Điều đó không dễ. Dạo đó nó đã mất hai ngày để tìm ra cách cho chân vào chỗ nào, bám vào đâu, và làm sao để ép mình chui qua cái lỗ hẹp lúc đầu có vẻ không thể chui qua nổi, ở phía hông nhà, mở ra ở chỗ thiếu mấy tấm ván dưới máng nước; bây giờ thì dĩ nhiên tất cả chỉ trong nửa phút: ĩ nó nhảy lên đỉnh đống gỗ được phủ tấm bạt đen, bám vào thanh sắt đỡ máng nước, đút chân trái vào lỗ hổng và đẩy trượt sang bên, rồi chui đầu qua trước, lấy chân kia đẩy mình lên, và thế là nó đã ở chỗ một dạo ngăn riêng cho lũ chim bồ câu trên tầng áp mái, trong cái đế chế đơn độc mà chỉ mình nó biết bí mật; ở đây nó không sợ các cuộc tấn công bất ngờ và không thể hiểu nổi của thằng anh trai, nó chú ý một cách bản năng để những lúc vắng mặt lâu hơn của nó không bị mẹ và các chị gái nó nghi ngờ, nếu bị phát hiện họ sẽ dứt khoát bắt nó xuống ngay, và thế là mọi cố gắng tiếp theo của nó sẽ vô ích. Nhưng lúc này điều đó có ý nghĩa gì đâu! Nó cởi chiếc áo sợi đã đẫm mồ hôi, chỉnh trang lại chiếc áo cổ bẻ màu hồng mà nó rất thích, rồi ngồi xuống bên “cửa sổ”, nó nhắm mắt lại, run rẩy, nghe tiếng mưa gõ trên mái ngói. Mẹ nó ngủ dưới nhà, các chị nó hôm nay không thấy về ăn trưa, nghĩa là nó gần như chắc chắn rằng buổi chiều sẽ không ai tìm nó, trừ thằng anh trai nó là Sanyi [1], chẳng khi nào ai biết hắn đang ở đâu, và vì vậy hắn có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, cứ như thể hắn đang tìm kiếm lời giải đáp của một điều bí ẩn nào đó ở khu trại, và chỉ bằng cách tấn công bất chợt, hắn mới lật tẩy được. Nhưng thật ra thì nó chẳng có lý do gì để sợ, chẳng khi nào người ta tìm nó, thậm chí người ta còn ra lệnh cho nó biến đi cho khuất mắt, nhất là khi nhà có khách, và điều đó thường xuyên xảy ra. Nó rơi vào giữa hai chiến tuyến, vì nó không thể đáp ứng bất cứ yêu cầu nào: nó không thể ở gần cửa ra vào, cũng không thể bỏ đi xa, bởi người ta có thể bất chợt gọi đến nó (chẳng hạn: “Chạy đi mua một chai vang!”, hay: “Con gái, chạy mua cho mẹ ba bao thuốc Kossuth nhé, nhớ chưa?”), mà chỉ cần vắng mặt một lần là nó bị đuổi khỏi nhà vĩnh viễn. Vì nó không còn gì khác nữa: mẹ nó, khi nó từ trường học đặc biệt ở trên thành phố về nhà “với thỏa thuận giữa hai bên”, bắt nó làm việc trong bếp, và vì sợ bị quở trách, nó làm đĩa rơi vỡ trên nền nhà, làm nồi bị bong men, để mạng nhện chăng trong góc, nấu xúp thì nhạt, nấu món ớt thì mặn, cuối cùng nó không đáp ứng được cả các công việc đơn giản nhất, và chẳng còn cách gì khác, nó bị đuổi ra khỏi nhà bếp. Từ đó trở đi các ngày của nó trôi đi trong sự chờ đợi căng thẳng, nó nấp sau nhà kho, hoặc nếu trời mưa, nó nấp dưới mái tranh phía cuối nhà, vì từ chỗ đó nó có thể nhìn cửa bếp, và dù từ trong bếp mọi người không thể nhìn thấy nó, nhưng chỉ cần một tiếng gọi là nó đã có mặt. Sự chú ý liên tục chẳng bao lâu khiến trật tự bình thường của các giác quan của nó thay đổi: thị giác nó gần như chỉ tập trung vào cửa bếp, với một sự sắc bén ghê gớm gần như đau đớn; nó đồng thời chú ý tới mọi chi tiết, phía trên là hai tấm kính đỏ lem luốc, qua đó có thể nhìn thấy tấm rèm ren được gắn lên cửa bằng những chiếc đinh ghim bản vẽ, phía dưới là những vết bùn bắn lên đã khô, cái tay nắm cửa xệ xuống, tóm lại là hệ thống các sắc màu và hình thể gớm guốc, thậm chí nó có thể cảm nhận các trạng thái khác nhau của cánh cửa bếp trong những khoảng thời gian bị xé nhỏ một cách đặc biệt, chúng thông báo cho nó biết mức độ nguy hiểm và khả năng trong từng khoảnh khắc. Khi sự bất động ấy bất chợt chấm dứt, mọi thứ bắt đầu chuyển động quanh nó: bức tường nhà, chỗ cong của máng nước, cái cửa sổ, chuồng nhốt gia súc bên trái, vườn hoa không chăm sóc đều chạy lướt bên cạnh nó, bầu trời trên đầu nó, đất dưới chân nó cũng chuyển động và loáng cái nó đã đứng trước mặt bà mẹ hay chị nó, mà không hề nhìn thấy cái cửa bếp mở. Cái khoảnh khắc nó cụp mắt nhìn xuống đủ để nó nhận ra họ, nó không cần gì khác, vì kể từ lúc đó trong cái không gian đầy những đồ vật treo lủng lẳng, nó thấy khá lâu hình dáng ảo mờ của mẹ và chị nó, nó cảm thấy
họ ở đó và nó ở đó
đối diện với họ
dưới thấp,
cũng như nó biết rằng họ đứng phía trên nó với sức mạnh đến nỗi nếu có lần nó dám nhìn lên, thì có thể bức tranh sẽ tan vỡ, vì cái quyền đứng cao không thể chịu nổi của họ hiển nhiên tới mức hình ảnh trong nó sẽ khiến điều đó nổ tung. Sự tĩnh lặng kéo dài cho tới lúc đó chỉ lan truyền tới cái cửa ra vào bất động, ở đây thì nó phải phân biệt được từ mớ âm thanh hỗn độn dồn dập mệnh lệnh cáu bẳn của mẹ và các chị nó (“Mày làm chúng tao đau tim mất! Mày chạy nhảy gì ở đây thế hả? Ở đây mày chẳng có việc gì hết! Chạy đi chơi mau!), cứ nhỏ dần đi khi nó ra xa dần, trong khi nó chạy đi nấp sau nhà kho hoặc dưới máng nước, khiến nó nhẹ cả người, vì điều sắp kết thúc, bây giờ lại có thể tiếp diễn. Dĩ nhiên đó không phải là trò đùa; điều đó không có nghĩa là trong tay nó không có một con búp bê, một cuốn truyện cổ tích hay một viên bi thủy tinh, với những thứ đó - nếu bất cứ ai xuất hiện ở sân, hay một ai đó từ trong bếp ném cái nhìn kiểm tra nó - nó có thể tạo ra hình ảnh như thể nó đang chơi, nhưng do lúc nào cũng phải sẵn sàng nên nó không dám, gần đây nó không thể nghĩ tới bất kỳ trò chơi nào. Nó không nghĩ tới không chỉ vì những điều thích hợp để làm chuyện này do tính khí thất thường của anh trai nó quyết định, không chỉ vì anh nó quy định khắt khe nó có thể giữ bên mình cái gì và bao lâu, mà vì nó chơi như một trách nhiệm, để tự vệ, để đáp ứng mong đợi của mẹ nó và các chị nó, những người - điều này nó biết rõ - chấp nhận cho nó chơi “những trò không hợp với tuổi” của nó, hơn là để họ phải chịu đựng nỗi hổ thẹn (“nếu ta cứ để kệ nó!”) hằng ngày “chú ý một cách bệnh hoạn, và rình rập mọi cử chỉ của chúng ta”. Chỉ ở trên này, chỗ nghỉ của lũ chim câu một thời, là nó cảm thấy an toàn; ở đây không cần phải chơi trò, ở đây không có cửa “có thể vào” (bố nó đã đóng đinh lại như bước đầu tiên của một dự định giờ đây đã vĩnh viễn nằm trong bóng tối), không có cửa sổ qua đó “có thể nhìn vào”, chính nó thường dùng đinh ghim bản vẽ gắn lên hai bức ảnh màu cắt ra từ một tờ báo lên cái cửa trên mái dành cho chim câu, để cho “tầm nhìn đẹp”: một bức ảnh là cảnh bờ biển lúc mặt trời lặn, trên bức kia có thể nhìn thấy đỉnh núi tuyết phủ, phía trước là một con nai chăm chú nhìn... Dĩ nhiên tất cả đã kết thúc! Một cơn gió thổi từ phía lối lên tầng áp mái cũ kĩ khiến nó rùng mình. Nó sờ chiếc áo len, nhưng áo chưa khô, thế là nó trùm lên người tấm rèm cửa ren trắng lấy được từ bếp phía sau, một trong những báu vật quý giá nhất của nó, còn hơn là phải xuống dưới nhà đánh thức mẹ nó để lấy quần áo khô. Chỉ một ngày trước đó thôi nó còn chưa thể tưởng tượng nổi nó lại liều lĩnh đến thế: nếu hôm qua nó bị ướt, thì nó thay quần áo ngay, vì nó biết rằng nếu nó ốm và phải nằm một chỗ thì nó không kiềm chế nổi, còn mẹ và các chị nó thì không chịu nổi tiếng khóc. Nhưng làm sao nó có thể đoán biết từ sáng hôm qua, rằng như trong một vụ nổ, một thứ gì đó không sụp đổ mà được dựng lên, đến tối như được gột rửa, với “niềm tin đặt vào sự kiêu hãnh cuốn hút” nó đi ngủ và nằm mơ. Mấy ngày trước đó nó đã nhận thấy có điều gì đó thay đổi ở anh trai nó: anh nó cầm thìa ăn cũng khác, đóng cửa ra vào cũng khác, anh nó thức dậy bên cạnh nó trên cái giường sắt ở bếp, và suốt ngày đăm chiêu suy nghĩ điều gì đó. Hôm qua, sau bữa ăn sáng anh nó tới chỗ nó ở kho, thay vì giật tóc kéo nó dậy, hay - còn tồi tệ hơn - đứng đằng sau cho tới khi nó phát khóc, lấy từ trong túi ra một nửa thanh chocolate Balaton, và đặt vào tay nó. Estike không hiểu ra sao, và nó cảm thấy có chuyện chẳng lành ngay cả khi vào buổi chiều Sanyi chia sẻ với nó “bí mật kỳ diệu nhất từ trước tới nay”. Nó không nghi ngờ lời nói của anh trai nó, điều đó nó không khi nào dám làm, nó chỉ thấy không thể tin nổi và không thể giải thích nổi, tại sao Sanyi lại chia sẻ bí mật này với chính nó, lại yêu cầu sự giúp đỡ của chính nó, của đứa “không thể trông cậy điều gì”. Nhưng niềm hy vọng, rằng lần này đây không phải là một cái bẫy mới, mạnh hơn sự lo lắng; thế là, trước khi nó vỡ lẽ ra sự thật là gì, nó đồng ý hết - không điều kiện và rất chóng vánh. Hiển nhiên là nó không thể làm khác, kiểu gì thì Sanyi cũng bắt nó phải “đồng ý”, nhưng lần này thì anh nó không cần phải làm thế: bằng việc tiết lộ với em gái bí mật của “cây tiền”, cậu ta đã chiếm được lòng tin vô hạn của Estike. Sau đó, khi Sanyi cuối cùng đã kết thúc câu chuyện, và cậu thăm dò tác động của nó trên “bộ mặt khờ dại” của em gái, thì nó đã gần như bật khóc, dù qua kinh nghiệm cay đắng nó biết rằng nó không thể làm điều đó trước mặt anh trai. Nó lúng túng đưa số tiền nó đã gom góp được từ lễ Phục sinh cho những mục đích “thử nghiệm chắc ăn”, vì số tiền gom góp được từ những đồng 2 forint [2] của khách đến chơi nhà, đằng nào nó cũng dành cho Sanyi, và bây giờ nó biết nói điều này thế nào, rằng nó đã giấu giếm và nói dối hàng tháng trời để tất cả - sự chuẩn bị - được giữ kín... Nhưng anh trai nó không căn vặn, hơn nữa được tham gia vào những chuyện mạo hiểm bí ẩn của anh nó là một niềm vui, khiến nó hết lúng túng. Có điều nó không tìm ra lời giải thích cho sự chia sẻ của anh nó, nó đã làm gì để xứng đáng với lòng tin nguy hiểm này, và cái chính là tại sao anh nó chấp nhận khả năng mạo hiểm thất bại, bởi anh nó không thể tin chắc rằng, cô em gái sẽ đáp ứng được đòi hỏi về “lòng dũng cảm, sự cứng cỏi và thắng lợi”. Mặt khác, nó không quên rằng trong tất cả cách đối xử và sự thô bạo, từ cội nguồn mọi hành động tàn nhẫn đều ẩn chứa lời giải thích này, bởi thỉnh thoảng, khi nó đau ốm, Sanyi cho phép nó nằm cùng trên cái giường ở bếp, thậm chí một lần anh nó còn chịu để nó ôm anh để ngủ. Còn khi cách đây mấy năm trước ở đám an táng bố nó, nó đã hiểu ra rằng, cái chết - “con đường duy nhất có thể dẫn tới các nàng tiên”, không chỉ có thể diễn ra theo ý Chúa, mà còn có thể lựa chọn, và khi đó nó quyết định bằng cách nào nó cũng phải biết cách thực hiện việc đó như thế nào, khi đó cũng chính là anh nó đã giải thích cho nó. Một mình nó thì chẳng đi tới đâu, không có anh thì chẳng bao giờ nó biết chính xác nó phải làm gì, dù nó có ngộ ra bằng cách nào đó, rằng “dùng thuốc chuột cũng xong”. Và thế là sáng sớm ngày hôm qua, sau khi thức giấc, khi cuối cùng nó đã chiến thắng nỗi sợ hãi, và nó quyết định không trì hoãn nữa, vì không chỉ tưởng tượng, nó còn muốn cảm thấy thật sự, cái cách nó bay lên cao, nó được một sức hút kéo nhanh lên phía trên, mỗi lúc một xa mặt đất hơn, và thấy các ngôi nhà nhỏ dần lại, cây cối, cánh đồng, kênh mương, tất cả thế giới bên dưới, rồi nó đã đứng trước cổng Thiên đường, giữa những nàng tiên sống trong ánh hồng rực rỡ - khi đó cũng chính là Sanyi, người bằng điều bí mật của cây tiền đã kéo nó ra khỏi chuyến bay huyền diệu nhưng khủng khiếp này, và sau đó, lúc hoàng hôn hai anh em nó đã cùng nhau - cùng nhau! - xuất phát, đi tới bờ mương, anh nó vác xẻng trên vai vừa đi vừa huýt sáo, nó đi sau anh vài bước, hồi hộp gí cái gia tài được gói kĩ trong chiếc khăn mùi soa vào sát bụng. Sanyi thành thạo và lặng lẽ đào một cái hố ven bờ mương, và không những anh nó không đuổi nó đi chỗ khác, mà còn cho phép nó có thể đặt gói tiền vào đáy hố. Anh nó còn nhắc nó kĩ càng rằng phải tưới đẫm cho các hạt giống tiền ngày hai lần, sáng và tối (“Kẻo chúng khô hết!”), rồi anh bảo nó về, “đúng” một tiếng nữa hãy quay lại với một bình tưới, vì chính anh nó - một mình - phải niệm “những câu thần chú”. Estike hăng hái thực hiện nhiệm vụ được giao, và đêm đó nó ngủ không yên giấc; trong mơ nó bị lũ chó hoang săn đuổi, nhưng buổi sáng khi nó thấy bên ngoài trời mưa như trút nước, mọi việc đều trở nên vui vẻ. Nó đi ra chỗ bờ mương nước, để cho chắc ăn, nó tưới đẫm chỗ hạt, biết đâu mưa thế cũng chưa đủ lượng nước cần thiết. Đến bữa trưa, không muốn làm mẹ thức giấc, bà đã thức suốt đêm qua, nó thì thầm thông báo với Sanyi, rằng “chưa nhìn thấy gì hết, một chút cũng không…”, nhưng anh nó bảo: nhanh nhất cũng phải ba, bốn hôm nó mới nhú ra khỏi mặt đất, chứ không thể nhanh hơn được, tất nhiên “nếu cái hố được tưới đủ lượng nước cần thiết...” “Hơn nữa, - anh nó nói tiếp với giọng nóng nảy và không chấp nhận sự phản bác, - không cần phải hí húi ở ngoài đó suốt ngày... Điều đó không tốt... Chỉ cần để mắt tới nó buổi sáng và buổi tối, thế thôi. Mày có hiểu tao nói gì không, đồ đầu đất?” Và anh nó tủm tỉm cười, biến lẹ ra khỏi nhà, còn Estike thì quyết định từ đó đến tối - nếu không bắt buộc - nó sẽ không rời khỏi tầng áp mái. “Rồi nó sẽ mọc!” Đã bao lần, bao lần nó nhắm mắt lại để nhìn thấy “cái cây lớn lên”, tán nó mỗi ngày càng rậm, rồi các cành vàng của nó trĩu xuống bởi sức nặng, và đến một hôm nó hái đầy cái rổ đứt quai, mang về nhà và đổ lên bàn!... Cả nhà sẽ ngạc nhiên đến thế nào! Từ hôm đó trở đi nó sẽ ngủ trong một căn phòng sạch sẽ, trên một chiếc giường lớn, dưới tấm chăn lớn, và cả nhà sẽ chẳng có việc gì khác là sáng sáng ra bờ mương, hái đầy rổ, và khi đó chỉ có khiêu vũ và thật nhiều ca cao, cả các tiên nữ cũng sẽ tới, và họ sẽ ngồi quanh bàn, tất tần tật... Nó nheo nheo mắt (“Thử xem nào!”), và gật gù lẩm nhẩm hát:
Hôm qua là một ngày
Hôm nay là hai ngày
Ngày mai là ba
Ngày kia là bốn!
