Đó là vào buổi sáng ngày 6 tháng 7 năm 2137, chúng tôi tiến vào cửa sông Thames—theo trí nhớ tốt nhất của tôi, đây là chiếc thuyền phương Tây đầu tiên lướt trên làn nước lịch sử ấy sau hai trăm hai mươi mươi mốt năm!
Nhưng đâu rồi những chiếc tàu lai dắt, những chiếc xà lan, những con tàu nhẹ, phao tiêu, cùng vô số những vật dụng từng làm nên nhịp sống muôn màu của dòng Thames cổ kính?
Đã mất! Tất cả đã mất! Chỉ còn lại sự tĩnh lặng và cảnh hoang tàn ngự trị nơi từng là trung tâm thương mại của thế giới.
Tôi không sao kìm được lòng mình khi so sánh dòng nước từng vĩ đại này với vùng nước xung quanh New York, Rio, San Diego, hay Valparaiso của chúng tôi. Chúng đã trở thành như ngày nay trong suốt hai thế kỷ hòa bình sâu sắc mà những người lính hải quân chúng tôi vốn hay phàn nàn. Và điều gì, trong cùng khoảng thời gian ấy, đã tước đi vẻ vương giả thuở ban đầu của dòng Thames?
Là một người lính, tôi chỉ có thể tìm ra một từ duy nhất để giải thích—chiến tranh!
Tôi cúi đầu, dời mắt khỏi khung cảnh quạnh quẽ và ảm đạm, rồi trong một sự im lặng mà chẳng ai trong chúng tôi muốn phá vỡ, chúng tôi tiếp tục tiến ngược dòng sông vắng bóng người.
Chúng tôi đã đến một điểm mà qua bản đồ, tôi đoán chừng là vị trí cũ của Erith, thì tôi phát hiện ra một đàn linh dương nhỏ ở ngay phía trong bờ một quãng ngắn. Vì lúc này chúng tôi đã hoàn toàn cạn sạch thịt thêm một lần nữa, và vì tôi đã từ bỏ mọi hy vọng tìm thấy một thành phố nào trên nền đất của London cổ xưa, nên tôi quyết định lên bờ để săn vài con thú.
Tin chắc rằng chúng rất nhút nhát và dễ hoảng sợ, tôi quyết định một mình đi rình bắt chúng, dặn đám người chờ ở thuyền cho đến khi tôi gọi họ đến để khiêng xác thú về bờ.
Thận trọng bò qua các thóm thực vật, tận dụng những cây cối và bụi rậm có thể che khuất tầm nhìn, cuối cùng tôi đã đến gần như nằm trong tầm bắn con mồi của mình, thì chiếc đầu có sừng của con con đực bỗng ngẩng phắt lên không trung, rồi như thể tuân theo một tín hiệu đã được định trước từ trước, cả đàn thong thả di chuyển xa hơn vào sâu trong đất liền.
Vì nhịp bước của chúng rất khoan thai, tôi quyết định bám theo cho đến khi lại nằm trong tầm bắn, bởi tôi chắc chắn rằng chúng sẽ sớm dừng lại và ăn cỏ.
Chúng hẳn đã dẫn tôi đi khoảng một dặm hoặc hơn thế nữa trước khi lại dừng chân và bắt đầu cúi xuống gặm những thảm cỏ rậm rạp, tươi tốt. Suốt quãng thời gian bám theo chúng, tai và mắt tôi luôn cảnh giác trước mọi dấu hiệu hoặc âm thanh cho thấy sự hiện diện của loài Felis tigris; nhưng cho đến lúc ấy, không hề có lấy một dấu hiệu nhỏ nhất nào của loài mãnh thú xuất hiện.
Khi tôi rón rén tiến sát lại gần bầy linh dương, lần này chắc mẩm sẽ có một phát bắn chuẩn xác vào một con đực lớn, tôi chợt nhìn thấy một thứ khiến tôi kinh ngạc đến mức quên bẵng đi con mồi trước mắt.
Đó là hình thù của một sinh vật xám đen khổng lồ, giương tấm lưng vạm vỡ cao tới mười hai hoặc mười bốn feet khỏi mặt đất. Chưa bao giờ trong đời tôi lại thấy một sinh vật như vậy, và thoạt đầu tôi cũng chẳng nhận ra nó, bởi thực tế sống động khác biệt quá nhiều so với những mẫu vật nhồi bông, vô hồn được lưu giữ trong các viện bảo tàng của chúng tôi.
Nhưng rồi chẳng mấy chốc tôi cũng đoán ra thân phận của sinh vật hùng vĩ ấy chính là Elephas africanus, hay theo cách gọi thông thường của người xưa, là voi châu Phi.
Bầy linh dương, dẫu đứng ngay trong tầm mắt của con thú khổng lồ, lại chẳng thèm bận tâm đến nó chút nào, và tôi mải mê ngắm nhìn cỗ xe tăng bằng xương bằng thịt ấy đến mức quên bén việc nổ súng vào con linh dương đực, để rồi chẳng mấy chốc, theo một cách vô cùng bất ngờ, việc đó đã trở thành bất khả thi.
Con voi đang gặm những chồi non mơn mởn của một khóm bụi thấp, chiếc tai to vẫy vẫy và cái đuôi ngắn ngoe nguẩy. Bầy linh dương, cách nó chưa đầy hai mươi bước chân, vẫn đang thản nhiên ăn cỏ, thì đột nhiên, từ ngay sát bên cạnh đàn vật, vang lên một tiếng gầm vô cùng đáng sợ, và tôi thấy một thân hình lớn, màu vàng sậm lao vút ra từ đám lá ngụy trang phía sau bầy linh dương, chồm thẳng lên lưng một con linh dương non.
Ngay lập tức, khung cảnh yên bình tĩnh lặng biến thành một sự hỗn loạn không sao tả xiết. Con linh dương hoảng sợ cất lên những tiếng kêu thảm thiết. Đồng loại của nó tản ra, nhảy vọt về mọi hướng. Con voi ngẩng cao vòi, gầm lên một tiếng vang dội, rồi lầm lũi lao xuyên qua khu rừng, nghiền nát những thân cây nhỏ và giẫm nát các bụi rậm trong cơn hoảng loạn điên cuồng.
Gầm gừ một cách kinh hãi, một con sư tử lớn đang đứng trùm lên cái xác của con mồi—một sinh vật mà chưa từng có người Mỹ toàn châu Mỹ nào ở thế kỷ hai mươi hai từng tận mắt chứng kiến cho đến khi ánh mắt tôi đặt lên chúa tể muôn loài này.
Nhưng con quái vật dữ tợn với ánh mắt sắc lạnh ấy, tràn đầy sức sống và sinh lực, bộ lông mượt mà, đầy cảnh giác, gầm gừ, oai vệ biết bao, khác xa làm sao với những bản sao xỉn màu, mọt ăn nằm sau những tấm kính trong các sảnh đường ngột ngạt của viện bảo tàng công cộng!
Tôi chưa từng mong đợi hay hy vọng được nhìn thấy một con sư tử, hổ hay voi sống—nếu dùng những thuật ngữ quen thuộc với người xưa, bởi chúng có vẻ gọn gàng hơn những từ đang được chúng tôi sử dụng phổ biến hiện nay—và thế là, với tâm trạng lẫn lộn sự kinh hoàng, tôi đứng ngây người ngắm nhìn con mãnh thú vương giả này khi nó, đứng trên xác con mồi vừa hạ gục, cất tiếng gầm thách thức cả thế giới.
Mải mê trước khung cảnh ấy đến độ tôi quên cả bản thân mình, và để nhìn con sư tử lớn cho rõ hơn, tôi đã đứng phắt dậy, hiện diện lù lù cách nó chưa đầy năm mươi bước chân.
Trong khoảnh khắc, nó không nhìn thấy tôi, bởi sự chú ý của nó đang đổ dồn về phía con voi đang rút lui, và tôi có thừa thời gian để thỏa thuê chiêm ngưỡng dáng vóc tuyệt mỹ, cái đầu to lớn cùng bộ bờm đen dày của nó.
A, biết bao suy nghĩ đã xẹt qua tâm trí tôi trong những khoảnh khắc ngắn ngủi khi tôi đứng đó trong sự mê hoặc đến ngây ngẩn! Tôi đến đây để tìm kiếm một nền văn minh kỳ diệu, nhưng thay vào đó, tôi lại bắt gặp một bạo chúa hoang dã ngự trị nơi từng là vương quốc của các vị vua nước Anh. Một con sư tử đang trị vì, không bị quấy rầy, chỉ cách trung tâm của một trong những chính phủ vĩ đại nhất mà thế giới từng biết đến có vài dặm, lãnh địa của nó là một vùng hoang vu tịch mịch, nơi hôm qua còn ngả bóng đô thị lớn nhất thế giới.
Thật kinh hoàng; nhưng những suy ngẫm của tôi về chủ đề ảm đạm này đã phải chấm dứt một cách đột ngột. Con sư tử đã phát hiện ra tôi.
