A Vindication Of The Rights Of Woman

Lượt đọc: 221 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
Danh Tiếng

❊ ❊ ❊

Từ lâu tôi đã nhận thấy rằng những lời khuyên răn về phép tắc ứng xử cùng trăm phương ngàn kế nhằm gìn giữ thanh danh vốn được ra sức nhồi nhét vào đầu óc giới nữ, thực chất chỉ là thứ độc dược hào nhoáng bề ngoài. Chúng đóng một lớp vỏ xơ cứng lên đạo đức để rồi gặm nhấm dần bản chất cốt lõi bên trong. Việc đong đếm những cái bóng hư ảo ấy chỉ đem lại những phép tính sai lầm, bởi lẽ bóng dài hay ngắn phụ thuộc rất nhiều vào độ cao của vầng thái dương cùng biết bao yếu tố ngẫu nhiên khác.

Thói ứng xử xảo quyệt mà nhã nhặn của kẻ xu nịnh chốn cung đình bắt nguồn từ đâu? Chắc chắn là từ hoàn cảnh của hắn: vì luôn cần vây cánh dưới quyền, hắn buộc phải học ngón nghề từ chối khéo léo để không làm phật lòng ai, đồng thời nuôi dưỡng hy vọng hão huyền của kẻ khác bằng thứ thức ăn vô hình của loài tắc kè hoa. Cứ như thế, thói lịch thiệp đem chân lý ra làm trò đùa, làm xói mòn lòng chân thành và tính nhân bản tự nhiên của con người, để rồi nhào nặn nên một kẻ mang danh quý ông tao nhã.

Phụ nữ cũng theo cách tương tự, vì ảo tưởng vào một sự cần thiết giả tạo, mà hình thành nên một lối hành xử giả tạo không kém. Thế nhưng, chẳng ai đùa giỡn với chân lý mà không phải trả giá; kẻ dối trá quen thói rốt cuộc sẽ trở thành nạn nhân của chính mánh khóe của mình, đánh mất đi sự sáng suốt mà người ta thường gọi rất đúng là lương tri. Lương tri ấy chính là khả năng nắm bắt nhanh nhạy những chân lý bình dị vốn luôn được một tâm hồn chất phác đón nhận, dẫu cho tâm hồn ấy có thể không đủ năng lực tự mình khám phá ra chân lý khi chúng bị định kiến địa phương che khuất. Phần đông người ta nhắm mắt tin theo ý kiến của kẻ khác chỉ để đỡ nhọc công suy nghĩ, và những kẻ lười biếng này đương nhiên chỉ biết bám vào câu chữ thay vì tinh thần của luật pháp, bất kể đó là luật của trời hay của người. Một tác giả nào đó mà tôi không nhớ tên từng viết: "Đàn bà chẳng màng tới những gì chỉ có trời cao trông thấy." Quả thực, cớ sao họ phải màng tới? Bởi từ xưa tới nay, họ chỉ được dạy phải khiếp sợ ánh mắt của người đời — và một khi đã ru ngủ được gã khổng lồ Argus canh chừng mình, họ hiếm khi nghĩ đến trời cao hay chính bản thân, chừng nào thanh danh của họ vẫn còn an toàn. Và chính cái thanh danh ấy, chứ không phải sự trinh bạch cùng muôn vàn phẩm hạnh thanh cao đi kèm, mới là điều họ nhọc công giữ gìn cho không vướng tì vết; họ làm vậy không phải vì đức hạnh, mà chỉ cốt giữ vững địa vị của mình giữa cõi đời.

Để chứng minh cho nhận định này, tôi chỉ cần viện dẫn những thói dan díu vụng trộm của giới phụ nữ đã có chồng, đặc biệt là trong tầng lớp thượng lưu và tại những xứ sở nơi hôn nhân của nữ giới hoàn toàn do cha mẹ sắp đặt theo môn đăng hộ đối. Nếu một cô gái ngây thơ trót sa chân vào lưới tình, nàng sẽ bị xã hội ruồng bỏ và ô danh suốt đời, dẫu tâm hồn nàng chưa hề vấy bẩn bởi những thủ đoạn mà các phụ nữ có chồng vẫn thản nhiên thực hiện dưới bức bình phong hôn nhân tiện lợi; nàng cũng chẳng hề vi phạm bổn phận nào — ngoại trừ bổn phận tự tôn chính mình. Ngược lại, người đàn bà có chồng lại chà đạp lên một cam kết thiêng liêng nhất, trở thành một người mẹ tàn nhẫn khi đã là một kẻ đầu ấp tay gối giả dối và phản trắc. Nếu người chồng vẫn còn dành tình cảm cho ả, thì những mưu mô ả dùng để lừa dối chàng sẽ biến ả thành kẻ đáng khinh bỉ nhất trên đời; và dù thế nào đi nữa, những toan tính cần thiết để giữ thể diện bên ngoài cũng sẽ giam cầm tâm trí ả trong một cơn hỗn loạn nông nổi hoặc đồi bại, hủy hoại mọi nguồn sinh lực tinh thần. Hơn thế nữa, theo thời gian, như những kẻ nghiện rượu thuốc để vực dậy tinh thần, ả sẽ thèm muốn những cuộc phiêu lưu tình ái vụng trộm nhằm khuấy động tâm tư, bởi lẽ ả đã mất hết cảm giác trước những thú vui không được nêm nếm đậm đà bằng gia vị của hy vọng và âu lo.

