Lính Trơn - Khoa Học Lạ Kỳ Về Loài Người Trong Chiến Tranh

Lượt đọc: 271 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3. Cuộc Chiến Bảo Vệ Tai

❊ ❊ ❊

Vấn đề hóc búa của tiếng ồn quân sự

Quân chủng Thủy quân Lục chiến Mỹ mua rất nhiều nút bịt tai. Bạn có thể thấy chúng ở khắp mọi nơi trong Trại Pendleton: dưới ghế khán đài ngoài trời ở trường bắn, trong đáy của lồng máy giặt. Chúng hiệu quả và rẻ như đạn[1] (thứ cũng xuất hiện trong đáy lồng máy giặt). Trong nhiều thập kỷ, nút bịt tai và các thiết bị bảo vệ tai thụ động khác chính là “viên đạn chính” của các chương trình duy trì khả năng nghe của binh sĩ trong quân đội. Một số người muốn thay đổi điều này, họ tin rằng thực ra nút bịt tai có thể khiến binh sĩ phải trả giá cao hơn. Rằng nút bịt tai có thể gây sát thương không kém những viên đạn.

Hầu hết nút bịt tai đều làm giảm khoảng 30 decibel tiếng ồn. Điều này là rất hữu dụng trong môi trường luôn đầy những tiếng nghiến xích đều đều của xe bộ binh Bradley trên đường nhựa (130 decibel), hay tiếng phành phạch từ cánh quạt của trực thăng Black Hawk (106 decibel). Giảm được 30 decibel là nhiều hơn ta vẫn tưởng. Tiếng ồn cứ tăng thêm mỗi 3 decibel thì thời gian một người tiếp xúc với tiếng ồn đó phải giảm một nửa để tránh nguy cơ bị hư tổn thính lực. Tai người khi không được bảo vệ có thể chịu đựng được 8 tiếng mỗi ngày trong môi trường âm thanh có cường độ 85 decibel (tiếng ồn trên đường cao tốc, trong một nhà hàng đông đúc) mà không mắc chứng suy giảm thính lực. Tiếng ồn cường độ 115 decibel (tiếng cưa máy, trước sân khấu biểu diễn nhạc rock), tai chỉ có thể chịu đựng trong giới hạn an toàn là nửa phút. Tiếng nổ đầu nòng phát ra khi bắn súng chống tăng AT4 ở cường độ 187 decibel chỉ kéo dài một giây, tuy rất ngắn nhưng, với tai không được bảo vệ, vẫn làm suy giảm thính lực vĩnh viễn.

Nút bịt tai không hữu ích lắm vì nó chặn lại cả tiếng hét kêu bạn cúi đầu xuống, hay tiếng súng trường đang lên đạn của kẻ thù. Một binh sĩ mất đi trung bình khoảng 30 decibel thính lực có thể sẽ cần một giấy chứng nhận để có thể quay lại tiếp tục thi hành nhiệm vụ; tùy theo nhiệm vụ đó là gì, anh ta có thể gây nguy hiểm cho bản thân và cả đồng đội. “Chúng ta đưa cho họ một cặp nút bịt tai xốp để làm quái gì vậy?”, Eric Fallon nói, cậu ta là người lên chương trình huấn luyện mô phỏng cho các nhà thính học quân sự vài lần một năm tại Trại Pendleton. “Chúng ta làm giảm thính lực của họ đến mức, nếu là bị suy giảm thính lực tự nhiên, người ta phải hoài nghi khả năng ra trận của họ. Nếu điều này không phải là điên rồ, tôi không biết phải nói sao nữa.”

Fallon hiện giờ đang giảng bài trong một lớp học, nhưng sau bữa trưa, các nhà thính học trong lớp sẽ cùng trải nghiệm một trận chiến mô phỏng dùng đạn thật. Làm việc với Trung tâm Nghiên cứu Thính lực Bộ Quốc phòng (Mỹ), Fallon ký hợp đồng với công ty ArmorCorps, công ty này đưa tới một đội Đặc nhiệm Thủy quân Lục chiến, để cùng xây dựng kịch bản cho một trận chiến diễn ra trong nửa ngày. Mục đích là để các nhà thính học cảm nhận được trực tiếp những nguy hiểm và bất hợp lý của việc dùng nút bịt tai, và hy vọng tạo cho họ động lực để theo đuổi một thứ tốt hơn.

Fallon hướng sự chú ý của mọi người sang Craig Blasingame của ArmorCorps, anh là một cựu lính Thủy quân Lục chiến có bộ hàm rộng như của siêu nhân và cơ bắp vạm vỡ đến nỗi khi anh đi qua máy chiếu, có thể thấy được toàn bộ hình ảnh chiếu trên cẳng tay. Dù bây giờ là 10 giờ sáng, râu cằm của Craig đã mọc lún phún rồi.

