Lính Trơn - Khoa Học Lạ Kỳ Về Loài Người Trong Chiến Tranh

Lượt đọc: 293 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12. Dự Cảm Chẳng Lành

❊ ❊ ❊

Khi sự cố xảy ra dưới biển

Dưới áp lực cao, nước sẽ tạo ra một loại âm thanh riêng khi chúng bị đẩy rất nhanh qua một lỗ quá nhỏ. Tôi biết âm thanh ấy giống như tiếng vòi phun sương, một thứ âm thanh dễ chịu thường phát ra trên bãi cỏ mỗi mùa hè. Phhhhhhhhhìì… Đối với các thủy thủ tàu ngầm, nơi không có cả bãi cỏ lẫn mùa hè, âm thanh đó không dễ chịu chút nào. Đó là âm thanh báo hiệu nước đang tràn vào nơi nó không được phép tràn vào. Một mối nối bị rò, một ống bị thủng. Đại dương sắp chiếm lấy con tàu. Ở càng sâu thì sức ép của nước càng mạnh. Ở độ sâu 90 m, nước biển tràn vào từ một lỗ thủng rộng 5 cm mạnh đến mức có thể bẻ quặt đầu gối một người. Ở độ sâu 300 m, một lỗ thủng rộng 20 cm có thể làm đầy tràn một bể bơi tiêu chuẩn Olympic chỉ trong 3 phút. Nếu không sửa kịp, bạn sẽ gặp phiền phức. Bạn sẽ bị chìm.

Tôi nhìn xuống một buồng động cơ tàu ngầm đang phát ra rất nhiều âm thanh phì phì. Mười một cái cổ ướt đẫm đang chúi vào những lỗ thủng - đầu tiên là ba, và giờ là bốn lỗ. Chúng tôi đang ở độ cao 60 m so với mực nước biển, trong một tòa nhà tại Groton, Connecticut, do đó nguy cơ bị đuối nước gần như không có. Căn buồng này chỉ là buồng mô phỏng, nằm trong khu Huấn luyện Kiểm soát thiệt hại của Trường Huấn luyện Tàu ngầm Hải quân, hay Huấn luyện Ướt, hay “một trong các lý do khiến thủy thủ chửi thề”. Tôi đang đứng tại nơi khô ráo ở phía bên kia một cửa sổ quan sát làm bằng kính rất lớn và sạch (nó có cả các cần gạt nước đấy!), nhìn vào buồng máy với các thủy thủ đang chửi thề trong đó.

Đứng cạnh cửa sổ với tôi là người hướng dẫn phụ trách buổi diễn tập hôm nay, thợ máy trưởng Alan Hough. Cứ vài phút anh lại chỉ dẫn cho đồng nghiệp đứng cạnh một bảng điều khiển phía sau điều chỉnh các lỗ rò, nhưng anh chủ yếu tập trung vào hướng dẫn các học viên. Anh vừa chấm điểm vừa nhận xét phần việc họ làm. Anh hướng dẫn họ thông qua các bảng hiệu được giơ lên cửa sổ, vì không ai có thể nghe thấy anh nói qua tấm kính và giữa những tiếng phhhhhhìì. HAI NGƯỜI BỊT MỘT LỖ RÒ. BỊT TỪ PHÍA SAU MIẾNG VÁ. KHÔNG BUỘC ĐAI Ở GIỮA CHỖ NƯỚC PHUN RA. Những tấm bảng hiệu này làm bằng loại nhựa đỏ cứng, hẳn đã được ai đó chu đáo in sẵn.

Tàu ngầm ngày nay hoạt động dựa trên công nghệ hiện đại, nhưng nếu xảy ra sự cố thì các dụng cụ được các thủy thủ dùng đến có thể đã xuất hiện từ thời tàu buồm gỗ. Một trong những thủy thủ chúng tôi đang quan sát sử dụng một loại thừng bện đôi đơn giản. Bắt đầu từ khoảng 2,5 cm phía dưới lỗ rò, anh ta buộc một đoạn dây dài mảnh thật chặt xung quanh ống, bóp dần vết rò lại sau từng vòng dây. “Nút chêm” đơn giản chỉ là một vật hình nón bằng gỗ thông, thứ có thể thấy thường xuyên ở trong bộ xếp hình hay trong lớp học hình họa. Đầu nhỏ của nút chêm này sẽ được đóng vào trong lỗ sâu nhất có thể. Khi gỗ thông hút nước, đây vốn là loại hút nước mạnh nhất trong tất cả các loại gỗ, nó sẽ nở ra và trở thành một cái chêm chặt hơn và hiệu quả hơn.

“Nổi còi,” Hough ngoảnh ra sau nói. Anh chàng đứng cạnh bảng điều khiển kéo một hồi còi hơi để các học viên dừng việc và nhìn lên. Hough cầm một tấm bảng (CẦM BÚA BẰNG HAI TAY) và chỉ vào chàng trai trẻ đang gõ búa vào nút chêm như cách một con mèo đang nghịch cuộn len, hoặc quái vật Godzilla vờn một con mèo. Mười lần thì chín lần như thế, Hough nói; họ sẽ làm rơi nút chêm, búa hoặc cả hai. Điều đó làm lãng phí thời gian trong tình huống không được phép lãng phí. Và gây nguy hiểm. Áp lực 90 cân Anh trên một inch vuông (psi) (tương đương áp suất 6,33 kgfcm2) có thể biến một học cụ trong lớp hình họa trở thành một “vật nhọn đầu bay như tên lửa”. Anh chàng thủy thủ nhặt lại nút chêm, vốn đang dập dềnh trên dòng nước không xa sau lưng anh ta. “Một ưu điểm của gỗ thông,” Hough nói. “Chúng nổi.”

Nhưng cái búa thì không. “Thế nên chúng tôi bảo họ: dùng mọi thứ có thể làm búa.” Nếu như anh đánh rơi búa, hãy cầm lấy bất cứ thứ gì ở trong tầm tay. Câu đó cũng áp dụng luôn với các nút chêm. Khi al-Qaeda phá thủng một lỗ kích thước 12x18 m trên thân tàu USS Cole, thủy thủ đoàn đã bịt nó bằng bất cứ thứ gì họ tìm thấy: “Đệm nằm, gỗ, dây phao, giày thể thao…,” Hough nghiêm túc nói. “Bọc nó lại và nhét vào lỗ thủng.” Mất đến ba ngày nhưng cuối cùng thủy thủ đoàn cũng đã kiểm soát được việc tràn nước.

