Lính Trơn - Khoa Học Lạ Kỳ Về Loài Người Trong Chiến Tranh

Lượt đọc: 277 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
11. Mồi Nhử

❊ ❊ ❊

Cách chế tạo và thử nghiệm thuốc đuổi cá mập

Nếu bạn muốn tìm mua một thứ hóa chất vô hại với con người nhưng lại độc với các loài động vật bậc thấp, bạn có thể tìm gặp ai đó làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Một loại thuốc trừ sâu tốt, nếu thực sự có thứ đó trên đời, phải đáp ứng được cả hai tiêu chí trên. Thuốc diệt côn trùng rotenone là một chủ đề của một công văn viết năm 1942 do Bộ Nông nghiệp Mỹ gửi đến trụ sở Vùng 11 Hải quân. Trong lá thư có ghi rõ, ngoài việc tiêu diệt sâu bọ, rotenone còn là một chất kịch độc cho cá. Khi pha vào nước ở nồng độ chỉ hơi độc với người, loại hóa chất này “khiến cá vàng cảnh ‘phơi bụng’”.

Đây là một thông tin rất đáng khích lệ, nếu không tính đến việc Hải quân đang yêu cầu một thứ để xử lý lũ cá mập. Thế chiến II đánh dấu việc lần đầu tiên trong lịch sử quân sự nước Mỹ, các trận chiến diễn ra trên mặt hoặc trên bầu trời của các vùng biển nhiệt đới, và các câu chuyện về những thủy thủ và phi công bị tấn công và ăn thịt sau khi bỏ tàu hay nhảy dù khỏi máy bay bắt đầu được lan truyền. (Trong Thế chiến I, thủy thủ đoàn gặp nạn ở vùng Bắc Đại Tây Dương và thường bị chết vì rét trước.) Một câu chuyện cụ thể đã đến tai Henry Field (chính là người đã được đặt tên cho Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Field), người khi ấy đang làm nhà nhân chủng học tư vấn cho Tổng thống, cùng một vị trí trong - ồ, ta lại gặp tổ chức này! - tổ chức OSS.

Vào tháng Sáu năm 1941, câu chuyện bắt đầu, một máy bay của Hải quân Ecuador rơi trên Thái Bình Dương vì hết nhiên liệu. Sự “tuyệt vọng và hoảng loạn” của viên sĩ quan không quân đã được ghi chi tiết trong bản báo cáo chính thức về tai nạn, là thứ Henry Field đã nghe kể hoặc đọc được. Đó là một đêm sáng trăng. Người đàn ông này đeo một chiếc phao cứu sinh, và khi anh ta bơi, anh ta đẩy theo xác của một viên đại tá bị chết đuối. Cá mập bắt đầu bơi qua bơi lại ở trước mặt anh ta. “Nhiều lúc tôi có cảm giác chúng đang cố cướp lấy tử thi, ngậm chân kéo đi, khi đó tôi tuyệt vọng ôm chặt lấy cơ thể người đồng đội và cố lướt đi cho đến khi sức kéo biến mất.” Đến đoạn này thì tôi thừa nhận mình bắt đầu thích thú với người dịch bản báo cáo này hơn là nhân vật chính đang hoảng loạn kia: “Khi nổi trở lại, trong tuyệt vọng, tôi chạm vào hai chân anh ta và phát hiện ra chúng thiếu mất một phần.” Viên sĩ quan này đành bỏ lại “tử thi không còn nguyên vẹn” và tiếp tục bơi một mình vào bờ, “với đủ loại cá mập bám theo sau”.

“Đêm này qua đêm khác,” Henry Field hồi tưởng và ghi lại trong bản ghi chép của mình, “Tôi nghĩ về hai anh chàng này… với lũ cá mập rẽ sóng bơi xung quanh họ.” Là một nhà nhân chủng học của Tổng thống, ông luôn được Franklin Delano Roosevelt lắng nghe, ngay cả khi chủ đề là về ngư học. “Tôi viết một báo cáo ngắn cho tổng thống đề xuất chế tạo một loại thuốc đuổi cá mập.”

Với sự giúp đỡ của tổng thống, Field đi tìm gặp một đồng sự, là người phụ trách bảo tàng tên Harold J. Coolidge, người cũng nhận lương từ OSS. Coolidge là một nhà linh trưởng học - một con khỉ đột lưng bạc ông thu thập được (bằng cách bắn) ở Congo hiện nay vẫn đang được trưng bày ở Bảo tàng Động vật học So sánh thuộc Đại học Harvard - nhưng ông vẫn đồng ý tham gia dự án cá mập này. Bạn rõ ràng có thể hiểu được việc một chuyên gia về khỉ đột nhận lương của một cơ quan tình báo cảm thấy công việc nhàm tẻ thế nào. Ít ra thì dự án này khiến ông hứng thú, mà nói đúng ra thì sẽ khiến ông gánh một phần trách nhiệm. Coolidge thuê thêm một người trông coi bảo tàng nữa, W. Douglas Burden, làm người thu thập bằng chứng chính cho dự án. Burden là chuyên gia về rồng Komodo, ông này đã viết hẳn một quyển sách về loài rồng Komodo nhưng, cũng như bạn mình, biết rất ít về cá mập.

Để tìm người có hiểu biết thực tế về cá mập, OSS nhắm đến một người từng bỏ dở đại học có tên Steward Springer, người từng làm đủ nghề từ buôn cá rồi kỹ thuật viên hóa chất tại Nhà máy Xử lý chất thải bằng bùn hoạt tính ở Indianapolis. Năm 1942, nước Mỹ không có chuyên gia nào nghiên cứu về tập tính và đặc tính sinh học của cá mập cả. Không có ai hiểu biết nhiều về loài sinh vật này. Thực ra, kinh nghiệm đối diện trực tiếp với cá mập cùng với hiểu biết về tính chất hóa học của bùn là nền tảng lý tưởng cho nhiệm vụ. “Tiến sĩ” Springer, theo cách gọi của một số nhân viên OSS khi nhắc về ông, là sự lựa chọn tốt nhất khi ấy.

