Lính Trơn - Khoa Học Lạ Kỳ Về Loài Người Trong Chiến Tranh

Lượt đọc: 277 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
10. Thứ Không Giết Bạn, Sẽ Khiến Bạn Bốc Mùi

❊ ❊ ❊

Lược sử về bom thối

Chúng là những tài liệu mật đầu tiên tôi tìm được, và chúng không làm tôi thất vọng. Mỗi trang của tập tài liệu này đều được đóng dấu “MẬT” với những chữ cái to quá khổ, một ở đầu trang và một ở cuối. Ngoài ra còn có một dấu dập với nội dung khá dài dòng cảnh báo rằng tài liệu này có chứa “thông tin có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ”, và việc chia sẻ rộng rãi nội dung của nó sẽ vi phạm Luật Tình báo. Một số trang tài liệu được đánh dấu chỉ có thể giao cho “người tin cậy”, đó là một cựu giao liên của chính phủ đầy tham vọng, người sở hữu có những cái túi da bóng bẩy mà không một nhân viên Hải quan nào được phép kiểm tra.

Tài liệu đầu tiên trong tập hồ sơ này ghi ngày 4 tháng Tám năm 1943, và người nhận là Stanley Lovell tại OSS - Cơ quan Tình báo chiến lược của Mỹ trong Thế chiến II. Tài liệu được gửi đến từ một trong những liên lạc viên người Anh của ông và đề cập đến bản ghi chép từ một nhân viên kỹ thuật tại Cơ quan Tình báo Anh (SOE). “Phúc đáp thư gửi ngày 6 tháng Bảy của ngài”, bản ghi chép mở đầu, như thể chúng ta sắp được biết phi vụ mờ ám nào đó của chính phủ. Sau đó bức thư đột ngột lái theo một hướng khác.

“Cho tới lúc này công việc của chúng tôi với những chất có mùi khủng khiếp vẫn chủ yếu để làm nhiễm bẩn quần áo của các cá nhân.” Bản ghi chép cũng ghi lại công thức của “chất lỏng S” (S viết tắt của từ “stench” - hôi thối), một hỗn hợp gốc dầu có “mùi ám dai dẳng gọi ra sự bẩn thỉu của cá nhân”. Cùng với đó là kế hoạch phát tán chất gây mùi bằng hai công cụ: một viên nhộng gelatin có thể châm thủng bằng kim nhọn, rồi bóp cho chất lỏng phụt ra, và “ném đi ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ”, hay một thiết bị phun bằng đồng, vừa giống lọ xịt nước hoa lại vừa giống lọ xịt thuốc diệt côn trùng, “có thể giấu trong nắm tay hay trong túi áo”. Tôi nghĩ đến cảnh vợ của một đặc vụ Anh vô tình tìm được thiết bị này trong túi áo ghi-lê của chồng, đưa lên trước mặt và bóp, háo hức chờ đợi mùi nước hoa cologne nhưng lại nhận được thứ mùi khiến cô lo lắng vì bạn đời đã không kể hết các chi tiết trong nghề của mình cho cô.

Mục tiêu: tạo ra “sự nhạo báng hoặc khinh rẻ”. Khiến các sĩ quan Đức và Nhật mất tinh thần và bị xa lánh ở những nước bị chiếm đóng. Các điệp viên Đồng Minh rất giỏi trong việc tìm ra các thiết bị rẻ và ít bị để ý để đưa cho những kẻ phá hoại và hội nhóm chống đối, khuyên khích dân chúng tự nguyện giúp đỡ họ.

Cơ quan OSS, với sự giúp đỡ của những chuyên gia phát triển vũ khí tại ủy ban Nghiên cứu Quốc phòng (NDRC), cũng nghiên cứu về loại mùi hôi thối của riêng họ. Trong ghi chép của mình, được xuất bản sau khi chiến tranh kết thúc hai mươi năm, Lovell chỉ xem chất SAC-23 - “chất hôi thối, gây ô nhiễm” - là “tác nhân gây cười”, một thứ giải tỏa cho công việc “u ám, máu me và bẩn thỉu” là tạo ra “những vũ khí giết người mới và đặc biệt”. Tuy nhiên độ dày của tập tài liệu cùng sự chi tiết, trang trọng và nghiêm túc toát ra từ nội dung của nó lại cho thấy điều ngược lại. Dự án SAC-23 kéo dài tận hai năm, bào mòn sự kiên nhẫn và lấp đầy hòm thư riêng của bảy thiếu tá[1], tám trung úy, bốn đại úy và một trung tá không quân.

Chỉ đạo ban đầu cho Lovell, như đã đề cập trong những ghi chép của ông, là tạo ra một chất với “mùi ghê tởm sinh ra do đường ruột bị tiêu chảy nặng”. (“Ai, Tôi à?” là mật danh Lovell đặt cho SAC-23.) Ông muốn một thứ có thể phân phát cho quân kháng chiến Trung Quốc để sỉ nhục các sĩ quan Nhật Bản. Không hiểu sao, Lovell tin rằng người Nhật đặc biệt dễ tổn thương với sự sỉ nhục theo cách này: “Một người Nhật không quan tâm gì đến việc tiểu bậy, nhưng anh ta lại coi việc đại tiện là thứ cực kỳ bí mật và đáng xấu hổ.” (Giống như việc phân biệt chủng tộc vậy.) Cơ quan NDRC cũng đưa ra thêm các yêu cầu bổ sung. Chất đó phải có “tầm sát thương” ít nhất ba mét mà “không ảnh hưởng đến người sử dụng”. “Nó phải hoàn toàn không phát ra tiếng khi dùng.” Kín đáo. Không bị mất tác dụng bởi nước mưa, xà phòng, dung môi. Gây ra sự xấu hổ ít nhất trong vài giờ.