Đôi khi các phụ nữ có chồng còn hành xử trơ trẽn hơn thế nhiều; tôi xin nêu ra một ví dụ.

Một quý bà quyền quý, vốn khét tiếng vì những mối tình lăng nhăng, song nhờ vẫn sống chung với chồng nên chẳng ai dám xếp bà ta vào đúng cái tầng lớp nhơ nhuốc mà bà ta xứng đáng thuộc về. Người đàn bà này lại cố tình đối xử với sự khinh miệt lăng mạ tột cùng đối với một sinh linh tội nghiệp, nhút nhát, đang co mình hổ thẹn vì lầm lỡ trong quá khứ — một cô gái từng bị một nhà quý tộc láng giềng quyến rũ rồi sau đó cưới làm vợ. Quý bà này đã thực sự đánh đồng đức hạnh với danh tiếng bên ngoài; và tôi tin chắc rằng bà ta từng tự mãn khôn cùng về sự đoan trang đúng mực của mình trước khi cưới, dẫu cho một khi đã yên bề gia thất làm thỏa lòng gia tộc, cả bà ta lẫn ông chồng quý tộc đều lang chạ phản trắc như nhau — đến nỗi cái đứa con yếu ớt nối dõi cơ nghiệp đồ sộ kia chỉ có trời mới biết đích thực là giọt máu của ai!

Hãy nhìn nhận vấn đề này dưới một góc độ khác.

Tôi từng biết nhiều phụ nữ, nếu họ không yêu chồng thì cũng chẳng yêu ai khác, họ dâng trọn đời mình cho thói phù phiếm và ăn chơi sa đọa, bỏ bê mọi bổn phận gia đình; thậm chí họ còn phung phí toàn bộ tiền bạc lẽ ra phải tích cóp cho đàn con thơ dại, thế nhưng họ vẫn ngạo nghễ tự hào về thanh danh không một vết nhơ của mình, như thể toàn bộ bổn phận làm vợ làm mẹ chỉ thu gọn trong việc bảo toàn tấm danh hào nhoáng ấy. Trong khi đó, những người đàn bà lười biếng khác, phớt lờ mọi bổn phận cá nhân, lại đinh ninh rằng mình xứng đáng đón nhận tình yêu thương của chồng chỉ vì xét về phương diện trinh tiết, họ hành xử hoàn toàn đoan chính.

Những tâm trí non nớt luôn thích bám víu vào những nghi thức bề ngoài của bổn phận, trong khi nền đạo đức chân chính lại đưa ra những động cơ giản dị hơn nhiều. Thật đáng ước ao biết bao nếu các nhà đạo đức học hời hợt bớt rao giảng về hành vi cử chỉ cùng những phép tắc hình thức, bởi lẽ chừng nào đức hạnh thuộc bất kỳ thể loại nào chưa được xây đắp trên nền tảng tri thức, nó sẽ chỉ tạo ra một thứ đoan trang nhạt nhẽo. Tuy nhiên, việc tôn sùng dư luận thiên hạ lại được coi là bổn phận tối thượng của phụ nữ bằng những lời lẽ dứt khoát nhất, như Rousseau từng tuyên bố rằng: "Đối với phụ nữ, danh tiếng cũng không thể thiếu như chính trinh tiết vậy." Ông nói thêm: "Một người đàn ông, khi tự tin vào phẩm hạnh của mình, chỉ phụ thuộc vào bản thân và có thể thách thức công luận; nhưng một người phụ nữ, dù cư xử tốt, cũng mới chỉ hoàn thành một nửa bổn phận; bởi lẽ người đời nghĩ gì về nàng cũng hệ trọng ngang với con người thực của nàng. Do đó, hệ thống giáo dục dành cho phụ nữ, xét về phương diện này, phải hoàn toàn trái ngược với hệ thống của chúng ta. Dư luận là nấm mồ chôn vùi đức hạnh của đàn ông, nhưng lại là ngai vàng của đức hạnh nơi đàn bà." Thật hoàn toàn hợp lý khi suy luận rằng thứ đức hạnh dựa dẫm vào dư luận chỉ thuần túy mang tính trần tục, và đó là đức hạnh của một sinh linh bị tước đoạt lý trí. Thế nhưng, ngay cả khi xét về phương diện dư luận thế gian, tôi đoan chắc rằng nhóm học giả suy luận theo lối này đã hoàn toàn lầm lẫn.