Hải quân Mỹ đã đồng ý cấp vốn, dù rằng, một sĩ quan cao cấp cho hay, ở thời điểm đó chưa có người nào từng đọc lời thề Hải quân báo cáo chính thức lên cấp trên rằng mình bị lũ cá mập tấn công. Thứ Hải quân Mỹ quan tâm là sự tự tin của lính. Nỗi sợ cá mập, tuy phi lý, đã làm giảm số lượng phi công dám tự nguyện cất cánh. Stewart Springer chỉ ra nghịch lý nực cười đó: “Ai đó sẽ rất sẵn lòng hy sinh cho tổ quốc, nhưng bị ăn thịt vì tổ quốc lại là chuyện hoàn toàn khác.” Theo cách gọi của Douglas Burden, thuốc đuổi cá mập chỉ là một dạng “thuốc hồng” - liều thuốc tâm lý cho những phi công còn e sợ cá mập. Vào ngày 3 tháng Bảy năm 1942, Văn phòng Nghiên cứu và Phát triển Khoa học của OSS đã được cấp kinh phí cho Dự án 374, Hợp đồng OEMcmr-184: một cuộc điều tra trong ba tháng để “tập trung phát triển các phương tiện bảo vệ chống lại cá mập; cá nhồng và sứa[1] cho những người đeo phao cứu sinh trôi dạt trên biển.” (Trong ba trăm trang tài liệu lưu trữ về Dự án 374, tôi chỉ thấy hai lần thông tin liên quan đến cá nhồng xuất hiện. Và như thông tin tôi thấy, không có trang nào đề cập tới loài sứa cả.)

Công việc thí nghiệm chủ yếu được thực hiện tại Viện Hải dương Woods Hole, nơi nuôi một đàn cá mập được gọi là cá nhám gai - loài này có kích cỡ và độ hung hãn không bằng một con cá mập trắng nhưng chắc chắn hơn một con cá vàng cảnh. Rotenone là một trong những chất đầu tiên mà nhóm nghiên cứu thử nghiệm. “Hoàn toàn vô tác dụng,” Burden báo cáo cho Coolidge. “Ngay cả liều gây chết cũng không làm chùn bước cá mập khi chúng đang ăn.” Cá mập sẽ chết, nhưng không phải là trước bạn. Vì thế cho đến khi nào cá vàng cảnh trở thành mối đe dọa an ninh quốc gia thì rotenone vẫn chỉ nằm trong kho của Bộ Nông nghiệp mà thôi.

Bảy mươi chín chất đã được thử nghiệm và bị loại bỏ. Chất gây kích ứng thất bại. “Mùi ghê tởm” thất bại. Và thêm vào danh sách thất bại còn có dầu đinh hương, vani, dầu thông, dầu creozot, nicotin. Họ còn thử cả các hỗn hợp có liên quan tới băng phiến, măng tây và nước đái ngựa. Lũ cá mập phớt lờ tất cả. “Manh mối” đầu tiên nảy ra từ một thứ có trong tích truyện của những ngư dân săn cá mập. Springer đã nghe kể rằng xác một con cá mập mắc câu bị bỏ lại sẽ phá hỏng điểm câu cá mập đó. Ông và đội của mình ngay lập tức bắt tay vào công việc. Họ thuê một ngôi nhà biệt lập tại Florida với giá 10 đô la một tháng, và tôi đoán là họ sẽ không bao giờ đòi được khoản tiền đặt cọc để chủ nhà dọn dẹp khi trả nhà nữa. Những miếng thịt cá mập được vứt trong nhà ở nhiệt độ phòng trong bốn tới năm ngày. Sau đó họ thu dịch chiết bằng cách xay nhừ thứ thịt đang phân hủy này rồi khuấy nó trong cồn, và lọc hỗn hợp thịt cá mập sền sệt thu được.

Sau bốn mươi ba thí nghiệm, Springer tỏ ra lạc quan trong một bức thư gửi cho Burden, có thể “nói rằng loại thịt này có chứa vài chất nào đó CÓ KHẢ NĂNG xua đuổi cá mập cực kỳ mạnh”. Giá trị xua đuổi 88,4%! Hiệu quả 90-100%! Báo cáo tiến độ sau hai tháng về Hợp đồng OEMcmr-184 mô tả Springer, “đã tin tưởng hoàn toàn vào tính hiệu quả của dịch chiết thu được đến mức sẵn sàng thử nghiệm nó với phao cứu sinh và một xô máu”.

Bước tiếp theo là lên kế hoạch cho một cuộc thử nghiệm nhằm đánh giá khả năng thực tế của dịch chiết thịt thối với cá mập ngoài biển khơi, nhưng Springer và Burden lại thúc giục OSS hãy sản xuất sản phẩm này ngay lập tức. “Nếu như chúng ta thực sự có gì đó vào lúc này… thử nghiệm trên thực tế sẽ làm chậm việc đưa vào sử dụng thứ tốt đẹp này khoảng sáu tháng,” Springer viết cho Coolidge, “và trong sáu tháng đó… sẽ thật tệ hại nếu có những phi công tội nghiệp gặp nạn mà không được bảo vệ.” Springer tình cờ lại biết một nhà thầu có khả năng giành được quyền sản xuất thứ dịch chiết này. Shark Industries là một nhà cung cấp da và dầu cá mập - và đồng thời, theo thuyết âm mưu, thì họ cũng từng là chủ thuê của Springer. Công ty này, Springer khẳng định, có thể sản xuất lượng dịch chiết cá mập đủ để trang bị kèm cho 2.000 tới 5.000 chiếc phao cứu sinh mỗi tháng. Nếu Springer đạt được mục đích thì toàn bộ công việc kinh doanh này sẽ sớm phải xem xét lại vì trên biển sẽ không còn cá mập để đuổi nữa.

Nhưng OSS đã không cắn câu. Thay vì tiếp tục đi theo hướng sản xuất dịch chiết, họ cố tìm cách chiết tách thành phần hoạt tính - một hợp chất có thể mua được hoặc tổng hợp được với giá rẻ, nhờ thế họ tiết kiệm được chi phí và cũng không phải lo đến vấn đề kiếm một lượng lớn xác cá mập nữa. Người ta đã thuê ba nhà hóa học, và nhóm này nhanh chóng tìm ra được một hợp chất đầy hứa hẹn: amoni axetat. Chất này cùng với hai hợp chất khác đầy hứa hẹn đã tìm ra trước đó (đồng sulphat và axit maleic), kèm với 13,5 kg của thứ có tên nghe khá hung hiểm “dịch chiết từ thịt cá mập phân hủy”, được gửi thẳng tới Ecuador, ở đúng vùng biển nơi câu chuyện của chúng ta bắt đầu, để thử nghiệm với “lũ cá mập phàm ăn tầng mặt”. Chỗ ở được lo liệu, thuyền và hướng dẫn viên được thuê. Ba tuần sau, Burden đánh về một bức điện với giọng điệu rầu rĩ: “Vùng biển ven bờ của Ecuador hầu như chẳng có con cá mập nào lai vãng cả.”