“Có thể chỉ cần ngủ hai đêm nữa?” - nó hồi hộp nghĩ. “Nhưng không! - nó đột ngột dừng lại. Không được!” Nó rút ngón trỏ khỏi miệng, thò cả tay kia ra khỏi tấm rèm ren, và thử đếm lại một lần trên các ngón tay:
Hôm qua là một
Hôm nay là hai
Hai với một là ba!
Ngày mai, cả ngày mai
Ba với một là bốn!
“Dĩ nhiên rồi! Và có thể là tối nay! Tối nay!” Ngoài kia, những giọt nước nhỏ từ mái ngói chảy thành dòng theo các đường dứt khoát xuống đất dọc theo những bức tường của nhà Horgos, tạo thành những rãnh sâu quanh nhà, như thể có ý đồ thầm kín nào đó trong từng giọt nước mưa, ban đầu đào rãnh quanh nhà, cách ly các cư dân của nó với bên ngoài, rồi từ từ, từng milimet một thấm dần tới các viên đá đặt trong bùn, ngấm vào trong đất và rửa sạch tất cả; rồi sau đó trong thời gian được phân định khắc nghiệt, các bức tường lần lượt đổ ụp, các cửa sổ, cửa ra vào rời khỏi chỗ của chúng, ống khói nghiêng và đổ ập xuống, những chiếc định đóng trên tường vụn nát, các tấm gương trở nên mù lòa, cả ngôi nhà đổ ụp xuống thành một đống vụn nát, như con tàu đâm vào ghềnh đá, thông báo nghiêm ngặt về cuộc tranh đấu vô ích khốn cùng của mưa, của đất và ý chí mong manh của con người: mái nhà không phải là cách phòng vệ. Phía dưới trời đã tối hẳn, chỉ qua kẽ hở còn lọt vào chút ánh sáng yếu ớt, như thể sương mù cuộn tới. Xung quanh yên tĩnh, nó tựa lưng vào một xà ngang, và từ niềm vui lúc trước còn sót lại đến giờ, nó nhắm mắt - “Nào, bây giờ!”... Nó bảy tuổi, khi lần đầu tiên cha nó đưa nó vào thành phố, đúng dịp hội chợ gia súc toàn quốc; ông để nó tự do lang thang giữa các lều bạt, nó đã gặp Korin, người mất cả hai con mắt trong cuộc chiến tranh vừa qua, và ông ta sống bằng số tiền ít ỏi kiếm được nhờ việc chơi đàn accordion vào các dịp hội chợ và các cuộc vui trong quán rượu. Ông nói với nó, rằng “mù lòa là một trạng thái kỳ diệu, con gái ạ”, và ông ta, nghĩa là Korin, không những không than vãn, mà còn hạnh phúc, và biết ơn Chúa vì “sự tăm tối vĩnh viễn”, và vì vậy ông chỉ cười khi một ai đó kể với ông về những “sắc màu” của cuộc sống nghèo nàn trần thế này. Estike nghe Korin như bị thôi miên, và lần hội chợ sau nó đến thẳng chỗ Korin; lần đó ông già mù hé mở cho nó biết rằng con đường vào cái thế giới tuyệt diệu đó không bị “ngăn chặn” ngay cả đối với nó: nó không cần phải làm gì khác, chỉ cần nhắm mắt thật lâu. Nhưng lần thử đầu tiên khiến nó sợ: nó nhìn thấy lửa cháy rần rật, thấy những chùm tia sáng màu uốn lượn, những hình dáng kỳ dị hốt hoảng chạy trốn, và nó nghe thấy tiếng gầm gào, ầm ĩ từ rất gần. Nó không dám lại gần Kerekes, người ngồi trong quán rượu từ mùa thu tới mùa xuân, để xin lời khuyên bảo, vì vậy nó chỉ khám phá ra bí mật khi sau đó một năm nó bị viêm phổi, ông bác sĩ bị xua đuổi khỏi khu trại đã thức một đêm bên cạnh nó; ở bên cạnh ông bác sĩ to béo, ít lời, cuối cùng nó cảm thấy yên tâm, cơn sốt khiến nó tê dại mọi cảm giác, một niềm vui chạy lướt qua nó, nó nhắm mắt lại: và nó thấy điều Korin đã kể cho nó nghe. Trong cái thế giới kỳ diệu đó nó thấy cha nó đầu đội mũ, mặc áo khoác dài, tay cầm dây cương dẫn ngựa kéo một chiếc xe vào sân, từ trên xe nào đường, nào bánh ngọt, và cả ngàn thứ mua ngoài chợ được chất lên bàn... Nó hiểu rằng cổng của thế giới kia chỉ mở khi “làn da nó nóng bỏng”, thân thể nó rùng mình, và mi mắt nó như bị thiêu cháy. Trí tưởng tượng vừa bay lên của nó thường làm sống dậy người cha đã mất, nó thấy ông đang đi xa dần trên cánh đồng về phía con đường lát đá, phía trước và sau ông gió thổi tung bay lớp lá khô; rồi dần dà nó hay thấy anh trai nó, thấy anh nháy mắt vui vẻ hay thấy anh đang nằm ngủ cạnh nó trên cái giường sắt, lúc này anh nó cũng đang ở trước mặt nó: gương mặt thanh thản như đang mơ, tóc rủ xuống mắt, một tay anh nó thõng xuống khỏi giường; rồi da mặt anh bỗng nhăn nheo, các ngón tay bắt đầu cử động, bỗng nhiên anh nó xoay người qua bên kia, tấm chăn trượt xuống; “Liệu bây giờ anh đang ở đâu?” Cái thế giới kỳ diệu của nó bỗng gầm thét ầm ào rồi biến mất, nó mở mắt ra. Nó cảm thấy đau đầu, da rát bỏng vì cơn sốt, chân tay nặng như chì. Và bất chợt, khi nó nhìn lên “cửa sổ”, nó nhận ra: dẫu sao nó không thể chờ cái bóng tối mờ ảo như điềm gở đó tự tan biến, nó hiểu rằng, tới khi nào nó chưa tỏ ra xứng đáng với lòng tốt không thể giải thích nổi của anh nó, thì nó có thể đánh mất vĩnh viễn sự tin cậy của anh nó, cũng như nó hiểu rõ rằng, đây là cơ hội đầu tiên, và có thể cuối cùng của nó: nó không thể để mất Sanyi, vì anh nó biết cấu trúc “thắng lợi, rối ren và thù nghịch của thế giới”, nó không thể để mất, không có Sanyi nó chỉ vật vờ giữa sự thịnh nộ và lòng thương hại chết người, giữa hàng ngàn mối hiểm họa của thịnh nộ và sự phí hoài. Nó sợ, nhưng nó đã hiểu rằng phải làm một việc gì đó: và điều đó được cân bằng bởi một cảm giác cho tới đó chưa hề biết, một nỗi khao khát bất chợt, lờ mờ: nếu nó giành được sự tôn trọng của anh nó, thì cùng với anh, thế giới sẽ trở nên “có thể chinh phục được”. Và như vậy - chậm rãi và không nhận biết được - cái gia tài kỳ lạ, chiếc rổ đứt quai, những cành vàng nặng trĩu biến dần khỏi không gian hẹp của sự chú ý của nó, thế vào chỗ của chúng là sự kính trọng anh trai nó. Nó cảm thấy mình đang đứng trên một chiếc cầu nối những nỗi sợ hãi ngày xưa của nó với những thứ mà ngày hôm qua nó còn phải sợ hãi; nó chỉ cần đi qua cây cầu này, và ở bờ bên kia Sanyi đang nóng lòng đợi nó! - tất cả những gì ở đây vĩnh viễn không thể hiểu nổi, sẽ có lời giải đáp ngay ở phía bên kia. Bây giờ nó mới hiểu anh trai nó muốn gì khi nói: “Phải chiến thắng, hiểu chưa, đầu đất? Chiến thắng!” vì hy vọng chiến thắng cũng đã động chạm đến chính nó, và dù nó có cảm thấy rằng cuối cùng chẳng ai có thể thắng ai, vì không điều gì có thể kết thúc, những lời nói của Sanyi tối hôm qua (“Tất cả đều chỉ bôi bác, bôi bác, nhưng chúng ta có vài người, và chúng ta biết, phải lập trật tự ở đây thế nào, đầu đất ạ!”) đã khiến mọi sự chống đối trở nên nực cười, và mọi thất bại trở thành anh hùng. Nó rút ngón tay trỏ ra khỏi miệng, quấn tấm rèm ren chặt hơn quanh người, và bắt đầu đi lại trong không gian chật hẹp cho đỡ rét. Nó phải làm gì? Làm thế nào để chứng minh được là nó có khả năng “chiến thắng”? Nó lúng túng nhìn quanh trên tầng áp mái. Những xà nhà phía trên như đe dọa, từ các thanh gỗ ló ra các móc sắt hay các đinh sắt hạn gỉ. Tim nó đập dữ dội. Đúng lúc đó nó nghe thấy bên dưới có tiếng động. Sanyi? Các chị gái nó? Nó thận trọng, lặng lẽ tụt xuống đống gỗ, lần sát theo bờ tường tới chỗ cửa sổ bếp, gí sát mặt vào tấm kính lạnh. “Con Micur!” chú mèo đen ngồi trên mặt bàn ăn, đang sung sướng liếm nốt món ớt nấu còn sót lại sau bữa trưa trong chiếc nồi đỏ. Chiếc vung nồi đã lăn ra tận góc bàn. “Ôi, Micur!” Nó mở cửa không một tiếng động, ném con mèo xuống đất, nhanh tay đậy vung, và nó chợt nảy ra một ý nghĩ. Nó từ từ quay đầu lại tìm con Micur. “Ta khỏe hơn nó!” - lóe lên trong đầu nó. Con mèo chạy lại và dụi dụi vào chân nó. Estike nhón chân bước tới chỗ cái móc áo, rồi, lấy từ trên móc xuống một túi lưới màu xanh và đi về phía con mèo. “Lại đây ngoan nào!” Micur ngoan ngoãn lại gần và để cho nó đặt vào túi lưới. Nhưng tất nhiên sự thản nhiên của con mèo không kéo dài: khi chân nó thò qua các lỗ của tấm lưới và không tìm được chỗ tựa chắc chắn trong không khí, nó bắt đầu hốt hoảng kêu lên. “Lại có chuyện gì thế?! - có tiếng hỏi vọng ra từ trong phòng - Ai ở ngoài đó?” Estike sững người lại. “Con... con đây mà...” “Mày lục lọi cái khỉ gió gì ngoài ấy thế?! Đi chơi ngay, mau lên!” Estike lặng lẽ, nín thở bước ra sân, trong tay là cái túi lưới đang kêu. Nó ra đến góc trang trại yên ổn, dừng lại ở đó, và hít một hơi thật sâu; rồi nó bắt đầu chạy, vì nó cảm thấy xung quanh tất cả đã sẵn sàng nhảy bổ lên nó. Cuối cùng - sau ba lần cố gắng - nó đã lên được chỗ nấp, nó tựa vào một xà gỗ trên mái đứng thở, và không nhìn lại, nhưng nó biết: bên dưới nó, quanh đống gỗ, giống như những con chó đói mất mồi - cái kho, khu vườn, bùn đất, bóng tối đang giận dữ gầm ghè quần đảo với nhau. Nó thả con Micur ra, con mèo lông đen bóng chạy đến chỗ khe hở trước tiên, rồi nó chậm rãi đánh hơi vòng quanh, thỉnh thoảng nó ngẩng đầu lên nghe ngóng, rồi nó tới dụi dụi vào chân Estike, sung sướng giơ cái đuôi lên, và khi chủ của nó tới ngồi bên “cửa sổ”, thì nó nhảy vào lòng. “Mày tận số rồi, - Estike thì thầm, và con Micur bắt đầu kêu rừ... rừ... một cách thân thiện. - Đừng tưởng tao sẽ thương mày! Dĩ nhiên mày có thể tự vệ, nếu mày làm được, nhưng dẫu sao cũng vô ích...!” Nó ném con mèo xuống, và đi đến khe hở, và bịt kín lối ra bằng các tấm ván tựa vào các xà nhà. Nó đợi một lúc để mắt quen với bóng tối, rồi nó tiến về phía con Micur. Con mèo không chút nghi ngờ, nó ngoan ngoãn để Estike bế lên cao, và nó chỉ cố thoát ra khi chủ nó quăng mình xuống đất, và lăn lộn dữ dội từ góc này tới góc kia. Những ngón tay của Estike bấu vào cổ nó như những mắt xích, và nhấc nó lên rồi hạ nó xuống liên tục, và lộn qua nó bất ngờ, đến nỗi ban đầu nó đơ người lại hốt hoảng, không kịp chống đỡ. Cuộc đấu không kéo dài: con mèo nhanh chóng lợi dụng cơ hội thuận lợi đầu tiên, nó dùng móng bấm vào tay cô chủ nó; nhưng chính Estike cũng lúng túng, nó giận dữ cổ vũ một cách vô ích: “Nào, cố lên, cố lên! Hãy tấn công ta đi! Hãy tấn công đi!” Micur không muốn thi thố với chủ nó, thậm chí chính cô bé phải chú ý để khi lăn qua Micur nó phải chống tay để khỏi đè ў bẹp con mèo. Nó cả quyết nhìn con mèo chạy trốn vào góc, sẵn sàng nhảy đi, xù lông lên và nhìn nó bằng đôi mắt long lanh lạ lùng. Nó phải làm gì bây giờ? Thử một lần nữa chăng? Nhưng bằng cách nào. Nó làm mặt ghê gớm, và làm như nó định xông vào con mèo một lần nữa, thấy thế con mèo bay vụt sang góc đối diện. Sau đó nó chỉ làm một vài động tác bất ngờ: nó giơ tay lên, dùng chân gõ gõ, hay bất ngờ nhảy lại gần con mèo, chỉ thế cũng đủ để Micur mỗi lúc càng hốt hoảng, nó nhảy hết góc này sang góc kia, không để ý đến các móc sắt, các đầu đinh thò ra khiến nó sây sát, nó dùng hết sức nhảy và đạp mình vào ngói, vào các thanh gỗ hay các thanh sắt trên lối ra. Cả hai đều biết chính xác đối thủ đang ở vị trí nào; dựa vào tia sáng lóe ra từ mắt con mèo, tiếng động của các viên ngói, hay tiếng rơi bịch trầm đục của thân mèo Estike luôn biết chính xác vị trí tức thời của Micur, còn dòng xoáy gần như không thể cảm nhận được mà cánh tay Estike tạo ra trong làn không khí đặc cũng bán đứng vị trí của cô bé. Niềm vui và lòng kiêu hãnh mỗi lúc một dâng cao trong nó, khiến trí tưởng tượng của nó bị kích thích, nó cảm thấy chẳng cần phải xê dịch nữa thì uy quyền của nó vẫn đè nặng lên con mèo với sức nặng không thể chịu đựng nổi; ý thức về sự dư thừa và không thể cạn kiệt (“Ta có thể làm bất cứ điều gì, bất cứ điều gì đối với ngươi...”) trong những khoảnh khắc đầu tiên khiến nó lúng túng: phía trước nó là một vũ trụ hoàn toàn xa lạ, nó đứng giữa vũ trụ đó, bối rối trước khả năng lựa chọn vô hạn; nhưng sự lúng túng này, sự bão hòa ân sủng này mau chóng kết thúc, và nó đã nhìn thấy nó đang chọc thủng đôi mắt lấp lánh hốt hoảng, lóe lên sự chết chóc của Micur, thấy bằng một cú dứt khoát nó rứt đứt hai chân trước của con mèo, hay đơn giản là nó dùng dây treo con mèo lên những chiếc móc sắt. Nó cảm thấy thân thể nó nặng nề bất thường, càng lúc nó càng trở thành nạn nhân của một tri giác xa