Một hãng sản xuất hóa chất tại Cambridge, Massachusetts đã được giao nhiệm vụ phát triển hợp chất này. Công ty Arthur D. Little đã giao nhiệm vụ cho chuyên gia về hương vị và mùi giỏi nhất của họ - “Chiếc mũi triệu đô” - làm công việc này. Ernest Crocker coi hợp chất đầy thách thức này giống như thứ mùi hôi thối bốc lên từ bãi rác trong một buổi trưa hè vậy. “Mùi hôi thối lẫn trong các mùi khác cũng giống như cỏ mọc giữa vườn cây,… một cái cây mọc sai chỗ, như cây khoai tây mọc giữa vườn hoa”, ông đã viết vậy trong bản ghi chép khái quát của mình. Nói tóm lại, bối cảnh là quan trọng nhất[2]. Nơi bàn ăn tại một cửa hàng đồ Ý, mùi thoang thoảng của axit butyric sẽ khiến ta nghĩ đến pho mát parmesan; ở chỗ khác, lại giống mùi chất nôn. Tương tự như vậy, mùi trimethylamine có thể được miêu tả giống như mùi cá tanh hay mùi âm hộ - như cách Crocker e dè bày tỏ - “dễ chịu hay không thì còn tùy thuộc vào hoàn cảnh”. Rất ít loại mùi tự nhiên có thể được xếp ngay vào nhóm mùi “kinh tởm” mà không đi kèm hoàn cảnh. Thứ mùi mà OSS cần, “mùi hôi thối”, cũng không phải ngoại lệ.

Thành phần hoạt hóa chính của “chất lỏng S” của người Anh là skatole, một hợp chất có mùi phân nồng nặc[3] được tạo ra khi các vi khuẩn đường ruột phân giải thịt. Do đó, Crocker đã viết trong tài liệu ghi chú thứ hai với tựa đề sống động: “Những sự thật về phân.” Axit sinh ra khi cacbonhyđrat được tiêu hóa, ông viết tiếp, tạo nên thứ hương chua như mùi dịch vị dạ dày. Thêm một lượng hydro sunphua sẽ tạo ra mùi trứng thối không lẫn vào đâu được. Và cứ thế. Điều rút ra ở đây là việc làm cho một người đàn ông bốc mùi như phân không phải là việc đơn giản. Mùi của phân người, giống như phân của mọi loài khác trong tự nhiên, vô cùng tinh vi, được tạo thành từ hàng tá, nếu không muốn nói là hàng trăm, chất hóa học khác nhau. (Chính vì thế thứ “bình xịt mùi rắm” kỳ dị có mùi rất kinh khủng nhưng lại chẳng giống mùi rắm cho lắm.) Muốn mô phỏng một thứ mùi tự nhiên sao cho giống nhất có thể rất nhọc sức và tốn kém tiền của.

Và nó cũng không mang lại hiệu quả tối đa, Crocker kết luận. “Nói chung,” ông viết, “thứ mùi hiệu quả nhất vì nó gây ra hoang mang.” Khứu giác, cũng giống như vị giác là giác quan đóng vai trò đảm bảo an toàn, một hệ thống phát hiện sớm các chất hóa học có thể gây hại cho cơ thể. Nếu không nhận ra mùi, bạn không thể biết nó có an toàn hay không. Sau hàng triệu năm, những con người nào cẩn trọng và tránh hít phải các mùi lạ thường có tỉ lệ sống sót cao hơn để truyền lại bộ gien cho thế hệ sau. Do đó, một thứ mùi hôi không thể nhận biết chính là thứ vũ khí tiềm năng hơn mùi hôi thông thường.

Ứng dụng thông thường hơn của các “mùi hôi thối” trong quân sự - như các loại vũ khí tạo mùi không sát thương thời hiện đại từng được biết đến - là để “phong tỏa khu vực”: dùng để ngăn (hoặc xua đuổi) đối phương tránh (hoặc ra) khỏi các mục tiêu quân sự như: một đường hầm của địch, nơi ẩn náu của quân khủng bố, một kho vũ khí. Vũ khí tạo mùi hầu hết đều là sự pha trộn của nhiều loại mùi khác nhau. Trong bản ghi chép về “những chất có mùi kinh dị”, SOE miêu tả rằng các ống thủy tinh nhỏ chứa chất gây mùi hôi thối đã được phát cho quân kháng chiến để ném trên mặt thảm trong các phòng họp của quân Phát xít. Những viên sĩ quan Đức Quốc xã, đi đôi ủng đen bóng loáng như ủng của người huấn luyện sư tử diễn xiếc, sẽ giẫm phải chúng mà không hay biết làm tỏa ra khắp phòng thứ mùi hôi thối không thể phân loại, vừa giống mùi của lưu huỳnh cộng thêm mùi amoniac, và mọi người chạy hết ra khỏi phòng.

Ông bạn Crocker của chúng ta bắt tay vào công việc. Ông thiết lập các khu “thử nghiệm cảm quan” ở trong nhà để đánh giá tính hiệu quả của hàng tá hỗn hợp mùi ghê tởm. Cảm quan tức là “tác động lên các cơ quan cảm giác”. Tức là bạn sẽ không muốn làm thuê cho công ty Arthur D. Little vào những tháng cuối của năm 1943. Crocker cuối cùng đã chọn được một hỗn hợp pha trộn của skatole; axit butyric, axit valeic và axit caproic; cùng với hợp chất tự nhiên chứa lưu huỳnh (mercaptan): mùi phân, mùi chất nôn, mùi hôi chân, mùi dê và trứng thối. Các mẫu được chuẩn bị và chuyển đến NDRC trong hai dạng: một dạng “chất thối sệt” đậm đặc hơn dùng để bôi và một dạng chất thối lỏng có thể bóp phụt đựng trong một ống chì nặng gần 57 gam. Crocker đảm bảo với khách hàng của mình loại thứ hai sẽ “gây ra cảm giác cực kỳ khó chịu trong ít nhất hai giờ ở nhiệt độ 21 độ C”. Ông hứa hẹn rằng đối tượng sẽ bị “tẩy chay hoàn toàn”, và kết luận bằng một dòng chắc chắn là có một không hai trong lịch sử ngành tiếp thị: “hôi lâu thối bền nhất trong số các sản phẩm cùng loại”.