Từ sâu trong núi tiền của OSS, vọng ra lời đáp của Harold Coolidge: hãy thử ở Peru. “Đừng nản chí,” ông viết, “Săn cá mập chẳng khác gì săn hổ. Các anh có nhớ ở nhiều vùng trên lãnh thổ Đông Dương thuộc Pháp hổ nhiều thế nào không, vậy mà để đi đến được nơi có thể bắn hổ thì các anh vẫn phải mất hai đến ba tuần đấy.” Qua những con chữ này, bạn hẳn cũng cảm thấy một sự nghề nghiệp trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tự nhiên chỉ là một cách để các quý ông có quan hệ tốt với tầng lớp trên tìm nguồn tài trợ cho những chuyến du hành đến những vùng đồng cỏ châu Phi xa xôi hay đi câu cá thám hiểm dưới danh nghĩa khoa học. Tiêu đề cuốn hồi ký của Douglas Burden đã khéo léo tổng kết công việc này: Đi săn trên nhiều vùng đất.

Nhóm thám hiểm cuối cùng đã phát hiện ra vài con cá mập ở ngoài khơi Guayaquil, Ecuador. Tuy nhiên, tiếp theo lại là những thông tin gây nản chí. Không thứ gì có tác dụng cả. Họ thử trộn amoni axetat với đồng sulphat, và chất tạo thành (đồng axetat) có vẻ khá hiệu quả. Nhưng phải cần một lượng cỡ 0,9 tới 1,3 kg hóa chất, dưới dạng bánh chậm tan (hãy nghĩ đến viên khử mùi trong bồn tiểu, không phải bánh sinh nhật), để có thể xua đuổi cá mập trong một ngày. Điều này sẽ không thể thực hiện được. Bên Hải quân muốn thứ gì đó thật nhỏ và nhẹ - nặng nhất chỉ cỡ 170 gam - để có thể đóng túi và gắn vào phao cứu sinh. Phao cứu sinh, sản phẩm ban đầu của áo phao là một ống cao su, luôn được đeo quanh hông, có thể được thổi căng khi tình huống khẩn cấp xảy ra. Cũng giống như bất kỳ một phần nào trên bộ quân phục, phao cứu sinh sẽ xuất hiện nhiều lỗ thủng khi sử dụng lâu dài. Thứ tệ nhất mà một người trôi dạt trên biển có thể nghĩ đến ngoài việc phao cứu sinh bị xì hơi là một khối thuốc đuổi cá mập chưa rõ công dụng ra sao nặng tới 1,3 kg giống như một mỏ neo kéo họ xuống đáy.

Hải quân bắt đầu mất kiên nhẫn. Họ đã chi ra 100.000 đô la - tương đương khoảng 1,5 triệu đô la ngày nay - mà khả năng có được thứ thuốc đuổi cá mập hiệu quả thực tiễn vẫn chẳng khác gì so với một năm trước, OSS bị đẩy ra rìa, và dự án được giao lại cho Văn phòng Nghiên cứu Hải quân và Phòng Thí nghiệm Hải quân (NRL). Điều đầu tiên Hải quân tiến hành là thực hiện các cuộc thí nghiệm thực tế hơn. Springer và Burden mới chỉ nhử mồi những con cá mập đơn lẻ bơi lang thang - “cá mập thường” - bằng cách sử dụng những khúc cá đối thay cho người đeo phao cứu sinh. Phòng thí nghiệm Hải quân muốn một kịch bản tương đồng hơn với hiện trường tan hoang của một vụ chìm tàu hay một chiếc máy bay bị bắn rơi với “một bầy lớn những con cá mập cuồng ăn”, một cảnh tượng họ nghĩ là rất thu hút và có tính gợi mở.

Hành động “cuồng ăn” là một trạng thái tâm lý trong đó việc xem xét, ngửi thử đều bị lấn át hoàn toàn bởi “cơn cuồng bầy đàn”. Vào tháng Tám năm 1943, một chiếc tàu đánh bắt tôm tại Biloxi, Mississippi đã mang theo đồng sulphat và thử nghiệm xem nó có thể bảo vệ được “cá tạp” - những con cá giãy đành đạch vì hoảng loạn bị ném trở lại mặt nước bởi chúng không phải là tôm. Đoán xem điều gì xảy ra? Dù họ đã dùng tới khoảng 2,3-2,7 kg đồng axetat cho mỗi thùng cá tạp mà chẳng “tác động một chút nào” đến đám cá săn mồi điên cuồng bơi theo tàu. “Lũ cá mập hầu như không ngừng lại chút nào.”

Cú tát cuối cùng vào Dự án 374 là sự xuất hiện của bài báo do Đại tá Hải quân H. David Baldridge Jr. viết có tựa đề: “Sự bất khả thi của việc vô hiệu hóa một con cá mập đang tấn công bằng cách cho nó tiếp xúc với thuốc hóa học tan trong nước.” Bằng cách so sánh tốc độ tiếp cận của cá mập với tốc độ tan và nồng độ cần thiết để sinh vật này ngừng tấn công, Baldridge cho thấy lượng thuốc cần thiết sẽ lớn đến mức “không còn là một phương cách hợp lý nhằm kiểm soát tập tính săn mồi của cá mập”. Như một đồng nghiệp của Burden đã nói thẳng, “Anh sẽ chẳng làm được gì nhiều với một cốc chất lỏng đổ vào đại dương đâu.”

Tiếp sau đó, các nhà nghiên cứu của Hải quân đã học theo loài bạch tuộc sử dụng đám mây thuốc nhuộm để giấu các thủy thủ hoặc đội bay khỏi tầm nhìn của các loại cá săn mồi tiềm tàng. Dưới các điều kiện “tâm lý bầy đàn” tương tự như thử nghiệm thuốc hóa học đuổi cá mập, mọi hoạt động săn mồi của lũ cá mập sẽ dừng cho đến khi thuốc nhuộm bị hòa loãng tới mức không còn che khuất được con mồi nữa. Công đoạn sản xuất được tiến hành ngay lập tức. Các thành phần của thuốc đuổi cá mập lúc này gồm có: 80% phẩm màu đen và 20% thuốc hồng - một chút đồng axetat dược thêm vào hỗn hợp[2] để trấn an tâm lý. Từ năm 1945 cho đến hết Chiến tranh Việt Nam, những gói sản phẩm này luôn xuất hiện trong bộ trang bị sinh tồn khẩn cấp đi kèm với xuồng cứu sinh và áo phao trên các chiến hạm hay máy bay chiến đấu. Ngay cả các bộ trang bị sinh tồn khi đáp xuống biển của các nhà du hành vũ trụ tham gia dự án Mercury cũng được trang bị thuốc đuổi cá mập.

Dù vậy, vẫn có nhiều ý kiến nghi ngờ trong giới chỉ huy Hải quân. Chuẩn Đô đốc Ross T. McIntire, Cục trưởng Cục Y tế và Phẫu thuật Hải quân đã đưa ra một ý kiến khá hợp lý rằng một gói thuốc dán nhãn THUỐC ĐUỔI CÁ MẬP bằng những chữ cái viết hoa in đậm thực tế có thể làm mất chứ không lên dây cót tinh thần, gieo mầm sợ hãi cho những người, vốn vào thời điểm đó, đã chứa đầy những mối đe dọa thực sự khi phải sinh tồn giữa đại dương: mất nước, đói, chết đuối, nóng bức, lạnh giá. Nhất là khi cá mập chỉ tạo ra “mối nguy không đáng ngại,” trích lời của McIntire, đối với lính Hải quân.