lạ. Khát vọng chiến thắng cháy bỏng gần như đánh gục những gì mà nó từng là, nhưng nó biết: bất kể nó bước về phía nào nó cũng vấp ngã không thể tránh khỏi, và đổ vật ra nền nhà, để ngay cả trong giây phút cuối cùng nó cũng gây thương tổn cho thế mạnh và quyết tâm tỏa ra từ con người nó. Nó chăm chú nhìn ánh sáng chói lóa phát ra từ mắt con mèo, và điều cho tới lúc đó nó không hề để ý, lúc này bỗng cứa sâu vào nó: nó thấy trong ánh sáng đó sự sợ hãi, sự bất lực khổ sở của đối thủ, sự thất vọng đã gần như trở nên chống lại bản thân, tia hy vọng cuối cùng, rằng nếu tự hiến mình như một miếng mồi, thì có lẽ nó sẽ trốn thoát. Và đôi mắt ấy, như ngọn đèn pha rạch trong bóng tối, bất chợt rọi sáng mấy phút vừa qua, những khoảnh khắc lúc rời rạc, khi cuộn dính vào nhau của cuộc vật lộn nguy hiểm của hai đối thủ, và Estike bất lực thấy rằng: điều đã chậm rãi và khó nhọc hình thành trong nó, lúc này bỗng nhiên tan vỡ. Các xà gỗ, cái “cửa sổ”, bức chắn bằng ván, những viên ngói, các đinh giằng và lối lên tầng áp mái đã bị bít kín lại bơi vào tri giác nó, tuy nhiên - giống như một đội quân vô kỷ luật đang chờ mệnh lệnh - chúng rời khỏi vị trí của chúng: những vật nhẹ cứ xa dần, những vật nặng, thật kỳ lạ, cứ tiến lại gần nó, như thể tất cả chúng chìm xuống đáy hồ nước sâu, và trong đó hướng chuyển động, quán tính chuyển động của chúng được quyết định bởi trọng lượng của chúng. Micur căng cơ hết cỡ ép mình vào lớp phân bồ câu khô bám trên lớp gỗ lát trần mục nát, bóng tối khiến đường nét của Micur mềm đi, có vẻ như con mèo đã bắt đầu bơi về phía nó trong bầu không khí đậm đặc, và chỉ khi đó nó mới ý thức được là thực ra nó đã làm gì, khi nó gần như cảm thấy trong lòng bàn tay nóng bỏng của nó lớp da bụng phập phồng gấp gáp, nóng ấm của con mèo, lớp da đã bị tổn thương ở nhiều chỗ, máu rỉ ra quanh những chỗ bị xước. Cảm giác hổ thẹn và thương hại bóp nghẹt lấy cổ nó; nó biết thắng lợi của nó không điều gì có thể chuộc lại được nữa. Nếu bây giờ nó có dịch chuyển và đi về phía con mèo để ve vuốt cũng vô ích: Micur sẽ chạy trốn. Và từ nay sẽ vĩnh viễn như thế: nó có gọi, có nựng, có ôm vào lòng cũng vô ích, Micur sẽ thường xuyên cảnh giác, trong đôi mắt nó hồi ức kinh hoàng về cuộc phiêu lưu chết chóc này sẽ không thể xóa nhòa, điều buộc nó thực hiện cử động cuối cùng. Cho tới lúc này nó nghĩ chỉ thất bại là không thể chịu đựng nổi, giờ thì nó đã hiểu cả thắng lợi cũng vậy, vì trong cuộc vật lộn khủng khiếp này điều đáng hổ thẹn không phải là nó đã chiến thắng, mà là việc nó không có cơ hội để thất bại. Nó thoáng nghĩ có lẽ nó và con mèo có thể thử lại một lần nữa (... Nếu Micur dùng móng vuốt... Và cắn nó...”), nhưng nó thấy ngay là không ổn, nó là kẻ khỏe hơn. Da nó nóng bỏng, trán nó lấm tấm mồ hội. Và đúng lúc ấy nó cảm thấy có mùi. Thoạt tiên nó hơi hoảng, vì nó tưởng ngoài nó và con mèo trên gác còn một ai đó nữa. Nó chỉ nhận biết điều gì đã xảy ra khi Micur - vì Estike ngập ngừng bước một bước về phía “cửa sổ” (“Mùi thối này là cái gì?), và con mèo tưởng chủ nó lại tấn công, nó luồn sang góc bên cạnh. “Mày đã ỉa! - Estike giận dữ quát. - Mày dám bĩnh ra à!” Trong chốc lát mùi thối lấp đầy không gian. Nó nín thở cúi xuống đống cứt mèo. “Mày lại còn tè ra đây nữa!” Nó chạy lại phía khe hở, hít một hơi thật sâu, rồi quay lại hiện trường, lấy một mảnh gỗ gạt chỗ cứt mèo lên một tờ giấy báo, và nó dọa Micur. “Lẽ ra tao phải bắt mày ăn hết chỗ này!” Nó bỗng khựng lại, như thể những lời nó nói vận vào mình, rồi nó chạy lại chỗ hở, đẩy tấm ván sang một bên. “Thế mà tao tưởng mày sợ! Và tao lại còn thương xót mày!” Nhanh như chớp - để không có thời gian chạy trốn - nó cúi xuống đống gỗ, xếp lại các tấm ván, rồi ném cái túi phân thối vào bóng tối, để lũ ma quỷ vô hình chuyên săn mồi chén hết, và trườn dưới mái chìa nó lần tới tận cửa bếp. Nó thận trọng mở cửa, mẹ nó vẫn ngáy khò khò trong phòng. “Ta sẽ làm. Đúng, ta dám làm!” Nó rùng mình trong không khí nóng, đầu nặng trịch, chân nó mỏi rời. Nó nhẹ nhàng mở cửa buồng chứa đồ ăn. “Đồ súc vật chết tiệt. Đáng đời nó.” Nó nhắc cái nồi đựng sữa từ trên giá xuống, đổ đầy một bình, rồi nhón chân quay vào bếp. “Bây giờ thì đằng nào cũng chẳng thể làm được gì nữa.” Nó nhấc chiếc áo khoác len màu vàng của mẹ nó từ trên móc, và từ từ bước ra sân, để khỏi gây tiếng động. “Đầu tiên là cái áo len.” Nó định đặt bình sữa xuống hè, để dễ dàng mặc chiếc áo, nhưng khi nó cúi xuống thì vật chiếc áo chạm vào lớp bùn. Nó vội đứng dậy, một tay cầm chiếc áo len, tay kia cầm bình sữa. Nó phải làm gì bây giờ? Mưa rơi xiên xiên dưới mái chìa, phía bên phải nó tấm rèm ren đã ướt. Nó đi về phía sau, chậm và cẩn thận để bình sữa không trào ra (“Ta sẽ treo cái áo len lên đống gỗ, còn cái bình...”), nhưng nó bỗng dừng lại, vì bỗng nhớ ra nó quên chiếc đĩa của mèo bên cạnh bậu cửa. Chỉ tới khi quay lại tới trước cửa bếp, nó mới biết nó phải làm gì: nếu nó trùm chiếc áo len lên đầu, thì nó vừa đặt được cái bình xuống đất và như thế - nếu một tay nó cầm cái đĩa sâu lòng của mèo, tay kia cầm bình sữa nó đi tới chỗ đống gỗ - tất cả có vẻ đơn giản hơn. Bằng việc làm chủ được tình trạng rối ren trong khoảnh khắc, nó đã tìm ra chìa khóa của các sự kiện phía trước nó. Trước tiên nó mang cái đĩa lên, rồi nó đem lên được cả cái bình, nó đẩy các tấm gỗ bịt chỗ hở lại, và bắt đầu gọi con mèo trong bóng tối. “Micur! Micur! Mày thế nào rồi? Lại đây, có một ít thức ăn cho mày đây!” Con mèo ép mình trong góc xa nhất, từ đó nó theo dõi cô chủ thò tay xuống dưới cái xà dưới “cửa sổ”, rút ra một gói giấy và dốc một thứ gì đó xuống cái đĩa. “Nào đợi đấy, thế này thì không ổn.” Estike bỏ đĩa thức ăn đó, lại gần chỗ hở - Micur căng thẳng rùng mình -, nhưng dù nó đã kéo tấm ván hở ra một khe nhỏ, từ bên ngoài không còn chút ánh sáng nào lọt vào nữa. Ngoài tiếng mưa gõ trên mái ngói chỉ có tiếng chó sủa vọng lại từ phía xa. Nó đứng đó, đơn độc và nhút nhát trong chiếc áo len dài tới gối. Nó muốn lao ra khỏi cái buồng tối này, thoát khỏi sự im ắng bí bức này, vì lúc này ngay ở đây nó cũng không còn cảm thấy an toàn nữa, nỗi sợ hãi ập xuống nó, rằng nó ở đây chỉ có một mình, và bất cứ lúc nào một thứ gì đó có thể tấn công nó, hay chính nó sẽ lao vào một bàn tay lạnh như đá thò ra. “Phải nhanh lên!” - nó kêu to, và gần như vịn vào giọng của chính mình, nó bước một bước về phía con mèo. Micur không động đậy. “Sao, mày không đói à?” Nó bắt đầu nựng con mèo, và với điều đó chẳng mấy chốc điều nó đã đạt được là con mèo không nhảy sang bên ngay lập tức, khi thấy chủ nó tiến lại gần. Và sau đó đến một lúc: Micur - có lẽ bị chinh phục bởi giọng nói cưng nựng của Estike - đã để yên cho Estike tới sát bên cạnh, nhanh như chớp Estike chồm lên con mèo, đè nó xuống nền, rồi khéo léo để con vật không sử dụng được móng vuốt của nó, cô chủ nâng con vật lên và đem nó tới chỗ đĩa thức ăn đã chuẩn bị sẵn dưới “cửa sổ”. “Nào, ăn đi! Một chút thôi!” - nó nói giọng run run, và bằng một động tác mạnh mẽ nó gí đầu con mèo vào đĩa sữa. Micur thử thoát ra nhưng không được, và như thể nó đã hiểu rằng, có chống cự nữa cũng vô vọng, nó không động đậy nữa, và khi chủ nó buông tay ra, chính nó cũng không biết nó đã chết sặc hay “chỉ giả vờ”, vì nó duỗi thẳng cẳng bên cạnh cái đĩa trống không, tựa như trong nó không còn sự sống. Estike từ từ giật lùi vào góc xa nhất, lấy hai bàn tay bưng mắt, để không phải nhìn thấy bóng tối đáng sợ, chết chóc này, nó đưa hai ngón cái ấn vào tai, vì đang im lặng bỗng nhiên có tiếng kêu lách cách, loạch xoạch, tiếng the thé ập xuống đầu nó. Nhưng nó không có dấu hiệu sợ hãi, bởi nó biết rõ: thời gian đứng về phía nó, chỉ cần nó đợi, rồi âm thanh kia sẽ tự biến mất, như một đội quân mất tướng, rách rưới - sau một lúc hoảng loạn - sẽ bỏ chạy khỏi chiến trường, hay nếu như không thể chạy trốn được nữa, thì đội quân đó sẽ trông cậy vào sự gia ơn của kẻ thắng trận. Sau một lúc lâu, khi sự tĩnh lặng đã nuốt nốt những âm thanh lộp bộp cuối cùng, nó không ngần ngại nữa, cũng không vội vàng, vì nó biết nó cần phải làm gì; nó biết chính xác cần phải bước tới chỗ nào, các động tác của nó chuẩn xác và có mục đích, như thể những kẻ chiến bại đang nâng bổng nó lên cao. Nó tìm con mèo đã cứng quèo, và với nét mặt đỏ bừng vì cơn sốt, nó leo xuống sân, nhìn quanh, rồi sung sướng và kiêu hãnh, nó đi theo con đường dẫn tới mương nước, vì bản năng mách bảo nó rằng, chắc chắn nó sẽ gặp Sanyi ở đó. Tim nó đập rộn lên khi nó tưởng tượng anh nó sẽ “vác bộ mặt như thế nào” khi nó đứng trước anh với cái xác mèo đã lạnh cứng, và nó cảm thấy nghèn nghẹn nơi cổ vì sung sướng, khi nó nhận ra những cây bạch dương xung quanh khu trại chụm đầu lại, giống như những bà già khó tính rình mò cô dâu, ghen tị dõi theo nó đang cầm hai chân trước của con mèo đã chết, cố đưa nó ra xa không chạm vào người. Đoạn đường không xa, nhưng lúc này nó vẫn mất nhiều thời gian hơn khi khác để đi tới mương nước, vì cứ vài bước nó lại bước vào bùn lầy, chân nó trượt hoài trong đôi giày cao cổ mà các chị nó thải cho, thêm vào đó “con vật khỉ gió này” mỗi lúc một nặng hơn, và nó cứ liên tục phải chuyển từ tay này sang tay kia. Nhưng nó không nản, và nó cũng không để ý tới mưa tầm tã, nó chỉ tiếc không thể bay ngay tới chỗ Sanyi, và vì thế nó chỉ đổ lỗi cho bản thân nó, khi cuối cùng nó đã tới nơi, và nó thấy, chẳng có một bóng ma nào ở đó hết. “Bây giờ anh ta ở đâu?” Nó quăng cái xác mèo xuống bùn, bóp bóp cánh tay mỏi rời rã, rồi một phút sau nó quên hết mọi chuyện, nó nhẹ nhàng cúi xuống chỗ gieo hạt, rồi nó cứ nín thở đứng ở tư thế nửa vời như thế, như người vừa bị một viên đạn lạc bắn trúng tim, kinh ngạc và cô đơn. Cái hố gieo hạt kỳ diệu bị bới tung tóe, cái que hai anh em cắm để đánh dấu chỗ cây tiền bị bẻ đôi, ướt đẫm nước mưa, đống đất được vun đắp cẩn thận mà nó ủ ấm bằng ánh mắt hàng giờ liền giờ như một con mắt bị chọc thủng, chỉ còn là một cái hố trống rỗng nhìn nó, nước đã lưng lưng. Nó hốt hoảng nằm xuống, và đưa tay vét xuống đáy hố. Rồi nó nhảy dựng dậy, thu hết sức lực để có thể hét xuyên màn đêm bao trùm lên nó, nhưng giọng nó méo đi vì cố sức (“Sanyi! Sanyi-i-i! Ra đây!...”), chìm nghỉm trong tiếng gầm gào dữ dội của gió mưa. Nó đứng trên bờ mương, tê dại, không biết mình phải đi về đâu. Rồi nó chạy dọc theo bờ mương, được một lát nó quay người, và lao về hướng ngược lại, nhưng chỉ sau mấy bước nó sững người, quay về phía con đường đá. Nó đi khó nhọc và chậm, vì thỉnh thoảng phải lội trong bùn ngập đến mắt cá chân, và những lúc như thế nó phải dừng lại, rút một chân ra, cân bằng trên chân kia, rồi dùng tay nhấc chiếc giày cao cổ ra khỏi vũng bùn lầy. Nó tới con đường đá thì đã mệt lử, tơi tả, và khi nó nhìn xung quanh hoang vắng - trên đầu nó, trong chốc lát, mặt trăng bỗng hiện ra -, nó cảm thấy nó đã đi nhầm hướng, có lẽ tốt hơn hết là nó về tìm Sanyi ở nhà. Nhưng nó phải đi đường nào để quay lại? Nếu nó đi theo đường đất đến nhà Horgos, còn Sanyi lại đi từ đường Hochmeiss đến thì sao? Và nếu anh nó đang ở thành phố?... Nếu nó xin đi nhờ ô tô ông chủ quán?... Nhưng không có anh, nó biết làm gì?... Nó lưỡng lự đi về phía quán rượu, vì nó nghĩ nếu nó thấy chiếc ô tô ở đó, thì... Nó không dám thú nhận cơn sốt đã làm nó quá mệt, và các cửa sổ nhấp nhoáng ánh đèn từ xa đã quyến rũ ánh mắt nó. Nó mới đi được mấy bước, bỗng nghe một giọng nói “Muốn sống đưa tiền đây!” Estike