Trong một thoáng, nó đứng im lặng và bất động như một trong những bức tượng nhồi bông rách rưới ở quê nhà, nhưng chỉ trong một thoáng mà thôi. Rồi, với một tiếng gầm vô cùng hung dữ, không mảy may do dự hay báo trước, nó chồm tới tấn công tôi.
Nó từ bỏ con mồi đã chết dưới chân để tìm kiếm khoái cảm từ món mồi ngon lành là con người. Từ sự tàn nhẫn mà các loài thú ăn thịt lớn ở nước Anh hiện đại săn đuổi con người, tôi buộc phải tin rằng, dù khẩu vị của chúng trong quá khứ thế nào đi nữa, chúng đã nuôi dưỡng một sở thích rùng rợn đối với thịt người.
Khi đưa khẩu súng trường lên vai, tôi thầm tạ ơn Chúa, vị Chúa cổ xưa của tổ tiên tôi, vì đã thay những viên đạn vỏ cứng trong khẩu súng bằng những viên đạn đầu mềm; bởi dẫu đây là lần đầu tiên tôi chạm trán Felis leo, tôi biết ngay khoảnh khắc đối mặt với cú chồm ấy rằng dẫu khẩu súng của tôi có được chế tạo hoàn hảo đến đâu thì cũng vô dụng chẳng khác gì ống thổi đậu, trừ khi tôi may mắn bắn trúng phát đạn đầu tiên vào điểm chí mạng.
Nếu không tận mắt chứng kiến, bạn sẽ không thể tin nổi tốc độ của một con sư tử đang lao tới. Thoạt nhìn, loài vật này không có vóc dáng của một vận động viên tốc độ, và nó cũng không thể duy trì tốc độ ấy lâu. Nhưng trong khoảng cách chừng bốn mươi hay năm mươi thước, tôi tin rằng không có loài vật nào trên trái đất có thể bắt kịp nó.
Nó lao vào tôi như một mũi tên, nhưng thật may mắn cho tôi, tôi đã không mất bình tĩnh. Tôi đoán rằng không có viên đạn nào có thể giết chết nó ngay tức khắc. Tôi hoài nghi việc mình có thể xuyên thủng được hộp sọ của nó. Dẫu vậy, vẫn có hy vọng nếu tìm được trái tim nó qua phần ngực hở, hoặc tốt hơn nữa là làm gãy vai hoặc chân trước của nó, buộc nó phải khựng lại đủ lâu để tôi tống thêm mấy viên đạn vào và hạ gục nó.
Tôi ngắm vào vai trái của nó và bóp cò khi nó đã ở sát ngay bên tôi. Phát súng đã chặn đứng nó lại. Với một tiếng hú đầy đau đớn và thịnh nộ, con mãnh thú lộn nhào nhiều vòng trên mặt đất gần sát chân tôi. Khi nó lao tới, tôi bồi thêm hai viên đạn nữa, và lúc nó đang cố vùng dậy, giơ móng vuốt cào cấu tôi một cách hung hiểm, tôi bồi một viên vào cột sống của nó.
Bấy nhiêu là đủ để hạ gục nó, và tôi sẵn sàng thừa nhận rằng mình vô cùng nhẹ nhõm. Có một cái cây lớn mọc ngay sau lưng tôi, và bước vào bóng râm của nó, tôi tựa người vào thân cây, lau mồ hôi trên mặt, bởi trời khá bức bối, thêm phần vận động và phấn khích khiến tôi kiệt sức.
Tôi đứng đó nghỉ ngơi trong giây lát, chuẩn bị quay người bước ngược lại lối cũ để ra chỗ xuồng, thì bất ngờ, một vật gì đó xé gió lao thẳng về phía tôi. Một tiếng thịch đục ngầu vang lên khi nó đắm vào thân cây, và khi tôi né người sang một bên rồi quay lại nhìn, tôi thấy một cây lao nặng cắm sâu vào thân gỗ cách chỗ đầu tôi đứng chưa đầy ba inch.
Thứ vũ khí đó bay đến từ một hướng hơi chếch sang bên cạnh tôi, và không chần chừ điều tra ngay lúc đó, tôi nhảy nép sau thân cây, vòng qua phía bên kia để liếc mắt tìm kiếm kẻ vừa muốn đoạt mạng mình.
Lần này đối thủ của tôi là con người—cây lao đã nói lên điều đó quá rõ ràng—nhưng chừng nào họ không đánh lén tôi từ phía sau hay ra tay bất ngờ thì tôi chẳng có gì phải sợ họ cả.
Thận trọng lách qua phần khuất của thân cây cho đến khi có thể quan sát được vị trí phóng ra cây lao, tôi nhìn thấy đầu của một người đàn ông vừa nhô lên khỏi một lùm bụi.
Gã này có kiểu hình khá giống với những kẻ tôi từng thấy trên đảo Wight. Gã ta rậm rạp tóc tai, bờm xờm, và khi cuối cùng bước hẳn ra ánh sáng, tôi thấy gã ăn mặc theo kiểu thô sơ hệt như vậy.
Gã đứng ngẩn ra một lúc đảo mắt tìm kiếm tôi, rồi bắt đầu tiến lên. Cùng lúc đó, một nhóm những kẻ khác có ngoại hình y hệt gã bước ra từ tán lá rậm rạp của mấy bụi cây gần đó và lũ lượt đi theo sau. Giữ cho thân cây nằm giữa họ và tôi, tôi chạy ngược lại một đoạn ngắn cho đến khi tìm thấy một lùm cây thấp có thể che khuất hoàn toàn tầm nhìn, bởi tôi muốn dò la lực lượng và vũ khí của tốp người này trước khi tính chuyện thương lượng với chúng.
Việc tước đoạt mạng sống vô nghĩa của bất kỳ sinh vật tội nghiệp nào trong số này là điều xa vời nhất trong tâm trí tôi. Tôi rất muốn trò chuyện với họ, nhưng chẳng mạo hiểm dùng khẩu súng trường uy lực cao của mình chống lại họ trừ khi ở vào đường cùng.
Khi đã yên vị trong chỗ ẩn nấp mới, tôi quan sát họ tiến về phía cái cây. Có khoảng ba mươi người đàn ông trong nhóm và một người phụ nữ—một thiếu nữ có đôi tay dường như bị trói quặt ra sau lưng và đang bị hai gã đàn ông lôi đi xềnh xệch.
Họ tiến lên một cách dò dặt, thận trọng ngó nghiêng từng lùm bụi và dừng lại luôn miệng. Khi đến chỗ xác con sư tử, họ khựng lại, và qua những cử động khua tay múa chân cùng giọng điệu the thé hơn, tôi có thể thấy họ vô cùng phấn khích trước chiến tích săn bắn của tôi.
Nhưng rồi họ lại tiếp tục cuộc lùng sục tìm kiếm tôi, và khi họ tiến tới gần hơn, tôi chợt nhận ra sự thô bạo không cần thiết mà những kẻ canh giữ đang đối xử với cô gái. Cô ấy vấp ngã một cú, không cách chỗ ẩn nấp của tôi bao xa, và lúc ấy phần lớn nhóm người đã đi qua tôi. Ngay lúc đó, một gã đi bên cạnh giật mạnh cô ta đứng dậy rồi vung tay giáng thẳng một cú đấm vào miệng cô.
Lập tức máu trong người tôi sôi sục, và quên đi mọi sự cẩn trọng, tôi lao vút ra khỏi chỗ nấp, phóng thẳng đến bên gã đàn ông và hạ gục hắn chỉ bằng một cú đấm.
Hành động quá đỗi bất ngờ khiến cả gã đó lẫn đồng bọn đều không kịp trở tay; nhưng ngay lập tức, tên đồng bọn rút con dao nhô ra khỏi thắt lưng, dữ tợn đâm thẳng về phía tôi, miệng thét lên một tiếng báo động hoang dại.
Cô gái lùi lại vì khiếp đảm khi nhìn thấy tôi, đôi mắt mở trừng trừng kinh ngạc, rồi tên đối thủ đã chồm đến sát người tôi. Tôi dùng cẳng tay đỡ cú đánh đầu tiên của hắn, đồng thời tung một cú đấm cực mạnh vào cằm khiến hắn lảo đảo lùi ra sau; nhưng hắn chồm lại vào tôi ngay tức khắc, dẫu trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy tôi đã kịp rút khẩu súng lục ra.
Tôi thấy tên đồng bọn của hắn đang chậm chạp bò dậy, và những kẻ khác trong nhóm đang ào ào lao về phía mình. Bây giờ không còn thời gian để nói lý lẽ nữa, ngoài việc dùng đến thứ vũ khí mang theo bên mình, thế là khi tên đó lại lao tới với con dao gớm ghiếc trên tay, tôi ngắm thẳng vào tim hắn và bóp cò.
Không một tiếng động, hắn khuỵu xuống đất, rồi tôi chuyển hướng khẩu súng sang tên canh gác còn lại, kẻ lúc này đang sắp sửa tấn công tôi. Hắn cũng đổ gục xuống, và tôi đứng độc lập một mình cùng cô thiếu nữ đang ngẩn ngơ kinh ngạc.
