Tòa nhà Quốc hội trông như rộng đến khoảng một dặm vuông, là một mớ hỗn độn những dãy nhà chồng chất lên nhau và dựa vào nhau, cứ như thể việc xây dựng nơi đây vẫn diễn ra liên tục kể từ khi hành tinh này được khai hoang hơn tám mươi năm trước.
Chiếc xe dừng lại ở nơi có vẻ là một trong những lối vào chính. Tôi dặn người lái xe kiêm pháo thủ Thủy quân lục chiến đưa xe đi đỗ và ghé vào dự tiệc nướng, nhưng nhớ để lại lời nhắn với người gác cổng về vị trí của họ. Sau đó, Hoddy, Thrombley và tôi bước vào, được đón tiếp bởi vài cảnh sát Vệ binh New Texas, trong đó có viên sĩ quan từng đến Đại sứ quán. Họ dẫn chúng tôi tới phòng làm việc của Bộ trưởng Ngoại giao.
"Chúng ta trễ quá rồi," Thrombley lo lắng lẩm bẩm. "Tôi thực sự hy vọng chúng ta không bắt Ngài Bộ trưởng phải đợi lâu."
Nhìn sắc diện của ông ta, tôi e rằng chúng tôi đã làm thế thật. Vừa khi nhân viên lễ tân mở cửa cho chúng tôi, ông ấy liền bật dậy khỏi bàn làm việc, sải bước nhanh qua phòng với bàn tay dang sẵn.
"Xin chào buổi chiều, thưa ông Thrombley," ông chào bằng giọng luống cuống, lo lắng. "Và đây hẳn là Đại sứ mới. Còn vị này—" Ông chợt trông thấy Hoddy Ringo đang lững thững đi cuối hàng liền khựng lại, tay che miệng há hốc. "Trời đất ơi!"
Cho đến lúc đó, tôi vẫn đang hình dung về một hình mẫu kinh điển của người New Texas qua Hoddy Ringo và viên sĩ quan Vệ binh đã truy đuổi chúng tôi tới Đại sứ quán. Thế nhưng, con người có vẻ ngoài nhút nhát như một chú thỏ này lại hoàn toàn chẳng khớp với khuôn mẫu ấy một chút nào. Một kẻ ngoài hành tinh chắc cũng phải xếp ông ta vào một loài hoàn toàn khác biệt.
Thrombley giới thiệu tôi. Tôi giới thiệu Hoddy là thư ký riêng kiêm cố vấn của mình. Tất cả chúng tôi cùng bắt tay nhau; rồi Thrombley lục cặp lấy giấy ủy nhiệm đưa cho tôi, và tôi trao lại chúng cho Bộ trưởng Ngoại giao, ông William A. Palme. Ông ấy hầu như chỉ liếc qua, đoạn siết chặt tay tôi một lần nữa đầy nhiệt thành và lầm bầm gì đó về "niềm vinh hạnh khôn tả" và "hoàn toàn được chính phủ tôi chấp thuận."
Điều đó chính thức đưa tôi trở thành vị Đại sứ được công nhận và tiếp nhận tại New Texas.
Ông Palme hy vọng, hoặc nói là ông hy vọng, rằng chuyến lưu trú của tôi ở New Texas sẽ kéo dài và tốt đẹp. Chỉ có điều trông ông có vẻ không chắc chắn lắm về điều đó. Ánh mắt ông cứ dán chặt vào khẩu súng bên hông tôi với nỗi kinh hoàng đầy vẻ bị thôi miên. Mỗi lần nhìn trúng báng súng của bộ Krupp-Tattas, ông lại quả quyết giật phắt tầm nhìn đi nơi khác.
"Và giờ đây, chúng ta phải đưa ông đến diện kiến Tổng thống Hutchinson; ngài ấy rất sốn sang muốn gặp ông, thưa ngài Silk. Xin mời ông đi theo tôi..."