hốt hoảng hét lên và bỏ chạy. “Cái gì đây, con sóc nhỏ này, mày vãi đái ra rồi hả?...” Giọng nói tiếp tục vang lên từ trong bóng tối, với tiếng cười thô bỉ. Nhưng cô bé đã hết sợ, nó thở phào quay trở lại. “Lại đây... Lại đây nhanh lên! Tiền!... Cây tiền!” Sanyi từ từ bước ra con đường đá, đứng thẳng người lên và mỉm cười. “Mày mặc áo len của mẹ! Này, vì chuyện này mày sẽ bị dần cho một trận phải nằm cả tuần đấy! Con dở người.” Tay trái gã trai đút sâu vào túi, tay phải cầm điếu thuốc đang cháy dở. Estike lúng túng mỉm cười, nó cúi đầu xuống nói tiếp. “Cái cây tiền!... Có ai đó!...” Nó không dám nhìn lên, vì nó biết nó sẽ làm Sanyi khó chịu nếu nhìn vào mắt anh nó. Gã trai nhìn Estike từ đầu đến chân, rồi phun khói vào mặt nó. “Có chuyện gì trong nhà thương điên thế?” Gã phồng má lên như người khó khăn lắm mới kìm lại được không phá lên cười, rồi ánh mắt gã bỗng trở nên tàn nhẫn. “Nếu mày không biến khỏi đây ngay tạo sẽ cho mày một cái tát nảy đom đóm mắt, bé con ạ! Tao không muốn có ai nhìn thấy tao đứng đây với mày... Để rồi mọi người sẽ cười tao suốt một tuần... Nào, biến đi!” Gã ngoảnh đầu lại sau, lo lắng nhìn con đường đá mất hút trong bóng tối, rồi - như thể em gái nó đã không còn ở đó nữa - nó nhìn lướt qua đầu con bé, chăm chú nhìn cái cửa sổ quán rượu sáng lấp ló ở phía xa, làm mặt ra vẻ suy nghĩ. Estike hốt hoảng thực sự. Có chuyện gì vậy? Chuyện gì đã có thể xảy ra mà Sanyi lại... Hay nó đã phạm lỗi gì? Nó đã làm gì không phải? Nó thử một lần nữa. “Người ta đã lấy trộm... lấy trộm các hạt tiền...” “Lấy trộm à?” - thằng bé hét lên vẻ căng thẳng. - “Thế nào, mày bảo người ta đã lấy trộm! Ai đã lấy trộm?” “Em không biết ... có người đã lấy…” Sanyi lạnh lùng nhìn nó: “Đồ mất dạy! Mày dám láo với ta à?” Estike hốt hoảng, nó vội vã lắc đầu. “Có thế chứ. Tạo đã tưởng.” Nó rít một hơi thuốc, bất chợt quay lại phía sau, căng thẳng nhìn chỗ đường vòng như thể đang đợi ai, rồi giận dữ nhìn đứa em gái. “Mày đứng kiểu gì thế?” Cô bé vội thẳng người lên, nhưng đầu vẫn cúi xuống, nó nhìn đôi giày và bùn đất. Mái tóc vàng rơm của nó xõa về phía trước, che kín mặt nó. Sanyi nổi cáu: “Mày nghĩ sao, tạo đang chờ cái gì hả? Mày còn đứng ở đây làm gì nữa?! Cút đi cho khuất mắt tạo! Rõ chưa?” Nó vuốt cái cằm đầy mụn trứng cá và lông tơ của nó, khi thấy Estike vẫn đứng yên, nó miễn cưỡng nói. “Nào, nghe tao nói đây! Tao cần tiền! Thế thì đã sao, hả! Nó ngừng lại một lát, nhưng em nó vẫn đứng yên. - Và đằng nào thì, mẹ kiếp... Số tiền đó... cũng là của tao! Sao mày dám giấu tao?! - Và nó cười vẻ mãn nguyện. - Mày hãy hài lòng vì chuyện đó! Lẽ ra tao có thể lấy hết số tiền đó!” Estike vừa gật gật đầu vẻ đồng ý, vừa đi giật lùi, vì nó tưởng anh nó sẽ đánh nó. “Mà này, - gã trai nở nụ cười đồng lõa, - Tao có một chai vang nguyên đây. Nào, có làm một ngụm không? Hay rít một hơi thuốc? Này. - và nó chìa điếu thuốc đã tắt. Estike ngập ngừng chìa tay ra, nhưng nó lại rụt lại ngay lập tức. - Không hút à? Thôi được. Nghe đây, tao bảo cái này. Mày sẽ chẳng bao giờ nên người đâu: mày sinh ra đã ngớ ngẩn, và sẽ ngớ ngẩn mãi.” Cô bé lấy hết can đảm. “Anh... biết trước, đúng không?” “Biết gì, cô em, tao biết trước cái khỉ gió gì?” “Anh biết... các hạt giống tiền... sẽ chẳng bao giờ... chẳng bao giờ...” Sanyi lại mất hết kiên nhẫn. “Nào, mày đừng có định lừa dối tao! Muốn thế phải tỉnh ngộ sớm hơn, đồ ngốc ạ! Mày nghĩ rằng tao tin là mày không biết trò chơi sẽ đi tới đâu hả? Mày không ngu đến mức ấy... Gã lấy bao diêm ra, khum bàn tay lại châm thuốc. - Hay thật! Mày lại còn lên nước! Thay vì sung sướng vì tao đã chơi với mày! Gã nhả khói, lim dim mắt. - Thôi chấm dứt nhé. Tao không có thời gian chuyện vãn với bọn ngốc. Cút đi, con gà con, Cút!” Và nó gí ngón tay trỏ vào Estike, nhưng đúng lúc cô bé lao đi, thì nó gọi giật lại. “Quay lại đây! Lại gần đây! Gần nữa lại! Thế. Mày có cái gì trong túi đây? Gã thò tay vào túi áo len, dùng hai ngón tay lôi ra một gói giấy. - Hê, cái gì thế này? - Nó nâng cái gói lên, đánh vần dòng chữ. - Mẹ mày chứ! Đây là bả chuột! Mày lấy đâu ra thứ này?! - Estike không thốt ra nổi dù một lời. - Sanyi mím môi lại. Được rồi. Tao biết rồi!... mày lấy trộm trong kho! Đúng không? - Nó vẩy vẩy cái túi giấy. Mày cần cái này để làm gì, con ngốc, hãy nói cho bác mày nghe!” Estike không động đậy. “Ở nhà tất cả mọi người đã chết nằm một đống, hả?! - Bây giờ đến lượt tao, đúng không? Được rồi! Để tao xem mày có đủ gan không! Này đây! - Và gã đút cái gói vào túi áo len. - Nhưng cẩn thận đấy! Vì tao sẽ để mắt tới mày!” Estike lạch bạch chạy về phía quán rượu. “Cẩn thận đấy! Cẩn thận đấy! - Sanyi gọi với theo nó. - Đừng có sử dụng hết!” Gã còn đứng trong mưa một lúc nữa, đôi vai so lại, gã trai ngẩng đầu lên, nín thở nghe ngóng trong đêm; rồi gã nhìn ô cửa sổ ở phía xa, nặn một mụn trứng cá trên mặt, và bắt đầu chạy, đến chỗ nhà người nạo đường, gã rẽ khỏi con đường và mất hút trong đêm tối. Estike mấy lần nhìn lại, nó còn thấy đầu điếu thuốc lóe lên lần cuối cùng trong tay anh nó, cái chấm sáng ấy như ánh sáng của một ngôi sao vĩnh viễn bay xa, ngôi sao cuối cùng trên bầu trời, dấu vết của nó còn lưu lại mấy phút trên nền trời tối sẫm, để rồi đêm tối nặng nề nuốt chửng nốt những đường viền gợn sóng, để bây giờ bóng tối ập xuống nó, con đường dưới chân nó mất hút, và nó cảm thấy nó như bơi bất lực trong bóng tối, không có chỗ dựa, không trọng lượng và bị bỏ rơi một mình. Nó chạy về phía ánh sáng nhấp nháy lọt ra từ quán rượu, như thể ánh sáng ấy có thể thay thế cho ánh sáng lần cuối cùng lóe lên trên đầu điếu thuốc lá của anh nó, và nhiều lần nó đã rùng mình vì lạnh trước khi tới được đó và bám được lên cái gờ chìa ra của cửa sổ quán rượu, vì quần áo nó đã ướt đẫm, và tấm rèm ren lạnh như băng dính sát vào cơ thể nóng bỏng của nó. Nó nhón chân, nhưng vẫn không cao tới cửa sổ, vì thế nó nhảy lên để nhìn được vào trong, nhưng kính cửa sổ phủ một lớp hơi ẩm, và từ bên trong chỉ thấy vẳng ra tiếng ồn ào, tiếng cốc chạm cốc, tiếng thủy tinh vỡ, những tiếng cười bị cắt ngang, hòa lẫn trong tiếng người nói to dần. Đầu nó ù ù, như có đàn chim vô hình, kêu thất thanh bay quanh nó. Nó rời khỏi quầng sáng cửa sổ, tựa lưng vào tường, và ngây dại nhìn mảnh đất mà quầng sáng vẽ lên mặt đất. Vì thế mà gần như trong giây phút cuối cùng nó mới nhận ra: từ phía con đường có người nào đó, thở hổn hển với những bước chân nặng nề đang đi tới chỗ lối dẫn lên cửa quán rượu. Không còn thời gian để chạy trốn nữa, nên nó cứ đứng đó như trời trồng cạnh tường, cầu mong người kia không nhận ra nó. Nó chỉ động đậy và lao tới như kẻ mất trí, khi nó nhận ra ông bác sĩ. Nó bám vào cái áo khoác ướt của ông, những muốn chui cả người vào trong, và nó chỉ không bật khóc vì ông bác sĩ không ôm nó vào lòng, thế là nó cứ đứng trước mặt ông, đầu cúi gằm, tim nó đập liên hồi, máu chảy rần rật bên tai nó, và nó không hiểu ông bác sĩ nói gì, nó chỉ biết đó là những mệnh lệnh tỏ vẻ sốt ruột và khó chịu, nhưng nó không hiểu nội dung những lời ông nói, và trong lòng nó, thay vào nỗi mừng rỡ ban đầu là cảm giác cay đắng khó hiểu, vì lẽ ra ôm nó vào lòng thì ông lại đẩy nó ra xa. Nó không thể hiểu nổi, có chuyện gì đã xảy ra với ông bác sĩ, với con người duy nhất đã “thức suốt đêm bên cạnh nó, và lau mồ hôi trán cho nó”, chuyện gì đã xảy ra mà gần như nó phải gắng sức giữ để ông khỏi đẩy nó ra xa, nó không thể buông vạt áo khoác của ông, và nó chỉ bỏ cuộc khi nó nhìn thấy xung quanh - bỗng nhiên - sụt xuống và trồi lên, và dù cố gắng giữ ông bác sĩ, nhưng cuối cùng nó cũng không thể làm gì nữa: nó hốt hoảng nhìn thấy đất phía sau hai người nứt toác ra, và ông bác sĩ rơi vào cái hố không đáy ấy. Nó chạy, và phía sau nó như có tiếng chó sủa hoang dại đuổi theo, và nó đã tưởng thế là hết, những âm thanh rên rỉ đó sẽ túm lấy nó nhấn xuống bùn, thì bất chợt yên tĩnh, nó chỉ nghe tiếng gió rít và tiếng vỡ nho nhỏ của hàng triệu giọt mưa lan ra trên mặt đất xung quanh nó. Nó chỉ chạy chậm lại một chút khi chạy tới rìa cánh đồng Hochmeiss, nhưng ngay cả khi tới đó nó cũng không thể dừng lại được. Gió thổi hắt mưa vào mặt nó, nó họ liên tục, cái áo len đã mở tung hết cúc. Những lời nói kinh khủng của Sanyi, vụ tai nạn xảy ra với ông bác sĩ đè nặng lên nó đến nỗi nó không thể suy nghĩ; những việc nhỏ nhặt đã thu hút sự chú ý của nó: đôi giày cao cổ bị tuột dây... áo len mở tung hết cúc... cái túi giấy có còn không... Khi tới chỗ mương nước và dừng lại trước cái hố bị đào bới, nó hơi bình tĩnh lại. “Đúng, - nó nghĩ. - Đúng, các tiên nữ sẽ nhìn thấy cái này, và họ sẽ hiểu.” Nó nhìn đất đang vữa ra quanh cái hố, nước từ trên trán chảy xuống mắt nó, và đất trước mặt nó bắt đầu chuyển động như sóng, nhẹ nhàng và khác lạ. Nó buộc lại dây giày, cài lại khuy áo len, rồi dùng chân lấp cái hố. Nó dừng lại, ngừng lấp. Quay sang bên, nó nhìn thấy cái xác duỗi dài của Micur. Lông con mèo thấm đẫm nước, đôi mắt thủy tinh nhìn vào hư vô, bụng nó tóp lại khác thường. “Mày đi với tao nhé!” - nó nói khẽ, và nhấc con mèo lên khỏi lớp bùn. Nó ôm con mèo, rồi bước đi thận trọng và dứt khoát. Nó đi một đoạn dọc theo con mương, rồi rẽ về phía trước khu trại Kerekes, và đến con đường đất đi Postelek dài ngoằn ngoèo, sau khi cắt ngang con đường đá dẫn tới thành phố, con đường đất dẫn thẳng tới những cánh rừng Postelek chìm trong sương mù, bên cạnh lâu đài Weinckheim đổ nát. Nó mừng vì nó không chỉ có một mình, Micur còn sưởi ấm chỗ bụng nó. “Đúng, - nó nói nho nhỏ cho riêng mình -, các tiên nữ nhìn thấy, và họ sẽ hiểu.” Nó cảm thấy trong lòng thanh thản, và quanh nó cây cối, con đường, mưa và cả đêm tối, tất cả đều tỏa ra sự thanh bình. “Mọi chuyện diễn ra đều tốt,” - nó nghĩ. Tất cả trở nên đơn giản, vĩnh hằng. Nó nhìn hai hàng cây keo trơ trụi chạy ven đường, cảnh làng quê chìm vào bóng tối chỉ cách nó vài mét, nó cảm thấy mùi ngột ngạt của mưa, của bùn, và nó biết chắc là nó đã hành động đúng. Nó nhớ lại những việc xảy ra trong ngày vừa qua, và nó mỉm cười xác nhận mọi việc liên quan đến nhau thế nào; nó cảm thấy các sự kiện đó liên kết với nhau không ngẫu nhiên và tùy tiện, mà chúng được xâu chuỗi lại với nhau bởi một ý nghĩa đẹp tuyệt vời không thể diễn tả nổi. Nó còn biết rằng, nó không đơn độc, bởi tất cả mọi thứ và mọi người - cha nó trên cao xanh, mẹ nó, các anh chị nó, ông bác sĩ, con mèo, những cây keo này, con đường bùn lầy này, bầu trời này, đêm tối này - phụ thuộc vào nó, cũng như nó phụ thuộc vào tất cả. “Ta có thể trở thành một đối thủ lớn! Ta chỉ cần đi tiếp.” Nó ôm chặt con Micur, nhìn lên bầu trời bất động, và dừng lại, rất nhanh. “Rồi từ nơi đó ta sẽ giúp đỡ.” Phía đông trời đã dần rạng. Và khi những tia nắng đầu tiên của mặt trời mọc chiếu lên những bức tường đổ nát của lâu đài Weinckheim, và luồn qua những khe hở và qua các ô cửa sổ lớn trống hoác vào các căn phòng cháy rụi mọc đầy cỏ dại, thì Estike đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ. Nó đặt con Micur về phía bên tay phải, và chia đôi phần còn lại trong tình anh em, và nó nuốt trôi phần của nó với tí nước mưa, nó đặt cái túi giấy sang bên trái, lên một miếng gỗ mục, vì nó muốn chắc chắn rằng anh trai nó sẽ chú ý tới. Nó nằm vào giữa, duỗi thẳng hai chân. Nó chải tóc khỏi trán, ngậm ngón tay cái vào miệng, và nhắm mắt lại. Nó không có gì phải lo ngại. Nó biết rõ, các nàng tiên của nó đang tới đón nó đi.