Phần còn lại của nhóm người cách chúng tôi chừng hai mươi bước chân, nhưng đang lao đến rất nhanh. Tôi chộp lấy cánh tay cô gái, kéo cô nấp ra sau một thân cây gần đó, bởi tôi thấy rằng khi cả hai tên đồng bọn đã ngã xuống, những kẻ khác đang chuẩn bị phóng lao.
Để cô gái đứng an toàn sau thân cây, tôi bước ra cho kẻ địch đang tiến đến nhìn thấy, lớn tiếng hét lên rằng tôi không phải kẻ thù và bọn chúng nên dừng lại lắng nghe mình. Nhưng đáp lại, chúng chỉ gào lên chế nhạo và phóng về phía tôi vài cây lao, cả hai đều bay chệch mục tiêu.
Lúc đó tôi hiểu rằng mình buộc phải chiến đấu, thế nhưng tôi vẫn thấy ghê tởm việc tước mạng sống của họ, và chỉ đến bước đường cùng tôi mới hạ gục hai tên bằng súng trường, khiến những kẻ còn lại phải tạm chững lại. Một lần nữa, tôi kêu gọi họ dừng tay. Nhưng họ lại hiểu lầm sự nhẫn nhịn của tôi là nỗi sợ hãi, và với những tiếng gầm gừ giận dữ cùng sự chế giễu, họ lại chồm lên định đè bẹp tôi thêm lần nữa.
Lúc này rõ như ban ngày là tôi phải trừng phạt chúng thật đích đáng, nếu không—chính tôi sẽ phải bỏ mạng và một lần nữa để cô gái rơi vào tay kẻ bắt giữ. Cả hai điều đó tôi đều không có chút ý định nào làm cả, thế nên tôi lại bước ra khỏi thân cây, và với tất cả sự cẩn trọng và điềm tĩnh như khi đang tập bắn bia, tôi bắt đầu tỉa từng tên một trong số những kẻ lao tới tấn công đầu tiên.
Từng tên một những gã đàn ông hoang dã ngã quỵ, thế nhưng những kẻ khác vẫn xông lên, hung dữ và đầy thù hận, cho đến khi chỉ còn lại vài tên, lúc này chúng mới nhận ra sự vô ích của việc lấy giáo mác thô sơ đối đầu với vũ khí hiện đại của tôi, và vẫn với những tiếng hú đầy phẫn nộ, chúng rút lui về hướng tây.
Bây giờ, lần đầu tiên tôi mới có cơ hội dời sự chú ý sang cô gái, người nãy giờ vẫn đứng im lặng và bất động phía sau lưng tôi trong lúc tôi vãi đạn mang cái chết đến cho kẻ thù của tôi và của cô ấy.
Cô ấy có chiều cao trung bình, thân hình cân đối với những đường nét thanh tú và sắc sảo. Trán cao, đôi mắt vừa thông minh lại vừa xinh đẹp. Nắng gió đã nhuộm làn da mịn màng, mượt mà thành một sắc màu dường như càng tôn lên chứ không làm lu mờ bức tranh tuyệt mỹ về tuổi trẻ nữ tính.
Vẻ lo âu thoáng hiện trên nét mặt cô—tôi không thể gọi đó là sợ hãi bởi tôi đã dần thấu hiểu con người cô—và sự kinh ngạc vẫn còn hiện rõ trong đôi mắt ấy. Cô đứng thẳng người, đôi tay vẫn bị trói quặt sau lưng, thẳng thắn và kiêu hãnh đưa mắt nhìn lại tôi.
“Anh nói thứ ngôn ngữ gì vậy?” cô hỏi. “Có hiểu tiếng của tôi không?”
“Có,” cô đáp. “Nó giống với tiếng của tôi. Tôi là người Grabritin. Còn anh là gì?”
“Tôi là người châu Mỹ-Pan,” tôi đáp. Cô lắc đầu. “Đó là cái gì?”
Tôi chỉ tay về phía tây. “Ở rất xa, bên kia đại dương.”
Biểu cảm của cô thay đổi đôi chút. Một nếp nhăn khẽ thắt lại trên trán. Vẻ lo âu càng trở nên sâu sắc hơn.
“Hãy bỏ chiếc mũ của anh ra,” cô nói, và khi để chiều theo yêu cầu kỳ lạ đó, tôi làm theo lời cô, cô có vẻ nhẹ nhõm hơn. Sau đó, cô lách người sang một bên rồi cúi người như thể muốn ngó ra phía sau lưng tôi. Tôi quay phắt lại để xem cô tìm thấy gì, nhưng chẳng thấy gì cả, bèn quay người lại thì thấy nét mặt cô lại đổi khác.
“Anh không đến từ đằng đó chứ?” và cô chỉ tay về phía đông. Đó là một câu hỏi lửng lơ. “Anh không đến từ bên kia vùng nước đằng kia sao?”
“Không,” tôi trấn an cô. “Tôi đến từ châu Mỹ-Pan, tận mãi phía tây xa xôi. Đã bao giờ cô nghe nói về châu Mỹ-Pan chưa?”
Cô lắc đầu phủ nhận. “Tôi không quan tâm anh đến từ đâu,” cô giải thích, “miễn là không phải từ nơi đó, và tôi chắc chắn là anh không phải, bởi những kẻ đến từ đó có sừng và có đuôi.”
Tôi phải rất khó khăn mới kìm được một nụ cười.
“Những kẻ đến từ đó là ai?” tôi hỏi.
“Bọn chúng là những kẻ độc ác,” cô đáp. “Một số người trong bộ tộc của tôi không tin rằng có những sinh vật như vậy. Nhưng chúng tôi có một truyền thuyết—một truyền thuyết rất, rất xưa, kể rằng có một thời gian những kẻ từ đằng đó đã vượt biển sang Grabritin. Chúng đến trên mặt nước, dưới mặt nước, và thậm chí cả trên không trung. Chúng đến đông đảo vô kể, tràn lên đất liền như một làn sương xám khổng lồ. Chúng mang theo sấm sét và khói lửa chết chóc, ập xuống tàn sát dân chúng của chúng tôi đến hàng vạn, hàng trăm ngàn người. Nhưng cuối cùng chúng tôi đã đánh đuổi chúng ngược trở lại mép nước, đẩy chúng xuống biển, nơi rất nhiều kẻ đã chết đuối. Một số trốn thoát, và tổ tiên chúng tôi đã truy đuổi họ—đàn ông, phụ nữ, và cả trẻ em, chúng tôi đã đuổi theo họ. Chỉ có vậy thôi. Truyền thuyết kể rằng người của chúng ta không bao giờ trở về nữa. Có lẽ tất cả bọn họ đã tử trận. Có lẽ họ vẫn còn ở đó. Nhưng điều này nữa, cũng có trong truyền thuyết, rằng khi chúng tôi đánh đuổi bọn chúng chạy ngược qua bên kia vùng nước, chúng đã thề sẽ quay trở lại, và khi rời khỏi bờ biển của chúng tôi, chúng sẽ không để lại một sinh linh nào sống sót. Tôi đã sợ rằng anh đến từ nơi đó.”
“Những kẻ đó được gọi bằng cái tên gì?” tôi hỏi.
“Chúng tôi chỉ gọi họ là ‘những kẻ từ đằng kia’,” cô đáp, chỉ tay về phía đông. “Tôi chưa từng nghe nói họ có cái tên nào khác.”
Dựa trên những gì tôi biết về lịch sử cổ đại, không khó để tôi đoán ra quốc tịch của những kẻ mà cô miêu tả đơn giản là “những kẻ từ bên kia tới”. Nhưng cuộc Đại chiến hẳn đã gây ra sự tàn phá khủng khiếp và triệt để nhường nào khi xóa sạch không chỉ mọi dấu vết văn minh trên bề mặt vùng đất vĩ đại này, mà thậm chí cả cái tên của kẻ thù trong trí nhớ và ngôn ngữ của người dân.
Tôi chỉ có thể giải thích điều đó bằng giả thuyết rằng đất nước đã bị tàn phá không còn một bóng người ngoại trừ một vài đứa trẻ bơ vơ bị lãng quên, nhờ một cơ duyên kỳ diệu nào đó mà được Thượng đế bảo toàn để tái thiết lại quê hương. Những đứa trẻ đó chắc chắn còn quá nhỏ để có thể lưu giữ trong ký ức hay truyền lại cho con cháu bất cứ điều gì ngoài những mờ nhạt mơ hồ nhất về thảm họa đã giáng xuống cha mẹ chúng.
Giáo sư Cortoran, kể từ khi tôi trở về châu Mỹ-Pan, đã đưa ra một học thuyết khác không phải là không có lý để xem xét một cách nghiêm túc. Ông chỉ ra rằng việc bỏ rơi những đứa trẻ thơ nằm ngoài bản năng con người như giả thuyết của tôi về người Anh cổ đại. Ông nghiêng về niềm tin rằng việc trục xuất kẻ thù khỏi nước Anh diễn ra đồng thời với những chiến thắng lan rộng của phe Đồng minh tại lục địa, và rằng người dân nước Anh chỉ đơn thuần di cư từ những thành phố hoang tàn cùng những cánh đồng đẫm máu bị tàn phá của họ sang đại lục, với hy vọng tìm thấy ở lãnh địa của kẻ thù bại trận những thành phố và nông trại thay thế cho những gì họ đã mất.