“Ngày hôm nay, chúng tôi sắp đưa các bạn tham gia vào một môi trường chiến đấu và cho các bạn thấy sẽ thế nào khi cố một phần sự cảnh giác trong môi trường đầy tiếng ồn khi đeo thiết bị bảo vệ tai thụ động.” Craig nói với giọng oang oang như tiếng một chiếc tù và. Anh nói to như thế vì đã bị mất thính lực khi còn tại ngũ, nhưng tôi lại cho rằng vì trong anh có quá nhiều nội lực - từ dây thanh, giọng nói, bộ ngực cơ bắp dưới lớp áo phông polo - muốn bộc phát ra ngoài.

Craig và Aaron Iwanciw, cũng là cựu lính Thủy quân Lục chiến và hiện tại đang là Giám đốc Điều hành của ArmorCorps, sẽ sớm dẫn các nhà thính học (và cả tôi) ra ngoài để trải nghiệm nghe âm thanh. Bởi chúng tôi sắp ra thao trường, đây là một trong những lần luyện nghe hiếm hoi sẽ được thực hiện khi mọi người mặc áo chống đạn và đầu đội mũ nồi bảo vệ. Aaron nhỏ con hơn và trầm tính hơn Craig, và từ anh tỏa ra mùi dầu gội đầu khá êm dịu. Anh giúp chúng tôi mặc đồ. (“Tôi có thể nhét thỏi son dưỡng môi và máy ghi âm vào mấy cái túi dẹp lép này nhỉ.” “Chúng là để đựng đạn.”)

Bên ngoài tòa nhà, Craig bố trí chúng tôi trong một đội lính tuần tra. Trên chiến trường, ngay cả việc ra đường cũng phải tuân thủ một chiến lược vạch sẵn. Bán kính sát thương của một quả lựu đạn mảnh là 4,5 m. Nếu các binh sĩ đi túm tụm với nhau như nhóm khách du lịch, một quả lựu đạn có thể giết chết nhiều người trong số họ. Do vậy, khi đi tuần họ luôn giữ cự ly đội hình từ 4,5 đến 13,5 m giữa người này với người kia. Tuy nhiên, cự ly càng dãn rộng thì càng khó nghe thấy nhau, nhất là khi đang đeo thiết bị bảo vệ thính lực.

Aaron đi đầu còn Craig là người bọc hậu. Chúng tôi đang đeo đồ chụp tai giống như thứ người ta vẫn đeo khi vận hành các máy cơ khí gây tiếng ồn lớn. Giọng của Craig nghe giống như bị ai đó thu nhỏ lại và nhét vào một chiếc lọ thủy tinh vậy. Tôi chắc mẩm mình nghe thấy anh kêu chúng tôi “tránh khỏi bên phải”. Tôi hiểu là chúng tôi cần di chuyển sang phần đường bên phải, nên toan bước sang đường. “Cô đang ở phía trái đấy,” một đồng đội hét lên. Giọng anh ta chắc chắn nên tôi quay ngay lại và tránh khỏi đường đi của chiếc Suburban màu đen như chui từ dưới đất lên trong gang tấc. Nếu một chiếc xe SUV nặng hai tấn chạy trên đường sỏi đá có thể tới sau lưng bạn mà bạn không hay biết, điều đó không ổn chút nào.

Fallon nói rằng khi cậu ta còn phục vụ trong lực lượng bộ binh thì những lầm lẫn trong liên lạc là chuyện bình thường. “Cô có biết tôi phải thốt lên câu ‘Tôi chẳng biết chuyện quái gì đang xảy ra cả’ nhiều tới mức nào không? Chúng tôi nhận được lệnh dừng lại, tản ra và chiếm giữ các vị trí phòng thủ. Anh bạn kế bên tôi thắc mắc ‘Chuyện quái gì thế?’ Tôi liền trả lời ‘Chết tiệt, tôi chẳng biết nữa.’” Và cô không thể hét toáng lên “Ê, chuyện gì vậy?” bởi kẻ địch có thể nghe thấy và biết vị trí của cô.

Aaron sẽ chỉ huy ở bài diễn tập tiếp theo, một “kịch bản chiến thuật” dùng đạn thật trong khu rừng phía ngoài trường bắn. Trước khi chúng tôi qua đó, anh ấn một chiếc nút trên thiết bị chụp tai chúng tôi đang đeo. Tôi đã phải dùng đến từ “máy sinh học” khi viết vào sổ ghi chép. Khi còn nhỏ, tôi từng xem một bộ phim truyền hình có tên là Nữ người máy sinh học. Cũng giống như nam người máy ở mùa trước đó, cô đã được quân đội tái tạo những bộ phận cơ thể bị thương không thể phục hồi bằng máy móc thử nghiệm có sức mạnh siêu việt. Đó là điều duy nhất họ có thể làm. Một trong những bộ phận được cấy ghép là tai của cô ấy. Khi khẽ nghiêng đầu, cô có thể nghe trộm được cuộc đối thoại của hai gã trùm của thế giới ngầm ngồi trong chiếc xe Buick Riviera đỗ phía bên kia đường. Hiện giờ tôi cũng có khả năng nghe như cô ấy. Aaron đang nói chuyện với Craig ở cách tôi gần 5 m, tôi vẫn nghe thấy giọng anh ở gần mức mà có thể ngửi thấy mùi dầu gội của anh.

