Tôi không thể giải thích chính xác lý do tại sao tôi làm vậy, nhưng dù nó có lý hay phi lý thế nào thì tôi cũng đã quyết đó là việc phải làm. Tôi 23 tuổi và tôi viết di chúc.
Tôi chẳng có gì nhiều: nhạc cho em gái, tạp chí cho anh trai còn tiền kiếm được cho Quỹ Nhi đồng Campuchia. Buổi tối trước khi lên đường, sau bữa tối, tôi ngồi thảo di chúc và đề nghị mẹ ký vào phần người làm chứng.
Khi cầm bút ký vào bản di chúc của tôi, tay bà víu chặt vào kệ gỗ trong bếp, nước mắt bắt đầu lăn dài trên má bà. “Con thực sự ép mẹ phải làm thế này sao?” bà nài nỉ. Tôi gật đầu. Tôi chuẩn bị đi du lịch một mình đến một vùng đất xa xôi của thế giới trong nhiều tháng, và tôi muốn chắc chắn tài sản của tôi sẽ đến đúng tay người cần nhận nếu có gì không hay xảy ra với mình. Tôi biết tài sản của mình chẳng đáng là bao, nhưng chúng rất quan trọng với tôi. Đôi khi phải bỏ lại thứ gì đó thì ta mới biết được giá trị thực sự của chúng.
Sau bữa tối, cha tôi bảo tôi nói cho ông nghe lịch trình sắp tới của mình. Tôi không thể nhịn được cười. Ông lặp lại, “Cha không đùa đâu. Cha muốn biết con sẽ ở đâu trong 13 ngày đầu tiên. Con không phải cho cha biết chính xác nơi ở, nhưng cũng phải nói tên thị trấn hoặc thành phố chứ.”
“Cha, con không biết mình sẽ ở đâu vào đêm đầu tiên, thì làm sao có thể cho cha biết con sẽ ở đâu vào 12 đêm tiếp theo chứ?” Tôi nói với ông về một nơi gọi là Semuc Champey, Jaret, người bạn cùng phòng với tôi ở SAS, đã đến đó vào năm ngoái. Nơi đó có những hồ nước tự nhiên, xanh màu ngọc bích và có cả một hang động mà ta có thể bơi thuyền hàng dặm xuyên qua với một cây đuốc soi đường. “Con sẽ đến Semuc Champey trước – nó nằm ở đâu đó phía bắc thành phố Guatemala – rồi từ đó, sẽ khám phá miền Trung và Nam Mỹ. Đó đúng là kế hoạch duy nhất mà con có.”
“Thế Matt cũng đồng ý thế à?”
Matt, bạn thời thơ ấu của tôi, và tôi dự định sẽ đi cùng nhau hai tháng đầu tiên nhưng giờ khả năng là cậu ấy chỉ cùng đi một hoặc hai tuần đầu. “Thật ra tối nay cậu ấy vừa gửi e-mail cho con báo tin xấu. Con còn không biết cậu ấy có bay cùng con vào sáng mai không.”
“Con đùa đấy à?”
“Không, thật đấy chứ! Con cũng chẳng thích thế tẹo nào. Nhưng ít nhất thì vài ngày tới, chắc chắn con sẽ đến Semuc Champey. Người ta bảo nơi đó tuyệt lắm!”
“Chỉ cho cha xem nó trên sách hướng dẫn nào.”
“Con đã bảo cha rồi mà, con sẽ không mang theo sách hướng dẫn.”
Cha tôi không thể chịu được nữa. “Không mang theo sách hướng dẫn là thế quái nào!” Ông hét lên, “Con cố tình chọc tức cha đấy à?”
Tôi hít một hơi thật sâu và cọ các ngón chân vào đế giày. “Con sẽ không đi du lịch theo cách đó nữa. Con sẽ dựa vào lời khuyên của dân du lịch và dân địa phương mà con gặp trên đường. Con sẽ vừa đi vừa lên lịch trình.” Tôi thấy những lời lẽ vọt ra khỏi miệng mình với tất cả niềm tin ngây thơ mà một anh chàng 23 tuổi có được.