VI. / VIỆC CỦA NHỆN II. Núm vú của quỷ và vũ điệu quỷ Satan
“Điều gì ở phía sau ta, điều đó còn ở phía trước ta. Con người không thể yên tâm.” - Futaki buồn bã tự nhủ, khi với những bước đi êm nhẹ như mèo, tựa vào cây gậy, gã quay lại chỗ Schmidt đang ương bướng im lặng và bà vợ Schmidt lúc ngồi im, lúc la ối lên, ngay cạnh chỗ “chiếc bàn nhân viên” bên phải quầy hàng, và nặng nề ngồi phịch xuống chỗ của gã; gã bỏ ngoài tai lời nói của người đàn bà (“Tôi thấy ông đã uống kha khá! Tôi nghĩ tôi cũng hơi chếnh choáng, lẽ ra tôi không nên uống lẫn lộn, nhưng... Ông đúng là một người lịch sự...”), và vừa đắn đo, với ánh mắt ngây dại, gã cầm một chai rượu nữa và đẩy nó trượt ra giữa bàn, vì chính gã cũng không hiểu bỗng dưng gã làm sao, bởi chẳng có lý do gì khiến gã sầu não thế này, xét cho cùng hôm nay không phải ngày bình thường: gã biết ông chủ quán rượu nói đúng, và “chỉ cần chờ vài tiếng nữa” là Irimiás và Petrina sẽ tới, để kết thúc “sự khốn khổ bất hạnh” đã kéo dài từ bao năm, và xua đuổi sự yên tĩnh nhớp nháp này, tiếng chuông báo tang hèn hạ lúc hoàng hôn này, tiếng chuông dựng người ta dậy cả khi đang nằm trên giường, để rồi ta bơi trong mồ hôi, bất đắc dĩ phải nhìn một cách bất lực mọi thứ từ từ bị hủy hoại. Schmidt, người kể từ khi họ đặt chân vào quán rượu, không chịu cất tiếng nói (ngay cả khi Kráner và bà vợ Schmidt ầm ĩ chia tiền, Schmidt cũng chỉ ầm ừ quay lưng lại với “tất cả”), lúc này lão ngẩng đầu lên, và giận dữ mắng cô vợ đang lắc lư trên ghế (“Mụ mà hơi chếnh choáng hả!... Mụ đã say bét nhè rồi đó.”), rồi lão quay về phía Futaki, đúng lúc gã đang định rót đầy các cốc. “Đừng rót cho mụ ấy nữa, mẹ kiếp! Ông không thấy mặt mũi mụ ấy ra sao à?” Futaki không đáp, không thanh minh, chỉ giơ tay ra hiệu gã hoàn toàn nhất trí, và gã đặt nhanh chai rượu lên bàn. Mấy tiếng liền gã đã cố giải thích với Schmidt, nhưng lão kia cứ bướng bỉnh lắc đầu: theo lão “họ đã bỏ lỡ cơ hội duy nhất” bằng việc họ vào đây, ngồi như lũ “thằn lằn bị thiến”, thay vì họ lợi dụng sự lộn xộn do bọn Irimiás gây ra, lẽ ra họ có thể biến nhẹm với số tiền, hơn nữa cả “Kráner lẽ ra cũng chết giẫm ở đây...” Futaki hoài công nói mãi, rằng từ ngày mai ở đây mọi thứ sẽ khác, rằng Schmidt cứ yên tâm, vì vận may đã tới, Schmidt ngồi nghe với vẻ mặt giễu cợt, và câu chuyện cứ tiếp diễn tới khi Futaki nhận ra rằng họ không thể đi tới sự nhất trí, vì lão kia chỉ công nhận ở Irimiás “có ý tưởng”, chứ không nhất trí rằng họ không có lựa chọn nào khác: nếu không có hắn (và tất nhiên nếu không có Petrina) thì họ chỉ đi lang thang, mò mẫm một cách mù lòa, xô đẩy, nhút nhát và thỉnh thoảng đâm sầm vào nhau, như những “chú ngựa bị đưa vào lò mổ”. Từ đâu đó trong sâu thẳm gã hiểu sự phản đối của Schmidt, bởi đã từ lâu sự rủi ro bám riết lấy họ; và gã nghĩ chỉ riêng hy vọng rằng Irimiás nắm lấy mọi việc đã nhiều hơn “khả năng mà mọi cơ may đưa đến”, vì hắn ta là người duy nhất có thể “tập hợp được những thứ tan rã trong tay chúng ta”. Có đáng kể gì khi số tiền không trong sạch này đã vĩnh viễn biến mất? Chỉ cái mùi chua chua này hãy mất đi, chỉ đừng phải ngày ngày nhìn thấy bên ngoài kia vữa rụng, tường nứt, mái sụp, chỉ đừng có phải chịu đựng: trong ngực tim đập mỗi lúc càng chậm, đôi chân mỗi lúc càng tê bại. Vì Futaki biết chắc rằng những thất bại lặp đi lặp lại hết tuần này sang tuần khác, từ tháng này sang tháng khác, những kế hoạch bỗng nhiên tàn lụi, mỗi lúc càng rối ren, niềm hy vọng mòn mỏi thường xuyên không phải là mối nguy hiểm đối với sự giải thoát; thậm chí đúng hơn là chính những thứ đó cố kết họ lại với nhau, vì giữa sự rủi ro và sự tàn lụi là chặng đường dài, nhưng ở đây, ở cuối đoạn cuối cùng này, ngay cả thất bại cũng không thể. Mối đe dọa thật sự hình như tấn công họ từ đất, dưới chân họ, dù cội nguồn của nó bao giờ cũng bất định; một con người chỉ bỗng nhiên cảm thấy sự yên tĩnh đáng sợ, không dám cử động, rúm vào một góc, nơi anh ta hy vọng được che chở, sự nhai trở nên khổ sở, sự nuốt trở nên cực hình, và anh ta không nhận thấy xung quanh mình mọi sự trở nên chậm lại, không gian càng thu hẹp lại, và trong sự rút lui đó cuối cùng sẽ xảy ra điều kinh khủng nhất: sự bất động. Futaki hốt hoảng nhìn quanh, hai tay run run châm thuốc hút, vội vàng uống hết cốc rượu. “Lẽ ra ta không nên uống, - gã tự trách mình. - Những lúc như thế này ta chỉ luôn nghĩ tới chiếc quan tài.” Gã duỗi hai chân, thoải mái ngả người ra sau ghế, và quyết định gã sẽ không lùi trước nỗi sợ hãi này nữa; gã nhắm mắt lại, và để cho sự ấm nóng, cho rượu, cho tiếng ồn ào lan tỏa trong xương cốt gã. Và sự hoảng sợ nực cười này biến mất cũng nhanh như khi nó tới; lúc này gã chỉ để ý tới những âm thanh vui vẻ xung quanh, và khó khăn lắm gã mới làm được nước mắt khỏi chảy ra vì xúc động, vì trước đó là sự lo lắng, lúc này là cảm giác biết ơn xâm chiếm gã, vì sau bao nhiêu đau khổ bây giờ gã có thể ngồi đây, hy vọng và hồi hộp, được che chở bởi những thứ mà cho tới khi đó gã phải đương đầu. Nếu sau tám cốc rưỡi mà gã còn đủ sức để lần lượt ôm các bạn gã đang khua khoắng chân tay, toát hết mồ hôi kia, vì gã không cưỡng lại được khát khao muốn thể hiện thành hình dạng cụ thể thế nào đó nỗi xúc động sâu sắc của mình. Nhưng bất chợt đầu gã đau như búa bổ, người bỗng nhiên nóng bừng, dạ dày cuộn lên, trán đẫm mồ hôi. Gã thấy người mệt rũ ra, cố hít thở thật sâu xem có đỡ không, và thế là gã không nghe thấy vợ Schmidt nói (“Sao thế, ông điếc à? Futaki, ông làm sao thế?”), người đàn bà - khi nhìn thấy Futaki mặt tái dại đang xoa bụng, đôi mắt đau đớn nhìn vào hư không - chán nản phủi tay (“Không thể tính tới nước này...”), và quay lại đối diện với ông chủ quán đã từ lâu nhìn ả ta chằm chằm với vẻ thèm khát. “Nóng không thể chịu nổi! János, hãy làm một điều gì đi chứ!” Nhưng người đàn ông, như thể không nghe thấy gì “trong cái ồn ã nguyền rủa này”, chỉ bối rối dang tay, và - không trả lời bà vợ Schmidt đang loay hoay với cái lò sưởi - nháy mắt đầy ý nghĩa với người đàn bà. Người đàn bà, sau khi thấy cố gắng của mình không đạt kết quả, bực bõ ngồi trở lại và cởi những cúc phía trên của chiếc áo len màu vàng chanh, ông chủ quán tỏ vẻ hài lòng, vì sự kiên trì của ông, như mọi khi, lúc này cũng đã đạt được kết quả mong muốn. Từ trước đó mấy giờ, ông đã ngấm ngầm, kiên trì từng tí một vặn cái nút điều chỉnh cái lò ga dần lên, rồi bằng một động tác nhanh gọn nhấc nó lên và đẩy sang một bên - chẳng ai để ý tới trong mớ âm thanh hỗn loạn này? -, để bà vợ Schmidt đầu tiên phải cởi bỏ áo khoác, sau đó cởi cả áo len, các đường nét hấp dẫn của ả hôm nay còn thu hút ông mạnh hơn lúc khác. Người đàn bà, không hiểu vì lý do gì, cho tới lúc này vẫn khăng khăng từ chối sự tiếp cận của ông, mọi cố gắng của ông - dù ông chưa bao giờ bỏ cuộc, ông không thể bỏ cuộc! - đều lần lượt thất bại, và nỗi đau do bị từ chối càng tăng lên, khi ông biết về các cuộc phiêu lưu mới của ả. Nhưng ông đủ kiên nhẫn để đợi và đợi, vì ngay từ khi cách đây mấy năm ông bắt gặp mụ vợ Schmidt với tay lái máy cày trẻ trong nhà cối xay, thì ả không những không nhảy dựng dậy và xấu hổ bỏ chạy, mà ả cứ mặc kệ ông đứng đó tắc nghẹn trong cổ, chứng kiến ả lên cơn sung sướng trong vòng tay gã trai trẻ kia, ông đã biết con đường tới thắng lợi còn dài. Nhưng mấy hôm trước, khi ông nghe đồn quan hệ giữa Futaki và vợ Schmidt trở nên “lỏng lẻo”, ông không giấu nổi vui mừng trước mặt mọi người, vì ông cảm thấy, giờ là lúc đến lượt ông, đây là cơ hội không bao giờ quay lại. Và lúc này, tuy mệt mỏi, ông thấy người đàn bà nâng lớp áo blue mỏng bên trên vú để quạt, tay ông bắt đầu run không thể cưỡng lại nổi, mắt ông mờ đi: “Đôi vai kia! Cặp đùi ép sát vào nhau kia! Cái eo lưng kia! Đôi núm vú kia! Lạy Chúa! Ông muốn ôm cái Toàn Thể bằng ánh mắt, nhưng vì hồi hộp ông chỉ có thể là nhân chứng của “sự tiếp nối khiến người ta phát điên lên” của các Chi Tiết. Mặt ông tái dại, ông chóng mặt, và gần như van nài, ông cố gắng bắt gặp ánh mắt thờ ơ (“Như đần độn...) của vợ Schmidt, và vì không bao giờ có thể giải thoát khỏi cái khả năng dồn nén vào một câu ngắn “những sự thật dù lớn dù nhỏ của cuộc đời”, trong cơn si mê sung sướng ông tự đặt câu hỏi: “Liệu có kẻ nào tiếc dầu đốt vì một người đàn bà như thế này?” Nhưng nếu ông biết, mọi cố gắng của ông đều vô ích, thì chắc ông đã rút lui nhẹm vào trong kho, tránh xa những ánh mắt thù nghịch hay hân hoan vì thất bại của ông, để liếm láp những vết thương của mình một cách bất an. Vì ông cũng chưa hề đoán biết được rằng vợ Schmidt - với những cái liếc mắt thách thức sang hai bên, với động tác từ từ duỗi dài người đã đẩy Kráner, Halics, ông đốc học và cả bản thân ả vào vòng xoáy nguy hiểm - chỉ muốn giết thời gian, vì Irimiás đã chiếm cả ngóc ngách nhỏ nhất trong trí tưởng tượng của ả, những hình ảnh ký ức về hắn lẫn lộn với những ảo ảnh kích thích về tương lai chung của hai người, làm sâu sắc hơn sự ghê tởm và thù hận của mụ đối với thế giới này, thế giới mà không bao lâu nữa mụ phải “bỏ lại đây”. Và nếu như thỉnh thoảng xảy ra việc mụ đánh eo không chỉ để giết “thời gian chậm chạp trôi”, mụ căng bộ ngực nổi tiếng không chỉ dành cho những cái nhìn háo hức, mà để mấy giờ còn lại trôi đi nhanh hơn, điều đó cũng không nhiều hơn sự chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ đã chờ đợi, mà ở đó “hai trái tim cùng nhớ lại”. Kráner và Halics (thậm chí cả ông đốc học) - trái ngược với ông chủ quán - biết rõ họ chẳng thể hy vọng điều gì: mũi tên khát vọng của họ rơi bịch xuống cạnh chân vợ Schmidt; và như vậy cả ba đều cam chịu nỗi đam mê không lối thoát này, ít nhất thì nỗi đam mê còn tồn tại. Ông đốc học đầu trọc, có cái đầu nhỏ so với tầm vóc gầy và cao (“Nhưng gân guốc...”) ngồi như người bị xúc phạm trong góc phòng, bên cạnh chai vang thứ hai, phía sau Kerekes. Hoàn toàn ngẫu nhiên mà ông biết bọn Irimiás sẽ tới, và chính ông, dẫu sao - không kể ông bác sĩ lúc nào cũng say mèm - ông cũng là người có học duy nhất trong vùng! Bọn họ nghĩ thế nào mới được chứ? Như thế này chúng ta sẽ đi tới đâu? Nếu ông không chán ngấy sự thiếu chính xác không thể tha thứ được của Schmidt và Kráner, và cuối cùng ông không quyết định - sau khi đóng cửa Nhà Văn hóa và cất cái máy chiếu vào chỗ an toàn theo quy định - “để nắm được thông tin” ông sẽ hỏi ở quán rượu, thì có khi ông hoàn toàn không biết gì về tất cả chuyện này... Không có ông, họ sẽ bắt đầu từ đâu? Ai sẽ bảo vệ quyền lợi cho họ? Họ tưởng rằng Irimiás sẽ chấp nhận đề nghị? Ai muốn đứng đầu một hội lôm côm như thế này? Ở đây cần lập lại trật tự, chuẩn bị kế hoạch, tóm tắt theo từng điểm “những xu hướng cơ bản”! Cơn giận ban đầu qua đi (“Những con người này còn non dại, chúng ta làm gì đây! Phải tiến lên từng bước một, không thể làm tất cả trong ngày một ngày hai...”), sự chú ý của ông bị phân tán giữa vợ Schmidt với việc lập ra bản sơ đồ kế hoạch; nhưng rồi ông tạm dừng việc sau, vì dựa trên những kinh nghiệm vững chắc ông nhận ra rằng “trong một lúc nhất định chỉ được làm một việc nhất định”. Ông tin chắc rằng người đàn bà này không như những người khác. Không phải ngẫu nhiên mà cho tới nay mụ lần lượt từ chối những lời đề nghị thô thiển, thú tính của dân trong trại. Vợ Schmidt, theo ý ông ta, cần “một người đứng đắn, có tư chất”, chứ không phải một gã tính cách thô lỗ như Schmidt, không mảy may phù hợp với tính cách chín chắn, giản dị, nhưng trong sáng của nàng. Có điều chắc chắn không cần phải ngạc nhiên là người đàn bà - không nghi ngờ gì nữa - có cảm tình với ông; chỉ một việc này cũng đủ chứng minh điều đó, cô ta là người duy nhất vào thời gian đó đã không biến ông thành trò cười, vì sau khi trường học bị đóng cửa ông vẫn khăng khăng giữ chức danh đốc học. Vì người đàn bà này - ngoài cảm tình tự nhiên - có thể thấy rõ còn kính trọng ông, rõ ràng vì nàng không biết rằng ông chỉ đợi giây phút thuận lợi (chỉ cần những người xuất sắc về mặt con người và chuyên môn trở về vị trí xứng đáng của họ trong các cơ quan ở thành phố, sự lùi bước của họ trước đội quân thô lỗ, kiêu ngạo hiện tại chỉ có thể là hậu quả của sự cân nhắc chiến thuật), và ông ta sẽ cho sửa sang lại tòa nhà, và “hăng hái bắt đầu lại việc dạy học”. Vợ Schmidt - hiển nhiên -, không thể phủ nhận, là một phụ nữ bắt mắt, các bức ảnh về cô ta (do ông chụp cách đây mấy năm bằng chiếc máy rẻ tiền nhưng đáng tin cậy) theo ông ta còn vượt xa “những bức ảnh khêu gợi” của tờ tạp chí chuyên về trò chơi giải ô chữ Füles mà ông yêu thích, với chúng ông cố xua đuổi sự bất an của mình trong những đêm dài mất ngủ... Cho tới lúc này những ý nghĩ rõ ràng, rành mạch, có quy luật, trật tự của ông - có phần nhờ tác dụng của một chai rượu nữa đã hết - bỗng nhiên trở nên rối loạn, dạ dày ông bắt đầu cồn cào, trong đầu ông “các mạch máu” bỗng rần rật, không quan tâm tới “đám dân nhà quê” lắm điều, nhưng khi ánh mắt thèm khát của ông - lướt qua vai Kerekes đang nằm ngáy trên “bàn bida” - cày xới trên cơ thể nhiều hứa hẹn của cô vợ Schmidt, bắt gặp ánh mắt có vẻ thờ ơ, nhưng trong thực tế là ánh mắt tố giác tàn nhẫn của người đàn bà, thì ông đỏ mặt, cúi đầu xuống, và lùi lại sau đám dân trại đông đúc, để có thể ở đó “một mình với nỗi hổ thẹn”, và ít nhất bỏ cuộc trong một vài giờ; cũng như Halics, người - khi thấy cô vợ Schmidt ngồi đối diện với mình hoặc không nghe thấy, hoặc không muốn nghe ông kể về phiên bản xác thực của câu chuyện đã lưu truyền từ lâu - dừng lại giữa chừng, để yên cho Kráner gào lên, cãi nhau với người soát vé mỗi lúc một nóng nảy hơn, nhưng “xin phép!” không có ông, vì ông không phí sức; ông gạt nhẹ các lớp mạng nhện vương trên người, và cáu kỉnh nhìn nét mặt bóng nhẫy của ông chủ quán đang đưa mắt sang mụ vợ Schmidt với vẻ mãn nguyện, vì - sau một lúc lâu suy nghĩ - ông đi tới kết luận, rằng “bọn rác rưởi thối tha thế này đơn giản không thể có chỗ đứng trong thế giới”, rõ ràng tất cả trò mạng nhện này chỉ là một mưu mẹo mới trong quán rượu. Một thằng cha mới đểu giả làm sao! Không những hắn chỉ muốn dùng trò trẻ con ngu ngốc này để lường gạt họ, giờ hắn lại muốn “quăng lưới” tóm mụ vợ Schmidt nữa! Mà người đàn bà này phải… thuộc về ông, vì đến kẻ mù cũng thấy ả đã ít nhất hai lần mỉm cười với ông, và ông cũng đáp lại!... Và sau tất cả chuyện đó - hắn phải nhìn thấy chứ, người ta nói mắt hắn tinh như mắt đại bàng! - hắn vẫn có thể làm trò đó, thằng kẻ cướp, thằng buôn gian bán lận tham lam, thằng thợ giày bị đuổi việc này... Túi đầy tiền, kho đầy rượu vang, ngoài kia là chiếc ô tô, nhưng! Nhưng! Và nhưng! Đối với hắn thế chưa đủ, hắn còn muốn nẫng cả mụ vợ Schmidt! Đến nước đó thì thôi! Halics không phải là loại người có thể để yên sự láo xược này! Tất nhiên tất cả lũ ở đây tưởng ông là người nhu nhược, nhưng đó chỉ là vẻ bề ngoài! Cứ để Irimiás và Petrina đến! Bên trong ông có thể làm điều mà đám người này trong mơ cũng không dám nghĩ tới! Ông uống cạn chén rượu, liếc trộm bà vợ ông đang im lặng chú ý, rồi nhanh chóng định rót đầy cốc nữa, nhưng ông rất ngạc nhiên - ông nhớ rõ ràng, lúc trước trong chai còn ít nhất hai cốc nữa - chai rượu trống không. “Đứa nào ăn trộm rượu của tao! - ông nghĩ, rồi bật dậy, và nhìn quanh vẻ hăm dọa; nhưng không bắt gặp ánh mắt hốt hoảng, hối hận nào, ông lẩm bẩm ngồi xuống. Khói thuốc đặc tới gần như không thể nhìn thấy gì, cái lò sưởi dầu đỏ rực phả ra hơi nóng hầm hập, mọi người đều vã mồ hôi. Sự ầm ĩ mỗi lúc một tăng, vì những kẻ lắm mồm nhất, như Kráner và Kelemen, vợ Kráner và vợ Schmidt - thỉnh thoảng gắng sức - cố gào to hơn cả sự ồn ã do chính họ gây nên, thêm nữa Kerekes đã tỉnh dậy, và gầm lên đòi chủ quán cho một chai nữa. “Ông bạn, đừng tưởng bở!” Kráner vươn người về phía trước. Lấy cốc rượu huơ huơ trước mặt Kelemen đang cáu tiết, các mạch máu hằn căng trên trán, đôi mắt mờ đục lóe lên đe dọa. “Tao không phải là bạn mày! - gã soát vé nổi đóa nhảy dựng dậy. - Tao chưa bao giờ là bạn đứa nào hết, hiểu chưa?” Từ phía sau bàn quầy, chủ quán cố dàn hòa (“Thôi đi các vị! Đến vỡ toác đầu ra vì tiếng cãi vã mất!”), nghe thế Kelemen đi vòng qua bàn của nhóm Futaki, đến sát quầy. “Ít nhất là ông hãy nói với hắn! Ông hãy nói với hắn đi!” Chủ quán ngoáy mũi. “Tôi nói với hắn cái gì? Ông hãy im đi, ông không thấy ông đang làm mọi người khó chịu sao?” Nhưng thay vì trấn tĩnh lại, Kelemen mỗi lúc càng nóng nảy hơn. “Nghĩa là ông cũng không hiểu? Ở đây tất cả đều ngu hết hay sao?! - gã gào lên, đập mạnh tay lên mặt bàn quầy. - Khi tôi... tôi... kết bạn với Irimiás... ở gần Novosibirsk [3]... trong trại tù binh, thì chưa thấy mặt mũi Petrina đâu! Ông hiểu chưa? Chưa thấy Petrina đâu cả!” “Sao lại chưa thấy hắn ở đâu, chắc hắn phải ở đâu đó chứ?”
