Lời Hứa Về Một Cây Bút Chì

Lượt đọc: 345 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời tâm niệm 11. Muốn trở thành ai, hãy học cách nói của người đó

❊ ❊ ❊

Ngày 17 tháng Ba, khi gần như cả thành phố New York đều đang kỷ niệm Ngày Thánh Patrick, thì các đồng nghiệp của tôi ở Bain uống mừng ngày làm việc cuối cùng của tôi, trước khi tôi lên đường. Kể từ sau đêm ở Dàn nhạc Giao hưởng New York, tôi dành rất ít thời gian rảnh rỗi nói chuyện về công việc hằng ngày như là một chuyên viên tư vấn quản lý, mà chủ yếu thao thao với người khác về khát vọng của tôi đối với tổ chức mới này. Khi làm vậy, tôi gần như chỉ nói về những điều trong tương lai. Tôi cố gắng không ngừng làm rõ tầm nhìn của mình về việc ngôi trường đầu tiên sẽ được xây dựng như thế nào, và kết quả là, mỗi cuộc nói chuyện qua đi đã giúp đưa mọi thứ đến gần với hiện thực hơn. Nhưng suốt năm tháng qua tôi chỉ nói, giờ đã đến lúc phải dấn bước hành động. Cũng giống như khi tôi rời nhà đi Guatemala, tôi không có kế hoạch rõ ràng cụ thể nào cho khoảng thời gian sau 48 giờ đầu tiên. Nhưng tôi tin rằng mình biết cách xoay sở ở những vùng đất xa lạ, chưa từng đặt chân tới.

Sau một loạt những chuyến bay mệt mỏi, cuối cùng tôi cũng đến Luang Prabang và ngay lập tức đi thẳng đến nhà nghỉ Rattana với những bức tường bằng gỗ quen thuộc. Chúng tôi đã sắp xếp để biên bản ghi nhớ được ký kết vào ngay sau hôm tôi đến, và tôi rất cần một đêm ngon giấc. Khi tôi nói với bà chủ nhà nghỉ Rattana rằng tôi đã thức gần như cả tháng, bà đã mỉm cười nhã nhặn và đưa tôi đến một phòng ngủ nhỏ nhưng yên tĩnh và có điều hòa. “Bao nhiêu ạ?” tôi hỏi. “10 đô-la một đêm,” bà nói. Đúng là tôi đã không còn ở New York nữa.

Sáng hôm sau, TC gặp tôi để đi ăn sáng tại Joma Bakery Café, một quán ăn có nhân viên là người địa phương, wi-fi nhanh nhất và bánh mì ngon nhất thành phố. Sau khi ăn vội ăn vàng, tôi nhảy lên sau xe máy của TC và chúng tôi tới Sở Giáo dục ở gần đó. Chúng tôi hẳn là trông rất lố, một anh chàng người Lào nhỏ thó với một gã người Mỹ cao lớn ngồi bám sau eo anh ta trên chiếc xe máy đến một buổi lễ chính thức của chính quyền. Chiếc áo tôi đang mặc, chiếc duy nhất có khuy tôi mang theo trong chuyến đi này, có lẽ cũng chẳng ích gì vì trông nó giống như đã được nhồi vào đáy của một chiếc túi suốt nhiều tuần. Tôi không biết chắc tiếp theo sẽ có những chuyện gì, nhưng khi chúng tôi bước vào căn phòng nơi biên bản ghi nhớ sẽ được ký kết, tôi đột nhiên nhận ra đây là một sự kiện ra trò.

Sáu quan chức của Sở chờ chúng tôi với một sự chuẩn bị chỉn chu nhất có thể. Tôi được yêu cầu ngồi ở bàn đầu với TC và người đứng đầu khối trường mầm non, trong khi những người khác ngồi ở bàn đối diện chúng tôi. Vị phó Sở giới thiệu những người tham dự, sau mỗi màn giới thiệu là một tràng pháo tay lớn hoan nghênh. Không ai nói một từ tiếng Anh nào, nhưng TC đã cố hết sức để dịch cho tôi. Dù tôi không thể hiểu được hết, nhưng bầu cảm xúc rất rõ ràng – họ rất mong chờ ngôi trường này. Tôi hiểu được mong đợi của họ khi họ đưa cho tôi các giấy tờ chính thức. Tôi đã xem xét các tài liệu nhiều lần trước khi đến, và với vài nét ngoằng, tôi và TC ký vào biên bản ghi nhớ. Chúng tôi đã chính thức sẵn sàng đi xây dựng một ngôi trường.