Cha nhìn tôi chằm chằm, giận dữ bặm môi để nén cơn giận, ông lắc đầu ngán ngẩm. “Cố mà đi an toàn đấy,” ông nói. “Và đừng quên, các Quy tắc của Cha.”
Khi ngồi trên chuyến bay từ New York đến Guatemala, đầu tôi không thôi hiện ra hình ảnh mẹ đặt tay ký vào bản di chúc của tôi, và nó để lại trong tôi cảm thức chộn rộn về cái chết. Không phải là tôi nghĩ máy bay sẽ gặp tai nạn hay chuyến đi của tôi sẽ kết thúc đầy thảm khốc. Chỉ là vì đây là lần đầu tiên tôi đi du lịch một mình. SAS và các chuyến du lịch sau đó đều là những trải nghiệm giúp tôi mở mang đầu óc, nhưng tôi luôn đi cùng với một nhóm bạn. Giờ đây, tôi là hướng dẫn viên duy nhất của chính mình.
Khi đến Guatemala, tôi lập tức bắt xe đò đi thăm thú quần thể hồ trong xanh ở Semuc Champey. Chúng thậm chí còn đẹp hơn mong đợi của tôi, và những ngôi đền cao chót vót của người Maya ở Tikal, phía Bắc Guatemala cũng vậy.
Sau đó, tôi lên đường đến thị trấn ven sông Río Dulce. Khi tôi mua vé xe buýt ở Flores, có một nhóm sáu tên choai choai người xăm trổ mặc áo may ô trắng xin đểu tôi tiền. Tôi làm như thể tôi không biết tiếng Tây Ban Nha. “No hablo español – Tôi không biết tiếng Tây Ban Nha,” tôi cố nói câu đó bằng giọng Mỹ nhất có thể, không để lộ rằng thật ra tôi biết rõ chúng đang nói gì. Chúng cười khẩy với nhau, và khi chúng tôi lên xe buýt, chúng chia nhau ngồi xung quanh chỗ tôi.
Mỗi đứa bắt đầu mô tả những thứ chúng định ăn cắp của tôi. Tao muốn cái đồng hồ đeo tay. Tao sẽ lấy cái hộ chiếu của nó. Tao xí cái ví của nó rồi đấy. Suốt bảy tiếng sau đó, tôi không đứng dậy khỏi chỗ ngồi một lần nào. Khi mặt trời lặn và trong xe buýt tối dần, tôi kín đáo nhấc chân khỏi giày và giấu ví và hộ chiếu vào mỗi bên giày. Cuối cùng, khi chúng tôi đến bến xe Río Dulce, tôi liếc bọn choai choai quanh mình. Đứa nào cũng đang ngủ như chết. Tôi lẳng lặng xuống xe, hòa vào cơn mưa xối xả và thở phào nhẹ nhõm. Đã gần một giờ sáng, tôi cần tìm chốn để ngả lưng.
Sau khi đi qua vài con hẻm tối để tìm nhà nghỉ, hộ chiếu và tiền của tôi vẫn nằm sâu trong giày, tôi gặp một người lái taxi mời mọc tôi đi tới một nhà nghỉ cách đó năm dặm. Anh ta chỉ vào một chiếc xe khá đẹp, mà tôi nghĩ là xe của anh ta, và chúng tôi thỏa thuận giá cả hợp lý. Nhưng sau đó anh ta dẫn tôi đến một chiếc cà tàng, cửa sổ toang hoác, đậu trên một con phố nhỏ vắng tanh. Có điều gì đó mách bảo tôi rằng lên xe lúc đêm hôm khuya khoắt với gã lạ huơ lạ hoắc này sẽ chẳng lành. Tôi nhanh chóng lảng đi, và chỉ vài giây, gã bắt đầu gào lên chửi tôi. Tôi thấy gã chạy ra phía ghế ngồi của khách, thọc tay vào hộc để đồ. Gã lôi ra một khẩu súng ngắn.