Bốn hoặc năm tên Vệ binh nãy giờ vẫn vất vưởng ngoài hành lang liền chuyển động theo sau khi chúng tôi hướng về phía thang máy. Dù chúng tôi bước vào tòa nhà ở một tầng chỉ cách mặt đường vài bước chân, nhưng từ hành lang ngoài văn phòng Bộ trưởng Ngoại giao, chúng tôi lại đi xuống tận ba tầng hầm để đến một căn phòng rộng lớn. Sàn bê tông nơi đây vương đầy vết dầu loang lổ, hệt như có xe cộ vẫn thường xuyên ra vào. Nơi này rộng khoảng một trăm feet và dài tới hai hoặc ba trăm feet. Ánh sáng ban ngày lọt qua những cánh cửa mở toang ở phía cuối phòng. Khi chúng tôi tiến lại gần, đội Vệ binh tản ra hai bên và đi trước dẫn đường, tôi nghe thấy những âm thanh náo loạn chẳng khác nào cái chợ vỡ vọng vào từ bên ngoài—tiếng hò hét, ca hát, tiếng nhạc nhảy, đan xen với những phát súng nổ đì đùng.
Khi đến được cánh cửa ở cuối phòng, chúng tôi bước ra một đầu của một quảng trường hình chữ nhật rộng lớn, dài ít nhất năm trăm thước. Phần lớn sự ồn ào náo nhiệt tập trung ở đầu bên kia, nơi hàng ngàn con người xúng xính trong những bộ trang phục đủ màu sắc đang chen chúc qua lại. Dường như có ít nhất hai đám đang nhảy múa vòng tròn theo tiếng nhạc từ các ban nhạc đang thi tài với nhau. Ở tận phía xa của quảng trường, lướt qua những đầu người nhấp nhô, tôi có thể nhìn thấy hệ thống khung và đường ray của một chiếc cần cẩu trên cao, sừng sững bên trên thứ trông giống như một lò luyện kim lộ thiên. Giữa chúng tôi và đám đông tụ tập đông đúc ấy, tại một khoảng trống đã được dọn sạch, hai chiếc xe tăng hạng trung được đệm dày bằng những tấm thảm đang lao vào húc và tìm cách lật nhào đối phương, trong khi đám đông khán giả quây quanh sát rạt hết mức có thể. Tiếng ồn thực sự làm đinh tai nhức óc, dù chúng tôi đang đứng cách tâm điểm của đám đông ít nhất hai trăm thước.
"Ôi trời, tôi luôn khiếp sợ những dịp thế này!" Palme lên tiếng.
"Đúng vậy, bất cứ chuyện quái quỷ gì cũng có thể xảy ra," Thrombley lí nhí.
"Trời ạ, đây mới đúng là một bữa tiệc nướng chính hiệu!" Hoddy hả hê. "Bây giờ tôi mới thực sự cảm thấy như ở nhà!"
"Lối này, thưa ngài Silk," Palme nói, dẫn đường cho tôi hướng về phần ngắn hơn của quảng trường nằm bên tay trái chúng tôi. "Chúng ta sẽ diện kiến Tổng thống và rồi..."
Ông ta nấc nghẹn.
"...rồi tất cả chúng ta sẽ cùng đến dự tiệc nướng."
Ngay chính giữa phần ngắn của quảng trường, bị lu mờ trước những khối thép, bê tông và kính khổng lồ bao quanh, tọa lạc một ngôi nhà cổ nhỏ nhắn làm bằng gạch mộc phơi nắng ấm áp. Tôi chưa từng nhìn thấy nó bao giờ, nhưng chẳng hiểu sao trông nó lại vô cùng quen thuộc. Và rồi tôi chợt nhớ ra. Dù chưa từng tận mắt chứng kiến, tôi đã từng thấy nó qua tranh ảnh rất nhiều lần; những bức ảnh chụp cảnh nó đang bị tấn công, với khói súng tuôn ra từ các khung cửa sổ và chiến lũy.