Mối bận tâm thái quá về danh tiếng này, ngoài việc nó là phần thưởng tự nhiên của đức hạnh, kỳ thực lại bắt nguồn từ một căn nguyên mà tôi đã từng than thở như là cội nguồn lớn nhất dẫn đến sự suy đồi của nữ giới: đó là người phụ nữ một khi đã lầm lỡ thì vĩnh viễn không thể tìm lại được sự tôn trọng dù có quay về với nẻo thiện, trong khi đàn ông vẫn bảo toàn được danh giá của mình ngay cả lúc buông mình vào trụy lạc. Do đó, việc phụ nữ ra sức gìn giữ thứ mà một khi đã mất là mất đi vĩnh viễn cũng là lẽ tự nhiên, cho đến khi mối lo toan ấy nuốt chửng mọi âu lo khác, và danh tiếng về sự trinh bạch trở thành cứu cánh duy nhất của phái yếu. Nhưng sự câu nệ xuất phát từ ngu muội thật là vô ích, bởi lẽ cả tôn giáo lẫn đức hạnh, khi đã ngự trị trong tim, đều chẳng đòi hỏi sự chú mục ấu trĩ vào những nghi thức bề ngoài đến thế; bởi một khi động cơ đã thanh khiết thì hành vi xét về toàn thể ắt sẽ đoan chính.

Để củng cố cho quan điểm của mình, tôi có thể viện dẫn một bậc uy quyền đáng kính; và uy quyền của một nhà tư tưởng điềm tĩnh phải có đủ sức nặng để buộc người ta phải suy ngẫm, dù nó không dùng để áp đặt một tình cảm. Khi bàn về các quy luật đạo đức phổ quát, Tiến sĩ Smith nhận định: "Do một vài tình huống vô cùng bất thường và rủi ro, một người lương thiện có thể bị nghi ngờ mắc phải một tội ác mà bản thân hoàn toàn không thể làm ra, và vì lẽ đó mà phải chịu đựng sự ghê tởm cùng thù ghét bất công của người đời trong suốt phần đời còn lại. Do một tai họa thuộc loại này, người ấy có thể xem như mất đi tất cả, bất chấp sự chính trực và công minh của mình, giống như một kẻ cẩn trọng, dù có phòng bị chu đáo đến đâu, vẫn có thể bị hủy diệt bởi một trận động đất hay một cơn đại hồng thủy. Tuy nhiên, những tai ương thuộc loại thứ nhất có lẽ còn hiếm hoi hơn, và trái ngược với lẽ thường hơn nhiều so với loại thứ hai; và một sự thật bất biến là: việc thực hành chân lý, công lý và lòng nhân ái là phương thức chắc chắn và gần như tuyệt đối để đạt được mục tiêu tối hậu của các đức hạnh ấy — sự tin cậy và yêu mến của những người sống quanh ta. Người ta có thể dễ dàng bị hiểu lầm trong một hành vi cá biệt; nhưng hầu như không thể bị nhìn nhận sai lệch về toàn bộ cung cách sống chung. Một người vô tội có thể bị cho là đã làm điều sai trái, song điều này hiếm khi xảy ra. Ngược lại, tiếng thơm đã được khẳng định về sự trong sạch trong lối sống của một người thường sẽ khiến chúng ta dung thứ cho họ ngay cả khi họ thực sự có lỗi, dẫu cho các chứng cớ có rõ ràng đến đâu."

Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm của tác giả này, bởi tôi thực lòng tin rằng hiếm có ai thuộc bất kỳ giới tính nào lại bị khinh miệt vì những thói hư tật xấu nhất định mà bản thân lại không thực sự đáng bị khinh miệt. Tôi không nói đến những lời vu khống nhất thời, thứ treo lơ lửng trên thanh danh một người như những đám sương mù tháng Mười Một đặc quánh bao phủ đô thành này, cho đến khi nó tan biến dần trước ánh sáng ban ngày. Tôi chỉ khẳng định rằng, hành vi thường nhật của đại đa số người đời sẽ đủ sức đóng dấu ấn của sự thật lên nhân cách của họ. Ánh sáng chan hòa chiếu rọi ngày qua ngày sẽ lặng lẽ đánh tan những phỏng đoán ngu dốt hay những câu chuyện ác ý hòng bôi nhọ một nhân cách trong sạch. Thứ ánh sáng sai lệch có thể bóp méo cái bóng của nhân cách ấy — tức danh tiếng — trong một thoáng chốc; nhưng cái bóng ấy hiếm khi không trở lại đúng với thực tế một khi đám mây gây ra ảo giác thị giác kia bị xua tan.

Không nghi ngờ gì nữa, nhiều người trên vài phương diện đã có được tiếng tăm tốt hơn những gì họ thực sự xứng đáng được hưởng, bởi sự cần cù bền bỉ thường sẽ giúp người ta cán đích trong mọi cuộc đua. Những kẻ chỉ biết cật lực vì phần thưởng ti tiện này, giống như những người Pharisee đứng cầu nguyện nơi góc phố cốt để thiên hạ trông thấy, quả thực đã nhận được phần thưởng mà họ tìm kiếm; bởi lẽ lòng người làm sao người khác có thể thấu suốt được! Thế nhưng, tiếng thơm chân chính vốn được phản chiếu một cách tự nhiên từ những việc làm lương thiện — khi con người chỉ mải miết bước đi trên đường ngay nẻo chính mà chẳng bận tâm tới kẻ đứng nhìn — nhìn chung không chỉ chân thực hơn mà còn bền vững hơn nhiều.