Tôi chạy thục mạng. Người sũng nước mưa còn tim đánh trống liên hồi. Cách đó khoảng 50m là một khách sạn có cổng làm bằng sắt. Tôi đập cửa liên hồi, khẩn thiết van nài nhân viên bảo vệ cho tôi vào. Tiếng chuông vang lên đúng lúc tôi ngoái lại và thấy gã cầm súng cách mình khoảng 10m. Tôi lao vội vào trong, đặt một phòng (dù anh chàng lễ tân tính giá gấp đôi vào lúc đêm muộn như thế), thức chòng chọc đến sáng vì trong đầu quay đi quay lại những gì vừa mới xảy ra. Lũ nhện bò khắp tường, và lần đầu tiên tôi bắt đầu ngờ vực tại sao tôi lại rời nhà mà đi.
Từ trước đến giờ, tôi chưa bao giờ xa rời tất cả những gì khiến tôi hạnh phúc đến nhường này, cả về tinh thần lẫn thể chất. Tôi cảm thấy hoàn toàn cô độc. Nhưng tôi biết chỉ cần qua được đêm nay, mọi thứ sẽ khá hơn. Người ta nói rằng, khi đêm tối nhất cũng là lúc những ngôi sao lấp lánh nhất. Đêm đó ở Río Dulce quả thật tối tăm mù mịt, nhưng khi đức tin của ta đã được thử lửa, ta tuyệt đối phải tin rằng sẽ có ánh sáng cuối đường hầm và tiếp tục dấn bước mà thôi.
Vài ngày sau, tôi đến Hồ Atitlan(4), tôi quyết định dành gần một tháng ở Las Pirámides, một trung tâm tâm linh và thiền định. Sáng sáng, một nhóm khoảng 20 du khách sẽ thức dậy lúc 6 giờ 30 phút ngắm mặt trời nhô lên từ ba ngọn núi lửa, sau đó tham dự các lớp yoga, thiền và giáo lý huyền bí suốt cả ngày. Mỗi chúng tôi ở trong một lều gỗ nhỏ có mái hình kim tự tháp (vậy nên, nơi đây mới có tên là Las Pirámides – Những Kim Tự Tháp) và cùng nhau nấu ba bữa mỗi ngày. Tôi chưa bao giờ sống một cuộc sống giản dị, lành mạnh như thế và khám phá ra sự trong sáng êm đềm của mỗi ngày chầm chậm trôi qua. Tôi thấy mình háo hức đến kỳ lạ với cam kết năm ngày im lặng tuyệt đối trong tuần cuối cùng. Chati, người thành lập trung tâm, giảng giải cho chúng tôi nghe về khái niệm người dẫn dắt tinh thần, và tôi mong mỏi đến thời gian yên tĩnh kia để chiêm ngẫm xem tính đến giờ họ là những ai trong cuộc sống của tôi.
Cuối cùng, Matt cũng tới, và để chuẩn bị cho những ngày im lặng, chúng tôi đến Las Cristalinas, một khu vực nhỏ, ven hồ, nơi chúng tôi có thể chơi đùa và thư giãn. Khi chúng tôi ngồi trên thùng sau chiếc xe tải nhỏ với các gia đình người địa phương, mặt trời như thiêu đốt vai chúng tôi. Sau khi ngụp lặn trong làn nước trong vắt, Matt bỏ lại tôi một mình để đi mua kem ở gần đó. Khi tôi đang viết vài suy nghĩ của mình vào cuốn nhật ký có bìa bằng da thì một người đàn ông Guatemala nhỏ con tầm 40 tuổi lại gần tôi.
“Xin chào chàng trai!” ông cất lời bằng thứ tiếng Anh bồi. “Chú là Joel Puac. Cháu tên là gì?” Ông phát âm từng từ chậm rãi, như thể ông đã luyện nói chúng cả vài tuần rồi.
