu vừa mới dỗ cho em ngủ xong đấy.”

Một lúc sau Bill mới hớt hải chạy đến, miệng tuôn ra một tràng những từ ngữ hoàn toàn xa lạ với lũ trẻ. Gã nhảy tót lên sà lan rồi múc từng xô nước dội vào. Peter phụ một tay và họ đã dập tắt được đám cháy. Phyllis, người vợ lái sà lan, đứa bé—và một lát sau cả Bobbie nữa—ngồi túm tụm lại thành một đống trên bờ kênh.

“Lạy Chúa tôi, nếu chính con để quên thứ gì dễ bắt lửa,” người phụ nữ cứ lặp đi lặp lại mãi câu ấy.

Nhưng chẳng phải do chị. Thủ phạm chính là Bill, gã lái thuyền, lúc gõ tẩu thuốc đã để tàn tro đỏ rực rơi xuống tấm thảm trước lò sưởi, nó cứ thế âm ỉ cháy rồi bùng lên thành ngọn lửa. Dù là một kẻ cộc cằn nhưng gã rất công bằng. Gã không hề đổ lỗi cho vợ vì sai lầm của chính mình, điều mà rất nhiều gã lái thuyền, và cả những gã đàn ông khác, vẫn thường hay làm.

Mẹ gần như phát điên vì lo lắng khi cuối cùng ba đứa trẻ cũng mò về đến Ba Ống Khói, đứa nào đứa nấy giờ đã ướt sũng, vì có vẻ nước ướt từ người Peter đã lây lan sang cả mấy đứa kia. Nhưng khi chắp nối được sự thật của những gì vừa diễn ra từ câu chuyện kể lộn xộn, đứt quãng của chúng, mẹ thừa nhận rằng chúng đã hành động hoàn toàn đúng đắn, và chẳng thể làm khác đi được. Mẹ cũng không hề ngăn cản khi chúng nhận lời mời nồng nhiệt của gã lái sà lan trước lúc chia tay.

“Bảy giờ sáng mai mấy đứa cứ ra đây,” gã đã bảo thế, “chú sẽ cho đi một chuyến trọn vẹn tới Farley rồi quay về, chú nói thật đấy, không lấy một xu nào đâu. Qua mười chín cái âu tàu lận!”

Lũ trẻ chẳng biết âu tàu là cái giống gì; nhưng đúng bảy giờ sáng chúng đã có mặt ở cầu kênh, mang theo bánh mì, pho mát, nửa chiếc bánh ngọt sô-đa và cả một góc tư đùi cừu đựng trong giỏ.

Đó quả là một ngày tuyệt vời. Con ngựa trắng già căng mình kéo dây, chiếc sà lan lướt đi êm ả, vững vàng qua làn nước phẳng lặng. Bầu trời xanh ngắt trên cao. Bác Bill thì tử tế hết mức có thể. Chẳng ai nghĩ đây lại chính là người đàn ông từng vặn véo tai Peter hôm qua. Còn bác gái Bill thì lúc nào cũng dễ thương, như Bobbie đã nhận xét, em bé cũng vậy, và cả chú chó Vện nữa—nó vốn dĩ đã có thể ngoạm cho chúng một phát thật đau nếu nó muốn.

“Tuyệt cú mèo luôn mẹ ạ,” Peter hào hứng kể khi chúng về đến nhà trong bộ dạng vô cùng sung sướng, vô cùng mệt mỏi và vô cùng lấm lem, “thuyền đi qua cả cây cầu dẫn nước tráng lệ nữa. Còn các âu tàu—mẹ không tưởng tượng nổi nó như thế nào đâu. Thuyền chìm dần xuống lòng đất, rồi đúng lúc mình cảm thấy như sẽ tụt xuống mãi không dừng, thì hai cánh cổng đen khổng lồ từ từ, từ từ mở ra—thuyền lướt ra ngoài, và thế là mình lại nổi trên mặt kênh y như lúc ban đầu.”

“Mẹ biết chứ,” Mẹ nói, “trên sông Thames cũng có những âu tàu như thế. Hồi chưa cưới, Bố và Mẹ vẫn thường chèo thuyền dạo chơi trên sông ở đoạn Marlow.”

“Và cả em bé cưng ơi là cưng nữa,” Bobbie nói; “em ấy để con ẵm bồng suốt cả buổi—ngoan ơi là ngoan. Mẹ ơi, ước gì nhà mình có một em bé để chơi cùng nhỉ.”

“Và ai cũng đối xử tốt với tụi con,” Phyllis tiếp lời, “tất cả những người tụi con gặp trên đường ấy. Họ bảo tụi con thích câu cá lúc nào cũng được. Bác Bill còn bảo lần tới ghé qua đây bác sẽ chỉ cho tụi con cách câu chuẩn. Bác bảo tụi con chưa biết câu thật sự đâu.”

“Bác ấy bảo EM không biết câu thì có,” Peter cãi; “nhưng Mẹ ơi, bác ấy bảo sẽ loan báo cho tất cả dân lái sà lan khắp con kênh này biết tụi con là những đứa trẻ cực kỳ tử tế, và bảo họ phải đối xử với tụi con như những người bạn tốt đích thực.”

“Thế nên con mới bảo,” Phyllis chen ngang, “mỗi lần đi câu bên kênh tụi con sẽ đeo một dải ruy băng đỏ, để họ nhận ra đó là TỤI CON, biết tụi con là những đứa trẻ tử tế, rồi đối xử tốt với tụi con!”

“Vậy là các con lại kết thêm được một hội bạn nữa rồi đấy,” Mẹ cười bảo; “đầu tiên là đường sắt, giờ lại đến kênh đào!”

“Dạ vâng,” Bobbie nói; “con nghĩ mọi người trên thế giới này đều có thể làm bạn của nhau, miễn là mẹ làm cho họ hiểu rằng mình chẳng hề muốn làm kẻ thù của họ.”

“Có lẽ con nói đúng,” Mẹ nói và khẽ thở dài. “Nào, mấy chú chim non. Đến giờ đi ngủ rồi.”

“Vâng ạ,” Phyllis nói. “Ôi trời—tụi mình lên đó vốn là để bàn xem sẽ làm gì cho sinh nhật bác Perks cơ mà. Thế mà rốt cuộc chẳng bàn được tí gì!”

“Ừ, tụi mình quên khuấy mất,” Bobbie nói; “nhưng Peter đã cứu mạng Reginald Horace đấy thôi. Em nghĩ bấy nhiêu đó là quá đủ cho một buổi tối rồi.”

“Bobbie cũng đã cứu được nó nếu anh không xô chị ấy ngã; anh đẩy ngã những hai lần cơ,” Peter thật thà nói.

“Em cũng thế,” Phyllis tiếp lời, “nếu em biết phải làm gì.”

“Đúng vậy,” Mẹ nói, “các con đã cứu sống một đứa trẻ. Mẹ nghĩ bấy nhiêu là quá đủ cho một buổi tối rồi. Ôi, các thiên thần của mẹ, tạ ơn Chúa vì TẤT CẢ CÁC CON đều được bình an vô sự!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của E. Nesbit

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.