Ba ngày sau, chúng tôi lên đường đến Pha Theung tham dự lễ khởi công. Khi ngồi trên thùng một chiếc xe bán tải màu xám, lắc lư, hai bên là hai nhân viên của Sở Giáo dục phụ trách huyện này, tôi đã có mong ước đến cháy lòng là có một người bạn hoặc một người thân ở bên tôi lúc này. Dù cố gắng thể hiện sự tự tin đến thế nào đi nữa, tôi cũng mới chỉ 25 tuổi và vẫn khao khát có được sự vỗ về của người thân.

Khi chúng tôi đến, vị trí của các bức tường sau này đã được chằng dây đánh dấu lại, và cả làng đang chuẩn bị cho giờ phút quan trọng – động thổ khu xây dựng. Tôi không thể tin nổi. Tôi đã nói về việc này ở New York suốt nhiều tháng, nhưng khi tận mắt chứng kiến, tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng. Những người đàn ông, phụ nữ, các chàng trai trẻ đang mang vác những tấm ván gỗ dài và sỏi vào sân trường, quyết tâm thể hiện sự chung tay của họ. Khi thấy hai cụ già đang kéo một tấm ván gỗ, tôi vội vàng chạy đến nói với họ rằng họ sẽ bị thương mất, nhưng họ mỉm cười và xua tôi ra. Họ nói gì đó bằng tiếng Lào. TC cho tôi biết, “Họ nói đã đợi việc này cả đời rồi. Anh có thể cố ngăn họ, nhưng nếu tôi là anh, tôi sẽ không làm vậy đâu!” anh cười.

Cuối cùng bọn trẻ, bố mẹ chúng, các thầy cô giáo và cả các quan chức Sở Giáo dục đều tập trung để chuẩn bị cho lễ khởi công. Họ đặt một chiếc cọc lớn ở một góc và nai ban (trưởng làng) là người đóng nó xuống. Một loạt các hoạt động bắt đầu diễn ra, và trong vòng một giờ những tấm ván gỗ đã thế chỗ cho những sợi dây, và việc xây dựng trường học thực sự bắt đầu.

Sở Giáo dục mới chỉ đưa các trường mầm non vào chương trình giáo dục quốc gia trong vòng 15 năm trở lại đây, có nghĩa là những đứa trẻ 3-6 tuổi ở hầu hết các làng quê Lào vẫn chưa được đến lớp hoặc được giáo viên dạy dỗ. Dù Sở có rất nhiều giáo viên được đào tạo bài bản, nhưng cả họ lẫn các làng đều không có kinh phí để xây dựng phòng học cho bọn trẻ.

PoP đồng ý tài trợ chi phí xây dựng một trường mầm non với một phòng học lớn có phòng vệ sinh ở Pha Theung, nhưng chỉ với điều kiện dân làng góp ít nhất 10% tổng kinh phí cho dự án thông qua hình thức đóng góp nguyên vật liệu và ngày công lao động. Điều này sẽ đảm bảo quyền sở hữu của họ đối với ngôi trường, và quan trọng hơn, nó sẽ thúc đẩy họ cam kết hơn với việc cho con đi học khi trường đi vào hoạt động. Sở Giáo dục đồng ý bố trí một giáo viên được đào tạo và đưa trường vào diện quản lý của sở. Tổ chức, chính quyền địa phương và ngôi làng sẽ tiếp tục hợp tác với nhau hỗ trợ dài hạn cho trường, cung cấp đồ dùng học tập, trả lương cho giáo viên và tiến hành các chương trình đánh giá liên tục.

Tôi nhận ra mấy đứa trẻ tôi đã gặp trong túp lều tre vài tháng trước, nhưng tôi vui nhất là khi thấy Can-tong, cô bé đầu tiên viết tên mình lên bảng. Cô bé vẫn vô cùng nhút nhát, và nếu thấy tôi nhìn về phía mình, cô bé sẽ vội vàng nấp đằng sau đám bạn đang cười khúc khích. Tôi thầm quyết tâm sẽ chiếm cảm tình của cô bé, nhưng chắc chắn là tôi sẽ cần thời gian. Chuyện đó không hề gì; tôi đã có kế hoạch đến Pha Theung hằng ngày để hỗ trợ công việc xây dựng trường đến khi visa của tôi ở Lào hết hạn một tháng sau. Sau đó, tôi sẽ dành 10 tuần đi du lịch qua một số nước khác trong khu vực Đông Nam Á, cho đến khi trở về Lào vào đầu tháng Bảy để dự lễ khánh thành trường.