Tôi đã gặp Hough trước đó trong văn phòng của anh, nơi anh làm việc cùng hai người khác. Một lọ bơ lạc Smucker’s Goober Grape với họa tiết kẻ sọc và sặc sỡ, nổi bật trên nền màu xanh lá nhạt nhòa mà ai đó, vào một lúc nào đó, đã quyết định chọn làm màu sơn cho các văn phòng của Quân đội Mỹ. Hough trông cao ráo với nước da nhợt nhạt. Anh có một hàm răng vâu trông khá lôi cuốn, khiến khi nói, các răng cửa trên chạm xuống môi dưới giống như lũ trẻ nhún nhảy trên giường. Anh lớn lên tại một vùng nơi mà người ta dùng đại từ chỉ định “chúng” thay cho “những cái kia”. Hough không phải là tay mơ. Anh có thể tháo rời một bộ tua bin hơi nước nhanh hơn bất kỳ một người nào khác có thể làm.

Tất cả những thứ khác trong kho dụng cụ chặn dòng nước rò ngày hôm nay đều được xếp loại là miếng vá. Cách gọi này rất phù hợp, nhưng có thể khiến người ta hiểu nhầm trầm trọng. Miếng vá này không được sử dụng như vá một chiếc quần thủng mà giống như vá một vòi nước cứu hỏa bị thủng khi nước vẫn phun. Bạn không thể ấn miếng vá vào chỗ thủng theo hướng vuông góc từ trên xuống. Nó phải được trượt vào từ phía ngoài mép lỗ thủng, giống như kéo một chiếc chăn trùm qua một thùng rác đang cháy, và sau đó buộc chặt.

Hough quan sát một cặp thủy thủ loay hoay mãi mà không thể bịt lỗ thủng bằng một miếng vá cỡ trung được gọi là “ tấm lưng khỏe”. Đoạn dây đai họ đang sử dụng được thiết kế để có thể chịu được áp suất nước cao đến mức 6.000 psi. “Vậy nên, quá tệ khi họ không thể xử lý được lỗ rò với áp suất nước ở mức 90 psi.” Hough chỉ muốn giơ một tấm biển đỏ vốn không tồn tại cho hai anh chàng thấy: TỰ SỬA CÁI LỖI CHẾT TIỆT ĐÓ ĐI.

Hough rất nghiêm khắc với học viên của mình bởi những gì diễn ra ở khu Huấn luyện Ướt này chỉ là một trò chơi của trẻ con nếu so với những gì xảy ra ngoài thực tế. Đó là tình huống đã xảy ra trên tàu USS Squalus, ở độ sâu 15 m, sau khi một van dẫn khí đường kính 79 cm đã không đóng trong một lần lặn thử năm 1939. “Biển cả đã tìm được đường đột nhập vào mê cung ống chạy khắp chiều dài của tàu Squalus. Trong phòng điều khiển, những tia nước muối phun ra từ hàng tá chỗ khác nhau.” Tôi xin trích dẫn lời bình luận của Peter Maas về vụ chìm tàu này trong cuốn sách The Terrible Hours (tạm dịch: Thời khắc kinh hoàng). “Các thủy thủ đã làm việc một cách điên cuồng… bám vào bất cứ thứ gì có thể để đứng vững.” Sau đó tất cả đèn vụt tắt.

Còn đây là báo cáo từ tàu ngầm tuần tiễu về chuyến hải hành cuối cùng của tàu USS Tang, ngày 24 tháng Mười năm 1944, ngày mà một quả ngư lôi do tàu này phóng đi lao lên mặt biển, và quay ngoắt về mạn trái rồi phá một lỗ ở đuôi tàu. “Đuôi tàu của chiếc Tang dần chìm xuống giống như bạn thả một con lắc từ một vị trí nằm ngang.” Đại úy hải quân Lawrence Savadkin miêu tả khung cảnh: “Tàu nghiêng đột ngột khiến cho các thủy thủ và thiết bị rời va đập rồi rơi về phía tôi cùng với nước tràn vào.” Chiếc tàu ngầm trong khu Huấn luyện Ướt không nghiêng, nhưng chiếc trong Trường Huấn luyện Sĩ quan tại đảo Rhode, có tên USS Buttercup, thì có. (Hough đột nhiên nói đầy cảm xúc: “Cô sẽ không bao giờ cứu được tàu Buttercup.”) Với giọng đều đều và kiềm chế thường thấy ở các bản báo cáo và tường thuật lại sự việc, Savadkin kết luận: “Lúc ấy, trong tàu rất hỗn độn.”

Trong những kịch bản cực đoan như thế, thủy thủ đoàn sẽ bỏ qua những miếng vá hay các nút chêm mà tiến thẳng tới những cánh cửa kín nước. Thứ phân chia ba hay bốn khoang kín nước trong một chiếc tàu ngầm là những chiếc nắp dày hình tròn, có hình dáng và khả năng chống xuyên phá tốt hơn hẳn cửa máy giặt cửa trước nhưng kém hơn cửa an toàn hầm ngân hàng. Bên ngoài cánh cửa này có thể bị ngập đầy nước, nhưng nước ngập sẽ bị chặn lại ở đó. Phụ thuộc vào lượng nước biển đã choán chỗ trong tàu, người ta có thể phát lệnh “thổi khẩn cấp”. Một luồng khí nén sẽ thổi sạch nước ra khỏi khoang chứa nước của tàu như phương pháp Heimlich xốc ngược từ phía sau đối với người bị đuối nước. Người ta hy vọng việc làm nhẹ và thổi rỗng con tàu xấu số này sẽ thắng được trọng lượng của nước ngập bên trong tàu và giúp nó nổi lên trên mặt nước.

“Nếu không tạo ra đủ khoảng không chứa khí trong tàu, tàu sẽ chìm.” Jerry Lamb đã nói vậy. Anh là giám đốc kỹ thuật tại Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Y tế Tàu ngầm Hải quân (NSMRL), nằm cách khu Huấn luyện Kiểm soát Thiệt hại vài khối nhà. Tôi đã chia tay Alan Hough cùng với những thủy thủ ướt sũng của anh để gặp Lamb và một trong những đồng nghiệp của anh đến từ Hải quân Hoàng gia Anh, Trung tá quân y John Clarke. Cả hai đều là những người thành thạo quy trình kiểm soát thiệt hại: thoát hiểm và cứu nạn trong tàu ngầm.

Lamb rót cà phê cho tôi, còn Clarke đi tìm sữa. Một phút sau anh quay lại, liếc mắt nhìn hạn sử dụng. “20 tháng Một. Vẫn còn dùng được.”

