Vũ Điệu Quỷ Satan

Lượt đọc: 52 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
IV. TỚI THIÊN ĐƯỜNG? ẢO GIÁC?

❊ ❊ ❊

Khi họ ra khỏi khúc quanh và không còn nhìn thấy đám người đứng vẫy tay trước quán rượu, sự mệt mỏi, uể oải của nó bỗng biến mất, nó cũng hết cảm thấy cơn buồn ngủ hành hạ, mà trước đó - dù nó đã cố gắng cưỡng lại - vẫn ghim chặt nó xuống chiếc ghế bên cạnh cái lò sưởi dầu, vì kể từ lúc tối hôm qua khi Irimiás thông báo với nó, điều mà trong mơ nó cũng không dám hy vọng (“Này, hãy nói chuyện với mẹ cậu. Cậu có thể đi theo ta nếu cậu muốn...”), nó không thể nhắm mắt được, cả đêm nó mặc cả quần áo vật vã trên giường, sợ bỏ lỡ cuộc gặp gỡ đã hẹn vào sáng sớm; nhưng lúc này, khi nhìn thấy con đường phía trước mờ ảo trong sương mù, như lao về phía vô cùng, sức lực nó như được nhân đôi, và nó cảm thấy cuối cùng thì “cả thế giới mở ra trước mắt nó”, và từ nay bất cứ điều gì xảy ra, dù thế nào đi nữa nó sẽ theo đến cùng. Và dù nó rất muốn thể hiện sự hứng khởi bằng cách nào đó, nó vẫn tự kiềm chế bản thân, nó đi theo thủ lĩnh của nó với những bước chân có tính toán cho khớp, có kỷ luật, trong cơn sốt của kẻ được lựa chọn, bởi nó biết, nó chỉ có thể thực hiện được nhiệm vụ được giao, nếu nó hành động không phải như một thằng nhóc, mà như một người đàn ông - đó là chưa nói đến sự phấn khích quá độ của nó chắc chắn sẽ chỉ khiến ông Petrina hay phàn nàn, sẽ mỉa mai nó, và dù chỉ một lần phải hổ thẹn trước mặt Irimiás, thì điều đó nó không thể chịu nổi. Nó biết rõ là tốt nhất nó nên bắt chước Irimiás một cách trung thành, thì sẽ không có chuyện bất ngờ: đầu tiên nó chú ý những cử chỉ đặc trưng, nhịp chân bước dài nhẹ nhàng của ông ta, cách ông ngẩng đầu đặc biệt, kiêu hãnh, cách ông giơ ngón tay trỏ trước mỗi khi dừng lại để nhấn mạnh những ngôn từ có trọng lượng, và nó đã cố học ngay điều khó nhất, đó là cách hạ giọng của Irimiás, và sự im lặng để dãn cách các đoạn quan trọng trong bài nói, cách nhấn nhá những câu nói có sức nặng, học ở ông sự tự tin không thể nhầm lẫn, mà nhờ đó bao giờ ông cũng diễn đạt được chính xác những ý tưởng của mình. Nó không rời mắt khỏi tấm lưng hơi còng và chiếc mũ hẹp vành của Irimiás, mà chủ của nó - để che mưa khỏi hắt vào mặt - kéo sụp xuống trán, và thấy ông thầy mải suy nghĩ, không hề mảy may để ý đến hai người cùng đi, nó cũng im lặng bước đi, nheo nheo mắt làm như sự tập trung chú ý của nó sẽ góp phần làm cho những ý tưởng đang thành hình của thầy nó mau đạt được mục đích hơn. Petrina khó chịu gãi, ngoáy tai, nhìn vẻ mặt căng thẳng của người bạn chung số phận y cũng không dám phá vỡ sự yên lặng, nhưng dù đã nháy mắt với “thằng nhóc”, cũng là để tự nhắc mình (“Một tiếng cũng không! Irimiás đang suy nghĩ!”), hàng loạt câu hỏi vẫn chẹn lấy cổ họng y, đến nỗi