Đúng là có những thử thách gian truân khi người thiện lương phải kêu cầu Thượng đế trước sự bất công của người đời; và giữa những lời xót thương giả tạo rên rỉ hay tiếng rít ghen hờn, người ấy phải dựng lên một chốn dung thân ngay trong tâm hồn mình để lui về ẩn náu cho tới khi cơn dông bão dư luận qua đi; thậm chí, những mũi tên chỉ trích vô cớ có thể xuyên thấu cõi lòng thơ ngây dịu dàng bằng muôn vàn nỗi đau; song tất cả những điều đó chỉ là ngoại lệ của các quy luật phổ biến. Và chính theo những quy luật phổ quát này mà hành vi con người cần phải được điều chỉnh. Quỹ đạo dị thường của một ngôi sao chổi chẳng bao giờ làm lay chuyển những phép tính thiên văn học về trật tự bất biến đã được thiết lập trong chuyển động của các thiên thể chính thuộc hệ mặt trời.

Bởi vậy, tôi mạo muội khẳng định rằng sau khi một con người đã đạt tới độ trưởng thành, bức tranh phác thảo chung về nhân cách của người đó trong mắt bàn dân thiên hạ nhìn chung là chuẩn xác, nếu trừ đi những trường hợp ngoại lệ đã nêu trên. Tôi không phủ nhận rằng một kẻ khôn ngoan, lọc lõi việc đời, kẻ chỉ sở hữu những phẩm chất và đức hạnh thụ động tiêu cực, đôi khi có thể gặt hái được một thanh danh êm đềm hơn một bậc hiền triết hay một người tốt thực thụ. Trái lại, từ trải nghiệm thực tế, tôi thiên về kết luận rằng nơi đâu đức hạnh của hai người ngang ngửa nhau, thì kẻ có nhân cách thụ động, mờ nhạt nhất lại thường được công chúng yêu mến hơn cả, trong khi người kia có thể có nhiều tri kỷ hơn trong đời sống riêng tư. Nhưng những đồi núi trập trùng, mây mù và ánh nắng rực rỡ hiện rõ trong phẩm hạnh của những vĩ nhân lại tôn vinh lẫn nhau; và dẫu chúng tạo thành mục tiêu rõ ràng hơn cho sự yếu hèn đố kỵ ngắm bắn, thì nhân cách thực sự vẫn sẽ tự mở đường bước ra ánh sáng, dù có bị vấy bẩn bởi sự yêu thương mù quáng hay ác tâm thâm độc.*

(*Ghi chú của tác giả: Tôi muốn ám chỉ tới nhiều tác phẩm tiểu sử khác nhau, nhưng đặc biệt là cuốn "Cuộc đời Johnson" của Boswell.)

Xét về nỗi âu lo giữ gìn một danh tiếng nhọc nhằn mới gây dựng được, điều khiến những kẻ thông thái phải dày công mổ xẻ, tôi sẽ không đưa ra những bình phẩm hiển nhiên; nhưng tôi e rằng nền đạo đức đang bị xói mòn một cách vô cùng hiểm độc trong giới nữ, bởi sự chú ý của họ đã bị hướng vào cái vỏ hào nhoáng bên ngoài thay vì bản chất cốt lõi. Một điều vốn giản dị nay lại bị làm cho phức tạp đến kỳ lạ; thậm chí, đôi khi đức hạnh và cái bóng của nó còn bị đặt vào thế đối chọi nhau. Có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ nghe nói đến nàng Lucretia, nếu như nàng chết đi để bảo toàn trinh tiết thay vì bảo toàn danh tiếng. Nếu chúng ta thực sự xứng đáng với sự tự tôn của chính mình, chúng ta thường sẽ được người đời kính trọng; nhưng nếu chúng ta khao khát vươn tới sự hoàn thiện và những cảnh giới cao hơn, thì việc tự soi xét bản thân theo cách ta ngỡ người khác nhìn mình là chưa đủ, dẫu điều này từng được lập luận tài tình như là nền tảng của các tình cảm đạo đức của chúng ta (Smith). Bởi lẽ mỗi kẻ đứng nhìn đều có thể mang những định kiến riêng, bên cạnh những định kiến của thời đại hay xứ sở của họ. Thay vào đó, chúng ta nên nỗ lực nhìn nhận bản thân theo cách ta hình dung Đấng Tối cao nhìn thấu chúng ta, Đấng thấu suốt từng ý nghĩ chớm nở thành hành động, và sự phán xét của Người không bao giờ chệch khỏi chuẩn mực vĩnh cửu của lẽ phải. Mọi phán xét của Người đều công chính — chí công như chính lòng từ ái vô biên!