Pam Dalton sở hữu một chai “Ai, Tôi à?” trong phòng thí nghiệm của bà. Dalton làm việc cho Trung tâm Nghiên cứu Mùi Monell, một tổ chức phi lợi nhuận độc lập liên kết với trường Đại học Pennsylvania gần đó và từ lâu đã được Bộ Quốc phòng tài trợ nghiên cứu những hóa chất có mùi khó chịu, nơi có đặt một chiếc mũi bằng đồng cao 1,2 m nằm ngay sân trước. Tôi gặp bà năm 1997 khi bà đang làm chuyên gia giám định trong một vụ kiện trang trại lợn. Pam là một phụ nữ hoạt bát có mái tóc đỏ, thường rảo bước vui vẻ dọc theo hàng rào, vừa đi vừa lấy mẫu mùi với chiếc mũi điện tử cầm tay. Bây giờ, mỗi khi cười gương mặt Pam có thêm vài nếp nhăn, nhưng mái tóc của bà vẫn đỏ và bà vẫn yêu công việc của mình.

Phòng thí nghiệm Dalton không hề có mùi khó ngửi, dù cho ở đây nghiên cứu rất nhiều thứ có bốc mùi. Trên một giá để đồ phía trên đầu chúng tôi là một hộp đựng mùi hôi nách của lính cứu hỏa, mỗi mẫu mùi sẽ được đóng kín trong một túi Ziploc. Các tủ lạnh vốn thường được dùng để bảo quản tương cà và xốt trộn xa lát, trong tủ lạnh của Dalton lại chứa một chai xạ hương nhân tạo, thứ giống như dịch tiết ra từ tuyến hậu môn của loài cầy hương. Những mùi được dùng làm vũ khí được cất ở trong tủ hút khí độc. Chất “Ai, Tôi à?”, thứ có khả năng gây ra hoảng loạn nếu rơi vào hệ thống thông gió của tòa nhà, được đóng vào lọ, quấn băng dính, bọc trong hai lần túi và bỏ trong một chiếc hộp thiếc nhỏ có nắp.

Giám đốc Phòng thí nghiệm Dalton, Christopher Mauté mở lọ đó cho tôi xem. Mauté có gò má cao, mũi khoằm và mái tóc đen bóng chải ngược ra sau trông rất lãng tử dường như không cần đến keo vuốt tóc. Anh là con người của khoa học, vẫn hay tự miêu tả bản thân là kiểu người ngửi những bông hồng ở đám cưới và nói, “Ừm, mùi phenylethyl alcohol”. Mauté giữ chiếc lọ nhỏ đã mở nắp ở gần mặt tôi, tay vẫn nắm chặt nó. Nếu tôi đánh rơi lọ “Ai, Tôi à?” thì dân của cả khu Tây Monell, như Ernest Crocker thường nói, sẽ vô cùng khó chịu.

Sau khi ngập ngừng ngửi thử tôi thấy mùi của nó rất kinh khủng, nhưng không giống với mùi tôi mong đợi. Thứ mùi đặc biệt này khác xa với thứ mùi tiêu chảy ban đầu mà Lovell muốn tạo ra. Dalton vừa trở về từ Milpitas, California, một nơi ô nhiễm kinh khủng, và mùi này ngay lập tức khiến bà nhớ đến nơi đó. Nó có mùi lưu huỳnh, nhưng không phải kiểu thum thủm như trứng thối. Nó mạnh hơn và sốc hơn nhiều.

Mauté đóng nắp lọ “Ai, Tôi à?” và cúi xuống lấy một chai khác ở ngăn dưới của tủ hút khí độc. Nhãn in dán trên thân chai ghi Xúp Thối, và những chữ khác lớn hơn, KHÔNG ĐƯỢC MỞ. Năm 1998, Cơ quan Phát triển Vũ khí Không sát thương đã giao cho Trung tâm Nghiên cứu Mùi Monell nhiệm vụ phát triển một chất cực hôi thối để dọn quang các tòa hoặc giải tán đám đông quá khích một cách ôn hòa. Xúp Thối là thứ mà nhóm của Dalton đã tiến hành chế tạo.

Mauté giữ chiếc nắp ngay phía trước mặt tôi. Dalton bước lùi lại hai bước, đoán trước được điều gì sẽ xảy ra khi thứ mùi kinh khủng này bốc lên khỏi miệng lọ. Thứ mùi tởm lợm, gây nôn mửa, giống như quỷ Sa tăng đang ngồi trên một chiếc ngai làm bằng hành thối vậy. Mauté nhanh chóng đậy nắp lại và cất chiếc lọ vào chỗ cũ.

“Kéo cánh tủ hút xuống,” Dalton nói, bình tĩnh nhưng chắc nịch. Rồi bớt bình tĩnh hơn: “KÉO CÁNH TỦ HÚT XUỐNG.”

Có vẻ như bây giờ là lúc thích hợp để chúng tôi đi ra ngoài ăn trưa. Tôi đi theo hai người bọn họ tới một nhà hàng chuyên bán món hàu cách đây không xa để nghe câu chuyện về sự ra đời của thứ mùi kinh tởm nhất thế giới, một hỗn hợp mang tên Xúp Thối.

