Có nhiều thói hư tật xấu ở một mức độ nào đó vốn chỉ có ở phụ nữ: những lỗi lầm đi ngược lại với lý trí, dù là do hành động hay do sự xao lãng; nhưng tất cả đều bắt nguồn từ sự dốt nát hoặc định kiến, và tôi sẽ chỉ ra những thói hư tật xấu nào tỏ ra có hại cho phẩm chất đạo đức của họ. Khi bàn về những vấn đề này, tôi đặc biệt muốn chứng minh rằng sự yếu đuối về cả thể chất lẫn tinh thần — điều mà đàn ông bằng nhiều động cơ khác nhau vẫn luôn tìm cách duy trì — đang cản trở phụ nữ thực hiện nghĩa vụ riêng biệt của giới tính mình: bởi vì khi sự yếu đuối về thể xác không cho phép họ cho con bú, và sự yếu đuối về tâm trí khiến tính tình họ trở nên cay nghiệt — liệu người phụ nữ ấy có đang ở trong trạng thái tự nhiên không?
Một ví dụ rành rành về sự yếu đuối bắt nguồn từ sự dốt nát, trước hết đòi hỏi sự chú ý của chúng ta và cần phải bị lên án nghiêm khắc.
Tại thủ đô này, một lũ lang bổng chuyên bịp bợm kiếm sống bằng cách lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của phụ nữ, ra điều bói toán tử vi, theo cách nói chuyên môn; và rất nhiều phụ nữ — những kẻ tự hào về địa vị và tài sản của mình, nhìn những kẻ hạ cấp với sự khinh miệt tối cao — lại cho thấy qua sự nhẹ dạ này rằng sự phân biệt ấy chỉ là tùy tiện, và tâm trí họ chưa được tu dưỡng đầy đủ để vượt lên trên những định kiến tầm thường. Phụ nữ, vì không được dẫn dắt để coi việc thấu hiểu bổn phận của mình là điều quan trọng bậc nhất, hay để sống trọn vẹn trong hiện tại bằng cách hoàn thành bổn phận đó, nên rất háo hức muốn ngó trước ngó sau vào tương lai, muốn biết những gì họ có thể mong đợi để làm cho cuộc sống trở nên thú vị, và để lấp đầy khoảng trống của sự dốt nát. Tôi mong được phép tranh luận một cách nghiêm túc với các quý bà đang chạy theo những trò hão huyền này; bởi vì các quý bà, những bà chủ gia đình, không hề cảm thấy hổ thẹn khi tự lái xe đến trước cửa của những kẻ bịp bợm đó. Và nếu có bất kỳ ai trong số họ đọc được tác phẩm này, tôi khẩn khoản cầu xin họ hãy tự chất vấn cõi lòng mình trước những câu hỏi sau đây, và đừng quên rằng họ đang đứng trước sự hiện diện của Thượng Đế.
Các chị có tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất, và Ngài là đấng toàn năng, khôn ngoan và nhân từ không?
Các chị có tin rằng vạn vật đều do Ngài tạo dựng, và muôn loài đều phụ thuộc vào Ngài không?
Các chị có dựa vào sự khôn ngoan của Ngài — điều hiển hiện rõ ràng trong các công trình của Ngài và trong chính thể xác các chị — đồng thời có thuyết phục rằng Ngài đã sắp đặt mọi thứ vốn vượt quá tầm nhận thức của giác quan các chị trong một sự hòa hợp hoàn hảo để làm trọn vẹn các ý định của Ngài không?
Các chị có thừa nhận rằng khả năng nhìn thấu tương lai và thấy những điều chưa xảy ra như thể chúng đang tồn tại là một thuộc tính của Đấng Tạo Hóa hay không? Và nếu Ngài, bằng một sự tác động vào tâm trí các thụ tạo của mình, thấy phù hợp để hé lộ cho họ một sự kiện nào đó còn ẩn giấu trong bóng tối của thời gian chưa thành hình, thì bí mật ấy sẽ được mặc khải cho ai qua sự soi sáng trực tiếp? Quan điểm qua bao thời đại sẽ trả lời câu hỏi này — cho những cụ già đáng kính, cho những con người nổi tiếng vì lòng đạo đức sâu sắc.
Những lời sấm truyền thời cổ đại từng được phán truyền như thế bởi các tư tế tận tụy phục vụ vị thần được cho là đã truyền cảm hứng cho họ. Vẻ hào nhoáng của thế gian bao quanh những kẻ mạo danh này, và sự kính trọng dành cho họ bởi những chính trị gia xảo quyệt — những kẻ biết cách tận dụng công cụ hữu ích này để bắt cổ những kẻ mạnh phải cúi đầu khuất phục trước sự thống trị của giới gian hùng — đã giăng một bức màn linh thiêng đầy huyền bí che đậy những lời dối trá và gớm ghiếc của chúng. Bị ấn tượng bởi một nghi thức sùng kính đầy trang nghiêm như vậy, một phụ nữ Hy Lạp hay La Mã có thể được tha thứ nếu cô ấy đi cầu xin lời sấm khi khao khát muốn dò xét tương lai hoặc tìm hiểu về một sự kiện mơ hồ nào đó; và những câu hỏi của cô ấy, dù trái ngược với lý trí đến đâu đi nữa, cũng không thể bị coi là bất kính. Nhưng liệu những người theo đạo Thiên Chúa có thể tránh khỏi sự chê trách đó không? Liệu một tín đồ Thiên Chúa giáo có thể cho rằng những kẻ được Đấng Tối Cao yêu mến, những kẻ được sủng ái đặc biệt lại phải buông mình ẩn náu trong lớp cải trang và thực hiện những trò lừa bịp vô lương tâm nhất để móc túi những người phụ nữ ngốc nghếch — thứ tiền bạc mà người nghèo đang mòn mỏi kêu khóc trong vô vọng?
Đừng nói rằng những câu hỏi như vậy là sự lăng mạ đối với lẽ thông thường, bởi vì chính hành vi của các chị, ỡi những người phụ nữ ngốc nghếch! mới là thứ giáng một vết nhơ lên giới tính của các chị! Và những suy ngẫm này lẽ ra phải làm các chị rùng mình trước sự thiếu suy nghĩ cùng lòng sùng đạo phi lý của mình, vì tôi không cho rằng tất cả các chị đã vứt bỏ tôn giáo của mình — dù nó có ra sao đi nữa — khi bước chân vào những ngôi nhà huyền bí ấy. Thế nhưng, vì tôi vẫn luôn ngầm coi mình đang trò chuyện với những người phụ nữ dốt nát, bởi vì các chị thực sự dốt nát theo nghĩa sâu sắc nhất của từ này, nên việc lý luận với các chị về sự dại dột tột cùng của mong muốn được biết những điều mà Sự khôn ngoan tối cao đã che giấu sẽ là một điều ngớ ngẩn.
Có lẽ các chị sẽ chẳng hiểu nổi tôi, nếu tôi cố gắng chỉ ra rằng điều đó hoàn toàn mâu thuẫn với mục đích lớn lao của cuộc sống — đó là làm cho con người trở nên khôn ngoan và đức hạnh; và rằng, nếu nó được Thượng Đế chuẩn nhận, nó sẽ làm xáo trộn trật tự đã được thiết lập trong tạo hóa; còn nếu nó không được Thượng Đế chuẩn nhận, liệu các chị có hy vọng được nghe sự thật không? Liệu các sự kiện có thể được tiên đoán trước — những sự kiện thậm chí còn chưa thành hình để có thể bị phơi bày dưới con mắt kiểm tra của người phàm — liệu chúng có thể được nhìn thấy trước bởi một kẻ thế tục đồi bại, kẻ đang thỏa mãn những dục vọng của mình bằng cách bòn rút những kẻ ngốc nghếch?
Tuy nhiên, có lẽ các chị lại sùng đạo tin vào quỷ dữ, và tưởng tượng rằng — để lảng tránh câu hỏi — hắn có thể giúp đỡ các tín đồ của mình? Nhưng nếu thực sự tôn trọng sức mạnh của một sinh như thế, kẻ thù của sự thiện và của Thượng Đế, liệu các chị có thể bước chân vào nhà thờ sau khi đã mang ơn hắn như vậy? Từ những ảo tưởng này cho đến những sự lừa dối còn hợp thời hơn nữa, được thực hiện bởi toàn bộ bọn chúng những kẻ thực hành thuật mê hoặc (magnetisers), sự chuyển biến là rất tự nhiên. Đối với họ, việc đặt ra cho phụ nữ một vài câu hỏi cũng là điều hoàn toàn thích hợp.