Không đáng ngại ở mức nào? Có rất nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhưng ở một thời điểm trong giai đoạn xem xét, Tổng Chỉ huy Hạm đội Nam Thái Bình Dương đã ban hành một văn bản gửi cho tất cả các căn cứ hải quân và tàu quân y phải gặng hỏi thủy thủ đoàn về “những ca đúng là bị thương do cá mập tấn công”. Với báo cáo từ khắp nơi gửi về, cuối cùng người ta chỉ đếm được có hai ca. (Còn có thêm một ca tấn công nữa nhưng kết quả điều tra sau đó chỉ ra thủ phạm là một con “lươn biển hung dữ”.) OSS đã phản ứng theo đúng cung cách truyền thống của một cơ quan tình báo: họ xóa sổ toàn bộ các báo cáo. “Báo cáo về các cuộc tấn công của cá mập đã bị hủy như ngài yêu cầu,” một nhân viên đã viết trong một văn bản liên văn phòng gửi tới Harold Coolidge vào tháng Mười hai năm 1943.

Đây lại là một quả bom thối khác của OSS. Họ đã quyết định phát triển một loại thuốc đuổi cá mập chỉ dựa vào trải nghiệm của một người đàn ông và các mối quan hệ chính trị của một người khác mà không dựa trên cứ liệu vững chắc chỉ ra sự cần thiết của việc đó. Nếu như bạn xem xét lại vụ tai nạn tại Ecuador - nguồn cơn của dự án - nó thực sự không phải là một bằng chứng về mối nguy hiểm hay sự hung hãn của lũ cá mập. Có chăng thì nó là bằng chứng cho thấy lũ cá mập chẳng hứng thú và (hoặc) nhát cáy. Viên sĩ quan không quân đó đã trôi nổi trong chiếc áo phao cứu sinh 31 tiếng, rồi lên bờ với cơ thể không có lấy một vết bầm nào từ đàn cá mập đã bơi theo anh ta suốt quãng đường từ ngoài biển vào.

Nếu như muốn giữ vững tinh thần của ai đó, cách tốt hơn sẽ là chia sẻ những sự thật và thống kê có tính trấn an như trên. “Thông tin chính xác,” McIntire viết, “sẽ có tác dụng xoa dịu nỗi sợ hãi tốt hơn bất kỳ loại thuốc đuổi cá mập nào có thể được chế ra.” Bắt đầu từ năm 1944, Hải quân đã làm vậy. Đơn vị Đào tạo và Huấn luyện Không quân của họ đã phân phát một cuốn sách mỏng có tên Cảm thức về cá mập cho mọi phi công tương lai: gồm 22 trang ghi chép các dữ kiện thực tế dễ chịu, kèm hình vẽ minh họa về những con cá mập nhát cáy, sợ hãi toát mồ hôi và bỏ chạy (kêu “KÍU!”).

Và thực tế đã chứng minh điều này là đúng. Trong một bản xem xét đánh giá các báo cáo về 2.500 phi công phải đấu tranh sinh tồn trên biển trong Thế chiến II, có 38 người nhìn thấy cá mập, trong đó chỉ 12 người bị chúng làm bị thương hoặc chết.

Dù có thể làm yên lòng mọi người, nhưng Cảm thức về cá mập đã không trả lời được những câu hỏi cấp thiết nhất của những con người đang trôi nổi giữa biển sau thảm họa. Có đúng là cá mập có thể ngửi thấy mùi từ một giọt máu người trong đại dương mênh mông không? Tiếng động khuấy động sự tò mò của cá mập hay sẽ đuổi chúng đi? Di chuyển thì có sao không? Một số báo cáo - tính cả của anh chàng Ecuador kia - chỉ ra rằng việc quẫy nước có thể khiến lũ cá mập sợ hãi bơi đi; một số khác lại cho rằng làm thế sẽ khiến chúng thêm hứng thú. Chẳng ai biết thực hư ra sao.

Năm 1958, Trưởng bộ phận Sinh học thuộc Phòng Nghiên cứu Hải quân, Sidney R. Galler, đã tìm cách trả lời các câu hỏi trên. Ông tài trợ cho một ban nghiên cứu cá mập (có tên Ban Nghiên cứu Cá mập) nhằm lập một Hồ sơ Cá mập Tấn công Người, một cơ sở dữ liệu toàn cầu mà ngày nay có tên Hồ sơ Cá mập Tấn công Người Toàn cầu. Dữ liệu phân tích thống kê trong Hồ sơ Cá mập Tấn công trong chín năm của David Baldridge đã cung cấp cho thế giới - tôi đang trích dẫn từ một bài báo của Cơ quan Quản lý nghề Cá trên Biển - “gần như mọi thứ ta biết ngày nay về các vụ cá mập tấn công”. Phần lớn những thông tin còn lại đều đến từ các nghiên cứu được tài trợ bởi Phòng Nghiên cứu Hải quân trong những năm 1950 về thói quen săn mồi, tìm mồi và ăn mồi của cá mập. “Nếu như anh có một ý tưởng hay về nghiên cứu cá mập,” Baldridge nói với một tác giả chuyên nghiên cứu về lịch sử ngành nghiên cứu cá mập, xuất bản trên tạp chí Nghề Cá, “hãy đến gặp Sid”.

Albert L. Tester đã đến gặp Sid. Ông có một ý tưởng thú vị, cùng với ba loài cá mập sinh sống tại vùng biển ngay bên ngoài cửa nhà, và cũng có hai bể chứa nước biển dài 15 m để tiến hành thí nghiệm. Tester đã làm việc tại Phòng thí nghiệm Sinh vật Biển trên đảo Eniwetok thuộc quần đảo Marshall. (Eniwetok là một trong những đảo đá san hô vòng, cùng với Bikini[3], là nơi mà Mỹ đã thử bom hạt nhân; phòng thí nghiệm này thu thập dữ liệu về ảnh hưởng của bụi phóng xạ đối với các sinh vật biển - và, hẳn bạn sẽ để ý nếu theo dõi các trang cáo phó trong những thập niên sau đợt thử bom, đối với cả các nhân viên làm việc ở Eniwetok nữa.) Tester bắt đầu nghiên cứu để tìm ra thứ cụ thể nào đã lôi kéo cá mập tới vị trí con mồi. Có phải cá mập săn mồi chủ yếu nhờ thị giác hay mùi? Nếu là mùi thì mùi gì? Mùi của thứ gì? Nếu việc đuổi cá mập không phải là một lựa chọn hợp lý, niềm hy vọng lớn nhất của các phi công hoặc thủy thủ chính là tránh thu hút lũ cá mập ngay từ đầu.