Thứ chúng tôi đang đeo có tên là TCAPS, viết tắt của Hệ thống Bảo vệ và Liên lạc Chiến thuật. Các âm thanh lọt vào thiết bị được phân tích, âm thanh nhỏ sẽ được khuếch đại và âm thanh lớn được giảm xuống mức nhỏ hơn. (Hệ thống này cũng tích hợp liên lạc qua sóng truyền thanh, gọi tắt là “comms”.) Đến nay, chỉ lính đặc nhiệm mới được sử dụng TCAPS. Tại sao? Tiền, tất nhiên rồi, hơn nữa tiền này được trích từ ngân sách dành cho thiết bị liên lạc qua sóng vô tuyến, mà lính bộ binh thì đâu có mang đài thu phát sóng. Thậm chí còn do sự hoài nghi của các sĩ quan chỉ huy. “Một hạ sĩ quan cao cấp,” Fallon nói, “sẽ nói thẳng toẹt với cô rằng ‘Đừng đưa thêm cho chúng tôi mấy thứ vớ vẩn được coi là kỳ quan công nghệ tiên tiến, thứ sẽ hỏng hóc hoặc hết pin và tôi vẫn cứ phải mang theo.”

Thứ vớ vẩn chúng tôi đang đeo được sản xuất từ công ty 3M nơi Fallon làm việc. “Tôi hy vọng cô không nghĩ như thế” - cậu ta đã nói với tôi như vậy. Tất nhiên là không đời nào tôi nghĩ thế. Fallon là một người luôn khuyên người khác sử dụng sản phẩm theo danh mục chứ không theo thương hiệu. 3M cũng là nhà cung cấp nút bịt tai cho quân đội nên dù thế nào họ cũng kiếm được một miếng béo bở từ chiếc bánh ngân sách quốc phòng.

Các nhà thính học cùng với tôi được tham gia bài diễn tập chiến thuật cùng với mười hai người lính đến từ một đơn vị đặc nhiệm của Thủy quân Lục chiến, và tôi được yêu cầu không tiết lộ tên của đơn vị này. Aaron tóm tắt nhiệm vụ cho tất cả chúng tôi.

“Các bạn là một đội Đặc nhiệm đang tới một ngôi làng ở Afghanistan,” anh bắt đầu. “Nhiệm vụ lần này là bắt liên lạc với các bô lão trong làng. Hãy tiếp cận họ, hỏi về hoạt động của lực lượng Taliban trên địa bàn. Hỏi han xem họ sống có tốt không và có gặp phải vấn đề gì không.” Đeo thiết bị trợ thính có vẻ khá phù hợp với nhiệm vụ. “Chúng ta sẽ được hỗ trợ bởi một máy bay không người lái Predator từ trên không và một đội đột kích trên trực thăng Cobra và Huey luôn sẵn sàng có mặt khi cần. Nếu có động, chúng ta có thể gọi họ hỗ trợ hỏa lực.” Có động là một thuật ngữ quân sự nói tắt của có kẻ địch đang xả súng vào các bạn. Trong tình huống này, đó chỉ là kẻ địch giả tưởng, nhưng lính đặc nhiệm vẫn bắn trả vì đây là bài diễn tập liên lạc trong tình huống hỗn loạn và ồn ào của trận chiến.

Chúng tôi được hướng dẫn đặt kênh đài về kênh 7, rồi xếp hàng phía sau, cứ hai người đi chung với một chàng đặc nhiệm, và theo sát nhất có thể miễn là không đá vào ủng của họ. “Nếu anh ta chạy, các bạn sẽ phải chạy,” Aaron nói. “Nếu anh ta quỳ, các bạn quỳ theo.” Tôi và một nhà thính học trung tuổi có dải tóc bện thò ra ngoài mũ của cô đang cố nấp đằng sau một binh sĩ hơi thấp, khá khó để mô tả lại vì tất cả các đặc điểm nhận dạng trên khuôn mặt cậu ta đã bị mũ chống đạn và các thiết bị bảo vệ che đi, trừ cái mũi. Cậu ta tự giới thiệu và chào hỏi.

“Chào, tôi là Mary,” nhà thính học nói.

Tôi cũng thế, tôi tiếp lời, “Tôi cũng là Mary.”

“Ồ,” cậu lính đặc nhiệm đáp lại, rõ ràng là không quen với việc nhiều người tên Mary đến vậy. “Thế thì dễ dàng cho tôi quá.”