Một tâm hồn khiêm nhường biết tìm kiếm ân sủng trước nhãn quan của Người, và điềm tĩnh tra xét hành vi của mình khi chỉ cảm nhận được sự hiện diện của Người, sẽ hiếm khi hình thành một nhận định sai lệch lớn lao về đức hạnh của chính bản thân. Trong những giờ khắc tĩnh lặng tự vấn, cái nhíu mày phẫn nộ của công lý bị xúc phạm sẽ được xoa dịu bằng nỗi kính sợ, hoặc sợi dây ràng buộc con người với Đấng Thiêng Liêng sẽ được nhận biết trong tình cảm thuần khiết của lòng tôn kính tôn thờ, một tình cảm làm tràn ngập con tim mà không khuấy động bất kỳ cảm xúc hỗn loạn nào. Trong những khoảnh khắc trang nghiêm ấy, con người phát hiện ra mầm mống của những thói hư tật xấu, thứ giống như loài cây độc Java tỏa ra làn hơi chướng độc hại xung quanh — tử thần rình rập dưới bóng râm! Thế nhưng người ấy nhìn nhận chúng mà không hề ghê tởm, bởi chàng cảm thấy mình được gắn kết bởi sợi dây yêu thương đối với toàn thể đồng loại, những kẻ mà chàng luôn nỗ lực tìm kiếm mọi lời biện minh cho những dại dột của họ nơi bản tính của chính họ — và nơi chính bản thân chàng. Chàng có thể tự nhủ rằng: nếu bản thân ta, một kẻ rèn luyện tâm trí và đã được tôi luyện qua gian truân, vẫn tìm thấy quả trứng rắn độc giấu trong một nếp gấp nào đó của con tim và phải vô cùng chật vật mới nghiền nát được nó, thì lẽ nào ta lại không xót thương những kẻ sinh ra kém phần kiên định, hay những kẻ đã vô tình nuôi dưỡng loài bò sát hiểm độc ấy cho đến khi nó đầu độc chính dòng máu nuôi sống nó? Lẽ nào ta, với nỗi tự ý thức về những tội lỗi thầm kín của mình, lại có thể rũ bỏ đồng loại và thản nhiên nhìn họ rơi xuống vực thẳm diệt vong đang há miệng chờ đón? Không! Không đời nào! Trái tim quặn thắt sẽ cất lên tiếng kêu trong nỗi nghẹn ngào khôn xiết: Ta cũng là một con người! Ta cũng có những thói hư, có lẽ được giấu kín khỏi mắt trần thế gian, những thứ đang đè bẹp ta xuống cát bụi trước mặt Thượng đế, và cất tiếng nói vang dội trong ta giữa lúc vạn vật lặng câm, nhắc nhở rằng chúng ta đều được nhào nặn từ cùng một nắm đất và hít thở cùng một bầu không khí. Lòng nhân ái cứ thế tự nhiên nảy nở từ sự khiêm nhường, và bện chặt những sợi dây yêu thương uốn lượn muôn nẻo vương vít lấy trái tim.

Lòng trắc ẩn này còn lan tỏa xa hơn nữa, cho đến khi một người cảm thấy hoan hỷ nhận ra sức nặng trong những lập luận vốn không đủ sức thuyết phục cõi lòng mình, và chàng vui lòng đặt dưới ánh sáng thuận lợi nhất cho bản thân những biểu hiện của lý lẽ đã dẫn dắt người khác lầm đường lạc lối, mừng rỡ khi tìm thấy đôi chút lý lẽ trong mọi sai lầm của nhân loại; dẫu trước đó chàng đã tin chắc rằng Đấng cai quản ngày đêm khiến mặt trời của Người soi rọi lên tất cả. Tuy nhiên, việc bắt tay với sự suy đồi theo cách ấy giống như một chân đứng trên mặt đất, còn chân kia sải bước táo bạo vươn lên thiên đường, tự nhận mối quan hệ họ hàng với những bản thể cao quý hơn. Những đức hạnh không được người đời đoái hoài sẽ tỏa hương thơm ngát dịu dàng vào giờ khắc mát mẻ này, và vùng đất khô cằn khát nước, được tưới mát bởi những dòng suối an ủi thanh khiết bất ngờ tuôn trào, sẽ đội lên chiếc vương miện xanh tươi mơn mởn; đây chính là sắc xanh tràn trề sự sống mà nhãn quan vốn quá đỗi tinh khiết chẳng thể dung thứ điều bất nghĩa có thể nhìn vào với niềm hoan hỷ! Nhưng tinh thần tôi đã chùng xuống; và tôi đành phải lặng lẽ đắm mình vào cơn mơ màng mà những suy tưởng này dẫn lối, bất lực không thể diễn tả xiết những tình cảm đã làm dịu mát tâm hồn tôi, khi ngắm nhìn vầng thái dương mọc lên, một cơn mưa rào êm dịu rả rích qua những vòm lá cây lân cận, dường như rơi xuống tâm tư đang uể oải nhưng thanh thản của tôi, làm nguội đi trái tim từng bị thiêu đốt bởi những ngọn lửa đam mê mà lý trí từng phải nhọc nhằn thuần hóa.