Tôi bèn giật tay áo Thrombley.
"Đó chẳng phải là một bản sao của pháo đài Alamo sao?"
Ông ta hoảng hốt. "Trời đất, ngài Đại sứ, xin đừng để ai nghe thấy ngài hỏi câu đó. Đó không phải bản sao đâu. Chính là pháo đài Alamo đấy. Alamo cơ mà."
Tôi đứng lặng ở đó một lát, ngắm nhìn nó. Tôi đang hoài niệm, và cuối cùng cũng thấu hiểu được ý nghĩa của những bài học lịch sử tâm lý về hiện tượng "Đóng băng Lãng mạn".
Họ đã tháo dỡ pháo đài tu viện nhỏ bé này xuống, từng viên gạch mộc một, cẩn thận xếp lên tàu vũ trụ, mang nó đến tận đây—cách Trái Đất tới bốn mươi hai năm ánh sáng—rồi cung kính dựng lại nó nguyên vẹn. Sau đó, họ đã xây dựng cả một thế giới và một triết lý xã hội xo quanh nó.
Đương nhiên, những kẻ dẫn đầu làn sóng con người bùng nổ vươn vào không gian sau phát minh về động cơ siêu không gian chính là những kẻ bất mãn, những kẻ bất tuân và đám người mộng mơ. Họ đã rời khỏi Trái Đất mang theo những giấc mộng về những thứ đã bị ném vào sọt rác của lịch sử, mang theo cả những bức tranh về những lối sống đã lụi tàn, hoặc thậm chí chưa từng thực sự tồn tại. Rồi tại cuộc đời mới, trên những hành tinh mới, họ bắt tay vào hiện thực hóa những giấc mơ và bức tranh ấy.
Và không ít lần, họ đã suýt thành công.
Hãy nhìn những người Texas này xem: họ đã bỏ lại phía sau thực tế lạnh lùng rằng chính tổ hợp công nghiệp hùng mạnh của tiểu bang họ mới là thứ giúp cho cuộc di cư trở thành hiện thực. Họ phớt lờ thực tế rằng cuộc sống của họ ở đây, trên hành tinh Capella IV, chỉ khả thi nhờ việc ứng dụng công nghệ công nghiệp hiện đại. Cái lễ hội đua ngựa dưới quảng trường kia kìa—đấu xe tăng thay vì thuần dưỡng ngựa hoang. Ở đây họ đang sống trong trạng thái đông cứng của một giấc mơ lãng mạn, một thế giới của những cao bồi lang thang và các vương quốc điền trang.
Thảo nào Hoddy lại chẳng thích những cuốn sách tôi từng đọc trên tàu. Chúng làm lay chuyển nền tảng của giấc mơ đó.
Có những tốp người đang di chuyển ở phần quảng trường tương đối yên tĩnh này, hầu hết đều hướng về phía khu vực tiệc nướng. Mười hoặc mười hai tên Vệ binh đang vất vưởng trước cửa Alamo, và cạnh đó, tôi thấy cả bộ quân phục xanh diện lễ của hai binh sĩ Thủy quân lục chiến của mình. Có một chiếc xe môtô ba bánh nhỏ đỗ ở đó, nơi họ đang tự ý lấy đồ ăn thức uống. Khi thấy chúng tôi tiến lại, hai tay lính Thủy quân lục chiến liền nhét vội những chiếc bánh mì sandwich vào tay vài tên Vệ binh rồi cố gắng đứng nghiêm chào.
"Cứ tự nhiên, cứ tự nhiên," tôi bảo họ. "Chơi vui vẻ nhé, các chàng trai. Này Hoddy, anh tranh thủ kiếm ít đồ ăn đi; tôi có lẽ phải vào trong đó khá lâu đấy."
Ngay khi đám Vệ binh nhìn thấy Hoddy, chúng vội vã buông tay phải đang cầm đồ ra. Hoddy cười toe toét với chúng.