Vị giáo sư đáng kính cho rằng mặc dù một cuộc chiến tranh kéo dài dằng dặc đã củng cố thay vì làm suy yếu bản năng tình phụ tử, nó đồng thời cũng làm cùn mòn các bản năng nhân đạo khác và đẩy quy luật kẻ mạnh sống sót lên hàng đầu, dẫn đến kết quả là khi cuộc di cư diễn ra, những kẻ khỏe mạnh, thông minh và ranh mãnh cùng với con cái của chúng đã vượt qua làn nước eo biển hay Biển Bắc sang lục địa, để lại ở vùng nước Anh bất hạnh những sinh linh bất lực trong các viện tề bần dành cho người thiểu năng và tâm thần.
Những phản bác của tôi cho rằng cư dân hiện đại của nước Anh hoàn toàn bình thường về mặt trí tuệ và do đó không thể là hậu duệ của một dòng dõi điên loạn thuần túy đã bị ông gạt đi với khẳng định rằng bệnh tâm thần không nhất thiết mang tính di truyền; và rằng ngay cả khi có di truyền, trong nhiều trường hợp, việc quay trở lại với điều kiện tự nhiên từ trạng thái văn minh cao cấp vốn được cho là nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần ở thế giới cổ đại sẽ, sau vài thế hệ, hoàn toàn xóa sạch mọi dấu vết của căn bệnh này khỏi bộ não và dây thần kinh của hậu duệ những kẻ mất trí nguyên thủy.
Cá nhân tôi không đánh giá cao học thuyết của Giáo sư Cortoran, dĩ nhiên tôi thừa nhận mình có thành kiến. Tự nhiên chẳng ai muốn tin rằng đối tượng mình yêu thương nhất lại là hậu duệ của một kẻ nói nhảm và một tên cuồng loạn.
Nhưng tôi đang quên mất mạch lạc của câu chuyện—một mạch lạc mà tôi muốn duy trì, dù e rằng mình sẽ thường xuyên bị lạc lối, bởi các ngã rẽ suy đoán dẫn từ câu chuyện hiện tại của người Grabritin về quá khứ bí ẩn của tổ tiên họ quá ư phong phú và đa dạng.
Khi đứng trò chuyện với cô gái, tôi sực nhớ ra rằng cô vẫn đang bị trói, và với một lời xin lỗi, tôi rút dao cắt đứt những dải da sống đang siết chặt cổ tay cô ở phía sau lưng.
Cô cảm ơn tôi bằng một nụ cười ngọt ngào đến mức tôi thấy phần thưởng đó quá ư xứng đáng cho một sự giúp đỡ nhọc nhằn hơn thế nhiều.
“Và giờ,” tôi nói, “hãy để tôi đồng hành cùng cô về nhà và đưa cô trở lại sự bảo vệ an toàn của người thân.”
“Không,” cô nói, với một chút hoảng hốt trong giọng nói; “anh không được đi cùng tôi—Buckingham sẽ giết anh đấy.”
Buckingham. Cái tên nổi tiếng trong lịch sử nước Anh cổ đại. Sự tồn tại của nó, cùng với nhiều cái tên lừng lẫy khác, là một trong những bằng chứng đanh thép nhất bác bỏ học thuyết của Giáo sư Cortoran; tuy nhiên nó không mở ra cánh cửa mới nào về quá khứ, mà nhìn chung, chỉ làm tăng thêm chứ không hề xua tan đi sự bí ẩn.
“Và Buckingham là ai,” tôi hỏi, “và tại sao hắn lại muốn giết tôi?”
“Hắn sẽ nghĩ rằng anh đã bắt cóc tôi,” cô đáp, “và vì hắn muốn giữ tôi cho riêng mình, hắn sẽ giết bất cứ kẻ nào khác mà hắn nghĩ là có ý đồ với tôi. Hắn đã giết Wettin cách đây vài ngày. Mẹ tôi từng kể rằng Wettin là cha tôi. Ông ấy từng là vua. Bây giờ Buckingham là vua.”
Rõ ràng đây là một cộng đồng có phần văn minh hơn những kẻ ở đảo Wight. Họ ít nhất cũng nắm giữ những mầm mống của một chính phủ văn minh khi công nhận một người trong số họ là thủ lĩnh mang danh hiệu vua. Hơn nữa, họ vẫn giữ lại từ “cha”. Phát âm của cô gái, tuy còn xa mới giống hệt chúng ta, nhưng đã chuẩn xác hơn rất nhiều so với thứ phương ngữ méo mó của cư dân vùng Eastenders trên đảo Wight. Càng trò chuyện với cô, tôi càng nuôi nhiều hy vọng tìm thấy ở đây, giữa những người dân của cô, một vài ghi chép hay truyền thuyết nào đó có thể giúp làm sáng tỏ ẩn số lịch sử của hai thế kỷ qua. Tôi hỏi cô liệu chúng tôi có ở xa thành phố London không, nhưng cô không hiểu ý tôi nói gì. Khi tôi cố gắng giải thích, miêu tả những tòa nhà hùng vĩ bằng đá và gạch, những đại lộ rộng lớn, công viên, cung điện và vô số con người, cô chỉ buồn bã lắc đầu.
“Không có nơi nào như thế ở gần đây cả,” cô nói. “Chỉ có Trại Sư Tử là có những nơi bằng đá để loài thú trú ngụ, nhưng chẳng có con người nào ở Trại Sư Tử cả. Ai mà dám bén mảng đến đó chứ!” Và cô rùng mình.
“Trại Sư Tử,” tôi lặp lại. “Và nơi đó ở đâu, nó là gì?”
“Nó ở đằng kia,” cô nói, chỉ tay ngược dòng sông về hướng tây. “Tôi từng nhìn thấy nó từ khoảng cách rất xa, nhưng chưa bao giờ đặt chân tới đó. Chúng tôi rất sợ loài sư tử, bởi đây là lãnh địa của chúng, và chúng rất tức giận khi con người đến đây sinh sống.
Tận mãi đằng kia,” cô chỉ tay về hướng tây nam, “là vùng đất của loài hổ, thậm chí còn tồi tệ hơn nơi này, vùng đất của loài sư tử, bởi hổ đông hơn sư tử và thèm khát thịt người hơn. Từng có loài hổ ở đây từ rất lâu rồi, nhưng cả sư tử lẫn con người đã hợp sức tấn công và đuổi chúng đi.”
“Những con mãnh thú này từ đâu tới?” tôi hỏi.
“ Ồ,” cô đáp, “chúng đã ở đây từ muôn đời nay. Đây là lãnh địa của chúng.”
“Chúng không giết và ăn thịt người dân các cô sao?” tôi hỏi.
“Thường là khi chúng ta vô tình chạm trán mà đoàn người quá ít không đủ sức tiêu diệt chúng, hoặc khi có ai đó bén mảng quá sát trại của chúng. Nhưng hiếm khi chúng săn đuổi chúng ta, bởi chúng tìm thấy đủ lượng thức ăn cần thiết từ loài hươu và gia súc hoang dã, hơn nữa chúng ta cũng dâng lễ vật cho chúng, chẳng phải chúng ta là kẻ xâm nhập vào lãnh địa của chúng sao? Thực ra chúng ta sống khá hòa bình với chúng, dẫu tôi chẳng dại gì chạm trán một con nếu trong nhóm không có nhiều giáo mác.”
“Tôi muốn ghé thăm Trại Sư Tử này,” tôi nói.
“Ồ, không, anh tuyệt đối không được!” cô gái kêu lên. “Điều đó thật khủng khiếp. Bọn chúng sẽ ăn thịt anh đấy.” Khoảng khắc sau, cô có vẻ chìm đắm trong suy tư, nhưng rồi quay phắt lại bảo tôi: “Anh phải đi ngay thôi, bởi bất cứ phút nào Buckingham cũng có thể đến tìm tôi. Chắc từ lâu họ đã biết tôi biến khỏi trại—họ canh chừng tôi rất kỹ—và họ sẽ tổ chức truy lùng. Đi đi! Tôi sẽ đợi ở đây cho đến khi họ tới tìm tôi.”
“Không,” tôi bảo cô. “Tôi sẽ không bỏ mặc cô một mình giữa vùng đất nhung nhúc sư tử và muôn thú hoang dã. Nếu cô không cho phép tôi đi cùng đến trại của cô, vậy thì tôi sẽ ở đây đợi cùng cô cho đến khi họ đến tìm.”
“Xin anh hãy đi đi!” cô nài nỉ. “Anh đã cứu tôi, và tôi cũng muốn cứu anh, nhưng sẽ chẳng có gì cứu được anh nếu Buckingham tóm được anh đâu. Hắn là một kẻ độc ác. Hắn muốn chiếm tôi làm người phụ nữ của hắn để được làm vua. Hắn sẽ giết bất cứ ai tỏ lòng tốt với tôi vì sợ rằng tôi sẽ thuộc về kẻ khác.”