Những nguyên lý chủ đạo xuyên suốt mọi khảo luận của tôi sẽ khiến cho việc bàn rộng thêm về chủ đề này trở nên không cần thiết, nếu như việc thường xuyên chăm chút giữ cho lớp sơn bóng bẩy của nhân cách luôn tươi mới và nguyên vẹn không thường bị nhồi nhét như là toàn bộ bổn phận của nữ giới; nếu như những quy tắc điều chỉnh hành vi và bảo toàn danh tiếng không quá thường xuyên lấn át các nghĩa vụ đạo đức. Thế nhưng, khi nói đến danh tiếng, sự chú ý lại bị thu hẹp vào một đức hạnh duy nhất — lòng trinh bạch. Nếu danh dự của một người phụ nữ, theo cách gọi đầy vô lý của thiên hạ, được an toàn, thì nàng ta có thể phớt lờ mọi bổn phận xã hội; thậm chí có thể tàn phá gia đình bằng cờ bạc và thói xa hoa hoang phí; ấy thế mà vẫn có thể trơ trẽn ngẩng cao đầu — bởi trên danh nghĩa nàng quả là một người phụ nữ danh giá!

Bà Macaulay đã nhận xét rất xác đáng rằng: "Chỉ có duy nhất một lỗi lầm mà một phụ nữ danh giá không thể phạm phải mà vẫn bình an vô sự." Rồi bà tiếp tục bộc lộ sự thấu suốt đầy nhân văn: "Điều này đã làm nảy sinh một nhận định sáo rỗng và ngu xuẩn rằng, lỗi lầm đầu tiên xâm phạm đến trinh tiết của người phụ nữ có một sức mạnh căn bản làm tha hóa toàn bộ nhân cách. Thế nhưng bàn tay của tự nhiên không hề tạo ra những sinh linh mỏng manh đến thế. Tâm trí con người được xây đắp từ những chất liệu cao quý hơn nhiều để có thể dễ dàng bị tha hóa như vậy; và bất chấp mọi bất lợi về hoàn cảnh lẫn giáo dục, phụ nữ hiếm khi trở nên hoàn toàn trụy lạc trừ phi họ bị đẩy vào bước đường cùng tuyệt vọng bởi sự cay nghiệt đầy nọc độc của chính đồng giới."

Thế nhưng, tỷ lệ thuận với mức độ phụ nữ coi trọng danh tiếng trinh bạch là mức độ đàn ông coi rẻ nó: và hai thái cực này đều có sức tàn phá như nhau đối với nền đạo đức.

Đàn ông chắc chắn chịu sự chi phối của những dục vọng bản năng nhiều hơn phụ nữ; và dục vọng của họ lại càng bị làm cho đồi bại bởi sự nuông chiều vô độ cùng những mưu toan cầu kỳ nhằm thỏa mãn cơn ngấy ngấu. Thói xa hoa đã du nhập một sự tinh vi trong việc ăn uống làm tàn hại thể chất; cùng một mức độ phàm ăn tục uống thú tính đến nỗi cảm nhận về phép lịch sự đoan trang ắt hẳn đã bị bào mòn hết trước khi một kẻ có thể ăn uống vô độ trước mặt đồng loại, rồi sau đó lại than thở về cảm giác tức bụng khó chịu do chính thói vô độ của mình gây ra. Một số phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ Pháp, cũng đã đánh mất ý thức về sự lịch thiệp trong phương diện này; bởi họ có thể thản nhiên trò chuyện rôm rả về chứng khó tiêu của mình. Thật đáng mong ước sao cho thói lười biếng không được phép sản sinh, trên mảnh đất màu mỡ của sự giàu sang, những đàn côn trùng mùa hè chuyên rúc rỉa xác thối rữa; để rồi chúng ta không phải ghê tởm trước cảnh tượng của những sự thái quá tàn bạo dường ấy.

Có một quy tắc liên quan đến hành vi ứng xử mà tôi nghĩ nên điều chỉnh mọi quy tắc khác; đó đơn giản là hãy nuôi dưỡng một sự tôn trọng thường trực đối với nhân loại, đủ để ngăn chúng ta làm kinh tởm một đồng loại chỉ vì muốn thỏa mãn một sự buông thả nhất thời. Thói lười biếng đáng hổ thẹn của nhiều phụ nữ đã có chồng, cùng những người đã có tuổi, thường xuyên dẫn họ tới chỗ phạm tội chống lại sự tao nhã tinh tế. Bởi lẽ, dù tin chắc rằng thân xác là sợi dây liên kết giữa hai giới, song hỡi ôi, đã bao lần họ vì thói lười biếng thuần túy, hoặc để tận hưởng một sự nuông chiều vụn vặt, mà khiến người khác phải ghê tởm?