Các chị có biết chút gì về cấu trúc của cơ thể con người không? Nếu không, thật phải phép khi nói cho các chị biết — điều mà bất kỳ đứa trẻ nào cũng nên biết — rằng khi cỗ máy tuyệt diệu ấy bị xáo trộn bởi sự phóng túng hay lười biếng (tôi không nói đến các chứng bệnh cấp tính, mà là các bệnh mãn tính), nó phải được đưa trở lại trạng thái lành mạnh bằng những bước chậm rãi; và nếu các chức năng của sự sống chưa bị tổn thương nghiêm trọng, thì chế độ sinh hoạt (một từ khác thay cho sự tiết độ), không khí, vận động, cùng một vài loại thuốc do những người đã nghiên cứu về cơ thể con người kê đơn, chính là những phương tiện duy nhất do con người phát hiện ra cho đến nay có thể phục hồi lại món quà vô giá là sức khỏe, và phương pháp ấy chịu được sự kiểm chứng.
Vậy các chị có tin rằng những kẻ làm phép mê hoặc này — những kẻ dùng các trò huyễn hoặc để ra vẻ làm phép lạ — được Thượng Đế ủy thác, hay được trợ giúp bởi kẻ giải quyết mọi loại rắc rối như thế: quỷ dữ?
Khi họ xua đuổi — như người ta đồn đại — những căn bệnh đã đánh bại cả quyền năng của y học, liệu họ có hành động phù hợp với ánh sáng của lý trí không? Hay họ thực hiện những phép chữa trị kỳ diệu ấy nhờ sự trợ giúp siêu nhiên?
Một kẻ thông thái có thể đáp lại rằng: nhờ sự giao tiếp với thế giới tâm linh. Quả là một đặc quyền cao cả, phải thừa nhận là vậy. Một số người cổ đại từng nhắc đến những con quỷ hộ mệnh quen thuộc, những kẻ bảo vệ họ khỏi nguy hiểm bằng cách ân cần ra hiệu (chúng ta không thể đoán nổi bằng cách nào) khi có hiểm nguy cận kề; hoặc chỉ ra những gì họ nên làm. Thế nhưng, những kẻ tự nhận cái đặc quyền nằm ngoài trật tự tự nhiên ấy lại khăng khăng rằng đó là phần thưởng hoặc hệ quả của sự tiết độ và lòng đạo đức vượt trội. Tuy nhiên, những kẻ làm phép lạ hiện nay lại chẳng hề được nâng lên cao hơn những người đồng loại nhờ sự tiết độ hay sự thánh thiện siêu việt nào cả. Chúng không chữa bệnh vì tình yêu thương Thiên Chúa, mà vì tiền bạc. Đây chính là những tên tư tế của y học bịp bợm, dẫu cho sự thật là chúng không có được một phương tiện thuận lợi như việc bán lễ cầu hồn cho các linh hồn trong luyện ngục, cũng chẳng có những nhà thờ nơi chúng có thể trưng bày nạng và các mô hình bộ phận cơ thể được làm lành chỉ bằng một cái chạm hoặc một lời nói.
Tôi không am hiểu các thuật ngữ chuyên môn, cũng không được điểm xuyết vào những bí ẩn thâm sâu, thế nên tôi có thể ăn nói không đúng phép; nhưng rõ ràng là, những kẻ không tuân theo quy luật của lý trí và kiếm sống một cách lương thiện theo từng bước chậm rãi, lại vô cùng may mắn khi làm quen được với những linh hồn dễ mến như vậy. Thật ra, chúng ta không thể tin tưởng rằng họ có sự khôn ngoan hay lòng nhân hậu lớn lao, bằng không họ đã chọn những công cụ cao cả hơn khi muốn tỏ ra là những người bạn nhân từ của nhân loại.
Tuy nhiên, việc mạo nhận có được thứ quyền năng ấy chẳng khác nào tội phạm thượng.
Từ toàn bộ tinh thần của các sự sắp đặt thuộc sự Quan Phòng, hiển nhiên đối với lý trí sáng suốt rằng một số thói hư tật xấu nhất định sẽ sinh ra những hậu quả nhất định; và liệu có ai lại lăng mạ sự khôn ngoan của Thượng Đế một cách thô bạo đến mức cho rằng một phép lạ sẽ được cho phép để làm xáo trộn các quy luật chung của Ngài, nhằm khôi phục sức khỏe cho những kẻ phóng túng và đồi bại, chỉ để giúp họ tiếp tục con đường cũ mà không phải chịu sự trừng phạt hay sao? Đức Giê-su đã phán: Hãy lành lặn và đừng phạm tội nữa. Và liệu những phép lạ lớn lao hơn có được thực hiện bởi những kẻ không đi theo bước chân của Ngài — Đấng đã chữa lành thể xác để vươn tới tâm trí?
Việc nhắc đến danh xưng của Chúa Kitô sau những kẻ mạo danh đê tiện như vậy có thể làm phật lòng một số độc giả của tôi — tôi tôn trọng sự nhiệt thành của họ; nhưng xin họ đừng quên rằng những kẻ đi theo các ảo tưởng này lại mang danh Ngài, và tự nhận là môn đệ của Đấng từng phán rằng qua việc làm của họ, chúng ta sẽ nhận biết được ai là con cái của Đức Chúa Trời hay kẻ tôi tớ của tội lỗi. Tôi thừa nhận rằng việc chạm vào thân thể của một vị thánh, hay việc chịu phép mê hoặc, dễ dàng hơn nhiều so với việc kìm hãm dục vọng hay cai quản đam mê của chính mình; nhưng sức khỏe của thể xác hay tâm trí chỉ có thể được khôi phục bằng những phương thức đó, bằng không chúng ta đang biến Đấng Phán Xét Tối Cao thành kẻ thiên vị và đầy thù hận.
Ngài có phải là con người đâu mà phải thay đổi, hay trừng phạt vì sự tức giận? Lý trí mách bảo rằng Ngài — người cha chung của muôn loài — đánh đòn chỉ để chữa lành, và vì những thói bất thường của chúng ta gây ra những hậu quả nhất định, nên chúng ta được cho thấy một cách mạnh mẽ bản chất của tội lỗi; để rồi qua đó, học cách phân biệt điều thiện với điều ác bằng kinh nghiệm, chúng ta có thể căm ghét điều này và yêu mến điều kia, tương ứng với sự khôn ngoan mà chúng ta đạt được. Nọc độc luôn chứa đựng chất giải độc; và chúng ta hoặc là cải tạo những thói quen xấu của mình, thôi không còn phạm tội chống lại chính thân xác mình nữa — để dùng lại thứ ngôn ngữ mạnh mẽ của kinh thánh — hoặc là một cái chết yểu, hình phạt của tội lỗi, sẽ cắt đứt sợi chỉ cuộc sống.
Tại đây, một sự dừng lại đầy kinh hoàng được đặt ra cho những cuộc truy vấn của chúng ta. Nhưng tại sao tôi phải che giấu những tâm tư của mình? Xét đến các thuộc tính của Thượng Đế, tôi tin rằng bất kỳ hình phạt nào theo sau đi nữa cũng sẽ hướng tới mục đích — giống như nỗi đau đớn của bệnh tật — để phơi bày tính độc hại của tội lỗi nhằm mục đích cải tạo con người. Sự trừng phạt mang tính áp đặt trông có vẻ quá trái ngược với bản chất của Thượng Đế — vốn có thể được khám phá trong tất cả công trình của Ngài và trong chính lý trí của chúng ta — đến mức tôi thà tin rằng Đấng Tối Cao không màng tới hành vi của con người còn hơn là tin rằng Ngài trừng phạt mà không mang theo thiết tha cải tạo đầy nhân ái.
Chỉ riêng việc giả định rằng một Đấng Toàn Tri và Toàn Năng, tốt lành ngần nào thì vĩ đại ngần ấy, lại tạo ra một thụ tạo trong khi đã tiên liệu trước rằng sau năm mươi hoặc sáu mươi năm tồn tại trong sốt rét, nó sẽ bị đẩy xuống vực thẳm đau khổ không bao giờ dứt — đó là tội phạm thượng. Con sâu không bao giờ chết ấy sẽ ăn gì? Các người bảo rằng: ăn trên sự dại dột, trên sự dốt nát — tôi sẽ đỏ mặt đầy phẫn nộ khi rút ra kết luận tất yếu ấy, giá như tôi có thể viết ra nó, và khi ấy tôi chỉ muốn rút lui khỏi đôi cánh chở che của Thiên Chúa tôi! Với một giả định như thế — tôi nói điều này với sự kính cẩn — Ngài sẽ là một ngọn lửa tiêu diệt. Chúng ta sẽ ao ước, dù trong vô vọng, được bay trốn khỏi sự hiện diện của Ngài khi nỗi sợ hãi nuốt chửng tình yêu, và bóng tối bao trùm mọi mưu chước của Ngài.