“Chẳng phải cô vừa bảo Buckingham đã là vua rồi sao?” tôi hỏi.
“Đúng thế. Hắn đã cướp mẹ tôi làm vợ sau khi sát hại Wettin. Nhưng mẹ tôi sẽ sớm qua đời thôi—bà đã rất già rồi—và khi đó người đàn ông sở hữu tôi sẽ trở thành vua.”
Cuối cùng, sau rất nhiều câu hỏi, tôi cũng hiểu ra vấn đề. Hóa ra dòng dõi thừa kế được tính qua đường phụ nữ. Đàn ông chỉ đơn giản là gia trưởng trong gia đình vợ—chỉ vậy thôi. Nếu người vợ tình cờ là nữ duệ lớn tuổi nhất của dòng tộc “hoàng gia”, anh ta sẽ là vua. Cô gái ngây thơ giải thích rằng hiếm khi có sự nhầm lẫn về việc ai mới thực sự là mẹ của một đứa trẻ.
Điều này giải thích tầm quan trọng của cô gái trong cộng đồng và sự số sắng muốn nhận vơ cô của Buckingham, dù cô nói rằng cô không hề muốn trở thành người phụ nữ của hắn vì hắn là một kẻ độc ác và sẽ là một ông vua tồi. Nhưng hắn rất có thế lực và chẳng có gã đàn ông nào dám thách thức mong muốn của hắn.
“Sao không đi cùng tôi,” tôi gợi ý, “nếu cô không muốn thuộc về Buckingham?”
“Anh sẽ đưa tôi đi đâu?” cô hỏi.
Đi đâu cơ chứ! Tôi chưa hề nghĩ đến điều đó. Nhưng trước khi tôi kịp trả lời câu hỏi của cô, cô lắc đầu nói: “Không, tôi không thể rời bỏ người dân của mình. Tôi phải ở lại và làm hết sức mình, ngay cả khi Buckingham bắt được tôi, còn anh phải đi ngay lập tức. Đừng chờ cho đến khi quá muộn. Đã lâu lắm rồi bầy sư tử không nhận được lễ vật nào, và Buckingham sẽ tóm ngay lấy người lạ đầu tiên để dâng làm vật tế cho chúng.”
Tôi chưa hiểu hết ý cô và định gặng hỏi thì một thân hình nặng nề lao vào tôi từ phía sau, những cánh tay vạm vỡ siết chặt lấy cổ tôi. Tôi vùng vẫy để tự giải thoát và quay lại đối phó với kẻ tấn công, nhưng chỉ trong chớp mắt, tôi đã bị nửa tá gã đàn ông lực lưỡng nửa cở trần đè bẹp, trong khi hàng tá kẻ khác vây quanh, vài tên trong số đó chộp lấy cô gái.
Tôi chiến đấu hết sức có thể vì sự tự do của mình và của cô ấy, nhưng sức nặng của số đông quá lớn, dẫu ít nhất tôi cũng có sự thỏa mãn khi đã cho chúng một trận chiến ra trò.
Khi họ đã hạ gục tôi, và tôi đứng đó với đôi tay bị trói quặt ra sau lưng ngay bên cạnh cô gái, cô nhìn tôi đầy thương cảm.
“Thật tệ là anh đã không làm theo lời tôi dặn,” cô nói, “bởi giờ thì mọi chuyện đã diễn ra đúng như tôi hằng sợ hãi—Buckingham đã bắt được anh rồi.”
“Ai là Buckingham?” tôi hỏi.
“Ta chính là Buckingham,” gã thú vật to lớn nhếch nhác gầm gừ, vênh váo bước đi đầy thách thức trước mặt tôi. “Và mày là thằng nào mà dám có ý định hốt người phụ nữ của tao?”
Lúc đó cô gái lên tiếng thanh minh rằng tôi không hề bắt cóc cô ấy; trái lại tôi đã cứu cô khỏi tay những kẻ ở “Vùng đất loài voi” đang định lôi cô đi.
Buckingham chỉ cười khẩy trước lời giải thích của cô, rồi ngay sau đó ra lệnh đoàn người bắt đầu di chuyển về hướng tây. Chúng tôi hành quân chừng một tiếng đồng hồ, cuối cùng đi đến một tập hợp những túp lều thô sơ, được dựng bằng các cành cây phủ da thú và cỏ rác, đôi khi trát bùn. Toàn bộ khu trại được vây quanh bởi một hàng rào bằng những thân cây non được vạt nhọn đầu và nung qua lửa.
Hàng rào cọc này là sự bảo vệ chống lại cả con người lẫn dã thú, và bên trong đó cư trú hơn hai nghìn con người, các chỗ trú ẩn được dựng sát rạt vào nhau, đôi khi chìm một phần dưới lòng đất giống như những chiến hào sâu, với các cột chống và da thú phủ bên trên chỉ để che nắng và mưa.
Phần cổ xưa nhất của trại hầu như hoàn toàn gồm các chiến hào, như thể đây là hình thức nhà ở nguyên thủy dần dần nhường chỗ cho những căn lều trên mặt đất khô ráo và thoáng gió hơn. Trong những chốn ở kiểu chiến hào này, tôi nhận ra sự tồn tại sót lại của các chiến hào quân sự từng là một phần nổi tiếng trong tác chiến của các quốc gia tham chiến trong thế kỷ hai mươi.
Phụ nữ mặc một tấm da hươu mỏng quấn quanh hông, bởi lúc bấy giờ là mùa hè và trời khá ấm. Đàn ông cũng chỉ mặc một trang phục duy nhất, thường là tấm da của một loài thú ăn thịt nào đó. Tóc của cả nam lẫn nữ đều được giữ gọn bằng một dải da thắt quanh trán và buộc ở phía sau. Cài trong dải da này là lông chim, hoa hoặc đuôi của những loài thú nhỏ. Tất cả đều đeo vòng cổ làm bằng răng hoặc móng vuốt thú dữ, và có rất nhiều vòng đeo tay lẫn đeo chân bằng kim loại điểm xuyết trên người họ.
Thực tế họ mang mọi biểu hiện của một dân tộc tối cổ—một chủng tộc chưa vươn tới đỉnh cao của nông nghiệp hay thậm chí là việc thuần hóa gia súc. Họ là những thợ săn—nấc thang thấp nhất trong tiến trình tiến hóa của nhân loại mà khoa học ghi nhận.
Thế nhưng khi nhìn vào những chiếc đầu cân đối, những nét mặt khôi ngô và đôi mắt thông minh của họ, thật khó để tin rằng tôi không ở giữa những người đồng loại của mình. Chỉ khi xét đến lối sống, trang phục thiếu thốn, sự thiếu vắng của từng món xa xỉ nhỏ nhặt nhất ở họ, tôi mới buộc phải thừa nhận rằng họ thực chất chỉ là những kẻ dốt nát và hoang dã.
Buckingham đã tịch thu vũ khí của tôi, dẫu hắn chẳng có tí manh mối nào về mục đích hay công dụng của chúng, và khi về đến trại, hắn trưng bày cả tôi lẫn vũ khí với vẻ tự hào tột độ về chiến tích lớn lao này.
Dân làng tụ tập quanh tôi, săm soi trang phục của tôi và kêu lên kinh ngạc trước từng phát hiện mới về cúc áo, khóa thắt lưng, túi hay vạt áo. Thật khó tin rằng điều đó lại có thể diễn ra, gần như chỉ cách một ném đá từ nơi mà cách đây vỏn vẹn hai thế kỷ từng là thành phố lớn nhất thế giới.
Họ trói tôi vào một cái cây nhỏ mọc giữa một con đường ngoằn ngoèo trong làng, nhưng cô gái thì được thả ngay khi chúng tôi bước vào bên trong hàng rào. Dân làng chào đón cô với mọi dấu hiệu kính trọng khi cô vội vã tiến về một túp lều lớn nằm gần trung tâm trại.
Chẳng mấy chốc cô quay lại cùng một người phụ nữ tóc trắng trông rất phúc hậu, hóa ra đó là mẹ cô. Người phụ nữ lớn tuổi mang một phong thái vương giả khiến người ta phải trầm trồ ở một nơi bần cùng thô sơ như thế này.
Mọi người dạt ra khi bà tiến lại gần, dọn một lối đi rộng cho bà và con gái. Khi họ đến gần và dừng lại trước mặt tôi, người phụ nữ lớn tuổi cất lời.
“Con gái ta đã kể cho ta nghe,” bà nói, “về cách mà ngươi đã cứu nó khỏi những kẻ ở vùng đất loài voi. Nếu Wettin còn sống thì ngươi đã được đối xử tử tế rồi, nhưng Buckingham giờ đã chiếm lấy ta và lên làm vua. Ngươi chẳng thể hy vọng gì ở một con quái vật như Buckingham đâu.”