Sự suy đồi của dục vọng vốn kéo hai giới lại gần nhau đã để lại một hậu quả còn tai hại hơn nhiều. Tự nhiên phải luôn là thước đo của khiếu thẩm mỹ, là chuẩn mực của thèm muốn — ấy vậy mà tự nhiên bị kẻ đắm chìm trong nhục dục lăng nhục thô bạo biết bao. Gác lại những nét tinh tế thanh tao của tình yêu sang một bên; tự nhiên, bằng cách biến việc thỏa mãn dục vọng trong phương diện này, cũng như mọi phương diện khác, thành một quy luật tự nhiên và tất yếu để duy trì nòi giống, đã thăng hoa dục vọng ấy, và hòa quyện đôi chút tâm trí cùng tình cảm vào một cơn khoái lạc giác quan. Cảm xúc của bậc làm cha làm mẹ hòa trộn với một bản năng thuần túy động vật sẽ đem lại cho nó phẩm giá; và người đàn ông cùng người đàn bà thường gặp gỡ nhau vì đứa con, một mối quan tâm và tình yêu thương chung sẽ được khơi dậy nhờ sự thực hành một niềm đồng cảm chung. Khi ấy, phụ nữ tất yếu sẽ có một bổn phận cao quý hơn để hoàn thành thay vì chỉ biết tô điểm cho thân xác mình, họ sẽ không cam phận làm nô lệ cho những thèm muốn ngẫu nhiên của đàn ông — tình cảnh hiện thời của một bộ phận rất lớn phụ nữ, những người theo đúng nghĩa đen chỉ là những món ăn dọn sẵn ê chề cho bất kỳ kẻ háu đói nào tìm đến thưởng thức.

Người ta có thể bảo tôi rằng, dù sự ghê tởm này có to lớn đến đâu, nó cũng chỉ ảnh hưởng đến một bộ phận phụ nữ được hy sinh — hy sinh vì sự cứu rỗi của số còn lại. Thế nhưng, sai trái như mọi lời khẳng định dễ dàng bị lật tẩy vốn chủ trương chấp nhận một điều ác nhỏ để tạo ra một điều thiện lớn hơn; tai họa không dừng lại ở đó, bởi lẽ phẩm cách đạo đức cùng sự bình yên trong tâm hồn của bộ phận phụ nữ trinh thục hơn đang bị xói mòn bởi chính hành vi của những người đàn bà mà họ không cho một lối thoát khỏi tội lỗi: những kẻ bị họ tàn nhẫn đẩy vào việc thực hành những ngón nghề quyến rũ chồng họ, làm hư hỏng con trai họ, và ép buộc họ — những phụ nữ đoan trang chớ có giật mình — cũng phải khoác lên mình phần nào nhân cách nhơ nhuốc ấy. Bởi tôi dám cả quyết rằng, mọi căn nguyên dẫn đến sự yếu đuối cũng như suy đồi của nữ giới mà tôi đã phân tích sâu rộng, đều đâm chồi từ một căn nguyên vĩ đại duy nhất — sự thiếu trinh bạch ở đàn ông.

Thói vô độ lan tràn này làm băng hoại dục vọng đến mức người ta phải cần đến một sự kích thích dâm đãng mới có thể đánh thức nó; nhưng mục đích sinh thành của tự nhiên đã bị lãng quên, và thân xác trần trụi, chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, đã chiếm trọn tâm trí. Quả thực, kẻ rình mò sắc dục thường trở nên ham mê nhục cảm đến mức hắn tinh vi hóa sự mềm yếu của nữ giới để phục vụ thú vui của mình.

Để thỏa mãn cái bản tính này của đàn ông, phụ nữ bị biến thành những sinh vật gợi tình một cách có hệ thống, và dù không phải tất cả họ đều đẩy thói phóng đãng tới cùng một mức độ, song mối quan hệ vô tâm không tình cảm với giới tính kia mà họ tự cho phép mình tham gia đã làm băng hoại cả hai giới; bởi lẽ thị hiếu của đàn ông đã bị tha hóa, và phụ nữ ở mọi tầng lớp đương nhiên sẽ uốn nắn hành vi của mình cho vừa vặn với thị hiếu ấy, thứ giúp họ đạt được khoái lạc và quyền lực. Do đó, phụ nữ trở nên yếu ớt hơn về cả thể xác lẫn tinh thần so với mức lẽ ra họ phải có, nếu như một trong những mục đích vĩ đại nhất của sự tồn tại của họ được tính đến: đó là việc mang nặng đẻ đau và nuôi dưỡng con cái. Họ không có đủ sức lực để hoàn thành bổn phận đầu tiên của một người mẹ; và khi hy sinh tình mẫu tử — thứ tình cảm vốn nâng tầm bản năng — cho thói dâm đãng, họ hoặc là phá hủy phôi thai trong bụng mẹ, hoặc ruồng bỏ đứa trẻ khi nó vừa cất tiếng khóc chào đời. Tự nhiên trong mọi phương diện đều đòi hỏi sự tôn trọng, và những kẻ chà đạp lên các quy luật của nàng hiếm khi thoát khỏi sự trừng phạt. Những phụ nữ yếu đuối, kiệt quệ vốn đặc biệt thu hút sự chú ý của những kẻ phóng đãng, hoàn toàn không đủ tư cách làm mẹ dù họ có thể thụ thai; để rồi kẻ giàu có đắm chìm trong nhục dục, kẻ từng tung hoành trụy lạc giữa đám đàn bà, gieo rắc sự suy đồi và khổ đau, khi muốn lưu truyền dòng giống, chỉ nhận được từ người vợ của mình một sinh linh phát triển dở dang, thừa hưởng trọn vẹn sự ốm yếu bệnh hoạn của cả cha lẫn mẹ.