Thường thì, tôi sẽ đề nghị được ở một mình, nhưng gần đây tôi mới áp dụng một tâm niệm, “Du khách vãn cảnh còn lữ khách kiếm tìm.” Tôi là một lữ khách, một người đang cố gắng trải nghiệm nhiều hơn thay vì chỉ chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các nhà thờ và bảo tàng. Tôi muốn quan sát mỗi đất nước mình đặt chân đến qua đôi mắt của người dân địa phương, và có điều gì đó khiêm nhường trong giọng nói của người đàn ông này khiến tôi tò mò. Tôi nói với ông tên tôi là Adam và hỏi sao ông lại đến đây. Ông kể mình đến đây để tổ chức lễ rửa tội cho đứa cháu. Sau khoảng 10 phút hỏi han thông thường, ông cho tôi biết lý do tại sao ông tiếp cận tôi.
“Chú là giáo viên. Chú tự học tiếng Anh, nhưng phát âm không chuẩn lắm. Chú muốn cháu giúp chú học tiếng Anh để chú còn dạy bọn trẻ nhà chú. Chú muốn mời cháu đến ở làng chú. Cháu có thể ở lại với vợ chồng chú bao lâu cũng được.”
“Chú sống xa đây không ạ?” tôi hỏi, nửa đùa nửa thật.
“Cách đây khoảng hai giờ đi xe, tít trong núi. Làng chú là làng Palestina. Chú sẽ cho cháu số điện thoại di động và hãy gọi cho chú khi nào cháu muốn ghé qua.” Ông cực kỳ nghiêm túc.
Tôi ngất ngây trước lời đề nghị bất ngờ này, nhưng tôi cần thêm thông tin. Gia đình tôi sẽ muốn biết tôi ở đâu. “Nếu muốn đến ở với gia đình chú, cháu có thể tìm đến đường nào và số nhà bao nhiêu ạ?”
“Đường ở quê chú không có tên. Nhà cũng chẳng có số. Cháu chỉ cần hỏi Joel làng Palestina. Làng nhỏ lắm. Mọi người ai cũng biết chú.”
Sau đó, ông chìa bàn tay nhỏ thô ráp của mình ra. Tôi đoán ông là người cày cuốc trên mảnh đất riêng để nuôi sống gia đình mình. Chúng tôi bắt tay, ông gật đầu chào quả quyết, rồi ông đi, để tôi lại với suy nghĩ về việc có nên chấp nhận lời đề nghị của ông không.
Một lúc sau, Matt quay trở lại với một nụ cười tươi rói. “Cuối cùng, tớ cũng tìm được chỗ bán kem. Xin lỗi vì tớ đi lâu quá. Tớ có bỏ lỡ chuyện gì không thế?”
Đêm đó tôi không tài nào chợp mắt nổi. Tôi nghĩ có thể nào Joel xuất hiện trong cuộc đời tôi vì một lý do rõ ràng nào đó, và nhận ra rằng chí ít người đàn ông này rất có thể là người dẫn dắt gì đó cho tôi.
Về phần ông, việc cho tôi ở nhờ có thể thay đổi tương lai của con cháu ông. Ông coi tôi là cánh cửa mở ra một thế giới rộng lớn hơn – gia đình ông có thể học được một chút tiếng Anh và hiểu thêm về thế giới bên ngoài, nhờ đó có thể có động lực để thoát ly theo đuổi một cuộc sống khác bên ngoài ngôi làng nhỏ của mình.
Joel làm tôi nhớ đến ông nội Apu quá cố của tôi, trụ cột của cả nhà. Ông nội có được nghị lực giúp ông sống sót qua cuộc tàn sát diệt chủng người Do Thái, có đức tin để đi tìm bà nội tôi và có lòng dũng cảm để rời bỏ quê hương, đưa cả gia đình tôi đến nước Mỹ – trao cho chúng tôi cơ hội có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tôi luôn tìm đến ông để xin lời khuyên suốt thời thơ ấu của mình khi ông còn sống, và qua những lời cầu nguyện sau khi ông qua đời. Trong những lời cầu nguyện ấy, tôi thường xin ông dẫn đường chỉ lối cho mình, và nếu dù chỉ có một khả năng Joel là người dẫn đường ấy, thì hẳn là tôi phải chấp nhận lời đề nghị của ông.