“Năm nào?” Jerry Lamb hỏi. Anh vốn là người lạc quan và khôi hài, khí chất vui tươi của anh chỉ mới mòn đi đôi chút sau hai mươi lăm năm phục vụ trong Hải quân. Quân chủng Hải quân: nhân lực thông minh, bộ máy quan liêu. Họp hành, công việc giấy tờ, hội thảo. Mới mấy phút trước, tôi có nghe thấy Lamb nhắc đến một thứ gì đó gọi là “tiệc trưa phòng thủ tên lửa”. Trong đầu tôi hiện lên hình ảnh chiếc khăn lót dưới những bình nước và những bản trình chiếu PowerPoints về các đầu đạn đang lao đến. Ai có thể ăn được chứ?

Cả hai chiếc Tang và Squalus đều không tạo ra đủ lượng khí cần thiết. Việc đầu tiên cần làm khi một chiếc tàu ngầm đã chìm xuống đáy biển là phát tín hiệu cầu cứu cho những đơn vị cứu hộ tiềm năng. Khi đó, cũng giống như bây giờ, mỗi khoang tàu ngầm đều được lắp đặt những ống phóng mini để phóng pháo sáng, tín hiệu khói hay phao định vị vị trí. Trên các tàu ngầm trong Thế chiến II, phao định vị vị trí giống như một bốt điện thoại công cộng nổi lên giữa biển vậy. “Có tàu ngầm chìm ở đây,” đó là những gì được ghi trên phao định vị của tàu Squalus. “Điện thoại ở trong.” Nó giống như một bức tranh vẽ không mấy hài hước trên báo New Yorker vậy. Đáng lẽ người ta cần thêm vào dòng thứ ba: “Không, thật đấy.” Một sợi cáp dài nối giữa phao và con tàu chìm. Khi một tàu cứu hộ đến, thủy thủ trên tàu sẽ vớt thứ này lên và mở ra để cầm lấy chiếc điện thoại. Peter Maas đã nhắc lại khoảnh khắc đó trong cuốn sách của mình. Sĩ quan chỉ huy con tàu cứu hộ khi đó, Warren Wilkin, cầm ống nghe và hỏi vui “Các anh gặp vấn đề gì thế?” Như thể ông ta phanh xe dừng lại sát cạnh một chiếc xe đang đỗ ở lề đường với nắp ca pô mở sẵn vậy.

Sĩ quan chỉ huy tàu Squalus - có vẻ không hề bị bối rối trong hoàn cảnh gặp thảm họa - cũng hồ hởi đáp lại, “Xin chào, Wilkie.” Sau đó, một đợt sóng dồn dã đẩy bật tàu của Wilkin lên cao và giật đứt sợi cáp, khiến cho mọi liên lạc về sau đều phải lấy búa gõ theo mã Morse lên thân tàu ngầm.

Tất nhiên, từ những năm 1940 đến nay công nghệ đã tiến bộ rất nhiều. Phao định vị hiện đại, SEPIRB (Cột phát tín hiệu vô tuyến khẩn cấp báo vị trí tàu ngầm), sẽ gửi một thông tin, với tên của tàu ngầm và vị trí hiện tại của nó, đã được mã hóa qua vệ tinh về trung tâm điều phối cứu hộ cần nhất. Dù vậy, các phao định vị vẫn được phóng từ ống phóng nhỏ, và những ống phóng không bị hàn kín, như trên một số tàu ngầm thời Chiến tranh Lạnh - đề phòng trường hợp phao tự phóng và làm lộ vị trí tàu cho các tàu ngầm Xô Viết mà chúng đang theo dõi. Trước khi phóng một phao định vị vị trí, người ta sẽ lấy một chiếc bút chì dầu và viết chi tiết nhất có thể lên đó: thiệt hại của chiếc tàu ngầm (và thủy thủ đoàn), chất lượng không khí trên tàu, vân vân.

Cách xử lý tiếp theo sẽ phụ thuộc vào việc tình huống nghiêm trọng đến mức nào. Bên trong mỗi chiếc tàu ngầm của Mỹ đều có một tập tài liệu hướng dẫn dày cộp, màu trắng, đóng gáy bằng ba chiếc vòng thép có tiêu đề “Hướng dẫn sinh tồn trong tàu ngầm gặp nạn”, và phía trước tập tài liệu đó là một sơ đồ hướng dẫn việc ở-hay-rời-tàu: một sơ đồ ra quyết định hình cây theo những câu hỏi dạng có-hoặc-không: Đã kiểm soát được nước tràn vào tàu chưa? Đã dập tắt hết lửa chưa? Nếu rồi, nếu tình hình yên ổn, câu trả lời cuối cùng thường là Ở lại. Đợi tàu cứu hộ. Khi chìm ở nơi có độ sâu dưới 180 m, người ta có thể chui ra khỏi tàu ngầm bị chìm và tìm đường lên mặt biển - Chào, Wilkie! - tuy nhiên, vì nhiều lý do mà chúng ta sẽ biết ngay sau đây, đó chỉ là lựa chọn cuối cùng.

Một chiếc tàu ngầm của Mỹ thường dự trữ một lượng hóa chất tạo khí ôxy và hấp thụ khí cacbonic đủ cho thủy thủ đoàn dùng trong ít nhất một tuần mà không cần có điện: một tuần trong tình trạng Clarke gọi là “sinh tồn dưới đáy”. Từ đáy (bottom), theo ý của anh là đáy biển, nhưng chất giọng Anh khiến tôi nghĩ nó mang một nghĩa khá bậy bạ. Nghĩa nào của nó thì hợp hơn nhỉ: “cái mông bạn” sẽ được cứu ư? Bảy ngày đó là thời gian tối thiểu để những người phía ngoài đưa được phương tiện cứu hộ đến. Mười lăm nước và khối NATO đã xây dựng được hệ thống cứu hộ tàu ngầm - những phương tiện lặn sâu có khả năng giảm áp - nhưng độ sâu có thể tiếp cận của chúng lại rất khác nhau. Không một phương tiện nào được thiết kế để hoạt động ở độ sâu trên 600 m; hơn nữa, hầu như cũng không có tàu ngầm nào xuống đến độ sâu đó. (“Độ sâu phá hủy” của tàu ngầm hiện đại Mỹ là thông tin tối mật[1], nhưng có giả thiết cho rằng độ sâu ấy vào khoảng 800 m.

Clarke bổ sung thêm rằng đồ dự trữ trên tàu ngầm có thể dùng được trong nhiều hơn bảy ngày. “Vì thực ra cô có lẽ sẽ chỉ phải chia sẻ với một phần thủy thủ đoàn thôi.” Phải mất một lúc tôi mới hiểu những gì anh đang nói. Ý anh là lượng ôxy có thể đủ dùng lâu hơn một tuần bởi sẽ có những thủy thủ không cần đến ôxy. Trên tàu Squalus, hai mươi sáu người đã chết đuối ngay trong mấy phút đầu của thảm họa, chôn vùi thân xác trong khoang bị ngập khi cánh cửa kín nước được đóng lại.