Tôi biết rằng rất nhiều người sùng đạo khoe khoang về việc phục tùng Ý Trời một cách mù quáng, giống như phục tùng một chiếc quyền sấm hay gậy trượng chuyên quyền, theo cùng một nguyên lý mà người da đỏ thờ phụng quỷ dữ. Nói cách khác, giống như những con người trong các mối bận tâm thông thường của cuộc sống, họ tôn sâm quyền lực và khom mình luồn cúi dưới bàn chân có thể nghiền nát họ. Trái lại, tôn giáo dựa trên lý trí là sự phục tùng ý muốn của một Đấng hoàn toàn khôn ngoan, đến mức mọi điều Ngài muốn đều phải được định hướng bởi động cơ đúng đắn — phải là điều hợp lý.
Và nếu chúng ta tôn trọng Thiên Chúa theo cách đó, liệu chúng ta có thể tin vào những lời bóng gió huyền bí lăng mạ các luật lệ của Ngài không? Liệu chúng ta có thể tin — dẫu cho nó có rành rành trước mắt — rằng Ngài sẽ làm phép lạ để hợp thức hóa sự hỗn loạn bằng cách chuẩn nhận một sai lầm? Thế nhưng chúng ta buộc phải hoặc thừa nhận những kết luận đầy bất kính này, hoặc đối xử với sự khinh miệt đối với mọi lời hứa khôi phục sức khỏe cho một cơ thể bệnh tật bằng phương pháp siêu nhiên, hoặc tiên tri những biến cố mà chỉ có Thượng Đế mới có thể thấy trước.
Một ví dụ khác về sự yếu đuối mang tính nữ nhi trong phẩm chất, thường được sản sinh bởi một nền giáo dục hạn hẹp, chính là sự méo mó lãng mạn trong tâm trí, thứ đã được gọi một cách rất đúng đắn là TÍNH ĐA CẢM (SENTIMENTAL).
Phụ nữ, vì sự dốt nát nên bị kìm kẹp bởi các giác quan của mình, và chỉ được dạy để tìm kiếm hạnh phúc trong tình yêu, nên đã tinh tế hóa các cảm giác xác thịt, đồng thời tiếp nhận những khái niệm siêu hình về thứ đam mê ấy, khiến họ phơi bày sự lơ là đáng hổ thẹn đối với các bổn phận trong đời sống, và thường thì ngay giữa những sự tinh tế siêu việt ấy, họ lại lao đầu vào tội lỗi thực sự.
Đây là những người phụ nữ bị giải trí bởi những trò mơ mộng của những tiểu thuyết gia ngốc nghếch — những kẻ hiểu biết rất ít về bảnn chất con người, nhào nặn nên những câu chuyện cũ rích và miêu tả những cảnh tượng trụy lạc, tất cả được kể lại bằng một thứ biệt ngữ đa cảm, vốn có sức công phá như nhau trong việc làm suy đồi thị hướng và kéo lệch trái tim khỏi những bổn phận hằng ngày của nó. Tôi không nhắc đến trí tuệ, bởi vì chưa từng được rèn luyện, những năng lượng đang ngủ quên của nó vẫn nằm bất động, giống như những hạt lửa ẩn khuất được cho là thấm đẫm khắp muôn vật.
Trên thực tế, phụ nữ bị tước đoạt mọi đặc quyền chính trị, và với tư cách là phụ nữ đã kết hôn, ngoại trừ trong các vụ án hình sự, họ không được thừa nhận sự tồn tại về mặt dân sự; sự chú ý của họ do đó tự nhiên bị kéo khỏi lợi ích của toàn bộ cộng đồng để hướng về những phần nhỏ nhặt, dẫu cho bổn phận riêng tư của bất kỳ thành viên nào trong xã hội sẽ chỉ được thực hiện vô cùng kém cỏi khi không gắn liền với lợi ích chung. Công việc to lớn của đời người phụ nữ là làm sao để làm đẹp lòng người khác, và vì bị kìm hãm không cho bước vào những mối quan tâm trọng đại hơn bởi sự áp bức chính trị và dân sự, những cảm xúc tình cảm bỗng hóa thành các biến cố, và sự suy ngẫm càng làm sâu sắc thêm những gì lẽ ra nên — và vốn dĩ có thể đã bị xóa nhòa — nếu trí tuệ được phép vươn tới một phạm vi rộng lớn hơn.
Thế nhưng, bị giam hãm trong những công việc tầm thường, họ tự nhiên thấm nhuần những quan điểm do chính thể loại đọc sách duy nhất — thứ vốn được thiết kế để thu hút một tâm trí ngây thơ và phù phiếm — truyền cảm hứng. Bất khả năng nắm bắt bất cứ điều gì to lớn, liệu có gì đáng ngạc nhiên khi họ thấy việc đọc lịch sử là một nhiệm vụ khô khan, và những bài tiểu luận triết lý hướng đến trí tuệ thì vô cùng tẻ nhạt và hầu như không thể hiểu nổi? Do đó, họ buộc phải phụ thuộc vào nhà thuyết gia hay tiểu thuyết gia để tìm kiếm sự giải trí. Tuy nhiên, khi tôi lớn tiếng phản đối tiểu thuyết, ý tôi là khi đặt chúng lên bàn cân so sánh với những tác phẩm rèn luyện trí tuệ và điều tiết trí tưởng tượng. Đối với bất kỳ loại sách đọc nào, tôi nghĩ vẫn tốt hơn là để một khoảng trắng mãi mãi là khoảng trắng, bởi vì tâm trí ít nhiều cũng nhận được sự mở rộng và đạt được một chút sức mạnh nhờ một nỗ lực nhỏ của các năng lực tư duy; bên cạnh đó, ngay cả những tác phẩm chỉ hướng đến trí tưởng tượng cũng nâng người đọc lên một chút khỏi sự thỏa mãn tầm thường của các dục vọng — thứ mà tâm trí chưa từng ban cho lấy một chút tinh tế.
Quan sát này là kết quả từ kinh nghiệm; vì tôi từng quen biết một số phụ nữ đáng chú ý, và có một người đặc biệt — một phụ nữ rất ngoan đạo, ngoan trong giới hạn mà một tâm trí hẹp hòi cho phép — đã cẩn thận đảm bảo rằng các con gái của cô ấy (gồm ba người) không bao giờ được nhìn thấy một cuốn tiểu thuyết nào. Vì là một phụ nữ giàu có và thuộc tầng lớp thượng lưu, họ có nhiều thầy giáo đến kèm cặp, và một kiểu quản gia kiêm người hầu để theo dõi từng bước chân của họ. Từ các thầy giáo, họ học được tên gọi của bàn ghế, v. v. bằng tiếng Pháp và tiếng Ý; nhưng vì những cuốn sách ít ỏi được ném vào tay họ đều vượt quá khả năng tiếp thu của họ, hoặc mang tính sùng đạo, nên họ chẳng thu nhận được chút ý tưởng hay tình cảm nào, và cứ thế qua quýt thời gian — khi không bị bắt buộc phải đọc vẹt các TỪ NGỮ — bằng cách chải chuốt, cãi vã lẫn nhau, hoặc lén lút trò chuyện với đám người hầu, cho đến khi họ được đưa ra xã hội như những thiếu nữ đến tuổi cập kê.
Trong khoảng thời gian đó, người mẹ góa bụa của họ bận rộn duy trì các mối quan hệ xã hội của mình — theo cách bà gọi là một lượng lớn người quen — kẻo các cô con gái của bà thiếu đi sự ra mắt đúng đắn trước thế giới thượng lưu. Và những tiểu thư trẻ tuổi ấy, với một tâm trí thô tục theo đúng mọi nghĩa của từ này cùng tính tình hư hỏng, đã bước chân vào đời với cái đầu ngẩng cao cùng những quan niệm về tầm quan trọng của chính bản thân, nhìn xuống với sự khinh miệt đối với những ai không thể đọ lại họ về mặt trang phục và sự phô trương.
Đối với chuyện tình yêu, tự nhiên hoặc các vú em của họ đã lo liệu việc dạy cho họ ý nghĩa vật lý của từ này; và vì họ có rất ít chủ đề trò chuyện cũng như rất ít sự tinh tế trong tình cảm, nên khi tự do bàn luận về hôn nhân, họ đã bày tỏ những mong muốn thô thiển của mình bằng những ngôn từ chẳng lấy gì làm thanh tao cho lắm.