Khi đối chiếu lòng nhân đạo của thời đại ngày nay với sự man rợ của thời cổ đại, người ta thường nhấn mạnh vào hủ tục dã man vứt bỏ những đứa trẻ sơ sinh mà cha mẹ chúng không có khả năng nuôi dưỡng; trong khi đó, người đàn ông tự xưng là giàu lòng trắc ẩn, kẻ có lẽ đang cất lời than thở ấy, lại chính là kẻ qua những cuộc tình lăng nhăng bừa bãi đã tạo ra một tình trạng vô sinh vô cùng tai hại cùng sự lây lan của những thói bại hoại đạo đức. Chắc chắn tự nhiên chưa bao giờ có ý định để phụ nữ, bằng việc thỏa mãn một dục vọng, lại đi bóp chết chính mục đích mà dục vọng ấy được cấy vào trong họ!

Trước đây tôi đã từng nhận định rằng đàn ông phải có trách nhiệm chu cấp cho những phụ nữ mà họ đã quyến rũ; đây sẽ là một biện pháp giúp cải tạo phẩm hạnh của nữ giới, và chấm dứt một tệ nạn có tác động tai hại tương đương lên cả dân số lẫn đạo đức. Một biện pháp khác, không kém phần hiển nhiên, là hãy hướng sự chú ý của phụ nữ vào đức hạnh chân chính của sự trinh bạch; bởi một người phụ nữ khó lòng đòi hỏi sự tôn trọng về mặt nết na đoan trang, dẫu danh tiếng của nàng có trong trắng như tuyết mới rơi, nếu nàng vẫn mỉm cười lả lơi với kẻ phóng đãng trong khi lại tàn nhẫn xua đuổi những nạn nhân khốn khổ của dục vọng vô pháp của hắn cùng sự dại dột của chính họ.

Hơn nữa, bản thân người đàn bà ấy cũng đã vấy một vết nhơ của chính sự dại dột đó, dù ả luôn tự coi mình là thanh cao, khi ả cất công chải chuốt điểm trang thân xác chỉ cốt để đàn ông chiêm ngưỡng, để khơi gợi những tiếng thở dài tôn kính, cùng tất cả những sự cung phụng hão huyền của cái gọi là thói tán tỉnh vô hại. Giá như phụ nữ thực sự tôn kính đức hạnh vì chính bản thân nó, họ sẽ không tìm kiếm sự bù đắp nơi thói phù phiếm cho sự tiết chế mà họ buộc phải thực hành để bảo vệ danh tiếng của mình, và họ cũng sẽ không giao du với những gã đàn ông dám công khai thách thức mọi danh dự phẩm giá.

Hai giới luôn làm tha hóa lẫn nhau và cũng nâng đỡ hoàn thiện lẫn nhau. Tôi tin đây là một chân lý không thể bàn cãi, và nó đúng với mọi đức hạnh. Trinh bạch, khiêm nhường, tinh thần vì công chúng, cùng toàn bộ chuỗi đức hạnh cao quý làm nền tảng cho đức hạnh và hạnh phúc xã hội, phải được toàn thể nhân loại thấu hiểu và vun đắp, bằng không việc vun đắp ấy sẽ chẳng mang lại mấy hiệu quả. Và thay vì cung cấp cho những kẻ đồi bại hay lười biếng một cái cớ để vi phạm một bổn phận thiêng liêng nào đó bằng cách gán cho nó là đặc thù của riêng một giới tính, thì sẽ khôn ngoan hơn nhiều nếu chỉ ra rằng tự nhiên không hề tạo ra sự phân biệt nào cả; bởi kẻ đàn ông bất chính đã phá hoại mục đích của tự nhiên tới hai lần: vừa biến phụ nữ thành cằn cỗi vô sinh, vừa tự hủy hoại thể xác của chính mình, dẫu cho hắn trốn tránh được nỗi ô nhục vốn bám riết lấy tội lỗi ấy ở giới tính còn lại. Đó là những hậu quả về mặt thể xác, còn những hậu quả về mặt đạo đức thì thậm chí còn đáng báo động hơn; bởi lẽ đức hạnh sẽ chỉ là một sự phân biệt trên danh nghĩa khi các bổn phận của công dân, của người chồng, người vợ, người cha, người mẹ và người chủ gia đình, biến thành những sợi dây ràng buộc ích kỷ của sự tiện lợi tầm thường.

Vậy thì cớ sao các triết gia lại mải miết tìm kiếm tinh thần vì cộng đồng? Tinh thần vì cộng đồng phải được nuôi dưỡng bằng đức hạnh cá nhân trong đời sống riêng, bằng không nó sẽ chỉ giống như thứ tình cảm giả tạo khiến phụ nữ cẩn trọng giữ gìn danh tiếng và đàn ông lo sốt sắng bảo vệ danh dự của mình. Một thứ tình cảm thường tồn tại mà không hề có đức hạnh nâng đỡ, không được chống đỡ bởi nền đạo đức siêu phàm vốn coi việc thường xuyên vi phạm một bổn phận cũng chính là vi phạm toàn bộ luật pháp đạo đức.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Mary Wollstonecraft

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.