lúc đầu y bắt đầu khó thở, lát sau đã ậm ạch, tới khi Irimiás cũng nhận ra sự cố gắng của Petrina, khi đó đã sắp hụt hơi, đi bên cạnh, bất giác hắn bĩu môi, giải thoát cho y. “Nào, nói đi! Ông muốn gì?” Petrina thở hắt ra, liếm đôi môi khô nẻ, và nháy nháy mắt. “Sếp ơi, tôi lo đến vãi ra quần. Sếp định thoát ra khỏi vụ này thế nào?” “Ông không vãi ra quần mới là lạ, - Irimiás chế giễu. - Có cần tôi đưa giấy không?” Petrina lắc đầu. “Đây không phải chuyện đùa. Nếu nói tôi chết rũ vì cười, là tôi nói dối...” “Im mồm đi.” Irimiás kiêu ngạo nhìn con đường mờ ảo phía trước, nhét một điếu thuốc lá vào khóe miệng, không đi chậm hơn hay dừng lại, châm lửa hút. “Nếu như bây giờ tôi nói: chúng ta đã chờ đúng dịp này, - hắn tự tin tuyên bố, và nhìn sâu vào mắt Petrina, - thì ông có yên tâm không?” Người bạn đường lúng túng chịu ánh nhìn của Irimiás, rồi cúi đầu, chững lại, suy nghĩ. Và khi đuổi kịp Irimiás, y hồi hộp đến nỗi gần như không thể thốt nên lời. “Ông... ông... đang nghĩ cái gì thế?” Nhưng người kia không trả lời, chỉ lướt nhìn con đường với vẻ bí hiểm. Khốn khổ vì cảm thấy sự chẳng lành, y cố gắng tìm lời giải đáp cho sự yên lặng khó hiểu này, rồi - mặc dù từ sâu thẳm của ý thức, y biết cũng chẳng ăn thua gì - y vẫn thử ngăn chặn sự không thể cứu vãn nổi. “Ông nghe đây! Tôi đã, đang và sẽ là bạn đồng sự với ông trong mọi lúc thuận lợi và khó khăn! Và nếu đó là cái giá, thì đành! Tôi thề, trong quãng đời khốn khổ còn lại của tôi, tôi sẽ không làm gì khác hơn là bắt những kẻ đội mũ trên đầu dám hỗn xược với ông phải quỳ gối! Nhưng... nhưng ông đừng làm chuyện điên rồ! Một lần này thôi, ông hãy nghe tôi! Hãy nghe ông già Petrina tử tế này! Chúng ta hãy biến khỏi đây ngay! Lên chuyến tàu đầu tiên, và phắn! Vì bọn họ sẽ tùng xẻo chúng ta, nếu chúng phát hiện ra trò bẩn thỉu này.” “Không có chuyện đó, - Irimiás hài hước trấn an. Chúng ta sẽ hỗ trợ cuộc đấu tranh bền bỉ, vô vọng vì danh dự con người... - Hắn giơ ngón tay trỏ kiểu cách lên và dọa Petrina, - Đồ tai cụp! Đây là thời của chúng ta!” “Khốn nạn thân tôi! - Petrina khó nhọc thốt ra, như thấy những dự cảm chẳng lành của mình được chứng nghiệm. - Tôi luôn biết! Tôi biết là thời của chúng ta sẽ đến! Tôi chắc... tôi tin... tôi hy vọng... Và ông thấy! Kết cục là thế này đấy!” “Ông giở trò hề gì thế?” - “thằng nhóc” đi phía sau nói chen vào. - Lẽ ra ông phải mừng chứ, và sao ông không thể suy nghĩ nghiêm túc lấy một lần!” “Tôi ư? - Petrina rên lên. - Tôi đang sung sướng đến nhỏ dãi ra đây... - Y nghiến răng nhìn lên trời, rồi nghi ngại lắc đầu. - Giờ cậu hãy nói cho tôi biết, tôi đã có tội tình gì? Tôi đã hành hạ ai? Tôi đã bao giờ nói ra, dù chỉ một lời gàn dở? Tôi van ông, sếp ơi, ít ra ông cũng chiếu cố đến tuổi tác của tôi! Hãy nhìn cái đầu bạc của