Liệu những cô gái này có bị tổn hại bởi việc đọc tiểu thuyết không? Tôi suýt quên mất một nét tính cách của một trong số họ; cô ta ra vẻ ngây thơ đến mức suýt hóa khờ, và với một nụ cười nhạt, cô ta sẽ thốt ra những nhận xét và câu hỏi vô cùng bất lịch sự — ý nghĩa trọn vẹn của những điều đó đã được cô học được trong lúc bị cô lập khỏi thế giới và sợ hãi không dám mở miệng trước mặt người mẹ, kẻ cai trị bằng một bàn tay sắt; tất cả bọn họ đều được giáo dục — như người mẹ tự hào khoe khoang — theo một cách thức vô cùng gương mẫu; và đọc các chương kinh cùng thánh vịnh trước bữa sáng, không bao giờ chạm tay vào một cuốn tiểu thuyết ngốc nghếch nào.
Đây chỉ là một ví dụ; nhưng tôi nhớ lại rất nhiều phụ nữ khác — những người không được dẫn dắt từng bước để đến với các môn học thích hợp, và không được phép tự mình lựa chọn — thực chất đã trở thành những đứa trẻ to xác; hoặc đã thu nhận được, thông qua việc giao du ngoài xã hội, một chút cái gọi là lẽ thông thường; nghĩa là một cách nhìn nhận rạch ròi về những sự kiện thông thường khi chúng đứng tách biệt nhau; nhưng thứ xứng đáng được gọi là trí tuệ, khả năng thu nhận các ý tưởng chung hoặc trừu tượng, hay thậm chí là các ý tưởng trung gian, thì hoàn toàn nằm ngoài tầm với. Tâm trí họ nằm ở trạng thái tĩnh lặng, và khi không bị đánh thức bởi các đối tượng hữu hình cùng những công việc kiểu đó, họ sẽ rơi vào trạng thái chán nản, khóc lóc hoặc đi ngủ.
Do đó, khi tôi khuyên giới tính của mình không nên đọc những tác phẩm sướt mướt như vậy, là để xúi giục họ đọc một cái gì đó cao cả hơn; bởi vì tôi đồng tình với quan điểm của một người đàn ông khôn ngoan, khi ông có một người con gái và một người cháu gái dưới sự bảo bọc của mình, đã theo đuổi một kế hoạch hoàn toàn khác nhau cho từng người.
Người cháu gái, vốn có năng lực đáng kể, trước khi được giao phó cho sự giám hộ của ông, đã được nuông chiều trong việc đọc sách tản mạn. Ông đã cố gắng dẫn dắt, và thực sự đã dẫn dắt cô đến với lịch sử và các bài tiểu luận đạo đức; thế nhưng đứa con gái — kẻ mà một người mẹ yếu đuối và cưng chiều đã làm hỏng, và do đó vốn có ác cảm với mọi thứ đòi hỏi sự chuyên chú — lại được ông cho phép đọc tiểu thuyết; và ông thường biện minh cho hành vi của mình bằng cách nói rằng nếu cô bé từng đạt được sở thích đọc chúng, ông sẽ có một nền tảng để từ đó vun đắp; và những quan điểm sai lầm vẫn còn tốt hơn là chẳng có quan điểm nào cả.
Trên thực tế, tâm trí của phụ nữ đã bị bỏ bê hoàn toàn đến mức tri thức chỉ có thể được thu nhận từ cái nguồn đục ngầu này, cho đến khi nhờ đọc tiểu thuyết mà một số phụ nữ có tài năng vượt trội đã học được cách coi thường chúng.
Tôi tin rằng phương pháp tốt nhất có thể được áp dụng để chấn chỉnh niềm đam mê tiểu thuyết chính là chế giễu chúng; không phải chế giễu một cách vơ đũa cả nắm, bởi vì khi đó nó sẽ chẳng đem lại mấy hiệu quả; nhưng nếu một người khôn ngoan, có chút khiếu hài hước, đọc một số tác phẩm cho một thiếu nữ nghe, và chỉ ra — bằng cả giọng điệu lẫn những sự so sánh thích hợp với các biến cố bi thảm và nhân vật anh hùng trong lịch sử — rằng chúng đã bóp méo bản chất con người một cách ngốc nghếch và nực cười thế nào, thì những quan điểm đúng đắn hoàn toàn có thể được thay thế vào chỗ của những tình cảm lãng mạn.
Tuy nhiên, ở một phương diện nào đó, đa số người của cả hai giới lại giống nhau, và đều phơi bày sự thiếu hụt về gu thẩm mỹ lẫn sự khiêm nhường. Những người phụ nữ dốt nát, buộc phải giữ mình trinh bạch để bảo vệ danh tiếng, lại thả cho trí tưởng tượng thỏa sức đắm chìm trong những khung cảnh phi tự nhiên và trụy lạc do các nhà văn viết tiểu thuyết thời nay phác họa, coi thường sự trang nghiêm mộc mạc và vẻ duyên dáng đoan trang của lịch sử như một thứ nhạt nhẽo,* trong khi đàn ông lại mang cùng cái gu thẩm mỹ đã bị bóp méo ấy vào cuộc sống, và chạy trốn khỏi những bùa mê chân chất của đức hạnh cùng sự đáng kính nghiêm nghị của trí tuệ để tìm kiếm sự giải trí nơi những ả lẳng lơ.
(*Chú thích. Bây giờ tôi không có ý ám chỉ đến sự ưu việt của tâm trí — thứ dẫn đến việc sáng tạo ra vẻ đẹp lý tưởng, khi cuộc sống được quan sát bằng một cái nhìn thấu đáo, hiện lên như một vở kịch bi hài, trong đó người ta chẳng thấy mấy điều làm thỏa mãn trái tim nếu thiếu đi sự trợ giúp của trí tưởng tượng.)
Bên cạnh đó, việc đọc tiểu thuyết khiến phụ nữ, đặc biệt là các quý bà thượng lưu, rất ưa chuộng việc sử dụng những biểu đạt mạnh mẽ và các tính từ so sánh bậc nhất trong trò chuyện; và mặc dù lối sống phù phiếm giả tạo mà họ dẫn dắt ngăn cản họ nuôi dưỡng bất kỳ thứ tình cảm chân chính mãnh liệt nào, thì ngôn ngữ của đam mê với những giọng điệu giả tạo vẫn luôn tuột ra mãi từ những chiếc lưỡi trơn tuột của họ, và mọi chuyện vụn vặt đều tạo ra những luồng bùng nổ lân tinh ấy — thứ chỉ bắt chước trong bóng tối ngọn lửa của đam mê.
Sự dốt nát và sự khôn lỏi lầm lạc mà tự nhiên mài giũa trong những bộ óc kém cỏi như một nguyên tắc tự vệ, khiến phụ nữ rất thích ăn diện, và đẻ ra toàn bộ sự kiêu ngạo mà một niềm đam mê như thế có thể tự nhiên sinh sôi, gạt phăng đi sự ganh đua lành mạnh và lòng cao thượng.
Tôi đồng ý với Rousseau rằng phần thể lý trong nghệ thuật làm vừa lòng người khác nằm ở những món trang sức, và chính vì lý do đó, tôi nên cảnh giác các thiếu nữ trước niềm đam mê lây lan dành cho việc ăn diện vốn quá phổ biến ở những người phụ nữ yếu đuối, để họ không dừng chân lại ở phần thể lý ấy. Thế nhưng, thật ngốc nghếch làm sao những người phụ nữ tưởng rằng họ có thể làm vừa lòng người khác lâu dài mà không cần đến sự trợ giúp của tâm trí; hay nói cách khác, không có nghệ thuật đạo đức để làm vừa lòng. Nhưng nghệ thuật đạo đức — nếu không phải là sự báng bổ khi dùng từ nghệ thuật khi ám chỉ đến vẻ duyên dáng vốn là hiệu quả của đức hạnh chứ không phải động cơ hành động — thì chẳng bao giờ có thể tìm thấy nơi sự dốt nát; sự đùa nghịch của lòng ngây thơ, vốn rất đỗi lừa tình đối với những kẻ phóng túng tinh vi thuộc cả hai giới, lại có bản chất khác biệt một trời một vực so với vẻ duyên dáng siêu việt này.
Khuynh hướng mạnh mẽ dành cho trang sức bên ngoài luôn xuất hiện ở các quốc gia dã man, chỉ có điều là đàn ông chứ không phải phụ nữ tự trang hoàng cho mình; bởi vì ở đâu mà phụ nữ được phép đứng ngang hàng với đàn ông đến mức độ đó, thì xã hội ít nhất đã tiến thêm được một bước trên con đường văn minh.