Điều mà mọi người ít phải lo nhất là bị chết đói. Tàu ngầm thường rời cảng với thực phẩm dự trữ đầy ắp, hầu hết chúng được đóng hộp - thực tế thì đồ hộp nhiều đến mức, ở các tàu ngầm cỡ nhỏ, chúng sẽ tràn ra khỏi phòng dự trữ, khiến toàn bộ các lối đi lại của tàu sẽ được lát bằng đồ ăn đóng hộp trong những tuần đầu tiên của hải trình. Nước ngọt có thể trở thành một mối lo nếu như máy lọc nước biển hỏng hóc. Hướng dẫn sinh tồn trong tàu ngầm gặp nạn không do dự đề cập đến cả những biện pháp tiết kiệm nước. “Giảm tối thiểu lượng nước sử dụng cho giội nhà vệ sinh xuống mức một lần xả… cho ba lần sử dụng.” Để khử mùi, bản Hướng dẫn còn đề nghị rắc lên đống chất thải thứ bột mà các đầu bếp trên tàu vẫn sử dụng để pha ra nước giải khát “bug juice”. Người ta chỉ ra rằng thứ nước uống này có tính axit cao, nên có người đoán đó chính là lý do nó được sử dụng cho mục đích này, nhưng nhiều khả năng đây là đánh giá của tác giả về thứ nước “bug juice “[2].

Và sau đó là ngồi đợi. Những thủy thủ trên tàu Squalus đã ngồi tán gẫu trong buồng chứa ngư lôi và ăn dứa đóng hộp. Điều đáng chú ý là không ai trong số thủy thủ đoàn trên tàu Squalus hay Tang bộc lộ sự hoảng loạn. Trên tàu Tang, viên sĩ quan chỉ huy viết trong báo cáo, “Không có lúc nào các thủy thủ bị hoảng loạn hoặc mất trật tự… Hướng về kết cục cuối cùng, các cuộc trò chuyện chủ yếu là về gia đình và những người yêu thương của họ.” Một trong những thông điệp cuối cùng mà thủy thủ đoàn truyền ra ngoài bằng cách gõ vào thành của chiếc tàu ngầm S-4, bất ngờ bị đâm phải và chìm năm 1927, là “Làm ơn nhanh lên.” Công sức và thời gian họ bỏ ra để gõ mã morse cho từ “Làm ơn” khiến tôi cảm thấy nhói trong tim. Hải quân là vậy: lịch sự và tôn trọng cho đến giây phút cuối cùng.

Thủy thủ đoàn của tàu Squalus đã rất may mắn; buồng cứu nạn tàu ngầm đầu tiên của Hải quân vừa mới được hoàn thành và đã qua thử nghiệm. Tàu Squalus là lần giải cứu đầu tiên của nó. Ba mươi ba người sống sót đã sử dụng buồng này để lên mặt biển. Buồng cứu nạn là một loại chuông lặn cải tiến. Giống như một chiếc cốc nước úp ngược trong nước, áp suất của không khí phía trong khiến nước không thể tràn vào trong. Một thợ lặn sẽ xuống dưới cùng chiếc chuông và chỉnh cho phần hở của nó khớp đúng vào vành của một cửa tàu ngầm và vặn chặt nó bằng bu lông đai ốc. Giờ thì cửa tàu ngầm có thể mở ra và một tốp thủy thủ đoàn sẽ chui vào buồng cứu nạn này.

Trước tai nạn này, chìm tàu ngầm gần như là một án tử. Ngay cả ở dưới độ sâu vài phân nước cửa tàu ngầm đã bị đè chặt - hay cửa ô tô nếu rơi vào cùng hoàn cảnh - ở áp suất không thể đẩy cửa mở ra (trừ phi họ phải cân bằng áp suất bằng cách cho nước tràn vào tàu). Trong những con tàu ngầm nhỏ hơn của những năm 1920, không khí chỉ đủ dùng khoảng ba ngày. Một trong những chiếc “quan tài sắt” đó, chiếc S-51, đã truyền cảm hứng cho Thiếu tá Hải quân Charles “Swede” Momsen tìm ra cách cứu được người trong tàu ngầm ra. Tàu ngầm của Momsen là chiếc đầu tiên tới được hiện trường. Thủy thủ đoàn chỉ biết bất lực nhìn trừng trừng vào vết dầu trên mặt biển, “cảm giác bất lực cùng cực”, là những gì Momsen đã viết cho bạn mình. Khi chiếc tàu ngầm được vớt lên, người ta đã kể lại rằng thi thể của thủy thủ đoàn đã được tìm thấy với những ngón tay nát bấy và đầy máu vì cố gắng cậy cửa tàu dưới sức nặng mười lăm tấn của đại dương.

Trên thực tế, hầu hết các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Mỹ ngày nay đều hoạt động trong các vùng biển ở độ sâu lớn hơn mức phá hủy của chúng, khái niệm “quan tài sắt” lấy lại phần nào độ chính xác của nó. Độ sâu phá hủy là điểm mà thân tàu không thể chịu nổi sức ép khủng khiếp của nước và con tàu bị vỡ tung. John Clarke so sánh chuyện đó với việc đặt chiếc tàu ngầm vào bên trong một quả bom khổng lồ. Con tàu vỡ vụn từ ngoài vào trong. Còn thủy thủ đoàn thì sao? “Nếu cô có thể tưởng tượng,” Clarke nói, “tất cả các chi tiết kim loại nhất loạt vỡ tung và mọi thứ nằm trên đường đi của chúng sẽ bị đè nát, xé tung và nghiền vụn.” Lúc này không ai có thể cứu bạn dưới đáy biển. Vào ngày 10 tháng Tư năm 1963, tàu USS Thresher đã bị nổ tung, và toàn bộ thủy thủ đoàn gồm 129 người đã hy sinh. “Xác con tàu đã rải khắp đáy biển,” Jerry Lamb nói.

Trước những hậu quả mà biển sâu gây ra cho tàu ngầm hiện đại, tại sao những hệ thống thoát hiểm và cứu nạn tàu ngầm vẫn được phát triển? Liệu có phải chúng chỉ tồn tại với mục đích, như một thủy thủ tàu ngầm đã thổ lộ, “giúp cho các ông bố bà mẹ cảm thấy ấm lòng”? Không, ý nghĩa của những thứ đó cũng không khác gì cầu trượt bơm hơi giúp hành khách thoát khỏi máy bay. Bởi vì, cũng giống như máy bay, hầu hết các vụ va chạm xảy ra khi ra khơi hoặc cất cánh: trong cảng hoặc sân bay, nơi giao thông đông đúc nhất nhưng xác suất sống sót cao nhất nếu xảy ra tai nạn.