tôi đây!” Nhưng không thể lay chuyển được Irimiás: hắn bỏ ngoài tai những lời than vãn của người bạn đồng hành, hắn đáp với nụ cười bí ẩn: “Mạng lưới, tai cụp ạ...” Nghe thấy từ này, Petrina ngẩng đầu lên. “Ông hiểu chưa? - Họ đứng lại, quay người đối diện nhau, Irimiás hơi ngả về trước. - Cái mạng nhện lớn, toàn quốc, kiểu Irimiás... Cái đầu tăm tối của ông đã sáng ra chưa? Một cái gì đó... rung lên... ở bất kỳ chỗ nào...” Petrina bắt đầu tỉnh táo, ban đầu một nụ cười mơ hồ lướt trên nét mặt y trong khoảnh khắc, rồi trong đôi mắt tròn xoe của y ánh lên một tia nhìn đồng lõa. “Một cái gì đó... rung lên... ở bất kỳ chỗ nào... Tôi nghĩ, tôi bắt đầu hiểu... - Y xúc động thầm thì. - Điều đó thật kỳ diệu, có thể nói là...” “Nào, ông thấy chưa? - Irimiás lạnh lùng gật đầu. - Hãy suy nghĩ đã rồi hãy rên rỉ!” “Thằng nhóc” theo dõi câu chuyện từ khoảng cách khá xa, nhưng đôi tai thính nhạy đã giúp nó, nó không bỏ sót từ nào, và vì trước mắt chẳng hiểu đầu đuôi câu chuyện ra sao, nó nhanh chóng nhắc lại từng từ để khỏi quên; nó rút một điếu thuốc, chậm rãi, từ tốn châm lửa, và giống như Irimiás, nó tròn miệng nhả khói thành một vệt mảnh. Nó không cố gắng đuổi kịp hai người kia, từ nãy tới giờ nó vẫn đi theo họ cách tám, mười bước chân, vì mỗi lúc nó càng cảm thấy tự ái, vì sư phụ nó “không hề có ý định cho nó can dự vào câu chuyện”, dù lẽ ra ông ta phải biết rằng, khác với Petrina lúc nào cũng làm bộ làm tịch kia, nó sẵn sàng dâng cả linh hồn nó cho ông, vì nó đã tự hứa sẽ trung thành vô điều kiện. Và sự thử thách gây ra bởi lòng tự ái không cách nào có thể chấm dứt, mỗi lúc lòng nó thêm cay đắng, vì lúc này nó nhận thấy Irimiás chẳng thèm nói với nó dù chỉ một lời, không!, đơn giản là ông ta coi nó “có cũng như không”, như thể “Horgos Sandor, một người đàng hoàng tử tế, đã hứa sẽ phụng sự ông ta” đối với ông ta chẳng là gì hết... Vì căng thẳng, nó gãi bật một cái mụn xấu xí trên mặt, và khi họ đã gần tới lối rẽ đi Postelek, không chịu thêm nổi nữa, nó chạy lên đứng đối diện với Irimiás, và gào lên tức giận: “Thế này thì cháu không đi với các bác nữa!” Irimiás khó hiểu nhìn nó. “Sao thế?” “Nếu cháu có vấn đề, thì bác hãy nói ra! Hãy nói là bác không tin cháu, và cháu sẽ biến khỏi đây ngay!” “Mi làm sao thế?” - Petrina bật ra. “Cháu chẳng làm sao hết! Nhưng bác nói đi, bác có cần đến cháu không? Từ lúc chúng ta khởi hành, bác không thèm nói với cháu một lời, lúc nào cũng chỉ Petrina, Petrina, Petrina! Nếu bác mê ông ấy đến thế, thì gọi cháu đi làm gì?!” “Nào, từ từ đã, - Irimiás bình tĩnh chặn lại. - Tôi hiểu rồi. Cậu hãy nhớ điều tôi nói đây, vì tôi sẽ không nói thêm một lần nữa... Tôi mời cậu đi, vì tôi cần một thanh niên rắn rỏi như cậu. Nhưng chỉ khi cậu thỏa mãn được các điểm sau. Một: cậu chỉ nói khi tôi