"Cứ thong thả nhé các cậu," anh ta nói. "Tôi được luật bảo tồn thú rừng bảo vệ đấy nhé. Tôi là nhà ngoại giao hẳn hoi đấy."
Có vài tên Vệ binh đang lảng vảng bên ngoài cánh cửa phòng làm việc của Tổng thống và cả hai đều mang theo súng trường tự động, ngụ ý những điều chẳng mấy tốt đẹp gì.
Tôi từng chứng kiến Tổng thống của Liên minh Mặt trời đi dạo một mình quanh thành phố mái vòm Artemis, trông y hệt như một vị giáo sư trong khuôn viên trường đại học của ông ấy. Kể từ dạo đó, hoặc có lẽ là từ trước đó, tôi luôn có sự hoài nghi lành mạnh đối với những chính phủ mà các vị lãnh đạo phải bao vây xung quanh mình bằng một đám cận vệ.
Thế nhưng, Tổng thống của New Texas, John Hutchinson, lại chỉ có một mình trong phòng khi chúng tôi được dẫn vào. Ông đứng dậy và bước vòng qua bàn làm việc để chào đón chúng tôi, một người đàn ông gầy gò, vai gù, khoác chiếc áo khoác thêu viền vàng đen. Ông ta có đôi môi mỏng mím chặt và ánh mắt như đang quan sát mọi ngóc ngách trong phòng cùng một lúc. Dưới lớp áo khoác, ông mang một cặp súng ngắn nhỏ trong chiếc bao da đeo chéo trước ngực, và tay lúc nào cũng kè kè đặt gần bụng.
Ông ta vừa giống, lại vừa không giống vị Bộ trưởng Ngoại giao. Cả hai đều mang dáng vẻ của những con thú bị săn đuổi; nhưng nếu Palme là một chú thỏ, sẵn sàng hoảng hốt cắm cổ bỏ chạy ngay khi ngửi thấy mùi nguy hiểm đầu tiên, thì Hutchinson lại là một con mèo nghe thấy tiếng chó săn sủa gầm gừ—sẵn sàng tháo chạy nếu có thể, hoặc nhe nanh vờn lại nếu buộc phải làm thế.
"Chào buổi chiều, ngài Silk," ông nói, bắt tay tôi sau màn giới thiệu. "Tôi thấy cậu mang theo vũ khí đấy; khôn ngoan lắm. Cậu sẽ chẳng thể đứng đây hôm nay nếu tội nghiệp Silas Cumshaw cũng khôn ngoan được như cậu. Dù sao thì đó cũng là một người vĩ đại; một chính trị gia khôn ngoan và có tầm nhìn xa. Ông ấy và tôi là bạn thâm giao đấy."
"Cậu có biết ngài Silk đã dẫn theo ai làm vệ sĩ không?" Palme hỏi. "Hoddy Ringo đấy!"
"Lạy Chúa! Tôi cứ tưởng hành tinh này đã tống tiễn được hắn rồi cơ chứ!" Vị Tổng thống quay sang tôi. "Dù sao thì cậu cũng có được một tay súng cừ khôi đấy, thưa ngài Đại sứ. Một gã tuyệt vời để canh chừng sau lưng cho cậu. Nhưng khối kẻ ở đây sẽ chẳng thèm cảm ơn cậu vì đã đưa hắn trở lại New Texas đâu."
Ông nhìn đồng hồ. "Chúng ta vẫn còn chút thời gian để làm một ly nhỏ trước khi ra ngoài, thưa ngài Silk," ông nói. "Cậu có muốn dùng cùng tôi không?"
Tôi gật đầu đồng ý và ông lấy từ trong bàn làm việc ra một chai rượu siêu bourbon cùng bốn chiếc ly. Palme với lấy mấy chiếc cốc thủy tinh rồi nhấc bình nước đá từ máy làm lạnh tới.