Do đó, sự chú ý đến trang phục — thứ từng bị coi là một xu hướng tính dục — tôi cho rằng nó vốn tự nhiên đối với nhân loại. Nhưng tôi nên diễn đạt bản thân mình một cách chính xác hơn. Khi tâm trí chưa đủ cởi mở để tìm thấy niềm vui trong sự suy ngẫm, cơ thể sẽ được trang hoàng bằng sự chăm chút tỉ mỉ; và tham vọng sẽ lộ diện qua việc xăm mình hoặc tô vẽ cho nó.
Khuynh hướng thứ nhất bị đẩy đi xa đến mức ngay cả cái ách địa ngục của chế độ nô lệ cũng không thể dập tắt được khao khát hoang dã về sự ngưỡng mộ mà những anh hùng da đen thừa hưởng từ cả cha lẫn mẹ họ, bởi vì tất cả những khoản tiết kiệm chắt chiu khó nhọc của một người nô lệ thường được đổ dồn vào một vài món đồ trang sức lòe loẹt rẻ tiền. Và tôi hiếm khi thấy một người đầy tớ nam hay nữ nào tốt tính mà lại không đặc biệt thích ăn diện. Y phục của họ chính là sự giàu có của họ; và tôi suy luận từ phép loại suy rằng niềm đam mê ăn diện — vốn quá đỗi hoang phí ở phái nữ — bắt nguồn từ cùng một nguyên nhân: sự thiếu tu dưỡng tâm trí. Khi đàn ông gặp nhau, họ trò chuyện về công việc, chính trị hoặc văn chương; nhưng, như Swift từng nói, "phụ nữ tự nhiên làm sao khi cứ đưa tay nghịch vạt áo và nếp viền cổ của nhau." Và điều đó rất tự nhiên — bởi vì họ chẳng có công việc nào để bận tâm, không có gu thưởng thức văn chương, và họ thấy chính trị thật khô khan, bởi vì họ chưa từng bồi đắp tình yêu dành cho nhân loại bằng cách hướng suy nghĩ của mình đến những mưu cầu vĩ đại vốn tôn vinh giống loài người và thúc đẩy hạnh phúc chung.
Bên cạnh đó, có vô vàn con đường dẫn đến quyền lực và danh tiếng mà đàn ông theo đuổi do ngẫu nhiên hoặc do lựa chọn, và dẫu cho họ có va vào nhau — bởi những người đàn ông cùng nghề hiếm khi là bạn — thì vẫn còn một số lượng lớn hơn rất nhiều những đồng loại mà họ chẳng bao giờ xung đột lợi ích. Nhưng phụ nữ lại ở trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt đối với nhau — bởi vì tất cả bọn họ đều là tình địch.
Trước khi kết hôn, công việc của họ là làm hài lòng đàn ông; và sau khi kết hôn, với một vài ngoại lệ, họ vẫn theo đuổi cái dấu vết ấy với tất cả sự ngoan cố bền bỉ của bản năng. Ngay cả những phụ nữ đức hạnh cũng không bao giờ quên đi giới tính của mình khi ở chốn đông người, bởi vì họ cứ mãi loay hoay cố gắng làm cho bản thân trở nên DỄ MẾN. Một người phụ nữ đẹp và một người đàn ông thông minh dường như có cùng một mối bận tâm như nhau trong việc thu hút sự chú ý của mọi người về phía mình; và sự thù hận giữa những người trí thức đương thời từ lâu đã trở thành câu cửa miệng.
Vậy có gì đáng ngạc nhiên khi mà tham vọng duy nhất của người phụ nữ tập trung vào nhan sắc, và tư lợi tiếp thêm sức mạnh cho sự kiêu ngạo, thì những cuộc tranh giành tình địch vĩnh viễn sẽ nổ ra? Tất cả bọn họ đều đang chạy trên cùng một đường đua, và họ sẽ vươn lên vượt qua cả đức hạnh của người phàm nếu họ không nhìn nhau bằng một ánh mắt đầy nghi kỵ và thậm chí là đố kỵ.
Niềm đam mê quá đỗi lớn lao dành cho trang phục, cho sự vui thú và cho quyền lực chính là những dục vọng của những kẻ dã man; những dục vọng chiếm giữ những sinh thể chưa văn minh ấy — những kẻ chưa mở rộng quyền thống trị của tâm trí, hay thậm chí chưa học được cách suy nghĩ với nguồn năng lượng cần thiết để liên kết chuỗi suy nghĩ trừu tượng vốn sinh ra các nguyên tắc. Và việc phụ nữ, từ nền giáo dục của họ và trạng thái hiện tại của đời sống văn minh, cũng đang ở trong cùng một tình trạng đó, tôi nghĩ là điều không thể chối cãi. Do đó, việc chế giễu họ hay châm biếm những thói hư tật xấu của một sinh thể không bao giờ được phép hành động tự do dưới ánh sáng lý trí của chính mình, vừa ngớ ngẩn lại vừa tàn nhẫn; bởi vì việc những kẻ được dạy phải phục tùng uy quyền một cách mù quáng sẽ tìm cách xảo quyệt để né tránh nó là điều vô cùng tự nhiên và chắc chắn.
Tuy nhiên, cứ cho là họ phải phục tùng đàn ông một cách tuyệt đối đi, thì tôi sẽ ngay lập tức đồng ý rằng bổn phận của người phụ nữ là phải nuôi dưỡng niềm đam mê ăn diện để làm vừa lòng người khác, và khuynh hướng xảo quyệt để tự bảo vệ lấy mình.
Tuy nhiên, những đức hạnh được chống đỡ bởi sự dốt nát sẽ mãi mãi lung lay — ngôi nhà xây trên cát chẳng thể chịu đựng nổi một trận cuồng phong. Việc rút ra kết luận gần như là điều thừa thãi. Nếu phụ nữ buộc phải trở thành người đức hạnh bằng uy quyền — vốn là một sự mâu thuẫn trong thuật ngữ — thì hãy nhốt họ vào các hậu cung và canh chừng bằng một ánh mắt đầy ghen tuông. Đừng sợ rằng lưỡi sắt sẽ cắm sâu vào tâm hồn họ — bởi vì những tâm hồn có thể chịu đựng được sự đối xử như vậy được làm từ những chất liệu dễ uốn, chỉ vừa đủ hơi thở để thổi sự sống vào thể xác.
"Thân xác quá mềm chẳng khắc nổi dấu hằn,
Và dễ phân biệt nhất nhờ sắc đen, nâu, trắng."
Tất nhiên là những vết thương tàn nhẫn nhất rồi cũng sẽ sớm lành, và họ vẫn có thể sinh sôi nảy nở cho nhân loại, và ăn diện để làm vui lòng đàn ông — toàn bộ những mục đích mà một số nhà văn nổi tiếng từng thừa nhận rằng họ được sinh ra để lấp đầy.
Phụ nữ được cho là sở hữu nhiều sự nhạy cảm, thậm chí là lòng nhân ái hơn đàn ông, và sự gắn bó mạnh mẽ cùng những cảm xúc trắc ẩn tức thời của họ được đưa ra làm bằng chứng; thế nhưng thứ tình cảm bám rỗi của sự dốt nát hiếm khi nào mang trong mình sự cao thượng, và phần lớn có thể quy về lòng vị kỷ, cũng giống như tình cảm của trẻ em hay loài vật. Tôi từng quen biết rất nhiều phụ nữ yếu đuối — những người có sự nhạy cảm bị chiếm trọn bởi chồng của họ; còn về lòng nhân ái của họ, nó thực sự rất mờ nhạt, hoặc đúng hơn chỉ là một cảm xúc xót xa thoáng qua. Một nhà hùng biện lỗi lạc từng nói: "Lòng nhân ái không nằm ở một đôi tai dễ chạnh lòng. Nó thuộc về tâm trí cũng như hệ thần kinh."