Chúng tôi bắt đầu tiến về phía bụi cây. Trại Pendleton rộng khoảng hơn 500 km2, chạy dọc 27 km bờ biển của bang California. Đoạn bờ biển này hầu hết vẫn còn được giữ trong tình trạng hoang dã để diễn tập đổ bộ hay đột kích từ biển. Nơi này giống như một khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia dành riêng cho lực lượng Thủy quân Lục chiến Mỹ và nhiều loài động vật hoang dã nhút nhát khác. (Lính tráng ở đây bị cấm bắn động vật nhưng tôi đoán họ vẫn bắn. Sở dĩ tôi đoán vậy là vì lúc trước khi tôi đã tới khu bắn súng sơn của Trại Pendleton và yêu cầu ai đó bắn thử vào mình để xem cảm giác thế nào. Mười lăm lính Thủy quân Lục chiến tình nguyện bắn tôi. Tôi nghe rất rõ tiếng của anh chàng, người đã bắn chính xác đúng vị trí anh ta muốn ở trên người tôi từ khoảng cách hơn 20 m, trong đoạn video đang phát mà một nhà nghiên cứu đang xem, “Thật đã quá!”)[2]

Khi chúng tôi di chuyển băng qua khu đất trống, một chuỗi các cuộc trò chuyện hỗn độn giữa các bên vang lên trong tai nghe tôi đang đeo. Một binh sĩ đang nói chuyện với người điều khiển máy bay không người lái, một người khác đang liên lạc với phi công và xạ thủ trên trực thăng Cobra. Tất cả mọi người, kể cả Tổng thống Mỹ, nếu ông ấy muốn, đều có thể nghe được những đoạn hội thoại này khi đặt kênh đài của họ sang kênh 7. (Khi lực lượng Đặc nhiệm Hải quân SEAL tấn công vào khu nhà ở của Osama Bin Laden, họ đều đeo bịt tai TCAPS và Tổng thống Obama cùng Ngoại trưởng Hillary Clinton đều lắng nghe.)

Tôi không biết những binh sĩ đi cùng này nhấn nút liên lạc qua điện đàm thường xuyên đến mức nào và tiếng nói của tôi ở sau lưng anh ta được truyền đi bao xa, nhưng đoạn hội thoại ghi lại khi thực thi nhiệm vụ này có chút gì đó bất thường:

“Đang tiếp cận ngôi làng, hết.”

“Đã rõ, Liberty. Có thông tin gì mới từ khu vực mục tiêu không?”

“Cô phải bôi chút kem chống nắng vào gáy đi.”

“Hammer, từ máy bay không người lái. Có bốn nam giới, ở độ tuổi chiến đấu[3], xuất hiện và đang hướng về phía khu vực mục tiêu.”

“Đã rõ, Hammer.”

“Vậy quân Taliban có sử dụng thiết bị bảo vệ thính giác chứ?”

“Hammer đây. Phát hiện một đoàn người gồm phụ nữ và trẻ em chạy ra từ trong ngôi làng. Hai nam giới ở độ tuổi chiến đấu đang làm điều gì đó dưới một tấm bạt che.”

“Vũ khí sẵn sàng.”

“Halo, cho phép các anh sử dụng tên lửa và pháo, hết.”

“Tất cả những hố trên mặt đất này, chúng là hố đạn cối hay…”

“Chuẩn bị tấn công!”

“… do chuột chũi đào?”

“Sẵn sàng tấn công!”

Cuộc đọ súng giả định bắt đầu. Mary đứng ngay sau tôi, còn tôi cố gắng đứng sát anh chàng của chúng tôi mà không đâm vào lưng anh ta khi anh ta dừng lại để bắn. Tôi cố hình dung xem đội hình của mình trông ra sao nhưng không thể biết nó giống hình ảnh trong Zero Dark Thirty hay điệu nhảy Bunny Hop. Tôi nghĩ tới cảnh các sĩ quan đang trở lại sau khi dùng bữa trưa và huých hỏi nhau: “Chuyện quái gì đang diễn ra ngoài đó vậy?”

“Đám chuyên gia âm thanh đấy.”

Nhiệm vụ kết thúc ở gần phòng học. Chúng tôi nộp lại trang thiết bị và đi vào trong phòng học tham gia phần phỏng vấn với lính đặc nhiệm. Họ ngồi trên những chiếc ghế văn phòng không mấy ăn nhập với nhau thành một hàng ở gần bục. “Có bao nhiêu người trong số các anh,” câu hỏi đầu tiên được đưa ra, “bị giảm thính lực?” Tất cả mười hai người đều giơ tay. Trong một nghiên cứu (trước khi TCAPS được đưa vào sử dụng), lính đặc nhiệm bị suy giảm thính lực chiếm tỉ lệ cao nhất trong quân đội. Cả trong huấn luyện và thực chiến, họ đều phải chịu đựng các tiếng nổ và tiếng pháo lớn có cường độ cao lâu hơn mức trung bình. Tính cách của họ thường rất ồn ào, hoặc rất trầm lặng.