Hãy bắt đầu với tin tốt trước. Nước tiểu của con người không hề thu hút cá mập. Khi đổ xuống nửa thìa hay một phần ba chén nước tiểu, lũ cá mập vây đen trong bể thí nghiệm của Tester chẳng quan tâm. Chúng không bị kích động cũng chẳng bỏ đi, mà chỉ quay đầu nhanh chóng, hay “xoáy thân”, tôi đoán đây là cách nó chứng tỏ sự khó chịu khi phát hiện ra nước tiểu trong bể bơi mà lại không có lông mày để cau lại hay vai để nhún.

Tương tự, mồ hôi của người cũng không khiến cá mập hứng thú. Trong nhà nuôi cá mập nóng và ẩm đến mức Tester và những sinh viên sau đại học của ông có thể lấy những miếng bọt biển thấm mồ hôi trên cơ thể của họ rồi vắt vào một xô nước biển, sau đó đổ nhẹ nhàng vào trong bể cá. Nói chung, lũ cá mập, và những ai đổ lỗi cho chúng đều nhẹ nhàng bỏ đi. Mồ hôi của Albert L. Tester đặc biệt có hiệu quả đuổi chúng đi. Với nồng độ ở mức một phần triệu, mồ hôi của ông khiến một con cá mập vây đen nuôi nhốt quay đầu và “nhanh chóng bơi ra khỏi chỗ đó”.

Mồ hôi trên toàn bộ cơ thể - thứ nước làm mát tiết từ các tuyến dưới da - khác với mồ hôi tiết ra khi ta căng thẳng. Nếu Tester làm điều tương tự như các bạn của tôi đã làm với tôi tại Trung tâm Nghiên cứu Mùi Monell - thu thập thứ dịch tiết dưới nách của một người đang bị căng thẳng - thì các kết quả thí nghiệm có lẽ đã khác. Lũ cá mập có thể phát hiện ra mùi của sự lo lắng, yếu ớt và tấn công.

Đó chính xác là điều xảy ra khi con mồi ưa thích của cá mập trở nên căng thẳng. Cá mập cảm nhận được một bữa ăn dễ dàng và tiếp cận để tấn công. Tester đã quấy rối một xô cá mú bằng cách “đe dọa chúng bằng một cây gậy chuyển động” (có thể xem là hành động “trêu chọc”). Bơm nước từ cái xô đó - tên khoa học cho thứ nước này: “nước cá mú căng thẳng” - vào bể cá mập đã khuấy động một “phản ứng săn mồi hung tợn”. Vì lũ cá mú ở ngoài bể, chúng tôi biết rằng không phải hình ảnh hay âm thanh do chúng gây ra là thứ kích thích bản năng săn mồi của cá mập. Nó hẳn là một loại chất hóa học tiết ra từ da hay mang của loài cá này. Và không phải bất kỳ mùi nào của cá mú cũng có tác dụng. Khi “nước cá mú bình tĩnh” được đổ vào bể, lũ cá mập hầu như không hề để ý.

Máu cá và ruột cá - giống như hai chiếc kèn trumpet nhận biết sự tuyệt vọng của lũ cá đang thổi hết cỡ - cũng kích hoạt những động thái săn mồi hung tợn. Baldridge thấy rằng tín hiệu hóa học này mạnh đến nỗi lũ cá mập có thể phát cuồng đến mức chén cả một con chuột cống - vốn bình thường không phải là thức ăn ưa thích của chúng - nếu như lông của nó được phết đều “hỗn hợp thịt cá đối xay với nước” (những con cá đối xay nhuyễn với một lượng nước nhỏ). Trong một nghiên cứu khác, thậm chí cá mập còn tấn công cả miếng bọt biển được nhúng vào một bát dịch tiết của cá. “Cá mập,” Baldridge viết, “chắc chắn sẽ tấn công bất kỳ thứ gì có dính tới ‘dịch’ cá.”

Trong đó có cả những người đi xiên cá. Cụ thể thì đối tượng dễ gặp nguy hiểm là những người bơi loanh quanh với thành quả họ bắt được treo ở thắt lưng hay kéo theo bằng dây. Tại thời điểm Baldridge phân tích đánh giá, Hồ sơ Cá mập Tấn công Người đã ghi nhận 225 vụ có nhắc đến những con cá bị thương và (hoặc) máu hay ruột cá. “Lũ cá mập,” Tester trầm trồ, “có khả năng lần theo và đổ dồn về tấn công một con cá bị hoảng loạn (ví dụ như những con cá vẫn sống với miệng mắc vào lưỡi câu nhưng không bị thương bất kỳ chỗ nào khác) với tốc độ và độ chính xác phi thường.”

Hoạt động xiên cá có thể lý giải vì sao 17% số nạn nhân bị cá mập tấn công lại mặc đồ lặn. Giả thuyết ban đầu cho rằng lũ cá mập nhầm lẫn người mặc đồ lặn màu đen với hải cẩu. Điều đó cũng có thể đúng, nhưng với hoạt động xiên cá thì nhiều khả năng những phụ kiện của bộ đồ lặn - mũi lao và thắt lưng treo đầy những con cá đang rỉ máu - mới là thứ thu hút cá mập.

Cá chết cũng báo hiệu giờ ăn đã đến. Tester đã thử cho cá mập vây đen và cá mập sọc trắng tiếp xúc với đủ loại thịt tươi: cá ngừ, lươn biển, cá mú, cá chỉ vàng, cá vẹt, trai khổng lồ, bạch tuộc, mực và tôm hùm. Tất cả chúng đều được anh liệt vào hàng thức ăn ưa thích. Cá mập có vẻ không thích sự mạo hiểm. Chúng thích những con mồi không có khả năng phản kháng. Bị thương thì tốt, chết còn tốt hơn.

Điều làm bạn còn thắc mắc về khả năng đuổi cá mập của thịt cá mập phân hủy cũng là điều khiến Tester thắc mắc. Anh thu thập mẫu “chất có khả năng đuổi cá mập” từ một ngư dân, một mẫu từ phòng thí nghiệm nghề cá và một mẫu được nhóm của anh chuẩn bị bằng cách để thịt cá nhám búa và cá mập hoa ngoài trời dưới cái nóng nhiệt đới trong một tuần. Anh không thấy tác động đuổi cá mập nào từ chúng. Ngược lại, nhiều lúc chúng lại lôi kéo lũ cá mập đến. “Kết quả của chúng tôi… có vẻ như khác biệt hẳn với các kết quả của Springer… không thể đưa ra lời giải thích nào thuyết phục cả.” Có lẽ Tester chẳng màng đến sức hút mãnh liệt của tiền lại quả từ các nhà máy chế biến cá mập.