Chúng tôi đã dành thời gian còn lại của buổi chiều ăn món cá ngon tuyệt được đánh bắt từ sông, chơi trò chơi với những đứa trẻ đang rất vui mừng phấn khích, và chứng kiến ngôi trường đang dần trở thành hiện thực. Từ suốt nhiều tháng, tôi đã hình dung ra ngày này, nhưng nó vẫn tác động mạnh mẽ đến tôi hơn bất cứ điều gì mà tôi mong đợi. Tôi nghĩ về các ông tôi, họ đã đi qua nhiều vùng đất lạ, giống như tôi bây giờ. Tôi nghĩ đến các bà tôi, họ đã hết lòng vì con cháu, giống như những người phụ nữ đã mang những tấm ván gỗ đến đây.

Khi chúng tôi lái xe trở lại thành phố, tôi đeo kính mát lên và nhìn ra ngoài cửa sổ, hy vọng những người khác trong xe không nhìn thấy những giọt nước mắt đang chảy dài trên khuôn mặt tôi. Ngôi trường này, giấc mơ của tôi, đang diễn ra ngay trước mắt tôi.

Hai tuần sau đó là quãng thời gian tất cả chúng tôi đều bận rộn với việc xây trường. Sáng sáng ở nhà nghỉ, một phụ nữ Lào gần 30 tuổi tên là Lanoy sẽ mang cho tôi bữa sáng cùng với một nụ cười tươi. Công việc của chị là giặt ủi và thay ga trải giường, nhưng chị đã học nói tiếng Anh rất tốt từ bà chủ nhà nghỉ, đồng thời rất bạo dạn thực hành nói tiếng Anh với khách du lịch qua đây. Sau khi trò chuyện với chị về các kế hoạch trong ngày của tôi, tôi mất một giờ đi xe gắn máy trên những con đường vắt mình qua các thung lũng và những cây cầu để đến Pha Theung chơi với bọn trẻ và kiểm tra tiến độ xây trường.

Buổi sáng, tôi đào mương, chở gạch, trộn xi măng với những người thợ xây; chiều đến, tôi chơi trò chơi, bơi lội ở sông với lũ trẻ. Thói quen đã trở nên quá đỗi quen thuộc đến mức ngay khi bọn trẻ ăn trưa xong và buổi chiều được nghỉ, chúng sẽ nắm lấy tay tôi chạy xuống ngọn đồi phía sau sân trường, hò hét thỏa thích và đẩy nhau xuống dòng nước nông, ấm phía dưới. Có những hôm, tôi chạy thi với một nhóm mấy cậu nhóc khoảng 10 tuổi tới một tảng đá lớn nhô ra từ sông, có lúc chúng lại đưa tôi đi đánh cá bằng những chiếc lưới đan tay trên một chiếc xuồng gỗ cũ.

Khi nằm thả nổi trên sông, tôi thường tự hỏi, Các bạn mình đang làm gì lúc này nhỉ? Họ đang ở các bữa tiệc thời thượng, hoặc tham dự các cuộc họp với những nhân vật quan trọng, còn tôi đang ở giữa núi rừng, bơi lội và chơi trò đuổi bắt. Tôi không thể hạnh phúc hơn với lựa chọn của mình. Đó là cuộc sống đơn giản nhất và cũng trọn vẹn nhất mà tôi từng có.

Vào một buổi chiều nọ, khi đang chờ những đứa trẻ lớn hơn tan học ở lớp học tạm, tôi ngồi dưới một tán cây và viết nhật ký. Khi nghe thấy những giọng nói líu lo sau lưng, tôi quay lại và thấy ba bé gái. Người chúng lấm lem đất, quần áo rách rưới, và không có ai trông coi chúng cả. Không hiểu vì sao tôi quyết định ghi nhanh lại một đoạn video, nên đã lấy máy ảnh ra, bật chế độ quay phim lên và hỏi, “Jao seu Nyang?” Tên các em là gì?

“Nuth”, đứa đầu tiên trả lời, lấy tay che mặt. Khi tôi hỏi tên hai bé còn lại, Nuth bỏ tay che mặt ra và vui vẻ trả lời thay chúng. Hai người bạn đáng yêu của cô bé, Tamund và Nith, đứng bên cạnh cười khúc khích. Sau đó, tôi hướng máy ảnh ra khắp sân trường, ngôi trường với ba phòng chính, túp lều tre và khu xây dựng ngôi trường mới đầu tiên của chúng tôi – một trường mầm non dành cho trẻ từ 3-5 tuổi. Khi tôi quay máy ảnh về phía chúng, tôi đột nhiên phát hiện ra một điều.