“Tôi không hiểu,” một giọng nói từ hàng ghế dưới vang lên. “Là một chuyên gia về thính giác, tôi chưa từng thấy ai đến phòng khám của tôi và nói ‘Chúa ơi, tôi không thể nghe! Tôi gặp tai nạn và bây giờ nghe kém quá.’”

Người ở ghế số 8 giải thích: “Họ đều muốn quay lại chiến trường và làm nhiệm vụ.” Nếu bài kiểm tra khả năng nghe cho thấy thính giác bị mất vượt quá ngưỡng quy định, họ sẽ bị xếp loại không phù hợp ra trận hoặc cần phải xin giấy phép để được đặc cách. Họ đều là những người lính yêu thích công việc của mình. Họ tránh gặp các nhà thính học với cùng lý do như họ tránh gặp bác sĩ.

“Tôi không muốn phải thôi công việc mình đang làm,” người ngồi ghế số 3 tán đồng. “Khi tôi làm các bài kiểm tra đó… Có thể nói sao nhỉ? Tôi muốn mình đạt yêu cầu. Nên tôi sẽ nói ‘Ờm, tôi nghĩ là mình nghe thấy’.” Kẻ gian lận!

Sao nữa? Họ là lính đặc nhiệm. Ôi trời, tôi không thể nghe thấy gì! không phải là thứ sẽ có trong kịch bản. Khi cuộc đụng độ xảy ra, hơn 50% khả năng là một thành viên của đội sẽ bị thương hoặc thiệt mạng. Giảm thính lực không phải là thứ họ mảy may nghĩ tới. Hiển nhiên là vậy. “Cô cho rằng,” người ngồi ghế số 2 đế thêm, “sẽ chỉ có mình cô bị giảm thính lực ở dạng nào đó sao.” Fallon nói với chúng tôi, là một người lính pháo binh anh muốn bị giảm thính lực, vì tất cả các đồng đội trong đơn vị của anh đều bị vậy. “Nếu cô không bị suy giảm thính lực, tức là cô đã chẳng làm gì cả.” Nó cũng có thể là bẩm sinh bạn đã có dây thần kinh ốc tai cực khỏe, thứ hướng dẫn bộ não giảm cường độ âm thanh của những tiếng động cực lớn. Có thể gọi đó là thiết bị TCAPS tự nhiên. Nhà nghiên cứu Lynne Marshall, người cũng ở đây hôm nay, làm việc tại Phòng thí nghiệm Nghiên cứu y tế Tàu ngầm Hải quân, đang tìm cách xây dựng một bài thử nghiệm đơn giản nhằm nhận ra người có dây thần kinh ốc tai yếu để có thêm biện pháp bảo vệ thính lực cho họ.

Người ngồi ghế số 6 phụ hoạ theo: “Họ khuyến khích sử dụng TCAPS để kiểu như, Này, bảo vệ tai của anh đi. Nhưng với chúng tôi tác dụng chính của nó là làm thiết bị liên lạc. Nắm bắt tình huống.” Theo như số liệu của Trung tâm Nghiên cứu Thính lực, 50 tới 60% năng lực nắm bắt tình huống của một người đến từ khả năng nghe.

Fallon hỏi câu cuối cùng trước khi chúng tôi đi ăn tối. Tiếng trả lời lại tiếp tục vang lên từ hàng ghế sau. Nghe gần như là khẩn nài: “Có nhà thính học nào từng làm được điều gì có lợi cho bất kỳ ai ở đây chưa?”

“Rồi,” người tình nguyện ở ghế số 5, với mái tóc đen và mắt đen phổ biến, lúc trước vẫn khá kín tiếng. “Tôi được chọn vì đeo máy trợ thính.”

Saoo, gì cơ? Một lính đặc nhiệm mạnh mẽ, toàn năng phải đeo máy trợ thính? Tôi sững người một chút, giống hệt như lần tôi đọc bài báo nói rằng Angelina Jolie phải cắt bỏ hết ngực vậy. Người lính này tiếp tục căn vặn về chính sách tuyên bố những người anh ta không phù hợp đi lính. “Chúng ta cho phép binh sĩ đeo thiết bị hỗ trợ thị lực. Vậy thì, tôi đeo một thiết bị hỗ trợ thính lực.” Có gì khác nhau chứ? Với tôi có vẻ như Bộ Chỉ huy Lực lượng Đặc nhiệm Mỹ đã làm được một việc còn khó khăn hơn tiêu diệt Osama bin Laden: loại bỏ định kiến với máy trợ thính.

Tướng bốn sao đã về hưu David Petraeus bị bắn vào ngực trên một trường bắn là một tin khá thú vị, nhưng lại không mấy dễ chịu vào lúc này. Công việc của Craig Blasingame tại trường bắn Trại Pendleton không phải để mang lại sự dễ chịu, mà nhằm đánh tan bất kỳ sự tự mãn nào nhen nhóm trong chúng tôi sau khi chạy được tới điểm cấp cứu bằng trực thăng gần nhất và cho chúng tôi biết phải làm gì nếu một mảnh đạn nóng bỏng rơi vào lưng áo khi bắn khẩu súng trường tấn công M16A4 bán tự động. (“Chỉ cần nói, ‘Này, tôi dính mảnh đồng thì phải’.”)