Tàu ngầm Tang bị chìm ở độ sâu chỉ có 54 m, nhưng việc cứu hộ rất phức tạp do điều kiện chiến tranh. Tàu bị chìm giữa một đoàn tàu hộ tống của Nhật Bản mà nó đã bám theo cả đêm và phóng ngư lôi đánh chìm một số. Cuối cùng, không khí trong tàu quá tệ khiến thủy thủ đoàn bó tay. Khói bốc lên do đốt hủy các tài liệu mật và nước biển chảy vào trong hệ thống pin, giải phóng ra khí clo chết người. Một thảm họa hỗn hợp. Bạn không cần phải đọc giản đồ hướng dẫn để biết quyết định Ở lại phải chuyển thành Bỏ tàu.

Swede Momsen cũng có phát minh dành cho tình huống này. Trong Thế chiến II, các tàu ngầm đều được trang bị khoang thoát hiểm và “phổi” Momsen. (Lá “phổi” ở đáy là một thiết bị cung cấp không khí có thể mặc vào người, và khi nổi lên đến mặt nước, có thể dùng tay điều chỉnh nó thành thiết bị nổi.) Giống như khoang điều áp trên tàu vũ trụ, khoang thoát hiểm cho phép cân bằng áp suất giữa trong và ngoài con tàu. Trên tàu ngầm, nó cho phép người ta mở bật cửa và các thủy thủ đeo “phổi” sẽ được thả ra biển. Tang là chiếc tàu ngầm đầu tiên bị chìm xuống đáy biển mà thủy thủ đoàn có thể thoát ra, mà không cần đến sự trợ giúp của chuông cứu nạn. Có tổng cộng chín người, bốn trong số đó cuối cùng đã chết đuối hoặc mất tích. (Theo quy ước kỳ dị của chiến tranh, năm người sống sót đã được kẻ địch vớt khỏi làn nước lạnh gần như đóng băng đó - như sĩ quan chỉ huy của tàu Tang đã miêu tả họ, “những kẻ sống sót bị bỏng và bầm giập bởi chính những gì chúng tôi vừa gây ra” - những người sau đó đã đánh đập và bỏ đói họ trong nhà tù dành cho tù nhân chiến tranh.)

Vậy điều gì đã xảy ra với những thủy thủ còn lại tập trung trong buồng ngư lôi của Tang và đeo sẵn “phổi” Momsen? Sao họ không thoát ra? Thực sự họ không biết làm cách nào để thoát ra cả. “Phần lớn thủy thủ đoàn,” báo cáo đội tuần tra cho biết, “chưa hề được huấn luyện tử tế về cách dùng ‘phổi’ Momsen hay vận hành buồng thoát hiểm. Do đó họ không tự tin mình hoàn toàn có thể thoát ra, và một tâm lý chịu trận bao trùm giữa họ… Sau đôi ba nỗ lực đầu tiên, rất ít thủy thủ muốn cố gắng thoát ra dù họ biết điều gì sẽ sớm xảy đến với mình dưới đáy biển.” Tất cả đều được ghi trong bản Tổng kết của cuộc thoát hiểm. Xạ thủ ngư lôi Fluker: “Sau lần thứ hai này sẽ không thử nữa.” Một người khuyết danh: “Được lôi ra trong trạng thái ngẩn ngơ khỏi khoang thoát hiểm, không muốn thử lại lần nữa.” Một thợ máy khuyết danh khác: “Không muốn tiếp tục thử sau nỗ lực đầu tiên.”

Một chút tập luyện hoàn toàn có thể tạo nên sự khác biệt. “Dù cho tất cả mọi người đều đã đọc cách thoát hiểm,” báo cáo tiếp tục, “nhưng thực tế chưa ai thực hành cả.” Năm 1930, dưới sự thúc giục của Swede Momsen, một bể huấn luyện thoát hiểm đã được đưa vào sử dụng tại căn cứ tàu ngầm ở Groton. Với hy vọng mọi thủy thủ tàu ngầm đều có cơ hội thực hành thoát hiểm.

Sâu 12,2 m và dung tích 318 m3 nước, bể Huấn luyện Thoát hiểm khỏi Tàu ngầm chịu Áp suất thuộc Trường Huấn luyện Tàu ngầm Hải quân trữ một lượng nước tương đương với một bể bơi khách sạn. Dù vậy, đường kính bể tương đương với một chiếc bồn tắm Jacuzzi. Đây là thứ mà bạn có thể tình cờ bị rơi vào, giống như hố ga, nếu không để ý thấy. Dù cho nước xanh và thành bể lát gạch, bể bơi là một từ hoàn toàn không chính xác để miêu tả nó. Đây là một cột nước mô phỏng đại dương được xây dựng chỉ với một mục đích duy nhất và nhất định là không phải để giải trí: để thực hành thoát hiểm khỏi một tàu ngầm bị nạn.

Hai mươi sáu học viên Trường Huấn luyện Tàu ngầm trong chiếc quần bơi màu xanh Hải quân đặc trưng đang đứng quanh thành bể gần mép nước. Họ còn rất trẻ và số mụn trứng cá trên lưng vẫn còn nhiều hơn số hình xăm. Trong mười năm tiếp theo, mọi sự sẽ khác đi. Lính hải quân xăm lên cơ thể nhiều như thể nó bị cháy nắng vậy. Cứ mỗi năm, họ lại xăm thêm một chút, ở mỗi bến cảng họ ghé qua. Bài huấn luyện đầu tiên sẽ bắt đầu trong một khoang thoát hiểm được thả chìm xuống nước ở độ sâu 4,5 m. Họ không được phép đeo bất kỳ thiết bị hỗ trợ thở nào mà chỉ được mặc áo phao cứu sinh.

Người hướng dẫn gọi đó là kỹ thuật “nổi thở”, một khái niệm tôi sẽ ghi nhớ để sau này còn sử dụng nếu có viết bài đánh giá về một màn trình diễn Opera nào đó.