Suốt nhiều năm, tôi đã phải đấu tranh với cảm giác tội lỗi vô cùng mãnh liệt. Tôi may mắn được sinh ra với tấm vé độc đắc – có một gia đình yêu thương nhau, được học hành tử tế và có sức khỏe. Nhưng tôi đã làm gì để xứng đáng với những thứ tôi được nhận? Tại sao tôi sinh ra đã may mắn trong khi có quá nhiều người lại bất hạnh? Tại sao tôi được sinh ra ở một thành phố phát triển vượt bậc trong khi những người khác lại cất tiếng khóc chào đời trong những ngôi làng điện chẳng có, nước lại càng không ở một quốc gia bị chiến tranh tàn phá nặng nề? Tôi không muốn thừa nhận, nhưng tôi cảm thấy mình nợ những người kém may mắn hơn một điều gì đó, bởi trong thâm tâm, tôi cảm thấy mình chưa từng làm bất cứ điều gì để đáp đổi cho những may mắn mà mình đang hưởng.
Thế nhưng, khi nhận được lời đề nghị của Joel, và biết rằng ước mơ của ông là dạy dỗ con cháu và thậm chí là các chắt của mình để chúng có một cuộc sống tốt đẹp hơn, tôi mới nhớ ra rằng may mắn của tôi là thành quả của những tháng ngày khốn khổ, vất vả đằng đẵng của thế hệ đi trước. Tôi của ngày hôm nay là kết quả từ giấc mơ của Apu; là kết quả của những hy sinh của cha ông tôi, nhờ đó tôi mới được sống cuộc sống mà họ từng mơ ước nhưng chưa một lần được nếm trải. Và họ không muốn gì hơn ngoài việc tôi hiểu rằng họ đã nỗ lực rất nhiều để có thành quả ấy và trao nó cho chúng tôi như những món quà. Qua Joel, tôi đã có được cơ hội để tưởng nhớ họ.
Tôi biết nếu cháu trai của Joel lớn lên và cảm thấy có lỗi trước những hy sinh dành cho mình, hẳn đó sẽ là một cái tát vào mặt Joel và mọi thứ ông làm với ý định thuần khiết như thế. Cảm giác có lỗi và hàm ơn của tôi sẽ làm giảm giá trị của những nhọc nhằn và mong muốn của những người đi trước. Đó là một sự thay đổi cảm xúc hoàn toàn. Thay vì được thúc đẩy vì nghĩa vụ bắt buộc, giờ tôi có động lực để tỏ lòng tôn kính những thế hệ trước mình theo một cách khác. Tôi đã có cơ hội tưởng nhớ Apu bằng cách mang đến cơ hội lớn hơn cho những người khác.
Sáu ngày sau, tôi lên đường đến làng của Joel, đi qua những con đường bụi mù trên chiếc xe chở khách nhỏ chật nêm các gia đình người Guatemala. Hai người nông dân mỉm cười với tôi để lộ những chiếc răng bọc bạc. Bên trái tôi là một em bé đang khóc trong lòng mẹ, còn bên phải là một ông cụ nắm chặt chiếc dao rựa làm đồng của mình. Dù bạn bè của tôi ở Las Pirámides nghĩ tôi điên mới đi vào trong núi một mình như thế, đến cái nơi mà có thể không còn đường cho tôi trở lại, tôi vẫn tin Joel và biết đây chính là kiểu trải nghiệm mà tôi đang kiếm tìm.
Đúng như lời Joel, Palestina không có tên đường hay số nhà. Khi tôi hỏi một phụ nữ địa phương về Joel Puac, bà chỉ xuống một con đường đất dài. “Todo derecho”, đi thẳng về phía trước là tới, bà nói. Một người hàng xóm chỉ cho tôi nhà Joel, và khi tôi đến nhà, ông giới thiệu tôi với lũ chó, gà và cha mình, người sống trong ngôi nhà một gian kế bên. Dù ông cụ đã còng lưng, nhưng cụ vẫn nắm chặt tay tôi bằng đôi bàn tay thô ráp của mình, và dẫn tôi, người Mỹ đầu tiên mà cụ từng gặp, vào trong nhà để cho tôi xem món đồ mà cụ coi như báu vật. Cụ chậm rãi lau lớp bụi bám trên một khung ảnh: một bức ảnh đen trắng chụp toàn cảnh thành phố New York. Một người bạn đã tặng nó cho cụ. Tòa tháp đôi đã sụp đổ sáu năm trước đó, nhưng trong bức ảnh chúng vẫn sừng sững nơi đường chân trời.