Cá như nào thì người như vậy. Hết lần này đến lần khác, các báo cáo về cá mập tấn công ở Thế chiến II đều nói đến việc những tử thi bị cá mập tấn công. Một thủy thủ trôi dạt trên biển có thể dùng chân đá hoặc khuấy nước để xua đuổi một con cá mập tò mò. (Baldridge nhận thấy ngay cả một cú đá bằng chân sau của một con chuột đồng đang bơi vào mũi cá mập cũng đủ để kích hoạt “phản xạ giật mình và khiến nó ngay lập tức chuồn mất.”) “Lũ cá mập chỉ thích nhắm đến người chết,” lời của một người sống sót được trích trong cuốn sách phổ biến nói về vụ chìm tàu USS Indianapolis năm 1945, một sự kiện thường được nêu ra trong các cuộc thảo luận về cá mập tấn công trong quân đội. “Nói thật là trong suốt 110 giờ tôi ngâm mình trong nước,” Đại tá Hải quân Lewis L. Haynes nhớ lại, trong một buổi kể chuyện về việc bị cá mập tấn công do Cục Y tế và Phẫu thuật Hải quân Mỹ tổ chức, “tôi không hề thấy bất kỳ ai bị cá mập tấn công…” Chúng dường như, ông nói, “thỏa mãn với các tử thi.” Haynes nói rằng 56 tử thi bị cắn xé thậm tệ đã được vớt lên nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy trong đó có những xác bị cắn khi vẫn còn sống.

Vậy tại sao lũ cá mập lại cứ bám theo quanh quẩn xuồng cứu sinh? Vì những thứ bên dưới đáy xuồng. Các đàn cá nhỏ bơi hờ hững ở đó, để núp bóng râm hoặc để ăn những sinh vật biển nhỏ hơn tụ lại dưới bóng râm của xuồng. Một thủy thủ thời Thế chiến II nhớ lại: “Những con cá lớn đến để ăn cá tuế, rồi lũ cá lớn hơn lại đến để ăn chúng; cuối cùng là mấy anh chàng với vây lưng khác thường tới để xem sự hỗn loạn ở đó là gì.” Thêm một điều nữa, bởi vì tôi thích nó: “Lũ cá mập lặn xuống và bơi ngay phía dưới xuồng cứu hộ… chúng tôi cố ngồi thật yên,… và một chàng kỹ thuật viên ra-đa đã phải cố nhịn không dám đại tiện qua mạn xuồng vì sợ lật. Con cá mập lặp lại hành động này vài lần, nhưng có vẻ không lần nào là vì chúng tôi cả.”

Câu chuyện về cá mập vẫn tiếp tục như thế. Tôi biết có một trường hợp duy nhất được ghi nhận gần đây về lính Hải quân bị cá mập cắn. Năm 2009, một con cá mập bò mắt trắng đã ngoạm đứt tay và chân - bằng một phát đớp - của một người nhái Úc trong cuộc diễn tập chống khủng bố tại cảng Sydney. Tôi hỏi chuyên viên quan hệ công chúng của Bộ Chỉ huy Chiến tranh Đặc biệt Hải quân, Joe Kane, về việc cá mập tấn công lính SEAL Hải quân. “Cô tiếp cận vấn đề sai hướng rồi,” anh nói. “Câu hỏi không phải là ‘Lính SEAL có cần thuốc đuổi cá mập hay không?’, mà là ‘Lũ cá mập có cần thuốc đuổi lính SEAL hay không?’”

Lực lượng Hải quân hiện đại của Mỹ hoàn toàn không có bài huấn luyện chính thức đối phó với tình huống cá mập tấn công nào. Một người nhái nhớ lại rằng anh được bảo là lặn xuống từ từ và trốn ở đáy biển nếu cảm thấy mối đe dọa. Một bộ phim huấn luyện của Không quân năm 1964 có tên Tự vệ trước cá mập đã khuyên những phi công bị bắn rơi hãy thổi bong bóng hay hét xuống nước. Tôi có hỏi một thợ chụp ảnh cá mập kỳ cựu, Robert Cantrell, xem anh nghĩ gì về lời khuyên này. Cantrell đã bơi giữa những con cá mập, không cần lồng bảo vệ, trong ba thập kỷ. Anh sẵn sàng dùng tính từ “hoạt bát” để miêu tả một đàn cá mập xanh đang kích động. Câu trả lời của anh, cũng giống với điều mà Baldridge và Tester vẫn thường đề cập, là tùy thuộc vào loài cá mập. Việc hét vào nước có thể nhanh chóng đuổi được một con cá mập bò mắt trắng, Cantrell nhấn mạnh, nhưng lại không có tác dụng với cá mập hoa. Bong bóng khí khiến lũ cá mập xanh sợ hãi, còn các loài cá mập khác lại chẳng thèm để ý.

Gợi ý cuối cùng của Không quân giống như một lời đánh đố: “Hãy xé một tờ giấy thành nhiều mảnh vụn và rải chúng xung quanh.” Tôi đoán, mục đích của hành động này là làm cho lũ cá mập mất tập trung - hoặc để làm phân tâm chính anh chàng thủy thủ, lúc này đang dồn tâm trí vào thử thách tìm các tờ giấy khi đang trôi lềnh bềnh giữa biển. Trong một chuyến đi biển của Cantrell, anh ném vài cái bánh mì vòng bị ôi xuống nước. Cá mập hoa bơi đến ngay lập tức; cá mập bò mắt trắng thì lại bỏ qua. Lời khuyên Cantrell dành cho anh chàng thợ lặn đụng độ một con cá mập ư? “Hãy tận hưởng trải nghiệm đó.”

Bây giờ chúng ta sẽ chuyển sang một câu hỏi mà rất nhiều thủy thủ quan tâm: liệu có đúng là máu người thu hút cá mập không? Các kết quả thí nghiệm của Baldridge và Tester không nhất quán. Nhiều lúc lũ cá mập biểu hiện như chúng bị hấp dẫn bởi máu; nhưng nhiều lúc khác chúng lại tránh xa vị trí thí nghiệm. Tester nghi ngờ độ tươi của máu là yếu tố quyết định. Trong thí nghiệm của ông, cá mập vây đen và cá mập sọc trắng bị thu hút mạnh bởi máu được lấy ra trong khoảng một hoặc hai ngày - hòa loãng vào nước biển với nồng độ một phần một triệu phần trăm. Nhưng phân tích của Baldridge trong Hồ sơ Cá mập Tấn công Người lại cho thấy: chỉ có 19 trong số 1.115 vụ cá mập tấn công là nạn nhân có chảy máu lúc bị tấn công. “Nói chung, khó mà chấp nhận,” Baldridge kết luận, “ý kiến cho rằng máu người thu hút mạnh và làm cho cá mập kích động khi rất nhiều nạn nhân bị cá mập tấn công với một nhát cắn duy nhất rồi bỏ đi không tấn công tiếp dù cho sau đó nạn nhân bị chảy máu như suối do vết thương quá lớn.”