Kelemen hét lên, đá mạnh vào bàn. “Nếu tôi nói không thấy hắn ở xó xỉnh nào, thì có nghĩa là không! Đơn giản là hắn chưa có ở đâu hết!” “Thôi được, được rồi... - ông chủ quán trấn tĩnh. - Đúng như ông nói, đúng thế, ông hãy quay lại chỗ cũ đi, và đừng đá tung bàn quầy của tôi lên nữa!” Kráner cười mỉm, nói qua đầu Futaki: “Lại còn Novosibirsk, hay cái quái quỷ con mẹ gì nữa?! Anh bạn, nếu tửu lượng kém thì đừng có uống!” Kelemen nhìn ông chủ quán với vẻ mặt nhăn nhó, đau đớn, sau đó nhìn Kráner, rồi giận dữ lắc đầu với vẻ cay đắng, rồi phủi tay tỏ vẻ không thể hiểu nổi... Gã lảo đảo về chỗ, và định ngồi xuống, nhưng mắc vào chiếc ghế, gã ngã sóng soài ra đất. Kráner không chịu nổi nữa, phá lên cười. “Sao thế... Bono... Bonomisli?! Tôi đến chết mất! Thế mà lại còn... đây là... cựu tù binh... Tôi chịu hết nước rồi!...” Kráner với đôi mắt lồi ra, đặt tay lên bụng, lảo đảo đi tới bàn Schmidt, đứng sau lưng vợ Schmidt, và bất chợt ôm lấy mụ. “Cô có nghe thấy không... - hắn hỏi bằng giọng vẫn còn sặc tiếng cười. - Cái thằng kia... cô biết không, nó muốn nói với tôi rằng... Cô nghe thấy không?!...” “Tôi không nghe, nhưng tôi không quan tâm! Vợ Schmidt hét lên và cố gỡ đôi bàn tay hộ pháp của Kráner. - Buông đôi tay bẩn thỉu của ông ra!” Nhưng Kráner bỏ ngoài tai, và đổ cả người đè lên người đàn bà, và như vô tình hắn trượt bàn tay vào dưới chiếc áo len đã mở của người đàn bà. “Ôi, chỗ này mới nóng ấm làm sao...” - hắn cười, nhưng người đàn bà, bằng một cử chỉ giận dữ, vùng thoát ra khỏi hắn, quay lại đối diện và tát cho hắn một cái tát nảy lửa. “Ông kia! - mụ quát Schmidt, khi thấy Kráner vẫn cợt nhả cười. - Ông cứ ngồi im đấy à? Ông để yên cho nó sờ mó vợ ông thế à?” Cố gắng lắm Schmidt mới nhấc đầu được lên khỏi mặt bàn, nhưng như người đến thế là hết cả sức lực, đầu lão lại gục ngay xuống. “Có gì mà làm ầm lên thế? - lão lẩm bẩm, rồi bắt đầu nấc liên tục. - Cứ để... chúng nó sờ... mó! Ít nhất mỗi đứa được tí chút.. gì đó...!” Tới lúc đó thì ông chủ quán cũng đã tới bên cạnh, và giống như một con gà trống, ông ta lao vào Kráner. “Ông tưởng đây là đâu hả? Nhà chứa à?” Nhưng Kráner cứ đứng đó, như một con cừu, chẳng hề xê dịch, hắn liếc xéo ông chủ quán, mặt bỗng sáng lên: “Nhà chứa! Đúng đấy, ông bạn! Đúng đấy!”- Hắn ôm lấy ông chủ quán, và kéo ông ta về phía cửa. - “Nào, ông bạn, hãy bỏ cái chỗ thối tha bẩn thỉu này lại đây. Đến nhà xay với tôi! Chỉ ở đó mới có cuộc sống đích thực... Nào đi, đừng làm bộ nữa!...” Nhưng ông chủ quán thoát ra được, chạy nhanh về sau quầy, và như thể một sự hả hê, ông ta chờ “gã say xỉn” nhận ra: bà vợ phục phịch của hắn đã đứng trước cửa từ bao giờ, câm lặng, mắt rực sáng, hai tay chống nạng. “Tôi không nghe rõ! Ông hãy nói cho tôi nghe xem nào! - Bà ta rít vào tai chồng, khi chạm trán hắn. - Ông định đi tới chỗ con mẹ nào hả?!” Kráner tỉnh rượu rất nhanh. “Tôi ư? - hắn nhìn vợ. - Tôi đi đâu cơ chứ? Tôi chẳng đi đâu hết, vì tôi chỉ cần cô nàng bé bỏng của tôi thôi!” Bà vợ gỡ tay chồng, nói sắc như dao cạo: “Rồi tôi sẽ cho ông cô nàng bé bỏng, đến sáng mai hãy cứ tỉnh rượu đi! Tôi sẽ cho ông ‘cô nàng bé quay bỏng’ đến sưng vù mắt lên.” Bà ta túm ống tay áo của Kráner, cao hơn bà tới hai đầu, lôi trở lại bàn của họ rồi ấn hắn ngồi xuống. “Nếu ông còn dám đứng dậy khỏi đây một lần nữa, thì ông hãy liệu hồn đấy...” Bà rót đầy cốc rượu, bực bõ uống hết một hơi, nhìn quanh rồi thở dài, và về phía bà vợ Halics đang hả hệ theo dõi màn kịch (“Một cái ổ tội lỗi mới hay họ làm sao! Sẽ còn có khóc lóc, sẽ còn có kêu than, đúng như nhà tiên tri đã nói!”). “Tôi nói đến đâu rồi nhỉ? - Bà vợ Kráner tiếp tục câu chuyện bỏ dở, vừa giơ ngón tay đe dọa ông chồng đang rụt rè đưa tay ra với cốc rượu. À vâng! Nói đúng ra ông chồng tôi là người tốt, tôi không thể chê trách, đó là sự thật! Chỉ có điều là rượu! Nếu không uống rượu, ông ấy hiền như đất, tôi nói thật đấy, bà hãy tin tôi! Vì ông ấy có thể trở thành người hiền lành tốt bụng lắm, nếu ông ta muốn! Và ông ấy làm việc rất khỏe, bà cũng biết đó, ông làm gấp đôi người khác! Còn việc ông có chút tật xấu, lạy Chúa! Ai mà chẳng có tật xấu, bà hãy nói tôi nghe, bà Halics thân mến, ai mà chẳng có tật xấu? Trái đất này còn chưa mang một ai như thế trên lưng nó! Mà bà nói sao? À, ông ta không chịu nổi nếu bị nói xấu à? Đúng, ông chồng tôi rất nhạy cảm với điều này. Với ông bác sĩ cũng là vì thế đấy, bà biết đấy, ông bác sĩ đối với con người ta như đối với con chó của ông ta vậy! Nhưng người khôn thì chỉ phủi tay, im lặng và chịu đựng, vì dù sao ông ta cũng là bác sĩ, và xét cho cùng cũng chẳng có gì to tát, phải chịu đựng, có thế thôi. Hơn nữa, ông ta cũng không phải là con người tệ hại xấu xa như ông ta thể hiện. Tôi biết, vì tôi biết ông ta, bà Halics thân mến, sau chừng ấy năm sao tôi lại không hiểu mọi điều vặt vãnh cơ chứ?” Futaki thận trọng, giơ một tay ra trước như để tự vệ, tay kia tựa lên chiếc gậy, tập tễnh đi về phía cửa; tóc gã rối bù, phía sau áo sơ mi tụt ra ngoài quần, mặt gã trắng bệch như với. Gã khó nhọc mở cái then cửa, bước ra ngoài, và trong một khoảnh khắc không khí trong lành ập xuống, quật gã ngã ngửa trên mặt đất. Mưa vẫn rơi không ngớt, những hạt mưa tan vỡ lên những viên ngói rêu phong của quán rượu, trên thân cành những cây keo, trên bề mặt gồ ghề của con đường đá ẩn hiện, và phía dưới, trước cửa quán, trên cơ thể co quắp, rùng mình trên bùn lầy của Futaki như “những thông điệp đe dọa, không thể nào khác của định mệnh”. Gã nằm vô thức trong bóng tối mấy phút, rồi thấy dễ chịu, gã ngủ thiếp đi, và nếu như nửa tiếng sau ông chủ quán không nhận ra là gã chưa quay lại, không ra tìm và lay gọi gã (rằng: “Này, ông điên à!? Dậy đi! Viêm phổi đấy!”) thì có lẽ đến sáng gã vẫn chưa tỉnh. Gã loạng choạng dựa vào bức tường quán rượu, từ chối lời đề nghị của chủ quán (“Vào đây, tựa vào tôi đây, ở ngoài này ông sẽ ướt như chuột lột, thôi nào...”), và gã cứ đứng đó, ngây ngô trong làn mưa, gã thấy, nhưng gã không hiểu cái thế giới mông lung quanh gã, đến lúc - nửa giờ sau - khi mưa đã gột gã ướt rượt, gã bỗng nhiên nhận ra mình đã tỉnh rượu. Gã đi vòng qua góc tòa nhà, đái vào một gốc keo trần trụi, và khi nhìn lên bầu trời gã thấy mình cực kỳ nhỏ bé và yếu ớt, và trong khi cái bọng đái cứ tuôn ra mãi, không ngớt, với sức mạnh đàn ông của gã, gã lại thấy nỗi buồn tràn ngập. Gã quét tầm nhìn lên bầu trời trên đầu, và nghĩ, ở một nơi nào đó, dù xa xăm đến đâu đi nữa, cái bầu trời vĩnh cửu ngự trị trên đầu con người sẽ kết thúc, cũng như “ở đây mọi sự phải có một kết cục định sẵn”. Giống như trong một cái chuồng, gã nghĩ, đầu vẫn ong ong, chúng ta đã sinh ra trong cái thế giới bị vây bủa này, và chẳng khác gì lũ lợn sục trong bẩn thỉu, chúng ta cũng chẳng biết điều gì sẽ diễn ra trong sự chen chúc xung quanh những cái núm vú, cuộc tranh cướp vĩnh cửu trong bùn lầy để dẫn tới cái máng ăn, hay vì chỗ ngủ lúc hoàng hôn có mục đích gì. Gã cài khuy quần, đi một đoạn để hứng mưa rơi tự do. “Hãy cứ rửa bộ xương cốt già của ta! - gã lẩm bẩm cay đắng. - Cứ gột rửa đi, vì cái thân già này chẳng còn bao lâu nữa.” Và gã cứ đứng đó bất động, mắt nhắm nghiền, đầu ngả ra sau, vì muốn giải thoát khỏi cái khát vọng bướng bỉnh, đã nhiều lần trỗi dậy, rằng ít ra là lúc này, trong những năm cuối đời, gã phải biết “thằng cha Futaki hiện hữu ở đây để làm gì?” Vì tốt nhất là phải chấp nhận rằng gã sẽ rơi tõm vào cái hố cuối cùng, như cú rơi tuột ra của đứa trẻ sơ sinh lần đầu tiên chào đời; gã lại nghĩ tới cái chuồng, và đàn lợn, vì gã cảm thấy - dù lúc này với cái lưỡi đã khô rát này khó nói thành lời - hệt như chúng không đoán biết được, rằng mọi cứu rỗi lơ lửng bên trên mọi ngày an bình của chúng (“Trong một giờ bình minh không thể tránh khỏi được!”) chỉ là ánh sáng trên con dao mổ lợn, chúng ta cũng không hề hoài nghi, và chúng ta cũng không bao giờ có thể biết, vì sao phải đối diện cuộc chia tay cuối cùng đáng sợ và không thể hiểu nổi. Và không có sự trợ giúp, không có sự trốn thoát, gã buồn bã lắc đầu, vì ai có thể hiểu nổi với đầu óc bình thường, rằng “ta, người có thể sống tới kết cục của thời gian, bỗng nhiên - vì một lý do nào đó - phải cuốn xéo khỏi đây, xuống với lũ dòi bọ, bùn nhão thối tha tăm tối.” Futaki là “người yêu say mê máy móc”, và giờ gã vẫn thế, tại đây, như một chú chim ướt sũng, lấm lem bùn đất, và vì gã biết cái trật tự nào và sự hợp lý nào vận hành trong một chiếc máy bơm đơn giản nhất, gã nghĩ: nếu ở một nơi nào đó (“Và trong những chiếc máy này thì đã rõ!”) thứ kỷ luật rõ ràng này vận hành (“Có thể đặt cược cho nó!...”), thì cái thế giới nhiễu nhương này cũng ám chỉ một ý nghĩa phụ thuộc nào đó. Gã cứ đứng như trời trồng trong mưa, rồi bắt đầu giận dữ tự nguyền rủa bản thân mình. “Ngươi thật là một thằng ngốc, Futaki! Ngươi vừa lăn lóc trong bùn như một con lợn, rồi ra đứng đây như một con cừu mất trí... Ngươi đã đánh mất chút trí khôn nhỏ bé của mình rồi ư?! Và như thể ngươi không biết, ngươi uống? Với cái dạ dày trống rỗng?!” Gã tức giận lắc đầu, lại nhìn quanh, hổ thẹn lau chùi quần áo, nhưng chẳng ăn thua: quần, áo sơ mi của gã dính đầy bùn, thế là gã tìm cây gậy trong bóng tối, và kín đáo thử lọt vào quán rượu để nhờ ông chủ quán giúp đỡ. “Thế nào, ông đã khá hơn chưa?” chủ quán nheo nheo mắt đồng lõa, mời gã vào kho. - Có chậu nhựa và xà phòng đây, ông có thể thoải mái lau bằng cái này.” - Ông chủ quán khoanh tay đứng đằng sau và không dịch chuyển khỏi chỗ đó cho tới khi Futaki rửa ráy xong, dù ông ta biết có thể để gã ở đây một mình, nhưng rồi ông vẫn thấy tốt hơn là nên ở lại, “vì ai mà biết ma ăn cỗ”. “Ông dùng bàn chải đánh sạch quần đi, cái sơ mi thì có thể giặt rồi phơi lên lò sưởi! Hãy mặc tạm cái này!” Futaki cảm ơn, rồi chui vào cái áo choàng cũ may bằng vải màn, vuốt mái tóc đẫm ướt ra sau, rồi theo chủ quán bước ra khỏi nhà kho. Gã không quay lại chỗ bọn Schmidt ngồi, mà lại gần lò sưởi, vắt áo lên thành ghế và hỏi “có thứ gì ăn được không?” “Có sôcôla sữa và bánh stangli” - ông chủ quán nói. “Cho tôi hai cái stangli [4]!” - Futaki phủi tay, nhưng khi chủ quán mang đĩa bánh ra tới nơi thì hơi ấm đã ru gã vào giấc ngủ. Đêm đã muộn, chỉ có vợ Kráner, ông đốc học, Kerekes và vợ Halics là còn thức (lợi dụng sự mệt mỏi của người xung quanh, bà vợ Halics lúc này mạnh dạn và thoải mái nâng chai vang rizling của chồng lên miệng), chỉ còn những âm thanh khe khẽ từ chối lời mời của ông chủ quán (“Bánh stangli mới đây, xin mời!”), và đĩa bánh stangli đầy được đặt về chỗ cũ còn nguyên vẹn. “Được rồi, các người cứ chết đi... Rồi các người sẽ hồi sinh sau nửa giờ nữa...” Tình hình có vẻ ngao ngán, vì số thu nhập cho tới lúc đó kém xa so với tính toán ban đầu của ông, và ông chỉ mong rồi cà phê sẽ làm cho “đám người say mèm” kia tỉnh ngủ. Ngoài thiệt hại vật chất (vì khoản thu kém cũng là thiệt hại) điều khiến ông cay nhất là chỉ suýt nữa ông đã đưa được cô vợ Schmidt vào kho, nhưng - ông như thể bị quật ngã - cô ả bất ngờ lăn ra ngủ, và từ đó trở đi ông chỉ nghĩ đến Irimiás (dù ông đã cả quyết “không việc gì phải lo lắng, cái gì đến sẽ đến...”), vì ông biết giờ đã đến lúc bọn họ sắp tới, và lúc