“Các em sẽ là những học sinh mầm non đầu tiên của chúng tôi chứ?” tôi hỏi. Một lần nữa, tôi nhận ra bước đầu tiên tiến về phía hiện thực này là diễn tả nó thật to thành lời. Dù không biết một từ tiếng Anh nào, nhưng cả ba đều cười khúc khích tỏ ý hiểu lời tôi. “Nghe tuyệt nhỉ?” tôi hỏi, và chúng lại cười vui vẻ lần nữa. Khoảnh khắc ấy đã nắm bắt được trọn vẹn vẻ đẹp và sự ngây thơ của những bé gái này, những học sinh tương lai của ngôi trường chúng tôi. Nó cũng cho thấy sự gắn kết của tất cả chúng tôi như là đồng loại, bất kể màu da hay ngôn ngữ của chúng tôi có khác nhau đến thế nào.

Đêm đó tôi đăng đoạn clip lên Facebook, tag tất cả những người đã nỗ lực hết mình đóng góp cho ngôi trường đầu tiên đó. Tôi quyết tâm biến PoP trở thành tổ chức càng minh bạch càng tốt bằng cách cho mọi người thấy những đóng góp của họ, dù lớn hay nhỏ, đều sẽ giúp làm thay đổi cuộc sống một cách sâu sắc đến nhường nào.

Khi tỉnh dậy vào sáng hôm sau, tôi thấy có rất nhiều phản hồi về đoạn video. Chỉ qua một đêm tôi đã nhận được vô số email, tin nhắn, chia sẻ từ bạn bè và cả người lạ. Tất cả đều muốn tham gia. Ngôi trường đã không còn là ước muốn của riêng tôi để cảm ơn Ma vì những hy sinh của bà nữa. Giờ nó là câu chuyện về ba cô gái bé nhỏ này và vô số những người đứa trẻ khác mà chúng tôi có thể gây ảnh hưởng nếu chúng tôi bắt đầu một phong trào rộng lớn hơn.

Một người bạn sớm kết nối tôi qua email với Bob Anderson, nhà sáng lập Community Learning International, một tổ chức xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng, các thư viện và trường học tại tỉnh Luang Prabang. Một tối, chúng tôi gặp nhau đi ăn bên bờ sông Mekong, Bob cho tôi hay anh đã sống ở Lào hơn chục năm. Hiểu biết của anh về đất nước, con người và lĩnh vực phi chính phủ ở nơi đây thật ấn tượng.

“Chi phí xây một lớp học của cậu là bao nhiêu?” Bob hỏi.

“Chúng tôi hợp tác với Sở Giáo dục và một tổ chức đối tác, vì thế họ cung cấp cho chúng tôi một ngân sách chi tiết, sau đó chúng tôi trả tiền cho họ để thuê nhà thầu,” tôi nói. “Trường đang xây có một phòng học lớn và một nhà vệ sinh; dân làng cũng đóng góp hơn 10% chi phí, cho nên chúng tôi chi khoảng 15 ngàn đô-la.”

“Chi phí xây lớp học của chúng tôi có 10 ngàn đô-la thôi.”

Tôi không thể tin nổi. Sao họ có thể tiết kiệm được những 5.000 đô-la?

Bob giải thích rằng tổ chức của anh có một kiến trúc sư người địa phương tên là Somlath phụ trách luôn các nhân viên, và sau khi chính quyền phê duyệt các kế hoạch xây dựng, tiền chỉ xuất khỏi tổ chức để trả lương cho nhân công và mua vật liệu xây dựng trực tiếp từ những nhà cung cấp với mức giá địa phương. Họ bỏ qua các nhà thầu và tự mình thực hiện tất cả các công việc. Tôi thậm chí không biết là chúng tôi có thể làm thế.

Khi Bob đề nghị để kiến trúc sư Somlath đưa tôi đến thăm một số ngôi làng mà họ đang xem xét xây dựng trường, tôi đồng ý ngay. “Tôi muốn cậu đến thăm làng Phayong,” Bob nói. “Chúng tôi đã muốn xây dựng trường ở đó từ nhiều năm nhưng hiện đang thiếu tiền.”