Thở là từ cần phải được bôi đậm trong cụm từ trên. Khi phải ngoi từ dưới sâu lên trên, những người bơi non kinh nghiệm thường có xu hướng nín thở - không chỉ để sống sót mà giúp họ nổi lên mặt nước. Họ có thể không nhận ra lượng khí họ hít vào phổi ban đầu sẽ nở ra khi họ ngoi lên và áp suất nước giảm dần. Nếu lượng khí ấy nở ra đủ lớn, nó có thể phá vỡ phế nang - là những túi khí tí hon trao đổi khí ôxy giữa máu và không khí. Nếu điều này xảy ra, các bóng khí có thể lọt vào dòng máu. Gây ra hiện tượng tắc mạch phổi do khí. Không ổn chút nào. Cần phải được chăm sóc cẩn thận. Bóng khí khi ấy sẽ giống như một cục máu đông, có khả năng làm tắc mạch máu và làm các cơ quan trong cơ thể thiếu ôxy. Nếu các cơ quan ấy là tim hay não thì những tổn hại mô tại đây có thể gây chết người. Trong báo cáo về vụ chìm tàu Tang người ta phỏng đoán hiện tượng này chính là nguyên nhân gây ra cái chết của bốn thủy thủ đã thoát ra khỏi khoang thoát hiểm nhưng sau đó biến mất: họ đã làm rơi miếng ngậm của “phổi” Momsen và không biết hậu quả của việc nín hơi.

“Đó là Quy tắc Vàng trong trường đào tạo thủy thủ tàu ngầm,” Eric Nabors, người hướng dẫn, nói. “Không nín hơi.” Nabors mang chức danh khá gợi hình là Sĩ quan Lặn, và xem ra anh sinh ra là để nhận nó. Tóc của anh được húi cua chỉ còn dài khoảng nửa mi li mét, nhẫn cưới cũng được xăm thẳng vào ngón tay. Không gì có thể ngăn trở được dòng chảy thủy động lực học của Eric Nabors trong bộ đồ lặn.

Để điều hòa nhịp thở của mình - không quá nhanh, không quá chậm - những thanh niên ở đây được hướng dẫn giả bộ như đang thổi nến sinh nhật. Việc hét lên cũng có tác dụng. Để có thể ngăn chặn việc nín hơi triệt để hơn nữa, Nabors và các đồng nghiệp từng thổi vào một túi đựng rượu lúc lặn dưới đáy bể và cứ thế nổi lên. Khi nổi đến mặt nước, túi khí đó vỡ tung.

Trong lúc Nabors và tôi nói chuyện, tôi nói nhầm túi đựng rượu thành túi da dê. Nabors rốt cuộc ngắt lời tôi. “Cô đang nói gì đấy?”

Tôi đã hiểu sai à? Nó chẳng phải là cái túi nhỏ làm bằng da dê mà dân chăn gia súc vẫn thường vắt ngang qua vai họ ư? Ở Tây Ban Nha ấy? Là thứ mà anh sẽ há mồm và tu rượu đấy?

Nabors nháy mắt với tôi: “Tôi đang nói về túi đựng rượu làm bằng chất dẻo thường để trong hộp giấy cơ.”

Người đi theo cùng tôi ngày hôm nay cũng đang nói chuyện với Nabors, và tôi phát hiện ra cô ấy gọi anh là “Jim.” Điều này lý giải cho tờ bìa album của Jim Nabors (Kiss me goodbye) đang được treo trên tường văn phòng của anh, còn trên thẻ chức danh ghi là “Eric Nabors.”

“Trước đây, có một thời gian dài, tôi đã phản đối cách mọi người gọi như thế,” anh nói khi tôi thắc mắc. Khi họ của bạn là Nabors thì người ta sẽ gọi bạn là Jim, dù bạn có tìm mọi cách để “chỉnh” họ. “Cuối cùng, tôi bỏ cuộc.”

Chiếc túi bị vỡ được thay thế bằng một đoạn phim quay lại nó, vì cái túi thật quá đáng sợ, và sẽ không ai muốn chui vào bể Huấn luyện Thoát hiểm sau khi trực tiếp chứng kiến. Vài học viên sẽ lúng túng khi dùng nó, nhưng trong buổi tập hôm nay có vài người thực sự lo lắng. Một vài chàng trai hầu như không biết bơi. Hải quân Mỹ có rất ít yêu cầu khi tuyển quân. Bạn bị ném vào trong một bể bơi dài 15 m ở bờ bên này, và phải tìm mọi cách để đến được bờ bên kia. Để gia nhập Hải quân, bạn không nhất thiết phải thích nước. “Tôi thậm chí còn không thích tắm rửa ấy,” một thủy thủ tàu ngầm tôi gặp cho biết.

Nabors giải thích cho các học viên quy trình của bài tập. Hai thợ lặn theo kèm một học viên từ lúc cậu ta bắt đầu nổi lên để đảm bảo anh ta thở ra đúng nhịp, có thể làm sạch tai và không hoảng loạn. Sau đó họ để cậu ta đi. Bài tập chỉ kết thúc trong vài giây. “Khi các anh nhô lên khỏi mặt nước và một thợ lặn sẽ hỏi, ‘Anh ổn chứ?’” Nabors nói. “Và các anh sẽ phải hét to tên, cấp bậc và nói ‘Tôi ổn!’” (Vì thế người đứng bên cạnh cầm bảng ghi chép có thể đánh dấu vào bên cạnh cái tên.) “Rõ chưa?”

“Rõ, thưa sếp!”

Vài phút sau, học viên đầu tiên nhô lên khỏi mặt nước, phao thổi căng và trông rất thư giãn. Một thợ lặn đã ở sẵn đó để đón và đưa cậu ta vào bờ. Nếu tình cờ bắt gặp cảnh này mà không biết họ đang làm gì, hẳn bạn sẽ nghĩ, ở đây đang làm nghi thức rửa tội ư?

“Anh ổn chứ?” thợ lặn hét lên.

“Vâng.” Nabors và người cầm bảng ghi chép nhìn nhau. Lũ trẻ ngày nay thật hết nói.

Một học viên từ chối tham gia bài tập nổi. Bạn có thể nhận ra ngay cậu ta nhờ chiếc áo choàng tắm màu đỏ; còn của những người khác màu nâu nhạt hoặc xanh lam. Họ làm điều đó không phải để sỉ nhục cậu ta; không ai ngoài những người công tác tại đây biết ý nghĩa việc “mặc khăn màu đỏ”. Đó là một cách cảnh báo họ phải để ý sát sao, đề phòng xảy ra vấn đề cần can thiệp y tế. Chỉ là anh chàng của chúng ta đang quá sợ hãi thôi. Cậu ta thú nhận mình sợ chết đuối. Tôi liếc thấy “hình xăm chống chết đuối” truyền thống của Hải quân trên đôi chân trần của cậu ta: một bàn chân xăm hình con lợn và bàn chân kia xăm hình con gà. Lý do là ngày xưa khi những chiếc khinh hạm chìm, người ta luôn thấy gà và lợn trên tàu nổi trên mặt biển.