đó thì mọi chuyện sẽ tiêu tan”... “Bao giờ cũng là chờ đợi và chờ đợi...” - ông bực mình lẩm bẩm, rồi ông bật ngay dậy, vì nhớ ra khi đem đĩa bánh stangli quay lại ông quên chưa phủ celophane, dù “mấy thứ khốn nạn” này chỉ cần vài phút là sau đó ông phải lau lại bánh cả giờ. Ông đã quen lúc nào cũng phải sẵn sàng, vì từ lâu ông đã vượt qua những cơn sóng đầu tiên của sự nóng giận, cũng như đã từ lâu ông đã từ bỏ việc đi tìm người chủ quán trước đây, “cái tay người Svabian khốn kiếp”, để báo với hắn rằng “trong hợp đồng không hề nói tới lũ nhện”. Vì chỉ mấy ngày sau khi mở cửa, khi kinh ngạc nhận thấy dù dùng bất cứ cách nào và thuốc khử nào cũng không thể trị được lũ nhện, chẳng còn cách nào khác là nói với tay người Svabian để ít nhất hắn ta giảm giá bán cho đôi chút. Nhưng hắn đã biệt tăm, như thể hắn đã chui tụt xuống mặt đất, trái lại lũ nhện vẫn “vui vẻ khiêu vũ” trong quán; còn ông thì đơn giản là phải chấp nhận không làm gì được chúng, cả đời ông sẽ phải cầm khăn lau bò theo chúng, thậm chí chúng đã khiến ông quen với việc nửa đêm phải mò ra khỏi giường để giũ chăn đệm. Còn may là tiếng đồn chưa lan ra ngoài, vì chừng nào ông mở cửa, thì lũ nhện “thực chất không thể hoành hành”, bởi ngay cả chúng cũng không có khả năng “liếm láp, nhả bọt lên mọi thứ chuyển động...” Tai hại bắt đầu khi người khách cuối cùng ra về, và ông chốt cửa lại; ông rửa cốc, sắp đặt và khóa sổ xong là bắt đầu quét dọn, các góc nhà, chân bàn chân ghế, cửa sổ, lò sưởi, các ngăn kéo xếp chồng nhau, đôi khi cả các gạt tàn thuốc trên bàn cũng phủ đầy mạng nhện. Và tình trạng còn tồi tệ hơn: sau khi xong, ông rủa thầm và vào kho nằm nghỉ, ông gần như không ngủ được, vì ông biết chỉ sau vài giờ, ngay đến ông chúng cũng chẳng tha. Bởi thế chẳng có gì lạ, nếu ông ghê sợ tất cả mọi thứ gợi cho ông nhớ tới mạng nhện, và nhiều lần, khi ông cảm thấy không thể chịu đựng nổi nữa, ông đã gào lên và lao vào những tấm lưới sắt bảo vệ kho và cửa sổ, nhưng - may cho ông - chỉ bằng tay không, ông chưa gây ra thiệt hại gì. “Và tất cả những điều đó chưa là gì.” - ông than phiền với vợ. Vì điều khủng khiếp nhất trong đó là ông chưa hề nhìn thấy một con nhện nào, bởi dạo đó ông đã thức hàng đêm, rình rập sau quầy; nhưng lũ nhện, như cảm thấy bị ông rình mò, không chịu ló ra. Và dù ông đã phó mặc, chấp nhận là không bao giờ có thể tiêu diệt nổi chúng, nhưng ông không thể bỏ qua, rằng chỉ một lần - một lần duy nhất! - nhìn thấy một con. Vì vậy, như đã thành quen, đôi khi trong lúc vẫn đang làm việc, ông vẫn nhìn quanh quán rượu một lượt, cũng như lúc này đây ông lướt qua các góc nhà. Nhưng tịnh không thấy gì hết. Ông thở dài, lau mặt bàn quầy, thu dọn cốc không trên các bàn, rồi bước ra ngoài quán, núp sau một gốc cây và đi tè. “Có người đến!” - ông dõng dạc tuyên bố khi quay lại quán. Trong tích tắc cả quán rượu dựng dậy. “Ai? Ai đến? - bà vợ Kráner hỏi. - Một người à?” “Một người!” - chủ quán điềm tĩnh đáp. “Thế còn Petrina?” - Halics dang tay. “Tôi đã bảo chỉ có một người tới. Đừng căn vặn nữa.” “Vậy thì... đây không phải người ấy.” - Futaki chốt lại. “Không phải...” - những người khác lầu bầu... Mọi người ngồi xuống chỗ mình, thất vọng châm thuốc hút, hoặc tìm lại cốc rượu của mình nhâm nhi, và có người chỉ liếc mắt nhìn bà vợ Horgos, khi mụ vừa bước vào quán, và quay mặt đi ngay, vì mụ không già, mà vẫn có vẻ bề ngoài của một người góa bụa già (“Đối với mụ chẳng có gì là thần thánh cả!” - bà vợ Kráner khẳng định), mụ không được lòng mọi người ở khu trại này. Mụ vợ Horgos giũ nước mưa khỏi áo khoác, lặng lẽ lại gần bàn quầy, chống khuỷu tay và nhìn quanh. “Bà dùng gì?” - ông chủ quán hỏi lạnh lùng. “Cho tôi một chai bia. Ngoài kia đúng là địa ngục!” - vợ Horgos nói khàn khàn. Mụ nhìn lướt trong quán rượu, ánh mắt sắc, không như người chỉ tò mò, mà như người đến đây thật đúng lúc và bây giờ sẽ tố giác họ. Cuối cùng ánh mắt mụ dừng lại chỗ Halics. Mụ há cái miệng lợi đỏ, không răng và nói với ông chủ quán. “Họ có vẻ rảnh rỗi nhỉ?” Nét mặt quạ nhăn nheo của mụ đầy vẻ bực tức, nước vẫn rỏ xuống từ cái áo mưa mụ mặc, nó cộm lên trên lưng mụ một cách kỳ quái, nhìn mụ như một người gù. Mụ đưa chai bia lên miệng, tu ừng ực. Bia chảy xuống cằm, ông chủ quán nhìn mụ khó chịu, khi thấy dòng bia chảy xuống cổ mụ. “Ông có nhìn thấy con gái tôi không? - vợ Horgos hỏi, đưa nắm tay lau miệng. - Đứa bé ấy.” “Không, - chủ quán lơ đãng đáp. - Không thấy nó tới đây!” Người đàn bà khạc ra sàn. Mụ rút trong túi ra một điếu thuốc và châm hút, phả khói vào mặt ông chủ quán. “Ông biết không? Tối qua chúng tôi có cuộc cãi vã với Halics, giờ lão ấy chả cả chào tôi nữa, đồ khốn. Tôi ngủ suốt ngày. Đến mãi tối mới dậy, chẳng thấy ai ở nhà. Không thấy con Mari, không thấy con Juli, không thấy thằng Sanyika. Chưa hết. Cả con bé út cũng biến mất tăm. Tôi sẽ đánh què cẳng nếu nó về. Ông biết đấy.” Ông chủ quán không nói gì. Vợ Horgos uống hết chỗ bia và đòi thêm một chai nữa. “Nghĩa là nó không tới đây hả? - mụ lẩm bẩm. - Con đĩ ranh.” Ông chủ quán co duỗi cho đỡ tê chân. “Chắc nó ở đâu đó trong trại. Nếu tôi không nhầm, nó không phải là đứa hay bỏ nhà đi.” Người đàn bà bật dậy. “Lại còn không! Quỷ tha ma bắt nó đi cho rảnh! Sắp sáng rồi mà nó vẫn lang thang trong mưa. Nên chẳng có gì lạ là tôi cứ phải nằm bẹp trên giường.” Kráner kêu với sang: “Mụ bỏ lũ con gái đâu rồi?” “Liên quan gì tới ông? - vợ Horgos lên cơn. - Chúng là con gái tôi!” Kráner cười. “Được rồi, nào... Không cần phải cắn càn ngay thế!” “Tôi không cắn càn, ông cứ lo lấy cái thân ông ấy!” Im lặng. Vợ Horgos quay lại, tì một tay lên bàn quầy, ngửa đầu ra sau dốc chai bia. “Đây là thứ cần cho cái dạ dày bệnh tật của tôi. Là thứ thuốc duy nhất cần lúc này.” “Tôi biết, - chủ quán gật đầu. - Bà uống cà phê không?” Người đàn bà lắc đầu. “Cà phê làm tôi mất ngủ suốt đêm. Chả tích sự gì hết.” Bà ta lại đưa chai bia lên miệng, và chỉ bỏ ra khi giọt cuối cùng đã lăn qua cuống họng. “Nào, chào buổi tối! Tôi đi tiếp một nhà nữa. Nếu thấy đứa nào, ông hãy bảo chúng nó về nhà ngay! Chả lẽ tôi phải đi suốt đêm à? Ông biết đấy, ở cái tuổi tôi.” Mụ đẩy về phía ông chủ quán tờ hai chục, cất chỗ tiền thừa, rồi đi ra phía cửa. “Nói với lũ con gái bà, hãy kiến nhẫn, đừng có vội vàng” - Kráner cười nói với theo. Vợ Horgos lẩm bẩm câu gì đó, trong khi ông chủ quán mở cửa cho mụ, trước khi ra mụ còn nhổ xuống đất một bãi. Halics, người còn thường xuyên tới chỗ mụ ở khu trại, chẳng thèm để ý tới, vì từ lúc thức dậy, hắn chăm chăm nhìn tấm kính trước mặt, và cứ nghĩ mãi, xem kẻ nào muốn biến hắn thành trò hề. Hắn đưa ánh mắt sắc nhìn quanh, cuối cùng dừng lại chỗ ông chủ quán, và quyết định từ nay hắn sẽ tỉnh táo, và trước sau gì hắn cũng sẽ lột trần kẻ bất lương. Hắn nhắm mắt, đầu gục xuống ngực, nhưng chỉ giữ mình tỉnh táo được vài phút, vì sau đó hắn lại chìm vào giấc ngủ. “Trời sắp sáng rồi, - bà vợ Kráner nói. - Theo tôi họ không đến nữa đâu.” “Giá như bà nói đúng!” - ông chủ quán lẩm bẩm, tay cầm phích cà phê đi lòng vòng, và đưa tay lau trán. “Bà đừng có gây hoảng loạn ở đây! - Kráner chặn họng. - Khi đến lúc, họ sẽ tới!” “Tất nhiên là thế, không lâu nữa đâu, rồi các vị sẽ thấy!” Hắn nhấm nháp ly cà phê bốc khói, sờ chiếc sơ mi đang khô, rồi châm thuốc hút, và nghĩ liệu Irimiás sẽ bắt đầu bằng việc gì. Chắc chắn phải khôi phục các máy bơm và máy phát điện, đó là việc đầu tiên. Sau đó phải quét vôi lại nhà đặt máy, sửa lại các cửa sổ và cửa ra vào, vì gió lùa tới mức người ta luôn bị đau đầu khi thức dậy. Đương nhiên điều đó không dễ; các ngôi nhà đã xập xệ, cỏ dại đã mọc kín các khu vườn, và người ta đã lấy đi hết những gì có thể lấy từ các nhà xưởng, chỉ còn những bức tường trần trụi, như thể khu trại bị đánh bom. Nhưng với Irimiás không gì là không có thể! Rồi yếu tố may mắn nữa, vì cái đó cũng cần, thiếu nó thì tất cả đều vô ích! Nhưng may mắn chỉ có ở nơi có đầu óc! Mà trí óc của Irimiás thì sắc lẹm như một lưỡi dao cạo. Ngay từ khi, Futaki mỉm cười nhớ lại, hắn ta được đề bạt làm trưởng xưởng máy, người ta xô đến tìm hắn, cả các lãnh đạo, vì như Petrina nói “hắn là cứu tinh của những tình huống vô vọng và những con người vô vọng”. Nhưng đối với sự ngu xuẩn thì hắn ta cũng bất lực, không lạ gì là sau một năm thì hắn cũng đã cuốn gói. Và sau khi hắn ta đi, họ nhanh chóng lụn bại và lụn bại. Rồi băng giá, rồi đến bệnh lở mồm long móng, đàn cừu chết hàng loạt, rồi đến thời kỳ mà nhiều lần họ nhận lương chậm cả tuần, vì chẳng lấy đâu ra mà trả… nhưng lúc đó mọi người đã nói không thể tiếp tục nữa, phải đóng cửa khu trại. Và rồi đúng như thế. Người có chỗ khác thì nhanh chóng biến mất, người không có thì ở lại, và bắt đầu cuộc tranh cãi, giằng xé, những kế hoạch không thể thực hiện được tung ra, người nọ khôn hơn người kia, dĩ nhiên là chẳng có chuyện gì xảy ra. Và rồi mọi người đều chấp nhận tình trạng bất lực này, họ chỉ còn hy vọng vào phép lạ, và càng ngày họ càng căng thẳng tính từng giờ, từng tuần từng tháng, và rồi cả điều đó cũng không quan trọng nữa, họ chỉ loay hoay suốt ngày trong các căn bếp, và nếu có một chút tiền, họ ngồi uống suốt ngày trong quán rượu. Thời gian cuối, ngay cả Futaki cũng không đến nhà xưởng nữa, chỉ đến quán rượu hay đến nhà vợ Schmidt, vì gã không còn tin một điều gì đó sẽ thay đổi ở đây. Gã đã an phận, rằng gã sẽ ở đây đến cuối đời, vì gã còn biết làm gì khác. Bắt đầu một cuộc sống mới ở tuổi già như gã ư? Không, nhưng rồi tình trạng này sẽ kết thúc, Irimiás sẽ “sắp xếp đâu vào đấy”... Gã sốt ruột loay hoay, vì đã mấy lần gã nghe như có ai đó giật cửa, nhưng rồi gã lại tự trấn tĩnh (“Hãy kiên nhẫn, kiên nhẫn...”), và gã gọi chủ quán cho một tách cà phê nữa. Không chỉ có một mình Futaki, có thể cảm thấy sự hồi hộp chạy khắp quán rượu, nhất là khi Kráner nhìn qua tấm kính trên cửa và long trọng tuyên bố (rằng: “Chân trời đã rạng”); mọi người tỉnh hẳn, rượu vang lại chảy, nhất là bà vợ Kráner hăng hái, vui vẻ kêu lên: “Gì thế này? Đám ma à?” Bà ta õng ẹo lắc eo lướt dọc quán rượu, và dừng lại trước Kerekes. “Này, cả ông nữa, đừng có ngủ nhé!” Hãy chơi bài tango gì đó bằng đàn accordion đi. Ông kia ngẩng đầu, ợ lên một tiếng. “Nói với chủ quán ấy, đừng nói với tôi. Đàn của ông ấy.” “Hê, ông chủ quán! - vợ Kráner hét to: - Cái đàn accordion còn không?” “Còn... tôi mang ra đây... - ông chủ quán lầm bầm rồi biến vào kho. - Nhưng rồi các vị phải uống vang cho đã đấy nhé!” Ông ta đi về phía sau, chỗ các giá thực phẩm, lôi ra cây đàn phủ đầy mạng nhện, lau qua loa rồi đưa cho Kerekes. “Có điều, ông biết đấy, hãy cẩn thận cây đàn, vật quý đấy...” Kerekes gạt ông chủ quán ra, khoác đàn lên vai, chơi vài đoạn trên nhạc cụ, rồi ngả ra trước, uống hết chỗ rượu trong cốc. “Nào, rượu vang đâu?” Vợ Kráner lim dim mắt, uốn éo giữa quán rượu. “Đem cho ông ấy một chai! - bà ta nói với chủ quán, và dập một nhịp vẻ sốt ruột. - Đâu rồi, hội lười nhác! Đừng có ngủ nhé!” Bà ta đặt tay lên hông, nháy mắt với mấy người đàn ông đang cười. “Đồ hèn! Không ai dám ra nhảy với tôi ư?!” Halics bật dậy, vì không thể chịu để bất kỳ ai gọi mình là hèn nhát, và như không nghe thấy tiếng vợ gọi với