Thế nhưng, kiểu tình cảm độc quyền này, dẫu làm hạ thấp nhân cách cá nhân, cũng không nên được đem ra làm bằng chứng cho sự kém cỏi của giới tính, bởi vì nó là hệ quả tất yếu của những tầm nhìn hạn hẹp: vì ngay cả những phụ nữ có trí tuệ vượt trội, khi sự chú ý bị hướng vào những công việc nhỏ nhặt và các kế hoạch riêng tư, cũng hiếm khi vươn tới được sự anh hùng, trừ khi bị thúc đẩy bởi tình yêu; và tình yêu với tư cách là một thứ đam mê anh hùng, giống như thiên tài, trăm năm mới xuất hiện một lần. Do đó, tôi đồng ý với nhà đạo đức học khi ông khẳng định rằng "phụ nữ hiếm khi rộng lượng bằng đàn ông"; và rằng những tình cảm chật hẹp của họ — thứ mà công lý và lòng nhân ái thường bị hy sinh cho — khiến phái nữ tỏ ra kém cỏi hơn, nhất là khi chúng thường được khơi nguồn bởi đàn ông; nhưng tôi tranh biện rằng trái tim sẽ mở rộng ra khi trí tuệ ngày càng vững vàng, miễn là phụ nữ không bị vùi dập ngay từ lúc còn nằm trong nôi.
Tôi biết rằng một chút nhạy cảm và sự yếu đuối lớn sẽ tạo nên một sự gắn bó xác thịt mạnh mẽ, và lý trí mới là thứ xi măng kết dính tình bạn; hệ quả là tôi thừa nhận rằng chúng ta có thể tìm thấy tình bạn nhiều hơn ở thế giới của nam giới so với nữ giới, và rằng đàn ông có ý thức công lý cao hơn. Những tình cảm độc quyền của phụ nữ quả thực dường như rất giống với tình yêu vô cùng bất công của Cato dành cho đất nước mình. Ông muốn nghiền nát Carthage, không phải để cứu Rome, mà để mưu cầu vinh quang hão huyền cho nó; và nhìn chung, nhân loại cũng thường bị hy sinh cho những nguyên lý tương tự, bởi vì các bổn phận chân chính luôn tương trợ lẫn nhau.
Bên cạnh đó, làm sao phụ nữ có được sự công bằng hay rộng lượng khi họ chính là nô lệ của sự bất công.
Vì việc nuôi dạy trẻ em — nghĩa là đặt nền móng cho một sức khỏe vững chắc cả về thể chất lẫn tinh thần ở thế hệ mai hậu — từ lâu đã được nhấn mạnh một cách chính xác là đích đến đặc biệt của người phụ nữ, nên sự dốt nát khiến họ mất đi năng lực ấy chắc chắn phải đi ngược lại với trật tự của muôn loài. Và tôi lập luận rằng tâm trí của họ có thể dung nạp nhiều hơn thế rất nhiều, và đáng lẽ phải làm được như vậy, bằng không họ sẽ chẳng bao giờ trở thành những người mẹ khôn ngoan. Nhiều người đàn ông chăm lo việc gây giống ngựa nhưng lại phớt lờ việc quản lý chuồng trại, những kẻ — ôi sự thiếu hụt trí tuệ và cảm xúc kỳ lạ làm sao! — lại tự cho rằng mình bị hạ thấp nếu để tâm đến nhà trẻ; thế nhưng, có biết bao nhiêu đứa trẻ đã hoàn toàn bị tước đoạt mạng sống bởi sự dốt nát của phụ nữ! Thế nhưng khi chúng may mắn trốn thoát, không bị hủy hoại bởi sự cẩu thả phi tự nhiên hay sự nuông chiều mù quáng, thì có mấy ai được đối xử đúng đắn đối với tâm trí trẻ thơ? Thế nên, để bẻ gãy cái tôi ngang bướng — thứ bị thả rông cho trở nên hư hỏng ngay tại nhà — một đứa trẻ được gửi đến trường; và những phương pháp được áp dụng ở đó, những phương pháp bắt buộc phải dùng để duy trì trật tự cho một đám đông trẻ em, lại gieo mầm mống cho hầu như mọi thói hư tật xấu vào mảnh đất bị cày xới một cách thô bạo ấy.
Tôi đôi khi so sánh những cuộc giãy giụa của những đứa trẻ tội nghiệp ấy — những đứa lẽ ra không bao giờ phải chịu sự kìm kẹp, và sẽ chẳng phải chịu nếu chúng luôn được kiềm chế bằng một bàn tay bình thản — với những cú tung người tuyệt vọng của một con ngựa tơ đầy khí phách mà tôi từng thấy người ta thuần hóa trên bãi biển; bốn chân của nó chìm xuống sâu hơn và sâu hơn trong lớp cát mỗi khi nó cố gắng hất văng người cưỡi, cho đến khi cuối cùng nó đành uất ức khuất phục.
Tôi vẫn luôn thấy ngựa — loài vật mà tôi rất quý mến — vô cùng dễ bảo khi được đối xử bằng sự nhân hậu và kiên định, đến mức tôi nghi ngờ liệu những phương pháp bạo lực dùng để thuần hóa chúng có làm tổn hại nghiêm trọng đến bản chất của chúng hay không; tuy nhiên, tôi chắc chắn rằng một đứa trẻ không bao giờ nên bị thuần hóa bằng vũ lực như vậy sau khi nó đã vô tình được thả rông cho lêu lổng; bởi vì mọi sự vi phạm công lý và lý trí trong việc đối xử với trẻ em đều làm suy yếu lý trí của chúng. Và chúng sớm hình thành tính cách đến mức — kinh nghiệm dẫn dắt tôi suy luận rằng — nền tảng của phẩm chất đạo đức được ấn định trước năm chúng lên bảy tuổi, khoảng thời gian mà phụ nữ được phép nắm giữ toàn quyền nuôi dạy trẻ. Sau đó, quá nửa công việc giáo dục thường là để uốn nắn lại — và việc đó được thực hiện vô cùng kém cỏi nếu làm một cách vội vã — những lỗi lầm mà lẽ ra chúng sẽ chẳng bao giờ mắc phải nếu các bà mẹ có nhiều sự hiểu biết hơn.
Một ví dụ nổi bật về sự ngốc nghếch của phụ nữ không thể bị bỏ sót. Đó là cách họ đối xử với người hầu trước mặt trẻ em, cho phép chúng nghĩ rằng những người hầu phải phục vụ mình và chịu đựng mọi thói hư tật xấu của chúng. Một đứa trẻ luôn phải được dạy cách đón nhận sự giúp đỡ từ một người đàn ông hay người phụ nữ như một ân huệ; và như bài học vỡ lòng về tính tự lập, chúng phải được dạy dỗ bằng thực tế qua tấm gương của người mẹ rằng không được đòi hỏi sự phục vụ cá nhân — thứ mà việc đòi hỏi khi đang khỏe mạnh là một sự lăng mạ đối với nhân loại; và thay vì bị dẫn dắt để ra vẻ ta đây quan trọng, ý thức về sự yếu đuối của bản thân trước tiên phải làm cho chúng cảm nhận được sự bình đẳng tự nhiên của con người. Thế nhưng, biết bao nhiêu lần tôi từng phẫn nộ khi nghe thấy đám người hầu bị sai khiến một cách hống hách để bắt trẻ con đi ngủ, rồi lại bị gọi quay lại hết lần này đến lần khác chỉ vì cậu ấm hay cô chiêu cứ bám rết lấy mẹ để được chơi thêm chút nữa. Bằng cách đó, bị bắt phải phục tùng như nô lệ để chiều chuộng cái tiểu thần tượng ấy, toàn bộ những tính khí ghê tởm nhất đặc trưng cho một đứa trẻ hư hỏng đều được phơi bày.
Tóm lại, nói về đa số các bà mẹ, họ phó mặc con cái hoàn toàn cho người hầu chăm sóc; hoặc vì đó là con cái của họ, họ đối xử với chúng như thể chúng là những vị tiểu thần linh, mặc dù tôi luôn quan sát thấy rằng những người phụ nữ tôn sùng con cái mình như thế hiếm khi thể hiện lòng nhân ái thông thường với người hầu, hay cảm thấy dù chỉ một chút dịu dàng với bất kỳ đứa trẻ nào khác ngoài con ruột của họ.
Tuy nhiên, chính những tình cảm độc quyền này, cùng với cách nhìn nhận sự việc mang tính cá nhân được sản sinh bởi sự dốt nát, đã kìm hãm phụ nữ vĩnh viễn ở một chỗ trên con đường tiến bộ, và khiến nhiều người trong số họ cống hiến cả cuộc đời mình cho con cái chỉ để làm suy yếu thể chất và hủy hoại tính tình của chúng, đồng thời phá hỏng bất kỳ kế hoạch giáo dục nào mà một người cha lý trí hơn có thể áp dụng; bởi vì trừ khi người mẹ đồng lòng, người cha nào đóng vai trò kìm kẹp sẽ luôn bị coi là một kẻ bạo chúa.