Câu chuyện bắt đầu với thứ mùi được pha chế có tên Mùi Thối Nhà Vệ Sinh Chính quyền Mỹ. (Thứ mùi này được Chính quyền Mỹ chỉ đạo phát triển, chứ không phải mùi tự nhiên lấy từ các nhà vệ sinh của chính quyền.) Thứ mùi này được phát triển trong Thế chiến II khi Chính quyền Mỹ nỗ lực chế ra một hỗn hợp khử mùi nhà vệ sinh dã chiến. Tôi đã được xem một bức ảnh cũ về những nhà vệ sinh này: một hàng lính Mỹ cười nhăn nhở, ngồi xổm thò một phần mông hở qua bệ ngồi trên miệng một cái hố. Để thử nghiệm nhiều loại chất khử mùi đã pha chế được, các nhà hóa học quân đội cần phải tạo lại mùi hôi thối trong phòng thí nghiệm. Đó là một mùi rất đặc biệt. “Nhà vệ sinh dã chiến lộ thiên thường được sử dụng bởi hàng trăm binh sĩ trong một thời gian khá dài, thường là trong cái nóng ngột ngạt, tạo ra thứ mùi không hề giống với mùi của nhà vệ sinh trong nhà ở thông thường,” Michael Calandra, nhân viên của công ty pha chế mùi hương Firmenich, nói. Firmenich có nguyên một “thư viện” các chất có mùi hôi thối để phục vụ việc thử nghiệm các sản phẩm tẩy rửa và khử mùi.

“Vì thế chúng tôi lấy loại Mùi Thối Nhà Vệ Sinh,” Dalton nói, tách ra vài thứ như trimethylaminey, “và làm cho nó ngọt ngào hơn một chút.” Ý tưởng đó đến từ một chủ khách sạn tại Las Vegas, người này đã hoảng hốt gọi điện cho Dalton sau khi đường ống dẫn chất thải ở khách sạn tắc ứ lại. Việc trước đó ông ta cho thêm vào một sản phẩm tẩy rửa có mùi hương hoa khiến cho mùi bốc lên càng kinh khủng hơn.

Mauté tiết lộ lý do khác khiến Xúp Thối được cho thêm một chút hương hoa quả. “Hầu hết mọi người lúc mới đầu thường chỉ ngửi rất dè dặt. Và nếu như mùi hương tỏa ra lúc đầu dễ chịu, họ sẽ chủ động hít thêm vào.”

Dalton đế thêm vào. “Vậy là khi mùi hương ngọt ngào đó chạm tới mũi, cô hít sâu hơn…” Họ trông như hai chị em đang rất phấn khích khi về nhà sau chuyến dã ngoại vậy.

“… và thứ hợp chất mùi lưu huỳnh ấy chỉ đợi cô hít thật sâu thôi.”

“Mùi lưu huỳnh, một khi nó đã chui vào trong mũi cô thì sao? Mùi sẽ ám trong mũi. Các phân tử mùi bị giữ lại trong lớp màng nhầy, tiếp tục nối kết với các thụ thể khứu giác ở đó.”

Rất ấn tượng, thứ mùi tinh tế được đưa vào trong một hợp chất có mùi kinh tởm bậc nhất. Chất lỏng S của người Anh cũng chứa một hợp chất làm hãm lại quá trình bốc mùi, do đó “người thực hiện nhiệm vụ có cơ hội trốn thoát khỏi hiện trường trước khi mùi bị phát hiện”.

Liệu người ta có thể tiến hành các cuộc chiến tranh và giành chiến thắng theo cách này - sử dụng những vũ khí không gây sát thương hay chết chóc. Nếu việc hy sinh mạng sống vì những gì tốt đẹp hơn cho đất nước hoặc chỉ vì một mục đích nào đó không phải là một phần của phương trình đạo đức, thì thiết nghĩ một phe tham chiến sẽ tập trung phát triển những vũ khí đánh gục tinh thần thay vì vũ khí hạt nhân và vũ khí xuyên giáp. Cùng trong danh mục thú vị như Xúp Thối, chúng ta có ý tưởng của Bob Crane, một kỹ sư công nghệ vật liệu làm việc trong một phòng nghiên cứu tại Căn cứ Không quân Wright-Patterson, người đã tham gia vào dự án phát triển vũ khí không sát thương trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc.

Crane lên kịch bản cho ý tưởng của mình. Quân địch bị vây kín và tấn công liên tục. Ngày này qua ngày khác. Đường tiếp tế bị cắt. Binh lính đói khát, cô đơn và dễ tức giận. Bấy giờ bạn sử dụng thứ vũ khí bí mật: thứ mùi bánh mì mới nướng gây nhớ nhung. Crane là chuyên gia đưa những chất mùi vào những vật chứa siêu nhỏ, một kỹ thuật, cùng với rất nhiều thứ khác nữa, của công nghệ “cào và ngửi”. Anh có thể “nhốt” mùi hương đó vào trong những hạt bột rất nhỏ và thả xuống hàng ngũ quân địch đang say ngủ. Ngày hôm sau, họ sẽ giẫm vào những hạt chứa mùi siêu nhỏ này, làm vỡ chúng và phát tán mùi. Thật là quá sức chịu đựng. Họ sẽ nhớ nhà, nhớ mẹ và quyết định đào ngũ.

Đúng như Crocker đã hứa, mùi SAC-23 quả thực “hơi lâu thối bền”. Không ai biết rõ điều này hơn những nhân viên kiểm tra chất lượng tại Phòng thí nghiệm Maryland, nơi OSS đã chuyển đến một hộp đầy những ống chì dài 5 cm chứa thứ mùi đó. Báo cáo viết về thứ mùi này, “Hầu như không trừ một ai, những người tham gia kiểm tra đều bị ám mùi khi thứ chứa trong ống đổ ra ngoài.”