theo (“Ông ở lại đây!”), lão nhảy phắt lại chỗ vợ Kráner. “Một bài tango!” - lão hét lên, và rướn thẳng người. Nhưng Kerekes chẳng để ý, thế là Halics đặt tay lên eo lưng vợ Kráner, và “vào bước nhảy”. Những người xung quanh nhường chỗ cho họ, vỗ tay và hò reo cổ vũ họ, và ngay đến Schmidt cũng không nhịn được cười, vì đúng là họ tạo ra cảnh tượng không thể cưỡng lại được: Halics thấp hơn bạn nhảy ít nhất một cái đầu, và lão nhảy tít mù quanh bà vợ Kráner chỉ đứng một chỗ đánh eo mông lúc lắc, như thể có ong chui vào sơ mi, và lão muốn giải thoát khỏi chúng. Và sau khi bản csárdás [5] đầu tiên kết thúc, Halics cúi chào trong tiếng reo hò náo nhiệt, ngực căng phồng lên vì kiêu hãnh, gần như không thể kìm mình lại để không hét vào mặt những người hoan náo, đang cười cợt với lão. “Các người thấy chưa! Halics là thế đấy!” Và trong hai bài csárdás tiếp sau lão còn vượt lên trên cả kỳ tích trước đó, lúc lão bất chợt ngừng giữa những động tác phức tạp, không thể tin nổi, không thể bắt chước được bằng cảnh tượng sống động chỉ duy trì trong nháy mắt, khi lão vung tay phải hay tay trái lên phía trên đầu, thân hình cong lại như hóa đá, để sau đó tới nhịp điệu nhạc tiếp theo lão tiếp tục những bước nhảy ma quỷ và gặt hái thành công hi hữu bên cạnh bà vợ Kráner đã thở dốc và họ. Sau mỗi bài Halics lại đòi hỏi tango gay gắt hơn, và đến lúc Kerekes thỏa mãn yêu cầu của gã, dùng đôi giày cao cổ cỡ to đánh nhịp và bắt đầu chơi một bản nhạc quen thuộc, thì ông đốc học cũng không ngồi yên được nữa, ông đến bên bà vợ Schmidt khi đó đã tỉnh ngủ vì tiếng la hét, và ghé sát tai mụ. “Tôi có thể mời bà nhảy một bài?” Và mùi nước hoa đập vào mũi khiến ông ta không buông tha, ông phải gắng hết sức để “giữ khoảng cách bắt buộc”, khi - cuối cùng - ông ta có thể đặt bàn tay phải lên eo lưng vợ Schmidt, và họ bắt đầu vũ điệu có chút vấp váp, vì từ trái tim ông ta muốn ôm người đàn bà, để được tan biến đi giữa hai bầu vú của nàng. Nhưng tình thế không chút nào vô vọng, vì vợ Schmidt mỗi lúc cứ áp sát hơn vào người ông “khêu gợi”, với đôi mắt mơ màng, và khi bản nhạc đến đoạn còn thơ mộng hơn cả trước đó, nàng gục đầu lên vai ông đốc học với đôi mắt ngấn lệ. (“Ông biết không, khiêu vũ là sự yếu đuối của em...”), và nàng ngả hẳn người lên ông. Đến nước đó thì ông đốc học cũng không chịu nổi nữa, và ông rụt rè hôn lên cổ vợ Schmidt; tất nhiên nàng tỉnh lại ngay, và nàng đứng thẳng người lên, nhưng ông chưa kịp xin lỗi, thì người đàn bà đã mạnh mẽ kéo ông vào sát người nàng. Bà vợ Halics, người lúc này với thái độ hăng máu trước đó, đã từ sự thù ghét mãnh liệt chuyển sang sự khinh ghét câm lặng, dĩ nhiên đã nhìn thấy hết; không điều gì lọt khỏi mắt bà, bà biết rõ việc gì đang diễn ra. “Nhưng Chúa của tôi, Cứu tinh của tôi đứng bên tôi!” - bà ta tự tin lẩm bẩm, bà ta chỉ không hiểu tại sao sự trừng phạt chưa tới, để trút lửa địa ngục lên lũ người này. Vậy “ở trên ấy họ còn chờ gì nữa?”, làm sao họ có thể ngồi nhìn bọn Sodom và Gomorrah [6] này?! Và vì biết chắc mình sẽ nhận được sự miễn trừ tội lỗi, bà ta nóng lòng chờ điều đó tới, ngay cả khi bà ta phải công nhận rằng đôi khi cái ác khiến niềm tin của bà lung lay, khi nó buộc bà phải uống một ngụm rượu, hay khiến bà chú ý một cách thèm khát và tội lỗi cái thân thể đung đưa của vợ Schmidt trong vòng tay của quỷ Satan. Nhưng niềm tin vào Chúa ở trong bà mạnh mẽ, và nếu cần, một mình bà sẽ chống lại quỷ Satan, chỉ cần cái tay Irimiás đã hồi sinh từ tro bụi kia tới nơi, bởi dẫu sao “không thể mong đợi ở bà”, rằng một mình bà ta sẽ chặn đứng và đẩy lùi cuộc tấn công hèn hạ này. Vì bà phải thú nhận rằng có lúc - nếu đó là mục đích của nó - quỷ dữ đã gặt hái được chiến thắng hoàn toàn trong quán rượu, dù đó chỉ là tạm bợ, bởi ngoại trừ Futaki và Kerekes thì tất cả mọi người đã đứng dậy, và ngay cả người không nhảy cùng với vợ Kráner hay vợ Schmidt, cũng không ngồi về chỗ cũ, mà đứng ở gần đó để chờ vũ điệu kết thúc. Kerekes vẫn dùng chân đập nhịp không mệt mỏi sau “bàn bida”, các “vũ công” sốt ruột không cho lão kịp uống thong thả một cốc vang giữa hai bản nhạc, họ liên tục đặt hết chai này tới chai khác xuống bên cạnh, để gã đừng có ngừng chơi. Và Kerekes không thoái thác, hết bản tango này đến bản tango khác, rồi bỗng nhiên gã chơi lại đúng bài đó, hết lần này đến lần khác, nhưng cũng chẳng ai để ý. Dĩ nhiên bà vợ Kráner không chịu đựng được nhịp điệu vũ bão đó lâu; bà ta khó thở, mồ hôi vã ra, chân bỏng rát, và không đợi vũ điệu kết thúc, bà ta quay đi không nói một lời, bỏ lại ông đốc học đứng đó vẻ bực tức, bà ta ngồi phịch xuống chỗ của mình. Halics chạy theo bà ta với vẻ trách móc, khẩn cầu. “Bà Rozika quý mến duy nhất! Bà bỏ tôi một mình để quay lại đây sao? Đúng vào lúc đến lượt tôi!” Vợ Kráner lau mặt bằng một tờ giấy ăn, vừa thở vừa phủi tay. “Ông nghĩ thế nào hả? Tôi có còn hai mươi tuổi nữa đâu!” Halics vội rót đầy một cốc vang, đặt vào tay bà ta. “Bà uống đi, rồi...” “Không có rồi gì hết - vợ Kráner cười cắt ngang. - Tôi không đua được với các ông, các ông còn trẻ!” “Nói thế, chứ tôi cũng đâu còn trẻ! Nhưng nhiệt huyết! Bà Rozika quý mến!...” Nhưng lão không tiếp tục, vì ánh mắt lão lạc lối tới bộ ngực phập phồng của người đàn bà. Lão nuốt nước bọt, hắng giọng, và nói: “Để tôi đi lấy bánh stangli!” “Được đấy...” - vợ Kráner nhẹ nhàng nói với theo, và lau trán đẫm mồ hôi. Và trong khi quay lại với khay bánh trên tay, Halics vừa suy nghĩ vừa nhìn vợ Schmidt, người vẫn đang mê say nhảy tango không biết mệt mỏi với hết người đàn ông này tới người khác. “Nào, chúng ta bắt đầu chứ, bà Rozika quý mến!” Halics khích lệ, và ngồi sát xuống bên cạnh. Lão thoải mái ngả người trên thành ghế, tay phải vòng sang ôm vợ Kráner, mà không phải ái ngại gì, vì bên cạnh bức tường vợ lão đã thiu thiu ngủ. Họ lặng yên nhai món bánh khô, hết cái nọ đến cái kia, sau vài phút, đúng lúc họ thò tay ra lấy bánh thì họ lúng túng nhìn nhau, vì trên khay chỉ còn một chiếc. “Ở đây có gió lùa, ông không cảm thấy ư?” - người đàn bà lúng túng nói. Với đôi mắt đã mờ dại vì rượu vang, Halics nhìn sâu vào mặt người đàn bà, và nói:”Rozika quý mến, tôi bảo này! - và đặt chiếc bánh cuối cùng vào tay bà ta. - Chúng mình cùng ăn, nhé! Bà ăn từ phía này, một miếng... Tôi ăn từ phía này, một miếng... Và khi tới giữa, chúng ta sẽ dừng lại: Và bà biết không, ngôi sao bé nhỏ? Chúng ta sẽ dùng chỗ còn lại để bít cửa ra vào!” Vợ Kráner phá lên cười. “Ông lúc nào cũng chỉ đùa tôi! Khi nào ông mới đứng đắn được chứ! Lại còn... bít cửa...!” Nhưng Halics không dừng lại. “Bà Rozika quý mến! Chính bà bảo có gió lùa! Tôi không đùa đâu! Nào, bà cắn bánh đi!” Và ông đưa một đầu chiếc bánh stangli vào miệng bà kia, còn ông cắn ngay vào đầu kia. Chiếc bánh lập tức gãy làm đôi và rơi vào lòng hai người, nhưng họ - miệng đối miệng - họ giữ nguyên ở trạng thái bất động, rồi khi bắt đầu thấy chóng mặt, Halics đánh liều hôn lên mỗi người đàn bà. Vợ Kráner lúng túng nháy mắt, đẩy Halics đang lên cơn nồng nhiệt ra. “Không được làm thế, Lajos! Ông điên à? Bất cứ ai có thể nhìn thấy!” Và bà ta đưa tay kéo lại váy. Đến khi tấm kính trên cửa sổ sáng ra dần, thì cuộc khiêu vũ cũng kết thúc. Ông chủ quán và Kelemen gục đầu xuống bàn quầy, đối diện với nhau, ông đốc học cùng Schmidt và vợ Schmidt gục đầu cạnh nhau trên bàn, Futaki và Kráner, như một đôi tình nhân, chúi đầu vào nhau, bà vợ Halics gục đầu xuống ngực - tất cả đều ngủ say. Bà vợ Kráner và Halics còn thì thầm một lúc nữa, nhưng họ cũng không còn đủ sức để đứng dậy đi lấy một chai vang từ quầy hàng, và chẳng bao lâu sau họ cũng chìm vào giấc ngủ trong tiếng ngáy, tiếng thở đều đều. Chỉ còn Kerekes vẫn tỉnh. Gã đợi tiếng thì thầm im bặt, rồi đứng dậy, khua chân múa tay cho dãn xương dãn cốt, và bắt đầu đi lại lặng lẽ giữa các bàn. Gã xem xét các chai vang, chai nào còn chút rượu là gã đem đến đặt thành hàng lên “bàn bida”; gã kiểm tra cả các cốc, cốc nào còn rượu là uống nốt. Cái bóng khổng lồ của gã trên các bức tường đi theo gã như bóng ma quỷ, thỉnh thoảng nó in lên cả trần nhà, và khi chủ của nó lần về chỗ ngồi, nó cũng yên vị trong một góc nhà. Gã vuốt lớp mạng nhện dính trên khuôn mặt gớm ghiếc đầy sẹo cũ và các vết thương mới, rồi rót chỗ rượu vừa gom được vào đầy cốc, vừa thở vừa uống ừng ực. Gã uống liên tục, không nghỉ, lại rót, rót tiếp và uống như một cỗ máy vô cảm, cho tới khi giọt cuối cùng đã chui tọt vào cái dạ dày kinh khủng của gã. Gã ngả người ra sau ghế, há mồm cố nấc hộc lên mấy cái, nhưng không thành, thế là gã đặt tay lên bụng, và lảo đảo bước tới góc nhà. Gã cho ngón tay vào họng, và bắt đầu nôn. Sau đó gã đứng dậy, đưa bàn tay lau miệng. “Tất cả chỉ có thế,” - gã lầu bầu, và quay lại phía sau “bàn bida”. Gã ôm chiếc đàn accordion vào lòng và bắt đầu chơi một bản nhạc tình cảm, buồn. Thân thể to lớn của gã nghiêng ngả từ trước ra sau theo điệu nhạc, và khi đến giữa bản nhạc, những giọt nước mắt gã từ từ lăn xuống. Nếu lúc đó mọi người có hỏi, thì gã cũng chẳng thể nói có chuyện gì đã bất chợt xảy ra với gã. Gã còn lại một mình trong tiếng thở đều, và lúc này gã không lấy làm phiền lòng, vì gã như chìm vào bản nhạc chậm rãi, như vừa được nó gột rửa. Chẳng có lý do gì để gã ngừng bản nhạc buồn này giữa chừng, và khi bản nhạc kết thúc gã lại chơi từ đầu, không nghỉ, và như một đứa trẻ giữa những người lớn đang ngủ, gã cảm thấy tràn ngập một niềm hạnh phúc mãn nguyện, bởi ngoài gã ra, chẳng một ai nghe được bản nhạc. Và trong tiếng nhạc accordion mềm mại như nhung, lũ nhện trong quán rượu bắt đầu cuộc tấn công cuối cùng của chúng. Chúng buông một lớp mạng mỏng xuống các chai, cốc, chén, gạt tàn, chúng chăng lưới quanh các bàn và các chân ghế, rồi bằng các sợi mảnh bí ẩn chúng nối kết các thứ đó lại, như thể điều đó đối với chúng rất quan trọng, dù ẩn nấp trong các xó xỉnh kín đáo, không thể phát hiện được, nhưng chúng vẫn biết ngay về tất cả mọi động tĩnh, mọi cử động, chừng nào mạng lưới đặc biệt, hoàn hảo, gần như vô hình của chúng còn nguyên vẹn. Chúng chăng lưới lên mặt, lên chân, lên tay cả những người đang ngủ, rồi lại vội vã lao nhanh về chỗ ẩn nấp, để chờ đợi một rung động nhỏ từ một sợi tơ nhện mong manh là chúng lại bắt đầu.
Những con ruồi trâu - tìm nơi lẩn trốn lũ nhện trong ánh sáng và trong chuyển động - không mệt mỏi vẽ vòng số tám quanh bóng đèn; Kerekes chơi nhạc gần như trong trạng thái nửa tỉnh nửa mơ, trong đầu gã hình ảnh những hố bom và những chiếc phi cơ lao xuống, đám binh lính bỏ chạy và các thành phố bốc cháy hiện lên nối tiếp nhau với tốc độ nhanh khủng khiếp. Và họ đã tới trong im lặng, không ai biết, và họ ngạc nhiên trước cảnh tượng bày ra trước mắt, chỉ một mình Kerekes lờ mờ đoán biết, chứ không chắc chắn, rằng Irimiás và Petrina đã tới.
❀ ❀ ❀
[1] Tên gọi thân mật của Sándor.
[2] Đơn vị tiền tệ Hungary.
[3] Thành phố lớn thứ ba của nước Nga, trung tâm công nghiệp, kinh tế và giáo dục của vùng Xiberi.
[4] Một loại bánh nướng nhỏ làm từ bột mì, bơ, muối.
[5] Tên một vũ điệu dân gian nổi tiếng Hungary.
[6] Các thành phố của Palestin cổ, theo Kinh Thánh, bị Chúa trời hủy diệt vì quá nhiều tội lỗi, xa hoa, trụy lạc.