Những học viên cùng khóa đồng cảm với cậu ta, và đây là thứ cậu ta có thể trông đợi: “Đồng đội, đồng lòng.” Tôi đã nghe đến từ tình anh em được dùng cho thủy thủ tàu ngầm. Với quân số chiếm 7% lực lượng Hải quân, đó là một cộng đồng gắn kết. Nhất là trên từng tàu. Trong khi đoàn thủy thủ trên một chiếc hàng không mẫu hạm có thể lên tới 6.000 người, một chiếc tàu ngầm Mỹ chỉ đủ chỗ cho không đến 200 người. Có một sự thân mật được sinh ra không chỉ từ việc không gian cá nhân bị xóa bỏ ở những lớp tàu ngầm cỡ nhỏ mà còn từ việc phải sống biệt lập nhiều tháng trời, và cho đến gần đây, là sự thiếu vắng phụ nữ. “Có rất nhiều thủy thủ ôm ấp và vuốt ve đầu nhau,” một nhà tâm lý học từng làm việc tại NSMRL nói với tôi. “Tôi bị sửng sốt trước sự gần gũi cơ thể giữa họ.”

Khó tránh khỏi chuyện này làm nảy sinh nhiều lời đồn đoán. Andrew Karam, tác giả của cuốn sách Cải thiện để tàu siêu yên tĩnh, đã kể với tôi về hôm anh đang ngồi trong quán rượu với đồng đội cùng tàu của mình thì một gã “hớt bọt” - thủy thủ tàu nổi - bước vào. “Khi nhận ra chúng tôi đều là thủy thủ tàu ngầm, anh ta liền nói, ‘Tôi biết tỏng về mấy anh. Một trăm bốn mươi gã lặn xuống biển, bảy mươi cặp tình nhân nổi lên’.”

“Sự thật không phải vậy,” Karam nói giọng nghiêm túc. “Chúng tôi còn chơi cả tay ba nữa.”

Lực lượng Tàu ngầm Mỹ bắt đầu biên chế thêm các sĩ quan nữ từ năm 2010, và hạ sĩ quan nữ từ năm 2016. Đến giờ, mọi chuyện vẫn ổn. Jerry Lamb nói rằng lệnh cấm hút thuốc gần đây còn gây ra nhiều vụ lùm xùm hơn. Và sau đó việc này đã xảy ra: một ngày trước khi tôi đến thăm, báo Hải quân Ngày nay đã đăng một bài viết về chuyện các nữ sĩ quan trên tàu USS Wyoming đã bị quay lén khi đang tắm.

Tôi hỏi Nabors liệu anh có cần nói cho các học viên chuyện không được tiểu trong bể Huấn luyện Thoát hiểm không.

“Đó không phải là chuyện để bàn. Nó xảy ra là lẽ tất nhiên.”

Tôi quên rằng anh là một thợ lặn. Tôi đã được nghe kể rằng các thợ lặn tiểu ngay trong bộ đồ lặn của họ. Với tôi thì không bao giờ có chuyện đó. “Thậm chí tôi còn không thể tiểu được khi đang bơi trên biển.”

Anh chàng cầm bảng ghi chép liếc nhìn Nabors. Ánh nhìn như kiểu, Ôi trời, xõa tí đi chứ.

Các học viên xếp hàng một đi đến bậc thang như một đàn vịt con. Họ sắp leo xuống đáy của bể Huấn luyện Thoát hiểm để chuẩn bị cho lần nổi lên từ độ sâu gần 12 m. Lần này họ sẽ được mặc một bộ SEIE (Thiết bị lặn và hỗ trợ thoát hiểm khỏi tàu ngầm), bộ đồ có khóa kéo từ dưới lên giữa phần đầu và mặt được bơm căng một phần kéo khiến người ta không thể không so sánh nó với chiếc túi đựng xác. Cũng giống như các phiên bản tối giản hơn của nó là “phổi” Momsen và mũ trùm Steinke, bộ SEIE có một nguồn cấp dưỡng khí và một van để thải bớt không khí thừa khi nó nở ra trong quá trình nổi lên. Nó cho phép những người thoát hiểm có thể thở bình thường mà không phải lo đến chuyện bị nổ tung phổi. Các học viên đã luyện tập bài “nổi thở” trước đó nên họ biết phải làm gì nếu bộ trang bị hỗ trợ thoát hiểm có hỏng hóc. Chẳng hạn như: “Phần cao su đã bị mít và dính lại và phần lớn chúng bị kẹt cứng với nhau.” Andrew Karam đã viết trong một bức thư gửi cho tôi, mô tả những chiếc mũ Steinke anh được yêu cầu kiểm kê cho một tàu ngầm vào cuối những năm 1990.

“Nhìn một cách tích cực,” Karam viết tiếp, “chúng tôi dành gần như toàn bộ thời gian ở độ sâu hơn 300 m dưới mặt biển, do đó cơ hội để sử dụng chúng là cực kỳ ít.” Độ sâu tối đa mà mũ trùm Steinke vẫn hoạt động tốt khi thử nghiệm là 135 m. Bộ SEIE vẫn còn có thể cứu mạng bạn ở độ sâu tối đa là 180 m. Đó thực sự là tất cả những gì bạn cần yêu cầu được cấp, vì nếu bạn thoát ra ngoài ở độ sâu lớn hơn 180 m, bạn sẽ bị mất mạng bởi bệnh giảm áp, dù có mặc trên người thứ gì đi nữa.

Để hiểu được bệnh giảm áp (hay còn gợi là bệnh bends), nghĩ đến một trong những thứ nước hòa tan cacbonic nằm trên bàn là một minh họa hữu ích. Nước có ga là nước máy bị giảm áp. Khi bạn bơm khí áp suất cao vào trong một bình chứa chất lỏng - có thể đó là một chai SodaStream, hoặc cũng có thể là cơ thể một thợ lặn bình khí - một phần khí đó sẽ tan vào chất lỏng. (Nói theo kiểu thuật ngữ thì khí sẽ “tan vào dung môi” để đạt được trạng thái cân bằng áp suất mới.) Bây giờ giả sử áp suất trong bình chứa giảm đột ngột - vì chai nước đã bị mở hay người thợ lặn ngoi nhanh lên mặt nước. Những phân tử khí bị ép phải tan vào chất lỏng do áp suất cao bây giờ sẽ thoát ra khỏi dung dịch. (Cũng là để đạt sự cân bằng áp suất.) Khi thoát ra, các phân tử khí sẽ kết hợp với nhau để tạo thành các bóng khí. Đừng quan tâm đến lý do. Chúng đúng là kết hợp như thế. Giờ bạn sẽ có một cốc nước sủi tăm tươi mát hoặc một ca bệnh giảm áp. Bệnh giảm áp xảy ra khi các bóng khí hình thành trong khắp cơ thể và gây hại: chúng giống như những cục máu đông và ngăn máu chảy tới các cơ quan quan trọng, hay chèn ép mô cơ và gây đau đớn, hoặc cả hai, và còn nhiều tác hại nữa.