Joel đưa tôi đi quanh nhà: có một chiếc toilet hỏng, một chiếc tủ lạnh nhỏ. Sau đó, ông chỉ cho tôi chỗ ngủ: một chiếc giường đơn, được kê sát về một phía của căn phòng nhỏ. Ông và vợ, cô Aurelia, sẽ ngủ trên chiếc giường đôi ở phía bên kia đối diện giường của tôi.
“Chúng ta bắt đầu thôi,” Joel đột ngột lên tiếng, và đặt một chiếc bàn nhựa nhỏ màu đỏ trước mặt tôi. Trên đó là một cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Anh, một cuốn từ điển tiếng Anh-Tây Ban Nha và một chiếc máy ghi băng lớn. Joel say sưa nói về nhu cầu tâm linh của con người. Ông nói với tôi về những vấn đề mà Guatemala phải đối mặt và những nguy hiểm ở thành phố Guatemala. Ông cho tôi xem một vết sẹo trên bụng mình, kết quả của việc ông bị những kẻ lang thang tại một khu chợ gần đó đâm cách đây không lâu và nói với tôi rằng có rất nhiều người chứng kiến cảnh đó nhưng không ai ra mặt giúp đỡ.
Để dạy tiếng Anh cho gia đình mình, ông cần phải biết cách phát âm đúng, vì vậy ông sử dụng loại văn bản mà ông biết rõ nhất: Kinh Thánh. Chúng tôi bắt đầu từ đầu sách Cách ngôn. Ông đề nghị tôi đọc to để thu âm vào chiếc máy ghi băng cũ kỹ của mình. Sau đó, ông cho tôi biết sẽ nghe những bản thu âm giọng nói của tôi mỗi tối và luyện tập bằng cách bắt chước lại các từ tiếng Anh nhiều lần.
Trong ba ngày, tôi đã dành nhiều thời gian nhất có thể để đọc to trước chiếc máy ghi âm đó, chân bắt chéo trên sàn nhà bụi bẩn trong căn phòng ngủ dùng chung. Không gian khá nhỏ, ánh đèn thì lờ mờ, nhưng căn phòng lại sống động đến từng chi tiết: những bức tường màu ngọc lam và vàng được trang trí bằng hình các nhân vật hoạt hình, hình được cắt ra từ những tờ lịch cũ, và hình những miền đất xa xôi từ các tạp chí. Chiều chiều, Joel và tôi mở lại băng để chắc chắn băng nghe tốt. Khi nghe giọng nói của mình phát ra qua chiếc máy casset cũ kỹ, tôi không thể nhịn được cười trước câu chuyện trớ trêu tốt đẹp: một người Do Thái đọc oang oang Kinh Thánh Kitô giáo ở một thị trấn tên là Palestina.
Joel có một chiếc tivi nhỏ, tối đến, chúng tôi xem phim. Lúc đó đang là tháng Ba, nhưng một tối nọ, tivi lại chiếu phim Elf(5). Chúng tôi cười ngặt ngẽo trước đoạn đối thoại bằng tiếng Tây Ban Nha, nhưng Joel lại tập trung vào phần phụ đề tiếng Anh. Sau khi bộ phim kết thúc, ông lại nghe các băng thu âm ban ngày bằng đôi tai nghe quá khổ của mình. Thấy ông lẩm bẩm từng từ được phát ra từ giọng tôi khiến tôi xúc động nổi da gà. Khi Joel thấy tôi mỉm cười, ông mỉm cười lại và nói, “Chú không muốn nhận của cho không. Chú muốn tự học, để khi nào cháu đi, chú có thể dạy cho con cháu chú và những người khác trong làng.”