Thế nhưng, khi hoàn thành các bổn phận của một người mẹ, một phụ nữ có thể chất khỏe mạnh vẫn có thể giữ cho bề ngoài của mình luôn gọn gàng một cách cẩn trọng, và phụ giúp gia đình kiếm sống nếu cần thiết, hoặc thông qua việc đọc sách và trò chuyện với cả hai giới một cách không phân biệt để trau dồi tâm trí. Bởi vì tự nhiên đã sắp đặt mọi thứ khôn ngoan đến mức, nếu phụ nữ cho con bú, họ sẽ bảo tồn được sức khỏe của chính mình, và khoảng cách giữa các lần sinh con sẽ đủ dài để chúng ta hiếm khi nhìn thấy một ngôi nhà đầy ắp trẻ thơ. Và nếu họ theo đuổi một kế hoạch ứng xử đúng đắn thay vì lãng phí thời gian chạy theo những trò tiêu khiển thời thượng của trang phục, thì việc quản lý gia đình và con cái sẽ không hề đẩy họ ra khỏi văn chương, cũng không ngăn cản họ gắn bó với một môn khoa học bằng ánh mắt kiên định giúp củng cố tâm trí, hay luyện tập một trong các bộ môn nghệ thuật tinh tế giúp bồi dưỡng gu thẩm mỹ.
Thế nhưng, những chuyến viếng thăm để khoe mẽ trang sức, những ván bài, và các buổi vũ hội — chưa kể đến sự bận rộn vô bổ của những trò tiêu khiển buổi sáng — đã kéo phụ nữ rời xa bổn phận của mình, biến họ thành những kẻ tầm thường, khiến họ trở nên đẹp lòng — theo nghĩa chấp nhận hiện tại của từ này — đối với mọi người đàn ông ngoại trừ chồng của họ. Bởi vì một chuỗi các cuộc vui chơi mà trong đó tình cảm không được rèn luyện thì không thể coi là làm phong phú thêm sự hiểu biết, mặc dù nó bị gọi nhầm là "hiểu biết thế gian"; thế nhưng trái tim lại trở nên lạnh giá và ác cảm với bổn phận bởi thứ giao du vô nghĩa ấy — thứ dần trở thành một nhu cầu do thói quen, ngay cả khi nó đã ngừng mang lại sự giải trí.
Thế nhưng, cho đến khi sự bình đẳng hơn được thiết lập trong xã hội, cho đến khi các tầng lớp bị xóa nhòa và phụ nữ được giải phóng, chúng ta sẽ không thể chứng kiến thứ hạnh phúc gia đình đầy trang nghiêm ấy — thứ sự vĩ đại mộc mạc mà những tâm trí dốt nát hoặc đồi bại không thể nào cảm nhận được; nhiệm vụ quan trọng của giáo dục cũng sẽ chẳng bao giờ được khởi đầu một cách đúng đắn cho đến khi thân xác của một người phụ nữ không còn được ưu ái hơn tâm trí của cô ấy. Bởi vì việc hy vọng thu hoạch lúa mì từ cỏ lùng, hay quả vả từ cây ké cũng khôn ngoan chẳng kém gì việc trông đợi một người phụ nữ ngốc nghếch dốt nát có thể trở thành một người mẹ tốt.
Bây giờ, khi bước vào những suy ngẫm kết luận, tôi không cần phải thông báo cho vị độc giả tinh tế biết rằng cuộc thảo luận về chủ đề này chỉ đơn thuần bao gồm việc khai mở một vài nguyên tắc đơn giản và dọn sạch đống rác rưởi đang làm mờ đi chúng. Thế nhưng, vì không phải độc giả nào cũng tinh tế, tôi mong được phép bổ sung thêm một số nhận xét mang tính giải thích để đưa vấn đề trở lại với lý trí — đến với thứ lý trí lười biếng, kẻ thản nhiên tiếp nhận các quan điểm một cách mù quáng và kiên quyết bảo vệ chúng chỉ để đỡ phải nhọc công suy nghĩ.
Các nhà đạo đức học đều đồng lòng nhất trí rằng, trừ khi đức hạnh được nuôi dưỡng bởi tự do, nó sẽ chẳng bao giờ đạt được sức mạnh đích đáng — và những gì họ nói về con người, tôi mở rộng ra cho toàn thể nhân loại, khẳng định rằng trong mọi trường hợp, đạo đức phải được neo giữ trên những nguyên tắc bất biến; và không thể gọi một sinh thể là có lý trí hay đức hạnh khi kẻ đó tuân theo bất kỳ uy quyền nào khác ngoài uy quyền của lý trí.
Để biến phụ nữ thực sự trở thành những thành viên hữu ích cho xã hội, tôi lập luận rằng họ nên được dẫn dắt — bằng cách vun đắp sự hiểu biết của họ trên một quy mô lớn — để đạt được một tình cảm hợp lý dành cho đất nước mình, được xây dựng trên tri thức, bởi vì hiển nhiên là chúng ta chẳng thể mảy may quan tâm đến những gì mình không hiểu. Và để làm cho tri thức chung này đạt được tầm quan trọng xứng đáng, tôi đã cố gắng chỉ ra rằng các bổn phận riêng tư sẽ không bao giờ được thực hiện một cách thỏa đáng trừ khi sự hiểu biết làm rộng mở trái tim; và rằng đức hạnh công cộng chỉ là tổng hòa của đức hạnh tư gia. Thế nhưng, những sự phân biệt được thiết lập trong xã hội lại đang hủy hoại cả hai khi dát mỏng thứ vàng ròng của đức hạnh cho đến khi nó chỉ còn là lớp vỏ bọc mạ vàng của tội lỗi; bởi vì chừng nào sự giàu có còn làm cho một người đàn ông trở nên đáng kính hơn đức hạnh, thì sự giàu có sẽ còn được tìm kiếm trước cả đức hạnh; và chừng nào thân xác của phụ nữ còn được ve vuốt ngay cả khi một nụ cười ngây ngô cho thấy sự lơ đễnh — thì tâm trí sẽ mãi bị bỏ hoang. Thế nhưng, sự khoái lạc đích thực phải bắt nguồn từ tâm trí — bởi vì có gì có thể sánh kịp với những cảm giác do tình cảm gắn bó tương hỗ mang lại, được chống đỡ bởi sự tôn trọng lẫn nhau? Những cái ôm ấp lạnh lẽo hoặc đầy sốt sắng của dục vọng là gì, nếu không phải là tội lỗi đang ôm lấy cái chết, khi đem so sánh với sự trào dâng khiêm nhường của một trái tim thuần khiết và trí tưởng tượng cao cả? Phải, hãy để tôi nói với kẻ phóng túng của trí tưởng tượng khi hắn coi thường trí tuệ ở người phụ nữ — rằng tâm trí mà hắn đang phớt lờ chính là thứ thổi bùng sự sống cho tình cảm nhiệt thành — nguồn duy nhất có thể tuôn chảy ra sự cuồng nhiệt, dẫu ngắn ngủi đến đâu! Và rằng, không có đức hạnh, một sự gắn bó thể xác sẽ lụi tàn giống như một cây nến mỡ đã cháy đến sát đế, tạo ra sự ghê tởm không thể chịu đựng nổi. Để chứng minh điều này, tôi chỉ cần quan sát thấy rằng những người đàn ông đã phung phí phần lớn cuộc đời mình bên những người phụ nữ — những kẻ mà họ tìm kiếm sự hoan lạc với cơn khát cuồng nhiệt — lại nuôi dưỡng cái nhìn thấp hèn nhất về phái nữ. Hỡi Đức hạnh, bậc tinh luyện niềm vui đích thực! Nếu những kẻ ngốc nghếch dọa dẫm xua đuổi ngươi khỏi mặt đất chỉ để thả lỏng mọi dục vọng của chúng mà không có bất kỳ sự kìm hãm nào — thể nào cũng có một gã sành sỏi mang tâm hồn xác thịt trèo lên tận thiên đường để mời ngươi quay trở lại, nhằm tô điểm thêm chút hương vị cho niềm vui!