Những anh chàng đặc nhiệm sẽ hướng dẫn chúng tôi bắn súng. Mỗi người sẽ bắn hai băng đạn, một băng khi dùng nút bịt tai và một băng khi đeo TCAPS. Có vẻ như bài thử nghiệm này nhằm chứng tỏ việc nghe lệnh chỉ huy khó như thế nào khi đeo thiết bị bảo vệ thính giác thụ động. Tôi đoán đó cũng là miếng mồi của các nhà thính học: “Hãy cùng bắn súng M16 với lính đặc nhiệm nào!” (Tôi đã cắn câu.)

Craig chia chúng tôi thành hai nhóm, một nửa đứng sẵn ở hàng bắn và phần còn lại, bao gồm cả tôi, đứng lùi về phía sau vài mét tại khu vực sẵn sàng. “Bây giờ nếu cô thấy mình không thể bắn,” Craig nói, “nếu cô bắt đầu thấy sợ, cô có thể đặt vũ khí xuống, giơ tay lên và nói, ‘Tôi chịu thôi’.” Giá như chiến tranh cũng đơn giản như thế.

Để nút bịt tai thực sự phát huy tác dụng, chúng tôi sẽ phải kéo loa tai (vành tai) - một phần của tai ngoài - về phía sau, một việc bất khả thi khi đang đội mũ nồi chiến đấu. Không ai, trong lúc bắn nhau, lại dừng lại và tháo mũ ra, kéo vành tai về phía sau, nhét nút bịt vào cả hai tai, rồi đội mũ vào cả. Trên trường bắn, chúng tôi có thời gian để làm việc đó, hoặc trên chiến trường trong cuộc Nội chiến Mỹ cũng vậy, nơi các người lính phải xếp thành đội hình trước khi xung phong. Khi ấy, hoặc ngay tại đây, bạn sẽ biết thời điểm bắt đầu và có thời gian để chuẩn bị, dù đó là lắp lưỡi lê hay nhét nút xốp vào tai.

Giờ thì không chiến trường nào có chiến tuyến rõ ràng nữa. Tiền tuyến ở khắp mọi nơi. Mìn tự chế phát nổ và các tay súng nhả đạn mà không có dấu hiệu báo trước nào. Để bảo vệ thính lực, bạn phải đeo nút bịt tai suốt mười ba giờ tuần tra, với 95% khoảng thời gian đó chẳng có thứ gì phát ra tiếng ồn lớn cả. Nhưng chẳng ai làm vậy. Đó là lý do Fallon nói, “Quân đội không hề có vấn đề với tiếng ồn, vấn đề của họ là sự im lặng.”

“Nhóm 2,” Craig hô to. Đến lượt tôi rồi. “Tiến lên đến tuyến bắn!” “Chào, chị thế nào?” người hướng dẫn tôi mở lời. “Tôi là Jack.” Jack không giống với những lính đặc nhiệm tôi đã gặp trước đó. Cậu ta thân thiện như một chú chó chăn cừu Labrador vậy, râu cạo nhẵn nhụi như một giám đốc bán hàng khu vực. Có thể cậu đang làm nhiệm vụ bí mật tại San Diego hay Scottsdale và, cũng giống như những lính đặc nhiệm rậm râu hoạt động ở đất nước do al-Qaeda kiểm soát, cậu cần phải hoà mình vào nhóm đàn ông địa phương. Hoặc có thể cậu ta đang nghỉ giữa hai nhiệm vụ.

Jack chỉ vào mũ bảo vệ của tôi. “Quai mũ cần phải kéo trùm tai. Bây giờ nó khiến mũ của chị hơi chật, chị có lẽ cần nới lỏng quai mũ ra một chút.” Một trong những điểm bất lợi khi sử dụng thiết bị trùm tai TCAPS đó là thứ tự các thiết bị được cấp phát. Những chiếc mũ nồi vừa vặn được cấp trước khi thiết bị TCAPS được phát. Binh sĩ sẽ phải cố đội mũ khi đã đeo tai nghe TCAPS và khi ấy mũ sẽ rất chật. Có vẻ như sự bất tiện nho nhỏ này đã khiến cho rất nhiều người mất đi phần nhiều thính lực của mình. Có một lần mìn tự chế phát nổ gần Jack, khi đó cậu ta không đeo TCAPS. “Trời thì nóng, và TCAPS làm tôi đau đầu, nên tôi quyết định không đeo chúng chỉ trong đúng chuyến tuần tra ấy. Và chuyến đó tôi bị thổi tung lên và thính lực bị sụt giảm nhiều. Aaron cũng bị giống tôi.”