Tôi luôn hành động theo ý niệm mơ hồ rằng làm từ thiện có nghĩa là phải giúp đỡ người nghèo. Trong văn hóa phương Tây, chúng tôi được dạy rằng những người giàu có về tiền bạc và nguồn lực nên chia sẻ sự giàu có ấy với những người kém may mắn hơn. Tôi đã nghĩ từ thiện chỉ là một giao dịch đơn giản, là con đường một chiều.
Joel đã dạy cho tôi biết tôi đã giả định sai về bản chất của từ thiện. Khi phát không cho những người nghèo, chúng ta đã làm hại họ. Chúng ta tạo ra một chu kỳ phụ thuộc tàn nhẫn. Sau ba ngày sống với Joel trong ngôi làng xa xôi ấy, tôi biết rằng giờ ông đã có công cụ để tự dạy mình. Bằng cách nghe chiếc đài cũ kỹ mỗi đêm, ông sẽ học nói một ngôn ngữ mới. Quan trọng hơn, ông có thể chia sẻ các kỹ năng tiếng Anh với gia đình mình trong những năm tới mà không cần sự giúp đỡ của những người khác.
Thời gian ở cùng vợ chồng Joel đã khơi dậy một sự hiếu kỳ mới trong tôi. Khi tôi ngồi trên những chuyến xe buýt đêm, kéo dài 12 giờ qua Peru, Bolivia, Ecuador, Colombia, Argentina, Chile và một số nước khác để đi du lịch bụi trong suốt ba tháng sau đó, những cây bút chì tôi tặng bọn trẻ giúp tôi có cơ hội hỏi bố mẹ chúng rằng nếu có thể có bất cứ thứ gì trên đời, họ muốn có được thứ gì nhất. Dù tôi mong nghe thấy những câu trả lời kiểu như “chính phủ ít tham nhũng hơn”, “những con đường mới” hay “một công việc tốt hơn”, nhưng gần như lần nào tôi cũng nhận được một câu trả lời tương tự nhau: “Con cái chúng tôi được học hành.” Đó chính là giấc mơ mà Joel hay xa hơn nữa là Apu đã kiên trì theo đuổi.
Dù ở tột đỉnh giàu sang hay tận cùng của nghèo khó, cha mẹ nào cũng đều mong mỏi con cái mình có một tương lai tốt đẹp hơn. Việc sẵn lòng hy sinh hạnh phúc của mình vì tương lai của các con là điểm chung mà tôi thấy ở những ông bố bà mẹ từ khắp các nền văn hóa khác nhau. Thế nhưng, điều họ mong mỏi không phải ở đâu cũng được đáp ứng.
Trong bốn tháng ở Trung và Nam Mỹ, tôi thường nghĩ về Joel. Mỗi đêm, khi trằn trọc không ngủ được, tôi tự hỏi liệu ông có đang ngồi trên giường để nghe những chiếc băng cassette không. Ông đã cho tôi thấy bản chất của khả năng lãnh đạo bằng cách dấn thân vào nơi chưa biết để những người khác có thể theo sau. Ông dạy tôi cách tiếp cận mỗi người lạ mà tôi gặp với phẩm cách mà họ xứng đáng. Và ông đã chứng tỏ một lần và mãi mãi rằng dù trong ngôn ngữ nào, Will Ferrell(6) cũng thật hài hước.
Buổi sáng cuối cùng ở nhà Joel, tôi hứa với Joel và cha ông rằng tôi sẽ trở lại vào một ngày không xa. Có lẽ trong tương lai tôi có thể khởi sự làm một điều gì đó để giúp đỡ vùng đất này. Tôi giải thích cho họ rằng sau khi hành trình ở Mỹ La-tinh kết thúc, tôi sẽ trở về New York. Tôi sẽ tạm biệt những chiếc ba lô và những chuyến xe đò để về với những tòa nhà chọc trời và tàu điện ngầm.
Thành phố không bao giờ ngủ này sẽ đón thêm một kẻ miên hành vào đám đông đang sống trong lòng mình.