Việc Buckingham đứng cách chúng tôi chưa đầy một bước chân và chăm chú lắng nghe hình như chẳng hề làm dịu đi lời lẽ của bà một chút nào.
“Buckingham chỉ là một con lợn,” bà nói tiếp. “Hắn là kẻ hèn nhát. Hắn đánh lén Wettin từ phía sau và đâm ngọn giáo qua người ông ấy. Hắn sẽ chẳng làm vua được lâu đâu. Sẽ có kẻ làm mặt xấu hãi hùng và hắn sẽ chuồn mất tăm rồi nhảy ùm xuống sông thôi.”
Dân làng bắt đầu khúc khích cười và vỗ tay. Mặt Buckingham đỏ bừng lên. Rõ ràng hắn ta chẳng được lòng người dân cho lắm.
“Nếu dám,” bà cụ nói tiếp, “hắn đã giết ta từ lúc nãy rồi, nhưng hắn không dám. Hắn quá hèn nhát. Nếu ta có thể giúp ngươi, ta đã vui vẻ làm rồi. Nhưng ta chỉ là hoàng hậu—cỗ xe đã giúp lưu truyền trọn vẹn dòng máu hoàng tộc không tì vết từ những ngày Grabritin còn là một đất nước hùng cường.”
Lời nói của cựu hoàng hậu có tác dụng rõ rệt đối với đám đông những kẻ hoang dã tò mò đang vây quanh tôi. Ngay khi phát hiện ra cựu hoàng hậu có thiện cảm với tôi và tôi chính là người đã cứu con gái bà, họ bắt đầu dành cho tôi sự quan tâm thân thiện hơn, tôi nghe thấy rất nhiều lời nói vun vào cho mình và những tiếng hô hào đòi không được làm hại tôi.
Nhưng lúc này Buckingham nhảy vào can thiệp. Hắn không đời nào chịu để mất món mồi béo bở. Vừa quát tháo ầm ĩ vừa hầm hầm tức giận, hắn ra lệnh cho đám đông giải tán về lúp lều của họ, đồng thời chỉ đạo hai chiến binh giam giữ tôi xuống một căn hầm đào dưới chiến hào sát ngay túp lều của hắn.
Tại đây, chúng quăng tôi xuống đất, trói thốc hai cổ chân lại rồi buộc ngược lên chỗ cổ tay ở đằng sau lưng. Chúng bỏ mặc tôi nằm sấp ở đó—một tư thế vô cùng khó chịu và căng cứng, cộng thêm nỗi đau đớn khi những sợi dây thừng cứa sâu vào da thịt.
Mới chỉ vài ngày trước, tâm trí tôi còn ngập tràn sự háo hức mong chờ sự đón tiếp nồng hậu từ những người Anh văn minh ở London. Ngày hôm nay đáng lẽ tôi phải được ngồi ở vị trí danh dự trong bữa tiệc của một trong những câu lạc bộ độc tôn nhất London, được săn đón và tung hô như một nhân vật lừng danh.
Còn thực tế thì sao! Ở đây tôi đang nằm, tay chân bị trói chặt, nghiễm nhiên nằm ngay trên chính phần nền của London cổ kính xưa kia, thế nhưng xung quanh tôi lại là một chốn hoang dã nguyên thủy, và tôi chỉ là tù binh của những kẻ hoang dã nửa cởi trần.
Tôi tự hỏi không biết Delcarte, Taylor và Snider giờ ra sao rồi. Liệu họ có đi tìm tôi không? Tôi e rằng họ không bao giờ tìm thấy mình nổi, nhưng giả sử có tìm được, họ sẽ làm được gì chống lại cả một vạn quân hoang dã này chứ?
Ước gì tôi có thể cảnh báo họ. Tôi nghĩ đến cô gái—chắc chắn cô ấy có thể nhắn tin cho họ, nhưng làm thế nào để tôi liên lạc với cô ấy đây? Liệu cô ấy có đến thăm tôi trước khi tôi bị sát hại không? Thật khó tin là cô ấy lại không làm lấy một chút cố gắng nhỏ nhoi nào để tỏ lòng tốt với tôi; tuy nhiên, như tôi nhớ lại, cô ấy chẳng hề cất lời nói chuyện với tôi sau khi chúng tôi về đến làng. Cô đã chạy ngay đến chỗ mẹ mình ngay khi được giải thoát. Dù đã quay lại cùng cựu hoàng hậu, thậm chí lúc đó cô ấy cũng chẳng thèm nói lời nào với tôi. Tôi bắt đầu hoài nghi.
Cuối cùng, tôi đi đến kết luận rằng mình hoàn toàn đơn độc không một bóng bạn bè ngoại trừ cựu hoàng hậu. Vì một lý do khó hiểu nào đó, cơn thịnh nộ của tôi đối với cô gái vì sự vô ơn của cô bỗng trỗi dậy to lớn khôn cùng.
Một khoảng thời gian dài tôi mỏi mòn chờ đợi có ai đó bước vào ngục tối để tôi có thể nhờ nhắn tin cho hoàng hậu, nhưng có vẻ như tôi đã bị lãng quên. Tư thế căng cứng khi nằm trở nên không tài nào chịu nổi. Tôi oằn mình và vặn vẹo cho đến khi xoay sở lật nghiêng được một phần người sang một bên, nằm nửa mặt hướng ra lối vào hầm.
Chẳng mấy chốc sự chú ý của tôi bị thu hút bởi cái bóng của thứ gì đó đang chuyển động dưới chiến hào ngoài kia, và một thoáng sau, hình thù của một đứa trẻ xuất hiện, bò bằng cả hai tay hai chân, với đôi mắt tròn xoe đầy tò mò con trẻ, một cô bé đang trườn tới lối vào túp lều của tôi rồi thận trọng, sợ sệt ngó vào bên trong.
Thoạt đầu tôi không dám lên tiếng vì sợ dọa con bé chạy mất. Nhưng khi chắc chắn rằng mắt nó đã quen với thứ ánh sáng lờ mờ bên trong, tôi mỉm cười.
Ngay lập tức vẻ sợ hãi tan biến khỏi đôi mắt con bé, thay vào đó là một nụ cười đáp lại.
“Em là ai thế, cô bé?” tôi hỏi.
“Tên em là Mary,” con bé đáp. “Em là em gái của Victory.”
“Và Victory là ai vậy?”
“Anh không biết Victory là ai sao?” con bé hỏi với vẻ kinh ngạc.
Tôi lắc đầu phủ nhận.
“Anh đã cứu chị ấy khỏi những người ở vùng đất voi, thế mà lại bảo không biết chị ấy!” con bé thốt lên.
“À, hóa ra cô ấy là Victory, còn em là em gái cô ấy! Trước đó anh chưa nghe thấy tên cô ấy. Đó là lý do anh không biết em đang nhắc đến ai,” tôi giải thích. Đây chính là người đưa tin hoàn hảo dành cho mình rồi. Định mệnh đang tỏ ra nhân hậu hơn một chút.
“Em có thể làm giúp anh một việc được không, Mary?” tôi hỏi.
“Nếu em làm được.”
“Hãy đến gặp mẹ em, vị hoàng hậu, và bảo bà đến gặp anh,” tôi nói. “Anh có một việc muốn nhờ.”
Con bé đáp rằng nó sẽ đi, rồi nở một nụ cười chào tạm biệt trước khi rời đi.
Khoảng thời gian dài đằng đẵng trôi qua khi tôi thấp thỏm mong ngóng sự trở lại của con bé trong sự sốt ruột cồn cào. Buổi chiều trôi qua và màn đêm buông xuống, vậy mà chẳng có bóng dáng ai bén mảng đến gần tôi. Những kẻ bắt giữ không đem cho tôi lấy một chút thức ăn hay ngụm nước nào. Tôi đang phải chịu đựng những cơn đau nhức nhối tại chỗ những sợi da sống cứa vào phần da thịt sưng tấy. Tôi nghĩ rằng hoặc họ đã quên bén mất sự tồn tại của mình, hoặc ý định của họ là để tôi ở đây chết dần chết mòn vì đóm đói.
Có lúc tôi nghe thấy một tiếng động lớn vang lên trong làng. Đàn ông hò hét—phụ nữ la hét và rên rỉ. Sau một lúc thì âm thanh đó dịu xuống, rồi lại một khoảng lặng kéo dài bao trùm.
Chắc nửa đêm đã qua khi tôi nghe thấy tiếng động ở đoạn chiến hào gần túp lều. Nó giống như những tiếng nức nở nghẹn ngào. Chẳng mấy chốc một bóng người hiện hình, in bóng mờ ảo trên nền ánh sáng nhạt nhòa phía bên kia khung cửa. Nó trườn vào trong túp lều.
“Anh có ở đây không?” một giọng nói trẻ thơ thì thầm.
Chính là Mary! Con bé đã quay lại. Những sợi dây thừng bỗng không còn làm tôi đau đớn nữa. Cơn đói khát bỗng biến mất. Tôi nhận ra rằng sự cô đơn mới là thứ khiến tôi đau đớn nhất.