Thiếu tá John Jeffries của OSS đã tự mình thực hiện một vài thử nghiệm. Mười hai phần trăm số ống, như ông viết trong một lá thư với lời lẽ gay gắt vào tháng Bảy năm 1944, đã bị rò khi chúng được chuyển tới văn phòng của ông. Khi mười trong số những ống chưa bị rò còn lại được đặt vào trong tủ sấy ấm ở nhiệt độ ngang với nền nhiệt trong nhà kho, tất cả chất thối đều bị rỉ ra ngoài. Để đánh giá tính thực tiễn của việc phát tán SAC-23 trong đời thực, Jeffries đã mặc cho một hình nộm bộ trang phục quân sự. Khi phun SAC-23 vào hình nộm, một trong ba ống đã phụt ngược lại lên tay ông. Ngay cả khi chỉ mới vặn nắp nới ra một chút, ông viết, “cũng không thể nào không dính một ít chất lỏng vào tay.”

Các vấn đề về lưu trữ và phát tán vẫn luôn làm khó những người làm việc với chất thối. Trong thời Chiến tranh Việt Nam, việc pha chế mùi nảy sinh nhiều vấn đề đến nỗi các nhà nghiên cứu mùi đã tính đến việc phải chế tạo ra một hệ thống vận chuyển kép, hai hợp chất của mùi được tách rời nhau tương tự như hai thành phần của nhựa epoxy, chúng chỉ tạo ra mùi hôi thối khi được kết hợp lại. Dalton đã kể với tôi câu chuyện về một tai nạn thảm họa trong khi thử nghiệm Xúp Thối. Để ngăn mùi thối phát tán, Dalton đã cho đối tượng thí nghiệm mặc một bộ áo choàng kín khí làm bằng chất dẻo. “Nó giống như là bộ đồ phòng chống vũ khí sinh học vậy, chỉ khác ở chỗ là môi trường ô nhiễm lại ở trong bộ đồ.” Người ta dùng một ống mềm để bơm khí hôi thối vào trong bộ đồ qua một lỗ không để rò khí. Vào ngày thứ ba, hệ thống bơm bị hỏng. Thay vì bơm Xúp Thối dạng khí với nồng độ được điều chỉnh cẩn trọng, nó bơm nguyên chất lỏng chưa pha loãng vào. Đối tượng thí nghiệm tình cờ là một trong những nhà tài trợ bên quân đội của Dalton. Khi thí nghiệm xong xuôi, người này cởi bộ áo choàng kín khí kia và sờ lên đầu thì thấy toàn bộ phần sau đầu của mình đã bị dính nhớp dầu. Dalton chết lặng. “Tôi chỉ biết há hốc mồm, và mọi từ ngữ đều tắc lại trong cổ họng. Kỹ thuật viên của tôi thốt lên, ‘Chúa ơi, liệu có phải nó đã ở trên đầu ông trước khi ông tới đây rồi không?’ Cố gắng đổ lỗi cho ông ta! Kiểu như, ‘Có thể đó là gel vuốt tóc của ông thôi?’” Người đàn ông đó được đưa thẳng từ Trung tâm Nghiên cứu Mùi Monell ra sân bay. “Chúng tôi phải đưa ông ta tới khoang súc vật và để ông ta tắm ngay tại đó.”

Trong khi đó, OSS trước đây gặp phải một vấn đề lớn hơn. Các ống đựng chất thối bị lỗi, và không còn thời gian để thiết kế lại chúng. Có người đã nhanh nhảu điền “Ai, Tôi à?” vào danh mục hàng hóa của OSS. Hàng loạt yêu cầu cấp ống được đưa đến. Người ta cần mười ngàn ống. “Bản ghi chép về ‘Ai, Tôi à?’: Phòng tránh nhiễm bẩn cho người sử dụng” đã ghi lại chi tiết những nỗ lực khắc phục. Tấm chắn giấy đeo tay? Quá mỏng mảnh. Tấm chắn bằng giấy dán bồi thêm lớp vải thì bền hơn, nhưng chỉ có tác dụng “khi ai đó bóp ngang ống”.

Cuối cùng, OSS quyết định sử dụng tấm chắn bằng cao su, dù cho tình trạng khan hiếm cao su trong nước trầm trọng đến mức họ phải đẩy mạnh phân phối lốp xe và in những tấm poster tuyên truyền (Nước Mỹ cần CAO SU BỎ ĐI CỦA BẠN) - thứ sau đó nhanh chóng trở thành đồ sưu tập. Cùng với mặt nạ phòng độc, thuyền cứu sinh, và lốp xe Jeep, nhu cầu cao su thời chiến của đất nước này còn gồm cả lớp bọc cao su cho ống đựng “Ai, Tôi à?” với vành chống nhỏ giọt bảo vệ người dùng.

Cuối năm 1944, 95 bộ ống “Ai, Tôi à?” đã bọc cao su nhanh chóng được chuyển về Phòng thí nghiệm Maryland. Chúng đã vượt qua các bài kiểm tra về độ bền sử dụng, kiểm tra về sự thoái hóa, kiểm tra tác động của thời tiết nhiệt đới và kiểm tra độ bền khi lưu giữ ở điều kiện khí hậu Bắc Cực. Ngoài ra còn một bài kiểm tra kết hợp giữa độ bền sử dụng và tác động của thời tiết nhiệt đới. Chỉ một lần duy nhất tay người kiểm định bị dính chất lỏng do “một cơn gió mạnh thổi tạt ngang hướng phun”. Cuối cùng cũng đạt! Báo cáo của đợt thử nghiệm cuối cùng, diễn ra vào ngày 9 tháng Mười một năm 1944, đã xác nhận “Ai, Tôi à?” sẵn sàng để sản xuất hàng loạt và chuyển ra chiến trường. Phòng thí nghiệm Liên bang đã bị thuyết phục và quyết định đặt hàng 9.000 bộ sản phẩm với giá 62,5 xu một bộ - doanh thu đủ để mua và lắp đặt những tủ hút hiện đại nhất.