Tôi nhận ra vị Bộ trưởng Ngoại giao New Texas đã rót đầy tràn chiếc ly uống rượu ba ounce và nốc cạn nó trong một hơi. Trông ông ta có vẻ như dòng dõi gia phả toàn những bà cô già chưa chồng, thế mà lại dám nuốt những ngụm rượu nặng đô có thể đánh gục cả một lão trùm lao động ở cảng vũ trụ.
Chúng tôi uống thêm ly nữa, chậm rãi hơn một chút, trò chuyện một hồi rồi Hutchinson tiếc nuối thông báo rằng chúng tôi phải ra ngoài để gặp gỡ mọi người. Khi bước ra ngoài, đội cận vệ của chúng tôi— gồm Hoddy, hai lính Thủy quân lục chiến, đám Vệ binh hộ tống từ phòng của Palme tới, và đoàn tùy của Hutchinson—bao bọc xung quanh, và chúng tôi rẽ lối băng qua đám đông giữa quảng trường. Tiếng ồn ào—những tiếng thét chói tai, tiếng còi, tiếng chuông bò, tiếng súng lục, âm thanh hỗn tạp của hai ban nhạc, cùng tiếng đồng ca mà tôi chỉ kịp nghe lọt tai vài từ: *Những bầu trời tự do ở phía trên đầu các bạn!*—kinh hoàng chẳng khác gì đêm giao thừa ở Manhattan, Nairobi hay New Moscow trên Trái Đất.
The skies of freedom are above you!
"Đừng coi tất cả những thứ này là sự tôn vinh cá nhân dành riêng cho cậu nhé, thưa ngài Silk!" Hutchinson hét vào tai tôi. "Trên hành tinh này, nói theo kiểu của Nietzsche, một bữa tiệc nướng linh đình có thể thánh hóa bất kỳ mục đích nào!"
Điều đó lúc ấy khiến tôi ngạc nhiên. Sau này tôi mới phát hiện ra rằng John Hutchinson là một trong những học giả hàng đầu tại New Texas và từng giữ chức chủ tịch của một trường đại học nào đó ở đây. Trường Đại học Cơ Đốc giáo New Texas thì phải.
Khi chúng tôi bước lên bục, đến gần các lò nướng BBQ đến mức cảm nhận rõ sức nóng phả ra từ chúng, ai đó đã ném thứ gì đó nghe như pháo chống tăng năm mươi mi-li-mét liền tù tì năm sáu phát. Hutchinson chộp lấy chiếc micro và gào lên vào đó: "Thưa các quý bà và quý ông! Xin vui lòng giữ trật tự!"
Tiếng ồn bắt đầu nhỏ dần, chậm rãi, cho đến khi tôi nghe rõ một giọng nói cất lên từ đám đông phía dưới:
"Im mồm đi mấy tên khốn kiếp kia! Bọn tao không thể ăn cho đến khi chuyện này kết thúc đâu đấy!"
Hutchinson giới thiệu tôi bằng rất ít từ. Tôi ngầm hiểu rằng những bài phát biểu dài dòng tại các bữa tiệc nướng không được lòng người dân New Texas cho lắm.
"Thưa các quý bà và quý ông!" Tôi hét vào micro. "Dù rất vinh hạnh trước vinh dự này, nhưng ở đây có một nhân vật xứng đáng nhận được sự chú ý của quý vị hơn cả tôi; một người mà tôi cũng đang bày tỏ lòng kính trọng. Cậu ta đang nằm kia trên bếp lửa, và tôi muốn có một miếng thịt của cậu ta ngay khi có thể!"
Câu nói ấy nhận được một tràng pháo tay cuồng nhiệt. Bên cạnh bình nước có để sẵn một chai rượu siêu bourbon. Tôi làm bộ làm tịch hất hết nước trong ly đi, tự rót một ngụm lớn thứ dung dịch ăn mòn đó rồi nốc cạn.