Bên phải tôi, một nhà thính học đã bắn hết băng đạn đầu tiên của mình. Còn tôi vẫn loay hoay với dây quai mũ. “Để tôi giúp chị,” Jack nói. Tôi buông thõng tay xuống đùi và để cậu ta giúp. “Úi, tôi không cố ý kéo tóc chị đâu.” Một người lính bắn tỉa lịch lãm.

Jack đưa tôi khẩu M16. “Chị đã từng bắn súng bao giờ chưa?” Tôi lắc cái đầu nặng trịch của mình. Cậu ta đưa tôi một băng đạn và chỉ cho tôi chỗ để nạp nó vào súng. Tôi đã nhìn thấy việc này trên phim - dùng gan bàn tay đẩy nhanh băng đạn là xong.

Hừm.

“Phải là chiều ngược lại, để đạn hướng về phía trước.”

Khẩu M16 được gắn kính ngắm với một mũi tên nhỏ màu đỏ ở giữa thước ngắm. Bạn chỉnh mũi tên vào đúng thứ hoặc (úi) ai đó bạn muốn bắn và siết cò. Cả hai từ “siết” và “kéo” đều nói quá lên việc ta làm với cò súng. Đó là một động tác cử động rất nhỏ và nhẹ nhàng, như sự cựa mình của một đứa trẻ ngủ mơ. Một động tác quá nhanh và gần như không tốn chút sức nào khiến tôi chỉ có thể liên hệ nó với những hành động vô hại nhất. Lật một trang giấy. Gõ chữ M. Gãi nhẹ. Nhưng kết liễu mạng sống của ai đó cần thêm một chút sức mạnh nữa.

Tiếng nổ đầu nòng súng M16 có cường độ khoảng 160 decibel. Jack ước tính rằng cậu đã bắn khoảng một trăm nghìn viên đạn trong hơn mười năm làm lính đặc nhiệm. Vũ khí và những vụ nổ, chứ không phải là những âm thanh “đều đều” từ động cơ xe và trục quay cánh quạt trực thăng (và máy nghe nhạc MP3),[4] là nguyên nhân chính khiến Bộ Cựu chiến binh phải chi ngân sách đến một tỉ đô la mỗi năm cho chứng suy giảm thính lực và ù tai.

Jack không hề nghe thấy tiếng nổ của gần như toàn bộ những viên đạn ấy, không phải bởi cậu đeo thiết bị bảo vệ thính lực mà tâm trí cậu chú tâm vào những điều khác. “Khi một mình chị đang đấu súng với quân địch ở trong tầm bắn,” cậu nói, “chị sẽ chỉ để ý vào những thứ hệ trọng nhất.” Đó là một phản xạ để sinh tồn, được gọi là nghe có chọn lọc. Khả năng bạn bị mất một phần khả năng nghe lúc đó không còn quan trọng nữa.

Tôi đoán một người lính bắn tỉa cũng không quan tâm đến những gì tôi đang tập trung vào ngay lúc này: nhấc tay giữ khẩu súng khi nằm sấp khiến chiếc áo chống đạn bị dồn lên và đẩy vành mũ phía sau gáy, khiến chiếc mũ sụp xuống trán đẩy kính bảo vệ mắt làm cho mắt kính chọc thẳng vào gò má.

“Thế quái nào mà các cậu làm được công việc này nhỉ?” Cô nhà văn nói giọng cáu kỉnh. Jack lặng thinh trong giây lát. Có lẽ cậu ta đã nghe câu hỏi này khá nhiều lần, và hầu hết người hỏi không nghĩ về những bất tiện mà các trang bị bảo vệ không ăn nhập với nhau mang lại.

“Chị sẽ phải quen dần với nhiều thứ.”

Tôi nghĩ những người lính đặc nhiệm sẽ được trả tiền cho những gì họ làm ngày hôm nay, nhưng cũng có thể họ làm điều đó vì món bít tết. Nhân viên hậu cần của Trại Pendleton đã đặt trước mặt Jack và tôi miếng bít tết thăn phi lê to cỡ quả lựu đạn. Fallon nhận được món cá. Trông anh ta như sắp khóc vậy.

“Chị biết thứ khó khăn nhất đối với chúng tôi là gì không?”[5] - Jack liếc quanh bàn một lượt. “Nó ở ngay đây.”

“Vâng.” Tôi hiểu. Những người lạ với các câu hỏi và phỏng đoán của họ.

Hóa ra Jack không đề cập thứ tôi đang nghĩ. Cậu ta nói “chúng tôi” không phải để ám chỉ lính bắn tỉa hay đặc nhiệm. Cậu đang nhắc đến việc nghe khó. Và “nó ở ngay đây” có nghĩa là không khí ồn ào quanh bàn ăn tối. Jack nói vài người trong số họ dùng giải pháp là đặt ra rất nhiều câu hỏi và giả vờ như nghe thấy các câu trả lời. “Chị sẽ thấy họ ngồi đó và gật gù, kiểu ‘À, ra là thế, ừ’.” Một số lại chọn cách không giao tiếp với ai cả.