Và câu chuyện của chúng ta đã có thể kết thúc tại đây. Nhưng chuyện chưa dừng lại ở đó. Ernest Crocker, đánh hơi thấy khoản doanh thu béo bở của những hợp đồng với chính quyền bị lấy ngay trước mũi mình, đã tự mình ném ra một quả bom thối. “Mùi của ‘Ai, Tôi à?’ không bị coi là ghê tởm bởi người phương Đông.” Việc sỉ nhục người Nhật trên lãnh thổ họ chiếm đóng tại Trung Quốc, có thể bạn còn nhớ, là nhiệm vụ ban đầu của Stanley Lovell. Crocker đề nghị phát triển một loại chất thối mới. Việc sản xuất lại bị đình hoãn lần nữa. Người ta yêu cầu tiến hành thêm nhiều thử nghiệm. Những đồng đô la lấy từ tiền thuế của dân Mỹ đang lắc cái đầu xanh nhỏ nhắn của chúng trong sự nghi hoặc.

“Trong các cuộc thảo luận với một bác sĩ Hải quân, người đã tiếp xúc rất nhiều với người phương Đông,” đây là nội dung của đoạn bổ sung trong Báo cáo Cuối cùng về “Ai, Tôi à?” của công ty Arthur D. Little viết ngày 19 tháng Hai năm 1945, “người ta kết luận chỉ có hai loại mùi thối có thể được tính là kinh tởm: mùi của chồn hôi và mùi tử thi. Với công thức gốc của ‘Ai, Tôi à?’ làm cơ sở, người ta đã thay thế mùi thối của phân bằng mùi chồn hôi để chế tạo ra ‘Ai, Tôi à? II’. Sản phẩm này có một mùi rất kinh khủng với khả năng phát tán sâu và bám dai dẳng. Rõ ràng thứ mùi này thỏa mãn mọi điều kiện được yêu cầu với người Nhật.” Năm trăm bộ sản phẩm “Ai, Tôi à?” và một trăm bộ “Mẫu II, ‘Ai, Tôi à?’ Phương Đông” cuối cùng đã được sản xuất.

Tuy nhiên người ta không chuyển một bộ nào ra chiến trường cả. Vì sao? Bởi vì Hội đồng Nghiên cứu Quốc phòng Quốc gia đã tiến hành phát triển một thứ vũ khí khác, ảnh hưởng rộng hơn và ám ảnh lâu hơn nhiều để chống lại người Nhật. Mười bảy ngày trước khi người ta ra bản báo cáo thứ hai và cuối cùng chốt lại việc sử dụng “Ai, Tôi à?”, Mỹ đã thả một quả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima.

Trên một chuyến bay kéo dài mười lăm tiếng, chẳng có gì là bất thường khi ngửi thấy thứ mùi khó chịu từ nhà vệ sinh, hoặc thậm chí, tùy vào số lần máy bay bay vào vùng nhiễu động không khí, cả mùi của chất nôn. Nhưng nếu bạn ngửi thấy mùi khó chịu bốc ra từ ngăn để hành lý trên đầu thì rõ ràng đó là điều bất thường. Sáu tiếng sau khi máy bay cất cánh hướng về Nam Phi, điều này đã xảy đến với Pam Dalton. “Lần đầu tiên trong đời, tôi đã đứng dậy để đi vào nhà vệ sinh, chỉ để xác nhận rằng mũi tôi vẫn còn chuẩn ở độ cao đó. Tôi nghĩ thầm, Chết tiệt, mùi đó bay ra từ hành lý của tôi.”

Đó là năm 1998. Dalton khi ấy đang tiến hành thí nghiệm cho Quân đội Mỹ, tiếp tục đi tìm Chén Thánh của các loại mùi hôi thối, “mùi ai ai cũng ghét”. Bà đã bay tới châu Phi làm một dự án không liên quan và quyết định mang theo một loạt những mùi hôi để thử nghiệm trên dân Xhosa sống ở thị trấn gần đó: thêm một nền văn hóa khác để đánh giá. Trong đống hành lý xách tay của bà là những lọ được dán nhãn như Chất Nôn, Mùi Cống, Tóc Cháy và Mùi Thối Nhà Vệ Sinh. Dalton đã bịt kín miệng và bọc những chiếc lọ này trong hai lớp túi dán kín nhưng bà không tính đến việc thay đổi áp suất trong khoang hành khách. Chất lỏng đã nở ra và rò qua rìa miệng lọ dán bằng parafin. May mắn là ngăn để hành lý đó chỉ chứa duy nhất hành lý của bà và của người cộng sự. “Tôi nói với anh ta, ‘Anh không được lấy bất cứ thứ gì từ ngăn để hành lý trên đầu ra nhé. Tất cả những gì dưới chân chúng ta là thứ duy nhất ta có cho toàn bộ chuyến bay’.” Chừng nào ngăn để hành lý đó còn đóng thì phần lớn mùi vẫn bị giữ lại - cho đến khi máy bay hạ cánh. Rồi sao nữa? “Đây là mánh của tôi. Tôi không mở ngăn đựng hành lý đó cho đến khi họ mở cửa máy bay. Tôi tính rằng mọi người có thể đổ cho mùi đó bay vào từ bên ngoài máy bay.”

Trước khi làm việc với các đối tượng thí nghiệm người Xhosa, Dalton đã thử các mùi này với người châu Á, dân Mỹ gốc Mỹ La tinh, dân Mỹ gốc Phi và người Kavkaz. Vậy mùi nào đã chiến thắng? Đó là Mùi Thối Nhà Vệ Sinh. “Mọi người đều ghét nó. Họ thực sự rất ghét mùi đó và đều nghĩ rằng nó thực sự nguy hiểm.” Ernest Crocker đã nghĩ sai về người Nhật. Trong số những đối tượng thí nghiệm đến từ châu Á của Dalton, bao gồm người Nhật, người Triều Tiên, Trung Quốc và Đài Loan thì 88% - tỉ lệ phần trăm cao nhất giữa các nhóm sắc dân - đã xác nhận mùi này khiến họ cảm thấy “rất tệ”. Nó đứng đầu Bảng xếp hạng về Độ ghê tởm của mùi trong cả năm sắc dân tham gia thí nghiệm. Phần lớn mọi người đều ghê tởm mùi này, trừ một ngoại lệ là người có tư duy cởi mở một cách khác thường đã đánh giá Mùi Thối Nhà Vệ Sinh là thứ mùi có thể dùng để xịt lên người.