"Vì Chúa, chúng ta ăn thôi nào!" Tôi dứt lời. Rồi tôi quay sang Thrombley, người đang có biểu cảm hệt như một linh mục vừa thấy vị giám mục nhổ nước bọt vào chậu đựng nước thánh. "Bám sát tôi vào," tôi thì thầm. "Nhắc tên mấy yếu nhân địa phương và các thành viên khác trong Đoàn Ngoại giao cho tôi nhé." Thế rồi tất cả chúng tôi bước xuống bục, một ban nhạc trèo lên và bắt đầu tấu lên một trong những khúc "ballad cao bồi" chói tai từng xuất hiện ở Manhattan vào khoảng giữa thế kỷ XX.
"Bánh sandwich sẽ tới ngay thôi, thưa ngài Đại sứ," Hutchinson hét lớn—thực chất là thì thầm—vào tai tôi. "Đừng ngại ngùng gì việc vừa bắt tay vừa cầm chiếc bánh sandwich trên tay kia; đó là thông lệ ở đây đấy. Cậu vừa tung ra cú đúp tuyệt vời trên bục kia đấy. Màn chơi chữ với ly rượu vừa rồi quả thực vô cùng xuất sắc!"
Những chiếc bánh sandwich—những khối thịt khổng lồ trộn gia vị cay nồng, được cuộn trong loại bánh ngô mỏng nào đó—đã được mang đến và tôi cắn ngập răng vào một cái.
Tôi đã ăn thịt bò siêu cấp suốt cả cuộc đời mình, loại đã được đông lạnh hoặc chiếu tia điện tử để bảo quản trong quá trình vận chuyển, và giờ đây tôi mới phát hiện ra rằng trước đó mình chưa từng thực sự được ăn thịt bò siêu cấp đúng nghĩa. Tôi xử lý xong chiếc bánh sandwich đầu tiên trong thời gian nhanh đến bất ngờ và đang chuẩn bị cắn sang cái thứ hai thì đám đông bắt đầu ùn ùn kéo đến.
Đầu tiên là Đoàn Ngoại giao, một tập hợp quen thuộc những kẻ kỳ dị, cả con người lẫn những sinh vật khác loại...
Đó là vị Đại sứ đến từ Tara, trong bộ đồ may bằng thứ chất liệu mà hành tinh của ông ta sản xuất để thay thế cho vải tweed xứ Ireland. Đại sứ quán của ông ta, nếu giống với những nơi khác tôi từng thấy, sẽ là một căn nhà tranh quá khổ với những bức tường quét vôi trắng và mái lợp ranh, kèm theo một bát sữa đặt trước cửa để cúng Đám Người Tí Tôn...
Vị Đại sứ đến từ Alpheratz II, hành tinh của những người theo chủ nghĩa dân tộc Nam Phi, với bộ râu quai nón rậm rạp, chiếc mũ phớt lỗi thời và bộ đuôi tôm trang trọng. Họ là một lũ người đầy bất mãn. Họ đã dấn thân vào không gian để thực hành chế độ phân biệt chủng tộc apartheid, thế nhưng lại định cư trên một hành tinh chẳng có giống loài thông minh nào khác để mà tỏ ra bề trên...
Vị Đại sứ theo giáo phái Mormon đến từ Deseret—Delta Camelopardalis V...
Vị Đại sứ đến từ Spica VII, một gã lùn vui tính, với cái đầu trông giống loài hải cẩu, đôi tay dài, đôi chân ngắn và chiếc đuôi hệt như loài chuột túi...
Vị Đại sứ đến từ Beta Cephus VI, người suýt có thể lọt thỏm giữa loài người nếu như máu của ông ta mang gốc đồng thay vì gốc sắt. Da ông ta có màu xanh sẫm và tóc thì xanh rờn...