Rằng phụ nữ hiện nay vì sự dốt nát mà trở nên ngốc nghếch hay đồi bại, tôi nghĩ là điều không thể bàn cãi; và rằng những hiệu quả lành mạnh nhất nhằm cải thiện nhân loại có thể được kỳ vọng từ một CUỘC CÁCH MẠNG trong cách ứng xử của phái nữ, ít ra cũng hiện lên với vẻ bề ngoài đầy tính xác thực xuất phát từ quan sát đó. Bởi vì giống như hôn nhân từng được gọi là cội nguồn của những mối tình thâm trầm kéo con người ra khỏi bầy đàn thú tính, mối giao du đồi bại mà sự giàu có, sự nhàn rỗi và sự ngốc nghếch tạo ra giữa hai giới lại mang tính hủy hoại đối với đạo đức một cách phổ quát hơn so với tất cả các thói hư tật xấu khác của nhân loại gộp lại. Những bổn phận thiêng liêng nhất bị hy sinh cho dục vọng ngoại tình, bởi vì trước khi kết hôn, đàn ông — qua sự thân mật bừa bãi với phụ nữ — đã học được cách coi tình yêu như một sự thỏa mãn ích kỷ; học được cách tách rời nó không chỉ khỏi sự kính trọng, mà còn khỏi thứ tình cảm được xây dựng thuần túy trên thói quen — thứ vốn pha lẫn chút ít lòng nhân ái vào đó. Công lý và tình bạn cũng bị thách thức, và thứ gu thẩm mỹ thuần khiết vốn tự nhiên dẫn dắt một người đàn ông ưa chuộng một màn thể hiện tình cảm mộc mạc hơn là những điệu bộ giả tạo cũng bị vấy bẩn. Thế nhưng, thứ sự đơn giản cao cả của tình cảm — thứ dám xuất hiện mà không cần trang sức — lại có rất ít sức hút đối với kẻ phóng túng, mặc dù đó chính là thứ bùa chú giúp củng cố mối lương duyên vợ chồng, đảm bảo cho những bảo chứng của một niềm đam mê nồng nhiệt hơn nhận được sự quan tâm cần thiết từ cha mẹ; bởi vì trẻ em sẽ không bao giờ được giáo dục một cách đúng đắn cho đến khi tình bạn tồn tại giữa các bậc phụ huynh. Đức hạnh bay trốn khỏi một ngôi nhà bị chia rẽ chống lại chính nó — và cả một quân đoàn quỷ dữ kéo đến trú ngụ ở đó.
Tình cảm giữa vợ và chồng không thể nào thuần khiết khi họ có quá ít những tâm tư chung, và khi sự tin tưởng được thiết lập ở nhà quá đỗi ít ỏi — điều chắc chắn sẽ xảy ra khi các mưu cầu của họ quá khác biệt. Sự thân mật vốn là nguồn cội của sự dịu dàng sẽ không thể — và không bao giờ — tồn tại giữa những kẻ đồi bại.
Do đó, khi lập luận rằng sự phân biệt giới tính mà đàn ông vẫn khăng khăng bảo vệ chỉ là một sự tùy tiện, tôi đã xoáy sâu vào một quan sát mà một số người đàn ông khôn ngoan từng trò chuyện với tôi về chủ đề này đã thừa nhận là có cơ sở vững chắc; và nó đơn giản thế này: việc có rất ít sự trinh bạch tồn tại trong giới nam, cùng với sự xem nhẹ hệ quả dành cho sự khiêm nhường, đang có xu hướng làm suy hóa cả hai giới; và hơn thế nữa, sự khiêm nhường của phụ nữ — bị đóng khung như thế — sẽ thường chỉ là chiếc mặt nạ xảo quyệt của sự lẳng lơ, thay vì là sự phản chiếu tự nhiên của sự thuần khiết, chừng nào sự khiêm nhường chưa được tôn trọng phổ quát.
Tôi tin chắc rằng phần lớn những thói hư tật xấu của phụ nữ bắt nguồn từ sự chuyên chế của đàn ông; và sự xảo quyệt — thứ mà tôi thừa nhận hiện đang cấu thành một phần trong tính cách của họ — cũng được tôi liên tục chứng minh là do sự áp bức sinh ra. Chẳng phải những người theo phái ly khai (dissenters), ví dụ vậy, là một tầng lớp người được mô tả bằng sự thật nghiêm ngặt là đầy mưu mẹo đó sao? Và tôi có thể nhấn mạnh vào sự thật này để chứng minh rằng bất cứ khi nào có một quyền lực nào khác ngoài lý trí kìm hãm tinh thần tự do của con người, thì sự ngụy tạo sẽ được thực hành, và những mưu chước đủ kiểu của nghệ thuật sẽ tự nhiên được kêu gọi xuất hiện? Sự chú ý lớn lao dành cho phép tắc xã giao — thứ bị đẩy đến mức độ câu nệ tỉ mỉ — cùng toàn bộ sự bận rộn trẻ con về những chuyện vụn vặt và sự trang trọng đầy ta đây mà bức biếm họa của Butler về một tín đồ phái ly khai gợi lên trong trí tưởng tượng, đã nhào nặn cả thể xác lẫn tâm trí họ vào cái khuôn của sự nhỏ mỏn tẻ nhạt. Tôi đang nói đến tính tập thể, bởi vì tôi thừa nhận có biết bao nhiêu tấm gương tô điểm cho nhân loại từng được ghi danh trong số các giáo phái; tuy nhiên, tôi khẳng định rằng cùng một định kiến hẹp hòi dành cho giáo phái của họ — giống như thứ phụ nữ dành cho gia đình — vẫn ngự trị trong cộng đồng những người theo phái ly khai, dù họ có đáng kính ở những phương diện khác; và rằng cùng một sự thận trọng nhút nhát hoặc những nỗ lực bốc đồng đôi khi cũng làm hoen ố các nỗ lực của cả hai phía. Sự áp bức cứ thế nhào nặn nên nhiều nét trong tính cách của họ khớp hoàn toàn với một nửa nhân loại đang bị áp bức; bởi vì chẳng phải ai cũng rõ rành rành rằng những người theo phái ly khai cũng giống như phụ nữ, rất thích cùng nhau bàn chuyện và xin lời khuyên của nhau, cho đến khi nhờ một chuỗi những mưu toan vụn vặt, một mục đích nhỏ nhoi nào đó được hoàn thành hay sao? Sự chú ý tương tự nhằm bảo vệ danh tiếng của họ cũng hiện lên rành rành trong thế giới của những người ly khai và thế giới phụ nữ, và được sinh ra bởi một nguyên nhân tương tự.
Khi đòi hỏi những quyền lợi mà phụ nữ cùng với đàn ông phải đấu tranh giành lấy, tôi chưa từng cố gắng giảm nhẹ những lỗi lầm của họ; mà là để chứng minh chúng là hệ quả tất yếu từ nền giáo dục và địa vị của họ trong xã hội. Nếu vậy, thật hợp lý khi cho rằng họ sẽ thay đổi tính cách, sửa chữa những thói hư tật xấu và sự ngốc nghếch của mình khi họ được phép tự do về mặt thể chất, đạo đức và dân sự.
Hãy để người phụ nữ được chia sẻ các quyền lợi, và cô ấy sẽ thi đua noi theo những đức hạnh của đàn ông; bởi vì cô ấy buộc phải trở nên hoàn thiện hơn khi được giải phóng, bằng không sẽ phải biện minh cho thứ uy quyền đang trói buộc một sinh thể yếu ớt như vậy vào bổn phận của cô ta. Nếu là vế sau, sẽ là khôn ngoan khi mở ra một mối buôn bán mới với nước Nga để nhập roi da — món quà mà một người cha nên luôn dành tặng cho con rể vào ngày cưới của nó, để một người chồng có thể giữ cho toàn bộ gia đình mình vào nề nếp bằng đúng những phương pháp đó; và mà không cần vi phạm bất kỳ công lý nào vẫn có thể ngự trị, vung vẩy chiếc vương trượng này, làm chúa tể duy nhất trong ngôi nhà của mình, bởi vì anh ta là sinh thể duy nhất trong đó có lý trí; thứ chủ quyền trần thế thiêng liêng, bất khả xâm phạm được thổi vào con người bởi Chúa tể của vũ trụ. Thừa nhận quan điểm này, phụ nữ chẳng có bất kỳ quyền lợi bẩm sinh nào để mà đòi hỏi; và theo logic đó, các bổn phận của họ cũng tan biến theo, bởi vì quyền lợi và bổn phận là những thứ không thể tách rời.
Vậy hỡi những người đàn ông có trí tuệ, hãy tỏ ra công bằng đi! Và đừng phán xét những hành động sai trái của phụ nữ một cách khắt khe hơn những chiêu trò đồi bại của con ngựa hay con lừa mà các ngươi đang cung cấp cỏ rác cho chúng, đồng thời hãy ban cho cô ấy những đặc quyền của sự dốt nát — thứ mà các ngươi đang tước đoạt các quyền lợi của lý trí — bằng không các ngươi sẽ còn tệ hơn cả những kẻ cai thợ Ai Cập, khi cứ mãi trông đợi bông hoa đức hạnh mọc lên ở nơi tự nhiên chưa từng ban cho sự hiểu biết!