Không một loại mùi ghê tởm nào khác của Dalton đáp ứng được tiêu chuẩn bị ghét rộng rãi. Mùi Cống hoàn toàn không có khả năng. Có 14% số đối tượng thí nghiệm người Mỹ gốc Mỹ La tinh miêu tả đó là mùi khiến họ dễ chịu. Khoảng 20% số người Kavkaz, châu Á và da màu Nam Phi cho rằng nó từ thứ gì đó ăn được. Mùi Chất Nôn còn kém hiệu quả hơn, với 27% số đối tượng thí nghiệm gốc Xhosa miêu tả đó là một mùi dễ chịu, và 3% dân Kavkaz sẵn sàng dùng nó như một loại nước hoa[4].

Đồng nghiệp của Dalton, Gary Beauchamp, giám đốc của Monell vào thời điểm tôi đến thăm đã đặt rất nhiều hy vọng vào mùi Tóc Cháy - một sự thay thế cho mùi thịt người cháy - thứ mùi ông nghĩ một cách đầy tự tin rằng tất cả mọi nền văn hóa đều căm ghét. Beauchamp đã chứng kiến và ngửi được mùi thịt người cháy ở cuộc thảm sát nào để có được sự tự tin đến vậy? “Không phải thế đâu,” Dalton nói. “Beauchamp kể với tôi rằng anh ấy thường bóc da ở đầu ngón tay và đặt lên bóng đèn sợi đốt của các đồng nghiệp, như một trò chơi khăm.” Khi bóng đèn được bật sáng, mẩu da bị đốt nóng sẽ bắt đầu bốc mùi. “Tôi nói ‘Ai chà, đó đích thị là một khía cạnh mà tôi chưa hề biết về anh đấy.’”

Không giống như mùi Chất Nôn và Mùi Thối Nhà Vệ Sinh - thứ mùi hôi đã có sẵn - mùi thịttóc cháy cần phải được pha chế từ những thành phần cơ bản. Dalton thuyết phục thợ cắt tóc của mình gom hộ một túi tóc vụn quét dưới nền nhà, sau đó bà sẽ mang đến phòng thí nghiệm để chưng khô - quá trình chưng khô chính là phiên bản khoa học thực hiện trong phòng thí nghiệm của việc vứt tóc lên bóng đèn của một ai đó. Họ sẽ dùng dầu khoáng để hòa lẫn hỗn hợp hơi thu được, và đây sẽ là thứ người tham gia thí nghiệm được cho ngửi. Có 42% đối tượng thí nghiệm người Kavkaz của Dalton nghĩ rằng mùi tóc cháy toát ra từ thứ gì đó ăn được. Và 6% dân Xhosa sẵn sàng dùng nước hoa mùi đó.

Tuy nhiên, dường như không ai muốn ăn, xịt mùi, hay ở gần nơi phát ra mùi nhà vệ sinh dã chiến của quân đội. Và đó là lý do Mùi Thối Nhà Vệ Sinh được chọn làm điểm khởi đầu để chế tạo Xúp Thối. Nhưng sau ngần ấy năm, thứ mùi này đã góp phần phục vụ đất nước như thế nào? Dalton lắc đầu. “Tôi chỉ đưa cho họ công thức. Tôi không biết họ làm gì với chúng đâu.”

Nếu như bạn tới thăm Trung tâm Nghiên cứu Mùi Monell, khả năng cao là bạn sẽ được mời làm “người hiến mùi”. Có người sẽ muốn thu thập hơi thở của bạn, hay ngửi mùi ráy tai, hoặc thu thập khí bốc ra từ nách bạn. Xác suất mà Bộ Quốc phòng Mỹ tài trợ cho công trình nghiên cứu thứ mùi mà bạn hiến cũng khá cao. Mới đây, quân đội còn quan tâm đến mùi cơ thể tiết ra khi căng thẳng. Liệu có một mùi đặc trưng nào có thể truyền sự căng thẳng của một người tới người tiếp theo không, thứ mùi mà một cảm biến mùi có thể phát hiện ra giữa một hỗn hợp mùi nước hoa, khói thuốc lá và mùi tỏi phi tối hôm trước, và sau đó người ta sẽ lập ra một danh mục mùi cơ thể. Các cảm biến mùi sẽ được lắp đặt tại cổng an ninh sân bay để nhận diện những kẻ âm mưu khủng bố - dù rằng việc này cần phải làm thật cẩn thận để phân biệt được những kẻ đánh bom với những hành khách gặp căng thẳng khi đi máy bay.

Mùi cơ thể cũng có thể được sử dụng để giám sát mức độ căng thẳng của những cá nhân làm các công việc áp lực cao và rủi ro lớn. Một cảm biến hóa học có thể được tích hợp trong bộ đồng phục thông minh. Nếu các hợp chất gây căng thẳng cũng có thể được phát hiện trong hơi thở, cảm biến có thể được gắn ở phần miệng mũ bảo hộ. “Chúng tôi đang thực hiện một nghiên cứu thí điểm cho Không quân,” Mauté nói với tôi. Một nghiên cứu thí điểm trên phi công.