Tôi bắt đầu nhận ra mình cần phải đính chính lại ấn tượng ban đầu rằng Thrombley hoàn toàn là một gã khờ ngớ ngẩn. Ông ta đứng sát bên khuỷu tay trái của tôi, thì thầm tên tuổi, chính phủ và hành tinh quê hương của các vị Đại sứ khi họ tiến đến, đồng thời nhét vào tay tôi những mảnh giấy nhỏ ghi lại phiên âm chính xác những câu chào hỏi tôi sẽ dùng để đối đáp với họ bằng chính ngôn ngữ của họ. Tôi vẫn đang lúng túng đáp lại lời chào của Nanadabadian đến từ Beta Cephus VI thì ông ta thì thầm vào tai tôi:
"Họ tới kìa, thưa ngài. Tụi z'Srauff!"
Người z'Srauff có vóc dáng và ngoại hình tương đối giống con người, nếu bỏ qua một chi tiết là tổ tiên của họ là loài chó chứ không phải loài vượn. Đương nhiên, họ có phần hàm dài và hẹp hơn chúng ta, kèm theo bộ răng nanh của loài ăn thịt rõ mồn một.
Từng có những lời đồn thổi lan truyền rằng họ thích thịt người Trái Đất nướng tẩm gia vị còn hơn cả thịt bò siêu cấp nữa kìa.
Gã này tiến lên, chìa bàn tay ba ngón ra.
"Tôi rất vui được kết nối với đại diện Liên minh Mặt trời," hắn nói. "Tên tôi là Gglafrr Ddespttann Vuvuvu."
Thảo nào Thrombley lại để mặc hắn tự giới thiệu. Tôi đáp lại bằng thứ Tiếng Anh Cơ Bản mà hắn ta chịu thừa nhận là hiểu được:
"Tên tuổi của quốc gia vĩ đại các ngài đã vang danh đến tai tôi từ trước. Những câu chuyện chúng tôi kể cho con trẻ nghe về các ngài luôn được xếp vị trí hàng đầu trong sách vở. Tôi hy vọng chúng ta sẽ có niềm vui lớn khi trở thành bạn của nhau."
Nụ cười của Gglafrr Vuvuvu có chút dao động trước lời bóng gió xa xôi về mấy trận đòn nhừ tử mà Hải quân Không gian của chúng ta từng giã cho các hạm đội z'Srauff tơi bời trong quá khứ. "Chúng ta sẽ còn chạm mặt nhau vô số lần ở những nơi như thế này," kẻ ngoài hành tinh đáp lời. "Tôi hy vọng khoảng thời gian ngài ở lại đây sẽ kéo dài và mang lại niềm vui cho trái tim ngài."
Rồi sức ép từ hàng người phía sau đã đẩy hắn ta dịch chuyển đi nơi khác. Các Bộ trưởng trong Nội các; các Thượng nghị sĩ và Hạ nghị sĩ; những nhân vật nổi tiếng, phần lớn được gọi là Thẩm phán thế này hay Đại tá thế nọ. Mọi thứ cứ mờ mịt nhòe đi, đến mức tôi phải mất một thoáng mới nhận ra mái tóc vàng óng ánh và vóc dáng kiều diễm ấy.
"Cảm ơn nhé! Tôi vừa gặp ngài Đại sứ xong." Giọng nói ngọt ngào ấy đang run lên vì cơn giận dữ bị kìm nén.
"Gail!" tôi thốt lên kinh ngạc.
"Bố em sắp đến dự tiệc nướng chưa, Gail?" Tổng thống Hutchinson đang hỏi.
"Chắc ông ấy sẽ tới đây bất cứ phút nào thôi. Ông ấy cử em đi trước từ khách sạn. Ông ấy muốn diện kiến ngài Đại sứ. Đó là lý do em nhập vào hàng người này đấy."
"Ồ, vậy hay là tôi giao phó ngài Silk cho cô chăm sóc một lúc nhé," Hutchinson nói. "Tôi phải đi giao thiệp một chút đây."
"Vâng. Cứ để mặc anh ta cho tôi!" cô nói với giọng đầy hằn học.