Vài ngày sau, tôi ngồi trên một chiếc tuk-tuk với Somlath và mất bốn giờ đi về phía Bắc để đến Phayong. Somlath cho hay, vào mùa mưa từ tháng Sáu đến tháng Chín, những trận lở đất cuốn đi cả con đường ven sườn núi, khiến Phayong bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Tại một số điểm trên hành trình dài đến làng, chúng tôi phải nhảy ra khỏi xe tuk-tuk để đẩy nó lên đồi. Chúng tôi đẩy hết sức, với hy vọng thêm chút lực đẩy của chúng tôi, chiếc xe có thể tiếp tục bon bon, còn chúng tôi không bị mắc kẹt giữa chốn hoang vu này. Ơn trời, việc đó có kết quả, và chúng tôi đến làng ngay trước khi mặt trời lặn.

Toàn bộ dân làng đều ở trong những túp lều tre và không có điện. Trẻ em trần truồng lang thang, còn các bà mẹ địu những bé con trên lưng. Một nửa dân làng Phayong, khoảng 500 người là người dân tộc H’Mông, nửa còn lại là người Khơ Mú. Dù sinh sống và làm nông gần nhau, nhưng họ không thể giao tiếp bởi mỗi bên đều nói một ngôn ngữ riêng. Cơ hội duy nhất về một tương lai thống nhất là giáo dục. Ở giữa làng là căn nhà một gian nhỏ với những tấm gỗ mục nát và mái tôn đã rỉ sét.

“Họ dùng chỗ này làm lớp học”, Somlath nói.

“Cho lớp mấy?” tôi hỏi.

“Tất cả. Đây là tất cả những gì họ có, vì vậy họ chỉ dạy cho trẻ từ 10-12 tuổi. Suốt 14 năm qua, họ đã đề nghị xây một ngôi trường ở đây.”

Khi tôi lắc đầu không thể tin nổi, một cậu bé đi ngang qua chúng tôi, Somlath bắt đầu trò chuyện với cậu bé bằng tiếng địa phương, sau đó quay trở lại phía tôi. “Thằng bé tám tuổi. Những đứa trẻ ít tuổi hơn như thế này không thể đi học bởi ở đây không có cả lớp học lẫn giáo viên, vì vậy thằng bé không biết đọc hoặc viết tên mình.”

“Anh hỏi thằng bé xem, nếu có thể có bất cứ thứ gì trên đời, nó muốn có thứ gì?”

Somlath nghe và dịch, “Nó muốn được đi học, anh AB ạ.”

Có những khi ta biết bằng lý trí, nhưng cũng có những khi ta biết bằng trái tim mình. Tâm trí mang đến logic và lý lẽ, còn trái tim là nơi cư ngụ của đức tin. Trong những giờ phút còn chưa chắc chắn, khi phải lựa chọn giữa hai con đường – nên để bản thân chùn bước trước nỗi sợ thất bại hay để tia sáng le lói của sự khả dĩ dắt lối – hãy đắm mình vào cuộc sống mà bạn cảm thấy đáng sống nhất.

Tôi đã không hề biết chuyện gì sẽ xảy ra khi tôi đến Lào tháng đó. Tôi đã không hề biết liệu lễ ký kết MOU có thành công không, liệu chúng tôi có thực sự khởi công được ngôi trường đầu tiên không, hay liệu tôi có thể chia sẻ chút ít gì về nó với bất kỳ người ủng hộ nào của chúng tôi ở nhà không. Nhưng tôi tin rằng rồi mọi chuyện sẽ ổn, và niềm tin đó đã cho tôi sự tự tin để nói thứ ngôn ngữ của con người mà tôi muốn trở thành vào một ngày không xa. Càng nói thứ ngôn ngữ của con người mà chúng ta mong mỏi trở thành bao nhiêu, chúng ta sẽ càng tiến bước đến đích nhanh hơn bấy nhiêu. Đó là những gì đã thôi thúc tôi gửi 25 đô-la vào tài khoản ngân hàng, đưa Nuth, Nith và Tamund vào cuộc đời mình, bước lên một chiếc xe tuk-tuk chốc chốc lại chết máy trèo qua những ngọn núi cao để đến với một ngôi làng rất cần một ngôi trường dành cho những đứa trẻ yếu ớt nhất.

Đêm đó chúng tôi ở lại một túp lều tre tồi tàn ở Phayong, nằm trên tấm thảm cứng, nghe tiếng chó sủa nhắm vào mặt trăng khi mờ khi tỏ. Từ khi đến Lào, tôi ngủ khá tốt, nhưng đêm đó tôi lại trằn trọc. Tôi đã hình dung ra ngôi trường Bút chì Hứa hẹn thứ hai.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.