“Mary!” tôi thốt lên. “Em là một cô bé tốt. Cuối cùng em đã quay lại. Anh đã bắt đầu nghĩ rằng em sẽ không đến nữa. Em đã chuyển lời của anh cho hoàng hậu chưa? Bà ấy có đến không? Bà ấy đang ở đâu?”
Tiếng nức nở của đứa trẻ lớn dần, và nó ngã gục xuống sàn đất của túp lều, dường như bị nuốt chửng bởi đau khổ.
“Có chuyện gì thế?” tôi hỏi. “Sao em lại khóc?”
“Hoàng hậu, mẹ của em, sẽ không đến gặp anh đâu,” con bé nức nở nói. “Bà chết rồi. Buckingham đã giết mẹ. Giờ hắn sẽ bắt Victory, vì Victory chính là hoàng hậu. Hắn bắt chúng em nhốt chặt trong lều vì sợ Victory trốn thoát, nhưng em đã đào một cái lỗ dưới vách sau để trốn ra ngoài. Em đến tìm anh, bởi vì anh đã từng cứu Victory một lần trước đó, và em nghĩ rằng anh có thể cứu chị ấy một lần nữa, và cứu cả em nữa. Hãy hứa với em đi.”
“Anh đang bị trói và bất lực thế này đây, Mary,” tôi đáp. “Bằng không anh đã làm những gì có thể để cứu em và chị gái em rồi.”
“Em sẽ cởi trói cho anh!” con bé thét lên, trườn đến bên cạnh tôi. “Em sẽ cởi trói cho anh, và rồi anh có thể đến tiêu diệt Buckingham.”
“Được thôi!” tôi đồng ý.
“Chúng ta phải nhanh lên,” con bé tiếp lời trong lúc luống cuống tháo gỡ những nút thắt cứng ngắc trên dải da khô cứng, “bởi Buckingham sẽ sớm tìm đến anh thôi. Hắn phải dâng lễ vật cho bầy sư tử vào lúc bình minh trước khi có thể cưới Victory. Việc chiếm đoạt một vị hoàng hậu đòi hỏi phải có lễ vật là con người!”
“Và anh sẽ là vật tế đó sao?” tôi hỏi.
“Vâng,” con bé nói, cố giật mạnh nút thắt. “Buckingham đã thèm khát một vật tế kể từ khi hắn giết Wettin, để hắn có thể sát hại mẹ em và chiếm đoạt Victory.”
Ý nghĩ đó thật kinh khủng, không chỉ vì số phận hãi hùng mà tôi bị phán quyết, mà còn từ sự chiêm nghiệm mà nó gợi lên về sự suy đồi thảm hại của một dân tộc từng vô cùng minh triết. Đến tận những vực sâu của sự dốt nát, tàn bạo và mê tín dị đoan này mà nền văn minh từng được ca tụng hết lời của nước Anh thế kỷ hai mươi đã rơi xuống, và bởi cái gì chứ? Chiến tranh! Tôi cảm thấy cấu trúc của những lý luận quân phiệt đáng tự hào của thời đại chúng ta đang sụp đổ tan tành quanh mình.
Mary chật vật xoay xở với những dải trói tôi. Chúng thật cứng đầu—thách thức cả những ngón tay non nớt, mềm mại của con bé. Dẫu vậy, nó vẫn trấn an tôi rằng nó sẽ giải thoát cho tôi, nếu “bọn chúng” không tới quá sớm.
Nhưng than ôi, chúng đã tới. Chúng tôi nghe thấy tiếng chân chúng tiến dọc chiến hào, và tôi giục Mary trốn vào một góc để tránh bị phát hiện và trừng phạt. Chẳng còn cách nào khác, thế là con bé trườn người đi mất tăm vào bóng tối đen như mực ở phía sau lưng tôi.
Chẳng mấy chốc hai tên chiến binh bước vào. Tên đi đầu thể hiện một phương pháp độc đáo để dò tìm tung tích của tôi trong bóng tối. Hắn tiến chầm chậm, liên tục tung những cú đá hiểm hóc ra phía trước. Cuối cùng hắn đá trúng mặt tôi. Thế là hắn biết tôi ở đâu.
Ngay khoảnh khắc tiếp theo, tôi bị xách thốc đứng phắt dậy bằng những động tác thô bạo. Một tên dừng lại cắt đứt sợi dây trói hai cổ chân tôi. Tôi hầu như không thể tự đứng vững nổi. Hai tên xách và lôi tôi qua khung cửa thấp rồi kéo dọc theo chiến hào. Một nhóm khoảng bốn mươi hay năm mươi tên chiến binh đang chờ sẵn chúng tôi ở miệng hố đào cách túp lều chừng một trăm thước.
Những bàn tay chìa xuống kéo chúng tôi lên mặt đất. Rồi một cuộc hành trình dài bắt đầu. Chúng tôi lúp xúp bước qua những thóm rậm ướt đẫm sương đêm, đường đi được soi sáng bởi hai mươi kẻ mang đuốc vây xung quanh. Nhưng những cây đuốc không phải để soi đường—điều đó chỉ là phụ. Chúng được mang theo để xua đuổi bầy thú ăn thịt to lớn đang rên rỉ, ho khục khặc và gầm gừ xung quanh chúng tôi.
Những âm thanh thật gớm ghiếc. Cả vùng đất dường như tràn ngập sư tử. Những đôi mắt màu vàng lục lóe lên dữ tợn từ trong bóng tối bủa vây tứ phía. Hộ tống tôi mang theo những cây giáo dài và nặng. Chúng luôn chĩa mũi giáo về phía những con dã thú, và tôi hiểu ra từ những đoạn hội thoại chộp giật được rằng thỉnh thoảng sẽ có một con sư tử dám bất chấp cả sự kinh hoàng của lửa để lao vào con người. Đó là lý do những ngọn giáo luôn phải được thủ sẵn tư thế sẵn sàng.
Nhưng chẳng có chuyện gì tương tự xảy ra trong suốt cuộc hành trình tử thần kinh hãi ấy, và với những tia nắng hửng sáng đầu tiên của bình minh, chúng tôi đã đến đích—một khoảng đất trống giữa khu rừng rậm chằng chịt. Nơi đây sừng sững trong vẻ tàn tàn đổ nát những dấu vết đầu tiên tôi được thấy về nền văn minh cổ đại từng làm rạng danh đất Albion xinh đẹp—một vòm đá duy nhất đã phai màu theo năm tháng.
“Cổng vào Trại Sư Tử!” một kẻ trong nhóm lầm bầm với giọng khàn đặc vì kính sợ.
Đến đây, cả nhóm quỳ rạp xuống trong khi Buckingham lẩm bẩm một bài tụng kinh kỳ lạ tựa như lời cầu nguyện. Bài ca khá dài và tôi chỉ nhớ được một phần, nếu trí nhớ không đánh lừa tôi, nó đại loại thế này:
Chúa tể Grabritin hỡi,
Chúng tôi quỳ gối trước Ngài,
Dâng lễ vật này.
Ngài là vị vua vĩ đại nhất!
Chúng tôi khiêm nhường cúi đầu trước Ngài!
Xin ban bình an cho trại của chúng tôi.
Chúa phù hộ nhà vua!
Rồi tốp người đứng dậy, lôi tôi đến chỗ vòm đá đổ nát, trói chặt tôi vào một chiếc vòng đồng to lớn bị ăn mòn đang đung đưa từ một chiếc bu-lông đóng sâu vào khối gác xây.
Không ai trong số họ, thậm chí cả Buckingham, có vẻ mang thù hằn cá nhân gì với tôi. Họ bản tính thô lỗ và tàn bạo, đúng như những gì người ta tưởng tượng về loài người nguyên thủy từ buổi bình minh nhân loại, nhưng họ không cố tình hành hạ tôi ngoài lề.
Khi bình minh ló dạng, số lượng sư tử quanh chúng tôi có vẻ thuyên giảm đi đáng kể—ít nhất chúng ít kêu la hơn—và khi Buckingham cùng đoàn tùy tùng biến mất vào trong rừng, bỏ mặc tôi một mình với số phận khủng khiếp, tôi có thể nghe thấy những tiếng càu nhàu và gầm gừ của bọn thú nhỏ dần theo tiếng tụng kinh mà nhóm người vẫn đang tiếp tục ngân lên. Dường như bầy sư tử đã không nhận ra rằng tôi đã bị bỏ lại làm bữa sáng cho chúng, mà lại lũ lượt kéo đi theo những kẻ tôn thờ chúng mất rồi.
Nhưng tôi biết sự hoãn binh này sẽ chẳng kéo dài bao lâu, và dù chẳng muốn chết chút nào, tôi thú nhận rằng mình thà mong cho màn tra tấn này qua nhanh và sự yên bình của cõi vô thức buông xuống còn hơn.
Tiếng người và tiếng sư tử nhỏ dần ở đằng xa, cho đến cuối cùng sự tĩnh mịch bao trùm xung quanh, chỉ còn bị phá vỡ bởi tiếng chim hót líu lo và tiếng gió mùa hè thì thầm qua những tán lá.