Mục đích sẽ là để can thiệp khi cần thiết. Nếu bạn căng thẳng đến mức có thể ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ một cách an toàn, một tín hiệu báo động sẽ được gửi thẳng cho sĩ quan giám sát qua mạng không dây. Mùi cơ thể bạn đang âm thầm bóc mẽ bạn. Ngoài ra, sự căng thẳng có thể sẽ kích hoạt một dạng can thiệp tự động nào đó - giả sử như là tự ngắt thiết bị.

Trước đó, tôi đã hiến một vài mùi sinh ra do căng thẳng rồi. Mauté kêu tôi đặt mấy miếng gạc vào hai nách và đếm ngược từ 200 xuống 13 trong khi anh bấm giờ. Khi tôi đếm nhầm, tôi phải đếm lại từ đầu. Trong khi thực hiện, có lúc anh đã dọa tải đoạn phim quay thí nghiệm này lên YouTube. Tấm gạc trong nách tôi sau đó sẽ được gắp bỏ vào một bình thủy tinh đựng mẫu vật trông giống như một con côn trùng cánh mảnh lạ kỳ nào đó. Mauté, sau khi ngửi nó, đã nhận xét “một thứ mùi cơ thể tươi nguyên và tuyệt vời”[5]. Thỉnh thoảng trong cuộc sống, sự bỉ bôi ẩn chứa một cách đầy khéo léo trong lời khen ngợi khiến bạn gần như không biết phải đáp trả ra sao. Quanh Trung tâm Monell, mùi cơ thể được coi là thứ không có gì đáng xấu hổ cả, có khi nó còn nhận được sự tôn trọng. Như khi Mauté nhắc tới một đồng nghiệp là “đấng hiến mùi theo nghĩa là năng lực tạo ra mùi cơ thể”, lời nói của anh giống như đang vinh danh vậy, và nó nghiêm túc đến nỗi mãi sau này tôi mới nhận ra là mình nên giấu tên người này khi đưa vào sách.

Những từ ngữ mà dân Monell dùng để mô tả mùi mồ hôi tiết ra do lo lắng ở người, thứ dịch tiết chịu tác động của cảm xúc từ những tuyến mồ hôi ngoại tiết, là mùi “bánh mì kẹp hành tỏi”. Có lẽ cũng có những từ để miêu tả mùi căng thẳng của các loài vật khác, tuy nhiên bạn phải hỏi chính những con vật này hay loài vật săn hoặc quấy rối chúng. Chẳng hạn, nếu bạn muốn biết những con cá mú đang cùng quẫn có mùi ra sao, bạn có thể hỏi một con cá mập. Hay bạn hỏi luôn Hải quân Mỹ cũng được.

❀ ❀ ❀

[1] Gồm cả - chú ý nào, những người hâm mộ lâu năm của seri phim M•A•S•H - nhân vật Thiếu tá Frank Burns. Tôi ấp ủ một niềm hy vọng rằng ngoài anh ta ra thì nhân vật Thiếu tá Houlihan sẽ xuất hiện trong danh sách người gửi kèm nhưng không phải vậy.

[2] Trong nhiều năm, thứ mùi được yêu cầu nhiều nhất tại hãng sản xuất mùi hương Demeter là mùi da đầu trẻ sơ sinh. Do đó họ đã chiết tách và tổng hợp nó. (Khá kỳ dị phải không? Đối với Demeter thì không. Các dòng sản phẩm mùi của họ gồm có cả mùi máy giặt [Laundromat], mốc lá [Mildew], sơn [Paint], sét nặn [Play-Doh], đất [Dirt] và kéo tỉa cành [Pruning Shears].) Mùi da đầu trẻ sơ sinh thử nghiệm không được đón nhận lắm. Hóa ra, khi không tỏa ra từ đầu một đứa trẻ, không mấy ai thích mùi da đầu trẻ sơ sinh cả. Hãng này sau đó đã thêm vào mùi phấn rôm trẻ em và mùi cam quýt rồi đổi tên mùi này thành mùi trẻ sơ sinh [New Baby]. Cái tên “đầu trẻ sơ sinh” có lẽ khiến nhiều người cảm thấy không thoải mái, vì đặt cạnh “kéo tỉa cành” trên tủ nước hoa.

[3] Liều lượng tạo nên độc tính, ở dạng cực kỳ loãng, skatole tạo ra hương hoa cho nước hoa, hương vị quả mâm xôi và vani nhân tạo. Đó là những gì tôi tìm hiểu được từ HMDB - Cơ sở dữ liệu chất chuyển hóa ở người, trang tin tôi thường tham khảo giống như cách người ta xem đánh giá phim trên IMDb vậy.

[4] Đây không phải lý do mà Hiệp hội Mùi hương Thế giới phát triển loại mùi chất nôn độc quyền. Họ làm vậy theo yêu cầu của một công ty có kế hoạch thương mại hóa thứ mùi này dưới dạng chất hỗ trợ ăn kiêng, một bình tỏa mùi hôi dán tường sẽ ngăn cản bạn ăn bằng cách làm cho tủ lạnh bốc mùi như chất nôn. Sản phẩm này không bao giờ được sản xuất hàng loạt vì, trong quá trình thử nghiệm, có một lượng người nhất định, nhất là khi họ đang đói, đã có phản ứng tích cực với mùi này. Họ coi nó như là mùi của một thức ăn vặt.

[5] Đối lập với một “mùi cơ thể ôi và khai”, thứ mùi mà con chồng tôi là Phoebe, một bé gái lớn lên trong thành phố lớn gọi là mùi “nước tiểu của dân vô gia cư”. Chuyên gia về mùi cơ thể của Trung tâm Nghiên cứu Mùi Monell, Chris Mauté đã phỏng đoán rằng, mùi “nước tiểu của dân vô gia cư” là sự kết hợp giữa mùi mồ hôi và bã nhờn, sau đó bị vi khuẩn phân hủy trên diện rộng: “một dạng kim chi của mùi cơ thể.”

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.