Thợ lặn có thể tránh được bệnh giảm áp bằng cách ngoi lên từ từ. Làm thế, cơ thể có thế xả bớt khí khi nó thoát ra từ máu và đi vào trong phổi. (Khí ni tơ là thủ phạm chính; không khí chứa rất nhiều loại khí này và nó thường hòa tan và ẩn nấp trong chất béo.) Thợ lặn càng hít thở không khí áp suất cao lâu, vàhoặc không khí nén ở áp suất càng cao, thì càng có nhiều khí ni tơ cần phải thải ra, tức là người đó cần ngoi lên chậm hơn nữa.

Bệnh giảm áp có thể, hoặc không thể, gây nguy hiểm cho những thủy thủ thoát hiểm từ tàu ngầm. Nếu họ may mắn, không khí trong tàu ngầm gặp nạn vẫn ở nguyên trong tình trạng như lúc rời cảng: được tăng áp suất ở mức tương đương trên mặt biển. Trong trường hợp này, thủy thủ tàu thường thoát hiểm với rất ít nguy cơ mắc bệnh giảm áp. Tuy nhiên nếu con tàu ngập nước, phần nước tràn vào sẽ nén không khí trong tàu giống như một máy nén rác. Lúc này, thủy thủ tàu cũng giống các thợ lặn thở bằng bình khí: họ sẽ hít thở không khí áp suất cao và một phần lượng khí trong không khí đó sẽ bị đẩy vào máu và mô của họ. Tùy thuộc vào thời gian mà họ hít thở thứ không khí này và mức độ nén của nó, họ có thể, giống như một thợ lặn, phải giảm áp trước khi ngoi lên mặt nước một cách an toàn. Việc hít thở khí nén trong khoang thoát hiểm trong khoảng một phút anh ta ở đó, thời gian đó không đủ để gây ra vấn đề trừ khi ở độ sâu rất lớn. Giả sử, ở độ sâu 240 m, không khí trong khoang thoát hiểm có thể bị nén tới áp suất rất cao (để cân bằng với áp suất bên ngoài và có thể mở được cửa tàu) và việc hít thở trong không khí ấy dù chỉ một phút, lượng ni tơ bị hòa tan vào cơ thể đủ để người đó gặp nguy cơ bị bệnh giảm áp.

Tình trạng bệnh giảm áp khủng khiếp nhất là cơn ác mộng mang tên giảm áp nổ tung. Vào ngày 5 tháng Mười một năm 1983, bốn thợ lặn đang thư giãn trong buồng giảm áp trên sàn một giàn khoan dầu tại biển Bắc. Vì một lý do không rõ nào đó, một trong các thợ lặn non kinh nghiệm đã mở cửa, áp suất trong buồng đang ở mức tương đương độ sâu 91,5 m dưới mực nước biển đột ngột sụt xuống mức áp suất trên mặt biển chỉ trong tích tắc. Khí ni tơ hòa tan ngay lập tức thoát ra và tạo bong bóng, trong não, máu, mỡ và cơ bắp của họ. Những nhà nghiên cứu bệnh lý học sau đó đã viết trong bản báo cáo khám nghiệm rằng mỡ của những người đàn ông này trông giống như “một miếng bơ sôi lên trên chảo rán”. Họ phỏng đoán máu đã sủi bong bóng tức thì, “làm cho hệ tuần hoàn ngừng hoàn toàn ngay tắp lự”.

Thợ lặn số bốn là người đã ở cạnh nắp buồng khi nó bật tung. Tạm biệt, Wilkie. Anh ta giống như phần rượu sâm panh ở trên cùng của chai. Các nhà bệnh học đoán rằng ngoài những thương tích vì bị bắn ra ngoài qua ô cửa mở một phần, anh ta “chắc hẳn đã nổ tung”. Người này đã được đưa đến khu giám định pháp y trong bốn chiếc túi ni lông. Một số cơ quan nội tạng đã biến mất, có vẻ như “bị thổi bay luôn xuống biển”. Giống như khí tại các khoang trống trong ổ bụng, không khí trong não anh ta cũng nổ tung khi dãn nở đột ngột. “Phần trán cùng với mái tóc vàng vẫn hiện diện nhưng cả phần đỉnh đầu và bộ não đã biến mất.”

Tôi đang nhìn qua lỗ của khoang thoát hiểm dưới đáy của bể Huấn luyện Thoát hiểm. Nhìn khung cảnh này, với những thợ lặn di chuyển như những con búp bê giẻ, những bong bóng khí nổi lên từ cửa khoang như những con sứa màu bạc phát ra những âm thanh ùng ục, người ta dễ quên đi khả năng giết người của biển sâu. Nhưng những thủy thủ tàu ngầm thì không được phép quên. Mọi sai lầm đều nhanh chóng biến thành thảm họa, và lúc thảm họa xảy ra thì bạn ở đâu? Ở quá sâu đến mức không thể thoát hiểm hay nhận được giúp đỡ.

Các rủi ro sẽ nhân lên gấp bội khi ai đó trong thủy thủ đoàn phải thức liên tục trong 60 tiếng. Nó là một sự thật không mấy dễ chịu trong quân đội, chính người mà bạn không muốn giao cho việc vận hành tàu ngầm hay máy bay hay các hệ thống vũ khí tự động nhất lại thường là những người đang trải qua điều đó: thiếu ngủ kinh khủng trong thời gian dài.

❀ ❀ ❀

[1] Cũng giống như ai đó nghĩ rằng cụm từ “tối mật” chủ yếu dùng để chỉ các vòng giải mã và cho các bộ phim điệp viên được làm quá lên, tôi phải tự nhắc mình rằng cụm từ này thực ra chỉ là sự phân loại mức độ an ninh. Tôi khó thấy ý nghĩa nghiêm túc của dòng chữ “TỐI MẬT - MIỄN VÀO” ghi trên tấm biển được treo ngang bên ngoài cửa phòng điều hướng. Họ có lẽ nên thêm vào cụm từ CẤM PHỤ NỮ. Tôi đã nhìn thấy một chiếc máy in tại khu nhà ăn của thủy thủ đoàn ghi chữ MÁY IN MẬT. Máy in mật cơ đấy!

[2] Andrew Karam cũng nói về thứ thức uống này hay không kém trong cuốn hồi ký về cuộc sống tàu ngầm thời Chiến tranh Lạnh có tên Rig ship for Ultra Quiet (tạm dịch: Cải thiện để tàu siêu yên tĩnh): “Bug juice không có hương vị, chỉ có màu.”

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.