Thật khó lòng tin nổi rằng giữa bối cảnh rừng xanh thanh bình này, thảm họa kinh hoàng kia lại sắp sửa xảy ra ngay khi con sư tử tiếp theo tình cờ bén mảng tới tầm mắt hoặc đánh hơi thấy vòm đá đổ nát.
Tôi vùng vẫy cố tự dứt ra khỏi những dây trói nhưng chỉ chuốc lấy kết quả là chúng siết chặt hơn quanh đôi tay mình. Sau đó tôi buông xuôi bất động trong một khoảng thời gian dài, để những thước phim cuộc đời tôi lần lượt lướt qua trước mắt.
Tôi cố tưởng tượng ra sự kinh ngạc, hoài nghi và kinh hoàng mà gia đình cùng bạn bè sẽ phải gánh chịu nếu trong một khoảnh khắc, không gian bị xóa sổ và họ có thể nhìn thấy tôi đang đứng trước cổng thành London.
Cổng thành London! Đâu rồi dòng người tấp nập vội vã đổ về các trung tâm thương mại sau một đêm vui chơi hoặc nghỉ ngơi? Đâu rồi tiếng chuông tàu điện leng keng, tiếng còi xe inh ỏi, tiếng rì rầm náo nhiệt của một đám đông đông đúc?
Bọn chúng đâu rồi? Và ngay khi tôi vừa cất lên câu hỏi đó, một con sư tử gầy còm đơn độc bước ra từ khu rừng rậm um tùm ở phía bên kia khoảng đất trống. Uy nghi và lặng lẽ trên những miếng đệm thịt dưới bàn chân, chúa tể muôn loài chậm chạp di chuyển hướng về phía cổng London và về phía tôi.
Tôi có sợ không? Tôi e là mình suýt sợ. Tôi biết rằng mình nghĩ nỗi sợ hãi sắp sửa ập đến, thế nên tôi ngẩng cao đầu, ưỡn ngực thẳng thắn nhìn thẳng vào mắt con sư tử—và chờ đợi.
Đó chẳng phải là một cách chết đẹp đẽ gì—cô độc một mình, với đôi tay bị trói quặt, dưới cặp nanh và móng vuốt của một loài mãnh thú ăn thịt. Không, đó không phải là một cái chết đẹp, chẳng hề chút nào.
Con sư tử đang đi được nửa đường qua bãi đất trống thì tôi nghe thấy một âm thanh khẽ khàng phát ra từ phía sau lưng. Con mãnh thú khổng lồ khựng phắt lại bước chân. Giờ đây nó đập mạnh đuôi vào hai bên sườn thay vì chỉ ngoe nguẩy chóp đuôi như trước, và tiếng gầm gừ thấp bỗng biến thành một tiếng gầm vang dội tựa sấm truyền.
Khi tôi rướn cổ ngoái nhìn thứ vừa chọc giận con dã thú trước mặt, nó đã lao vút qua khung cổng vòm và đứng sững ngay bên cạnh tôi—với đôi môi hé mở, lồng ngực phập phồng và mái tóc bù xù—một bóng hình rám nắng và xinh đẹp xuất hiện trước đôi mắt chưa từng nuôi hy vọng được giải cứu.
Đó chính là Victory, và trong vòng tay cô đang ôm chặt khẩu súng trường cùng súng lục của tôi. Một con dao dài giắt gọn trong chiếc thắt lưng da hươu giữ chặt tà váy da hươu ôm sát lấy đôi chân linh hoạt của cô. Cô thả vũ khí xuống chân tôi, rồi chộp lấy con dao giắt ở thắt lưng, rạch đứt những sợi dây trói buộc tôi. Tôi đã được tự do, và con sư tử đang chuẩn bị lao tới tấn công.
“Chạy đi!” tôi thét lên với cô gái khi cúi người vớ lấy khẩu súng trường. Nhưng cô chỉ đứng đó bên cạnh tôi, lưỡi dao trần sẵn sàng trên tay.
Con sư tử đang lao về phía chúng tôi bằng những cú nhảy vọt kinh hồn. Tôi nâng súng trường lên và bóp cò. Đó là một phát bắn may mắn, bởi tôi chẳng có thời gian để ngắm nghía kỹ càng, và khi con mãnh thú lộn nhào rồi đổ gục xuống đất bất động, tôi quỳ sụp xuống gối và tạ ơn vị Chúa của tổ tiên mình.
Và vẫn quỳ trên gối, tôi quay người lại, cầm lấy bàn tay cô gái trong tay mình và đặt một nụ hôn lên đó. Cô mỉm cười trước hành động ấy, rồi đặt bàn tay còn lại lên đầu tôi.
“Ở đất nước của anh có những phong tục thật lạ kỳ,” cô nói.
Tôi không sao kìm được nụ cười khi nghĩ xem mọi chuyện sẽ kỳ lạ thế nào đối với đồng bào của mình nếu họ có thể tận mắt chứng kiến cảnh tôi đang quỳ gối nơi nền đất London, hôn lên bàn tay của vị hoàng hậu nước Anh.
“Và giờ,” tôi nói khi đứng dậy, “cô phải quay trở lại nơi an toàn trong trại của mình. Tôi sẽ đi cùng cho đến khi cô đến gần nơi có thể tiếp tục một mình trong an toàn. Sau đó tôi sẽ tìm cách quay lại với các đồng đội của mình.”
“Tôi sẽ không quay lại trại nữa,” cô đáp.
“Nhưng cô sẽ làm gì?” tôi hỏi.
“Tôi không biết. Chỉ là tôi sẽ không bao giờ quay về chừng nào Buckingham còn sống. Tôi thà chết chứ không chịu quay lại với hắn. Mary đã đến tìm tôi sau khi họ bắt anh đi khỏi trại và kể cho tôi nghe. Tôi tìm thấy những thứ vũ khí kỳ lạ của anh và mang theo chúng để đuổi theo. Tôi mất nhiều thời gian hơn một chút vì phải liên tục ẩn nấp trên cây để không bị sư tử vồ, nhưng cuối cùng tôi đã đến kịp lúc, và giờ anh được tự do để quay về với bạn bè của mình.”
“Và bỏ mặc cô ở đây sao?” tôi thốt lên.
Cô gác đầu gật nhẹ, nhưng tôi có thể nhận thấy qua vẻ bề ngoài dũng cảm ấy rằng cô đang sợ hãi trước viễn cảnh đó. Dĩ nhiên tôi không thể bỏ mặc cô ấy, nhưng phải làm thế nào giữa thế gian này khi vướng bận việc chăm sóc một cô thiếu nữ, hơn nữa lại là một vị hoàng hậu, thì tôi hoàn toàn chịu thua không biết tính sao. Tôi chỉ ra khía cạnh đó cho cô, nhưng cô chỉ nhún đôi vai thon gọn rồi chỉ tay về phía con dao giắt bên hông.
Rõ ràng là cô ấy hoàn toàn tự tin vào khả năng tự bảo vệ bản thân mình.
Đúng lúc chúng tôi đang đứng đó thì nghe thấy tiếng người nói chuyện. Họ đang tiến đến từ khu rừng mà chúng tôi vừa bước qua khi rời khỏi trại.
“Họ đang tìm kiếm tôi,” cô gái nói. “Chúng ta phải trốn ở đâu đây?”
Tôi chẳng mặn mà gì với việc trốn chui trốn lủi. Nhưng khi nghĩ đến vô số mối nguy hiểm rình rập xung quanh cùng số lượng đạn dược tương đối ít ỏi mang theo người, tôi ngần ngại không muốn khơi mào một trận chiến với Buckingham cùng đám chiến binh của hắn, trong khi bằng cách tẩu thoát, tôi có thể tránh mặt chúng và tiết kiệm đạn dược cho những tình huống khẩn cấp không thể trốn tránh.
“Họ có dám đuổi theo chúng ta vào đó không?” tôi hỏi, chỉ tay qua cánh cổng vòm hướng thẳng vào Trại Sư Tử.
“Không bao giờ,” cô đáp, “bởi vì thứ nhất, họ biết chúng ta không dám mò vào đó, và thứ hai, bản thân họ cũng không dám.”
“Vậy chúng ta sẽ tìm chỗ ẩn náu trong Trại Sư Tử,” tôi nói.
Cô rùng mình và xích lại gần tôi hơn.
“Anh dám á?” cô hỏi.
“Tại sao lại không?” tôi đáp. “Chúng ta sẽ được an toàn trước Buckingham, và em đã thấy, lần thứ hai trong vòng hai ngày nay, rằng sư tử hoàn toàn vô hại trước vũ khí của anh. Hơn nữa, anh có thể tìm thấy bạn bè của mình dễ dàng nhất theo hướng này, bởi dòng sông Thames chảy qua nơi mà các em gọi là Trại Sư Tử, và những người đồng đội đang đợi anh ở hạ lưu sông Thames. Em có dám đi theo anh không?”
“Em dám đi bất cứ nơi nào anh dẫn đường,” cô đáp gọn lỏn.
Và thế là tôi quay người bước qua vòm cửa vĩ đại để tiến vào thành phố London.