Trong thí nghiệm của Baldridge, ông cho bốn loài cá mập thực đơn mới lạ là con chuột cống nuôi trong phòng thí nghiệm đang chảy máu bơi trên mặt nước. Giống như những loài thú khác, máu chuột cống có cùng độ hấp dẫn (hay không hấp dẫn) đối với cá mập tương đương với máu chúng ta. Đúng như ông dự đoán, lũ cá mập không có hứng thú gì.

Điều quan trọng cần chú ý cuối cùng là cá mập, cũng giống như hầu hết các loài động vật khác, có tấn công hay không còn phụ thuộc vào con mồi. Nếu như bạn trông khác hay có mùi không giống với bữa ăn, bạn sẽ không bị coi là bữa ăn. Động vật săn mồi đã tối ưu hóa khả năng phát hiện ra những mùi của con mồi chúng muốn ăn. Cá mập không thích ăn thịt người. Dù cho một con cá mập có thể phát hiện ra máu người thì chúng - trừ phi đang quá đói - không có động cơ để tìm ra nguồn tỏa ra mùi máu đó.

Sự thực này sẽ làm an lòng những phụ nữ ưa thích bơi lội trên biển nhưng lại lo lắng khi bơi lúc “đến tháng”. Nhưng máu kinh nguyệt lại rất khác, kiểu như làm cho lũ cá mập sợ hãi theo một cách độc nhất vô nhị vậy. Chúng ta hãy tạm rời phòng nghiên cứu cá mập vì Hải quân Mỹ những năm 1960 không hứng thú nghiên cứu máu kinh nguyệt của phụ nữ. Tuy nhiên Cục Công viên Quốc gia lại quan tâm. Năm 1967, hai phụ nữ, một trong hai người đang đến kỳ kinh, bị gấu nâu giết hại trong Vườn Quốc gia Glacier. Người ta phỏng đoán rằng chính máu đã kích thích gấu tấn công. Các nhà sinh vật học nghiên cứu động vật hoang dã không tin điều đó, và một trong số họ, Bruce Cushing (đã được người khác hào hứng trích dẫn sai tên là Bruce Gushing, trong nghiên cứu về gấu tấn côngmáu kinh nguyệt tiếp theo), bắt đầu tiến hành nghiên cứu. Cushing chọn nghiên cứu trên gấu Bắc Cực, vì loài này hầu như chỉ ăn hải cẩu, và vì nó giúp ông thu được những thông tin quý giá làm cơ sở so sánh với sự kích thích của động vật với phụ nữ đang có máu kinh.

Nếu như bạn đặt một miếng mỡ hải cẩu trước một cái quạt và thổi mùi hướng về phía chuồng nhốt một con gấu Bắc Cực, nó sẽ “bộc lộ hành vi cực đoan”, theo như cách gọi của Cushing. Con gấu sẽ ngóc đầu và đánh hơi, chảy nước dãi đầm đìa rồi đứng dậy và bắt đầu bước đi tìm mồi, thở phì phì và rên rỉ. Chỉ có một vật khác mà Cushing đã đặt trước quạt có thể khiến con gấu Bắc Cực rên rỉ: một chiếc tampon của phụ nữ đã qua sử dụng. Gà, phân ngựa, xạ hương hay tampon chưa sử dụng đều không khiến con gấu phản ứng như thế. Thứ tiếp theo khiến con gấu chú ý là các phụ nữ đang đến kỳ kinh. Họ không đứng trước quạt mà ngồi trên một chiếc ghế đối diện chuồng gấu, theo một tư thế “bị động”, như thể đang ngạc nhiên về sự lạ lùng của cuộc sống trên Trái đất vậy. Cushing cũng thử nghiệm với máu người thông thường; nó hoàn toàn không hề khiến bốn con gấu Bắc Cực trong thí nghiệm có phản ứng kích động nào.

Nói cách khác, không phải máu khiến chiếc tampon kích thích gấu Bắc Cực. Nó là thứ gì đó… trong bộ phận sinh dục nữ. Một loại dịch tiết nào đó, thứ lỗi cho tôi, có mùi giống như hải cẩu. Nghe hợp lý đúng không? Khi một công ty sản xuất dung dịch vệ sinh phụ nữ thuê một phòng thí nghiệm để kiểm tra hiệu quả của một sản phẩm có mùi giống như mùi kinh nguyệt, thứ mùi tiêu chuẩn được sử dụng cho mục đích này được biết đến với cái tên “amin cá”.

Thứ mùi âm đạohải cẩu rất nặng tỏa ra từ chiếc tampon này kích thích đến nỗi thậm chí con gấu Bắc Cực còn không nhận ra là nó không có vị như hải cẩu. Trong 42/52 lần thí nghiệm, con gấu Bắc Cực, khi tiếp xúc với một chiếc tampon đã sử dụng treo trên thanh đỡ (thuật ngữ khoa học: “thanh treo tampon đã qua sử dụng”) đã ăn hoặc “nhai nó ngấu nghiến”. Chỉ có thịt hải cẩu mới có thể khiến con gấu lần nào cũng giật từ giá xuống và ăn. Khăn giấy nhúng vào máu thông thường - cũng được gắn chặt trên thanh đỡ giống như một chiếc đầu lâu được đóng lên cây để cảnh cáo những nhà thám hiểm rừng rậm dại dột - chỉ bị gấu ăn ba lần.

Kết quả thí nghiệm này cho ta biết điều gì về cá mập? Phụ nữ có nên lo lắng không? Thật khó nói. Lũ cá mập thích thịt hải cẩu đến mức nào? Liệu lũ cá mú chết có mùi giống như tampon đã sử dụng không? Không ai biết. Nếu tôi đang đến kỳ thì tôi sẽ ngồi nguyên trên ghế vậy.

Cushing kết luận bài báo với phỏng đoán rằng vì gấu Bắc Cực thích tampon đã qua sử dụng, nhiều khả năng những loài gấu khác cũng thích. Tuy nhiên, gấu, cũng giống cá mập, có rất nhiều loài khác nhau. Những con gấu rừng không rành về những động vật biển có mùi tanh như gấu Bắc Cực. Gấu nâu thích cá hồi, nhưng chúng thích ăn tươi hơn. Gấu đen lại hay bới rác, nên không ai biết khẩu vị của chúng đã thay đổi như thế nào sau rất nhiều năm.