"Có chuyện gì thế, Gail?" tôi gặng hỏi. "Anh biết chứ,ẽ ra anh phải đón em ở cảng vũ trụ, nhưng mà—"
The skies of freedom are above you!
"Anh đã biến em thành một con ngốc xinh đẹp ở cảng vũ trụ đấy!"
"Nghe này, anh có thể giải thích mọi chuyện. Nhân viên đại sứ quán cứ khăng khăng bắt anh phải đi ngay..."
Ai đó cất tiếng hú chói tai ngay phía sau lưng tôi và bắn sạch băng đạn của một khẩu súng lục. Tôi thậm chí chẳng nghe nổi mình vừa nói thêm câu gì nữa. Tôi cũng chẳng nghe nổi cô ấy nói gì, chỉ biết đó là một câu bực dọc.
"Em phải nghe anh giải thích đã chứ!" tôi gí sát tai cô ấy gào lên. "Anh có thể giải thích mọi chuyện!"
"Tên ngoại giao nào mà chẳng giải thích được mọi chuyện!" cô hét trả lại.
"Này Gail, em đang kết án oan cho một người vô tội đấy!" tôi hét lớn với cô. "Anh có quyền được xét xử công bằng chứ!"
Ai đó trên bục bắt đầu nổ súng lục cách loa phóng thanh chỉ vài inch và âm thanh nghe chẳng khác nào một quả bom hydro phát nổ. Cô chộp lấy cổ tay tôi và kéo sền sệt tôi về phía cánh cửa nằm dưới gầm bục.
"Xuống đây!" cô hét. "Và tốt nhất là anh nên có lời giải thích ra trò đấy, thưa ngài Silk!"
Chúng tôi đi xuống một lối đi dốc hình xoắn ốc, được thắp sáng bởi những ngọn đèn trần thưa thớt.
"Hầm trú ẩn tấn công không gian," cô giải thích. "Và nhìn xem: chuyện gì xảy ra trên tàu vũ trụ thì là chuyện khác, nhưng việc mò xuống đây trong một bữa tiệc nướng thì cái giá phải trả bằng cả danh tiết của một cô gái đấy."
Dường như có không ít cô gái ở bữa tiệc nướng đó chẳng thèm bận tâm danh tiết của mình ra sao. Chúng tôi phát hiện ra điều đó sau khi nghía thử vào vài hành lang rẽ nhánh ngay lối vào.
"Lối này," Gail nói, "Tòa án Liên minh. Chẳng có ma nào lai vãng ở khu này lúc này đâu."
Tôi kể cho cô nghe, với càng nhiều chi tiết hài hước càng tốt, về việc Thrombley đã bắt cóc tôi về đại sứ quán như thế nào, và vụ truy đuổi của đội Vệ binh ra sao. Chưa kể được nửa câu chuyện, cô đã cười lớn sảng khoái, mọi dấu vết giận dữ bay biến đi đằng nào mất. Cuối cùng, chúng tôi đi đến một cầu thang bộ, và ở đầu cầu thang là một cánh cửa nhỏ.
"Em rời khỏi đây đã được bốn năm rồi," cô nói. "Em nghĩ trên này có phòng đọc của Thư viện Luật đấy. Chúng ta hãy vào đó tận hưởng chút yên tĩnh một lúc xem sao."
Nhưng khi chúng tôi đẩy cửa bước vào, lại có một tên Vệ binh đang đứng sẵn bên trong.
"Đến xem xử án à, ngài Silk? Ồ, chào Gail. Đến đúng lúc lắm; họ chuẩn bị tiến hành phiên tòa tiếp theo rồi đấy."
Vừa dứt lời, một tiếng click vang lên ngay cánh cửa. Gail trân trân nhìn tôi đầy kinh hoàng.
"Họ khóa chúng ta lại mất rồi," cô nói. "Chúng ta không ra ngoài được cho đến khi phiên tòa kết thúc đâu."