Một phiên bản khác của việc tránh giao tiếp này cũng xảy ra trong chiến trận. Tôi kể cho Jack và Fallon về công trình của một nhóm các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Thính học và Giao tiếp Quân sự Quốc gia Walter Reed. Doug Brungart và Ben Sheffield đã ghi chép lại tác động của việc suy giảm thính lực với khả năng thiệt mạng và sống sót. (Bởi để thu thập dữ liệu Sheffield phải ôm bảng ghi chép của mình chạy loanh quanh khắp nơi trong các cuộc diễn tập mô phỏng trận chiến thật sự.) Các thành viên của Sư đoàn Dù số 101 đã đồng ý đội chiếc mũ đặc biệt được gắn thiết bị mô phỏng sự suy giảm thính lực. Trong số những đội khá nhất, ngay cả việc giảm chút ít thính lực cũng làm giảm 50% tỉ lệ “tiêu diệt địch” (số lượng địch bị tiêu diệt được chia đều cho số thành viên còn sống sót của đội). Không phải vì khả năng nghe kém khiến cho họ bắn hoặc chạy nhầm hướng mà vì họ không biết chắc điều gì sắp diễn ra. Với việc khả năng giao tiếp kém đi, các hành động của họ trở nên ngập ngừng hơn.

Hậu quả của việc mất thính lực còn đeo đẳng người lính về tận hậu phương. Brungart kể với tôi về một lính Thủy quân Lục chiến mà anh đã chiến đấu cùng, anh ta đã mất một tay, một chân và rách hoàn toàn màng nhĩ trong một vụ nổ. “Cậu ấy nói với tôi rằng thương tích nặng nhất trong số đó là mất khả năng nghe, bởi cậu ấy không thể giao tiếp được với vợ con.” Dù cho, hoặc có thể vì ít được nhận thấy, những thương tổn ít nhận thấy từ chiến trận có thể là thương tổn nặng nề nhất mà người lính phải chịu đựng.

❀ ❀ ❀

[1] Dù cho bạn đọc có không cần lời giải thích, thì tôi cũng xin đưa ra một điểm giống nhau nữa giữa đạn và nút bịt tai: Cả hai đều được các bác sĩ sử dụng để bảo vệ tai họ khỏi những tiếng hét thất thanh. Tạp chí Quân y đã chỉ ra rằng lý do thực sự các binh sĩ khi chưa ngấm thuốc gây mê được đưa cho một viên đạn để cắn không phải để giúp họ chịu đau tốt hơn mà đơn giản là để họ ngừng la hét. Và từ một bài báo có tên “Lịch sử phát triển của nút bịt tai làm bằng bọt xốp E-A-R”, chúng tôi biết được thêm rằng các bác sĩ trong phòng cấp cứu sử dụng các miếng xốp để “ngăn tiếng la hét của lũ trẻ trong những ca phẫu thuật khó”. Đây là một phần trong mục “ứng dụng bất thường”, tuy nhiên chúng không có gì là quá bất thường. Có lẽ tôi đã có những kỳ vọng hơi phi lý khi tìm hiểu về lịch sử của nút bịt tai xốp.

[2] Nhà nghiên cứu ấy thốt lên, “Cứ như là anh ta đã quen cô từ trước rồi ấy.”

[3] Ở Afghanistan, độ tuổi này là từ 12 trở lên, lứa tuổi ngây thơ ở phương Tây vẫn còn đang chơi đồ chơi hay các trò chơi cờ bàn.

[4] Theo như Trung tâm Nghiên cứu Thính lực Bộ Quốc phòng, 12 tới 16% số trẻ em độ tuổi từ 6 đến 19 ở Mỹ bị suy giảm thính lực vì tiếng ồn. Và nguyên nhân không phải từ máy hút bụi hay máy cắt cỏ. Âm lượng tối đa một chiếc máy nghe nhạc MP3 tạo ra là 112 decibel, đủ để làm suy giảm thính lực sau một phút. Bạn đã từng tham dự một buổi biểu diễn trực tiếp của Die Antwoord (120-130 decibel) chưa? Nếu rồi, xin chia buồn với bạn.

[5] Gần như không có thứ gì. Năm 2008, một nhóm các nhà tâm lý học phỏng vấn 19 lính bắn tỉa đã từng tham chiến tại Afghanistan rằng thứ gì khiến họ cảm thấy khó khăn nhất. 90 đến 95% số người cho biết họ cảm thấy rất ít hoặc không hề có khó khăn gì khi tiêu diệt đối phương, phải trực tiếp làm việc hay khám xét các phần cơ thể rơi vãi, cận chiến, bị thương, đồng đội bị bắn bên cạnh hay “nhìn thấy những tử thi người Canada”. (Đó là một nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Canada.)

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.