Về vấn đề này, Cục Kiểm lâm Mỹ sẽ giúp chúng ta. Nếu bạn đổ rác tại một bãi rác ở Minnesota vào ngày 11 tháng Tám năm 1988, bạn có thể được chứng kiến một cảnh tượng rất đáng chú ý. “Chúng tôi buộc… những chiếc tampon [đã qua sử dụng] vào sợi dây cước và ném về phía những con gấu hay bới rác,” Lynn Rogers và hai đồng nghiệp, tại Trạm thí nghiệm Rừng vùng Trung-Bắc Mỹ, viết. Dù cho kỹ thuật ném dây mồi rất tốt - miếng mồi này “được ném qua người lũ gấu và kéo về ngay dưới mũi chúng” - 20 trong số 22 chiếc tampon bị bỏ qua. Đó cũng là số phận của những chiếc tampon đã qua sử dụng mà người ta “cầm” đưa cho lũ gấu đen vốn - có thể bây giờ người ta không làm nữa - là khách quen của một trạm cho ăn thí nghiệm. Loài gấu đen cũng bỏ qua: 5 chiếc tampon đã qua sử dụng được buộc chặt lại với nhau và ném thẳng vào một bầy gấu đen; cùng với những chiếc tampon (ngoại trừ một chiếc) nhúng đẫm dịch được ném ra giữa đường đi của một con gấu - bốn chiếc nhúng vào máu kinh nguyệt, một với máu thường và một nhúng vào mỡ bò. Mười trong số mười một con gấu đã “gí mũi rất gần để ngửi đám mồi, ăn chiếc tampon có nhúng mỡ bò và lại đi tiếp.”

Nhìn chung, đó là một lời khẳng định chắc nịch về sự an toàn của các Vườn quốc gia, và về sự kiên nhẫn của lũ gấu đen.

Frank Golden là tác giả chuyên viết về những điều sẽ xảy ra với cơ thể người bị ngâm trong nước biển lạnh một thời gian. Golden - như chính ông mô tả, bác sĩ “bơi giỏi như một hòn đá” - đã nghiên cứu về chủ đề này cho Trường Y học Không quân thuộc Hải quân Hoàng gia từ cuối những năm 1960 đến đầu những năm 1970. Trong cuốn sách kinh điển của ông Điều cần thiết để sống sót trên biển bày ra hàng loạt những điều kinh hoàng chờ đợi các quân nhân hay bất kỳ ai phải bỏ tàu hay lao máy bay xuống biển: phản xạ sốc lạnh, giảm thời gian nín thở, không thể bơi, chết đuối, chết đuối thứ cấp, loét vì nước muối, ngưng tim do nhiễm lạnh đột ngột, mắc kẹt dưới băng, hạ thân nhiệt trầm trọng, nhiễm dầu, nước ăn chân, máu rùa[4], cháy nắng, sóng tạt, tiêu chảy thẩm thấu, ngất khi được cứu, ngất khi được sưởi ấm. Không có điều nào là cá mập tấn công cả. Thậm chí cá mập cũng không được đưa vào cả phần phụ lục.

Đối với một thủy thủ trên tàu ngầm bị chìm, mọi mối nguy hiểm và nỗi khó chịu trên mặt biển ấy chỉ là một giấc mơ đẹp xa vời.

❀ ❀ ❀

[1] Sau hai tháng tiến hành dự án, Người đứng đầu Bộ chỉ huy tình báo Mỹ (AIC) đã viết thư cho Harold Coolidge hối thúc ông phải bổ sung thêm cả cá piranha vào danh mục này. AIC cần biết nhiều thông tin hơn về loài cá piranha. Nhiều năm trước, một nhà làm phim về thiên nhiên là Wolfgang Bayer đã kể cho tôi câu chuyện về khoảng thời gian ông được đưa tới rừng Amazon để ghi lại cảnh lũ cá piranha khát máu xơi tái một con chuột lợn nước. Bayer chăng lưới trên sông để nhốt một đàn cá piranha lại. Anh đã bắt luôn một con chuột lợn nước và dồn nó xuống sông. Không có chuyện gì xảy ra cả. Anh bỏ đói lũ cá piranha, vẫn không có chuyện gì xảy ra. Anh đành về nhà.

[2] Bạn có thể đã từng nghe những câu chuyện về công thức đuổi cá mập đầu tiên của Julia Child. Hồ sơ quá trình làm việc của bà ở OSS cho thấy đúng là bà đã làm việc cho người đứng đầu dự án chế tạo thuốc đuổi cá mập, Harold Coolidge, trong Văn phòng Thiết bị Cứu hộ Khẩn cấp vào năm 1944. Tuy nhiên, chức vụ của Child khi đó là Thư ký cao cấp và tên của bà cũng không hề xuất hiện trong các hồ sơ liên quan đến cá mập của OSS. Bản thân Child cũng chưa từng thừa nhận mình nghĩ ra công thức đuổi cá mập, mà chỉ nói có theo đuổi nó, và trộn các thành phần “trong một cái bồn tắm”. Điều này nghe khá lạ lùng, vì chưa từng có một mẫu chất đuổi cá mập nào được điều chế hay thử nghiệm ngay tại trụ sở của OSS nên tôi hoài nghi: không biết có phải bà đã chế ra thuốc đuổi cá mập thật, hay đó chỉ là một câu chuyện được bịa hoàn hảo?

[3] Người phát minh ra bộ đồ bơi hai mảnh, Louis Réard đặt tên cho nó là “bikini” bởi ông ta nghĩ nó sẽ tạo ra một hiệu ứng bùng nổ của dư luận. Tiền tố “bi” đã bị hiểu sai trong rất nhiều năm - những người hiểu sai nó bao gồm tác giả của những bộ monokini, tankini và trikini - rằng bikini có nghĩa là “Hai mảnh” trong thổ ngữ Marshall. Thực tế nó có nghĩa là “vùng dừa” - khiến cho khái niệm này, dù cố tình hay vô ý, thỏa đáng một cách tuyệt diệu.

[4] Triệu chứng này cũng không tệ lắm, trong trường hợp bạn biết phải làm gì. Một người Na Uy sống sót sau vụ đắm tàu có tên Kaare Karstaad, người đã được Harold Coolidge phỏng vấn khi đang nghiên cứu một cuốn sách mỏng hướng dẫn sống sót trên biển trong Thế chiến II, đã biết mình phải làm gì. Ông ta bắt được một con rùa ban đêm, khi máu của chúng “lạnh và tươi ngon”. “Uống nó ngay lập tức,” ông ta tư vấn, “trước khi máu bị đông.” Cũng đừng ngại mà quay lưng với các loại dịch lỏng khác trong cơ thể! Một con rùa nặng 22,5 kg có thể cung cấp “khoảng hai chén ‘nước dùng’ vốn… khá ngon và cũng không quá tanh”. Tuy nhiên, cá mập thì không “quá hung dữ”. (Hoặc rất ngon lành.)

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.