hỏi. Hai: nếu tôi giao cho cậu việc gì, thì cậu hãy cố làm cho tử tế. Ba: cậu hãy bỏ thói quen căn vặn tôi. Trước mắt tôi là người quyết định sẽ nói gì và không nói gì với cậu. Rõ chưa?” “Thằng nhóc” len lén nhìn xuống. “Vâng, cháu chỉ…” “Không chỉ trỏ gì hết! Hãy hành động như một người đàn ông... Ta biết khả năng của cậu, con trai ạ. Ta tin rằng cậu sẽ xứng đáng... Nào, đi thôi!” Petrina thân thiện vỗ lên vai “thằng nhóc”, rồi nắm lấy vai nó kéo đi. “Mi biết không, khi ta bằng tuổi mi, đứng gần dù chỉ một người lớn thôi ta cũng không dám mở miệng! Phải câm như hến! Vì thời đó không thể lơ mơ! Ngày nay thì! Chúng bay thì biết gì về…. - Y bỗng sững lại. - Cái gì thế?” “Cái gì?” “Có tiếng động.” “Tôi chẳng nghe thấy gì hết!” - “thằng nhóc” ngơ ngác đáp. “Mi không nghe thấy gì à? Bây giờ cũng không?” Họ nín thở dỏng tai nghe, cách họ mấy bước đằng trước, Irimiás cũng đứng bất động chú ý. Họ đứng đúng chỗ lối rẽ đi Postelek, mưa nhè nhẹ rơi, không một bóng người, chỉ một đàn quạ lượn vòng phía xa xa. Petrina cảm thấy âm thanh đến từ đâu đó... trên cao, y im lặng chỉ lên trời, nhưng Irimiás lắc đầu. “Có lẽ từ đằng kia...” - y chỉ về phía thành phố. “Tiếng ôtô?” “Không biết” - Irimiás đáp vẻ bồn chồn. Họ đứng im. Tiếng động không to lên, cũng không nhỏ đi. “Có thể là tiếng máy bay...” - “thằng nhóc” ngập ngừng nói. “Không. Có lẽ không phải... - Irimiás nói. - Dù nó là gì... chúng ta sẽ rút ngắn đường đi. Chúng ta sẽ đi trên đường về phía Postelek, đến lâu đài Weinckheim, từ đó sẽ đi trên con đường cũ. Chúng ta sẽ rút ngắn được bốn, năm giờ...” “Cậu biết con đường ấy bùn lầy thế nào chứ?!” - Petrina phản đối rất hãng. “Tôi biết. Nhưng tiếng ầm ì này làm tôi không yên tâm. Tốt hơn là chúng ta chọn con đường đó. Chắc chắn chúng ta sẽ chẳng gặp một bóng nào hết.” “Cậu nghĩ đến điều gì thế?” “Tôi không biết. Nào, ta đi thôi!” Họ rời con đường đá, đi về phía Postelek. Petrina quay đầu lại phía sau vẻ bất an, căng thẳng nhìn lướt qua một lượt, nhưng không thấy gì. Lúc này thì y dám cược là tiếng động đến từ đâu đó ở phía trên. “Nhưng đây không phải là máy bay... Nó giống như tiếng đàn phong cầm trong nhà thờ... A, không, thật điên rồ.” Y dừng lại, chống một tay xuống đất, tai y gần chạm tới mặt đất. “Không. Chắc chắn là không. Thật điên rồ.” Nhưng tiếng ầm ì không dứt. Nó không lại gần hơn, cũng không ra xa hơn. Và y vô công lục tìm trong trí nhớ, tiếng động này chẳng giống một thứ nào hết. Không phải tiếng ô tô, không phải tiếng rú của máy bay, cũng không phải tiếng sấm... Y cảm thấy lo lắng. Y căng thẳng ngó nghiêng, đánh hơi thấy hiểm họa trong mỗi bụi cây, mỗi lùm cây thấp, cả trong cái mương nước nhỏ phủ đầy rêu xanh ven đường. Và điều đáng sợ nhất là y không xác định được... cái gì đó đang đe dọa họ đang ở gần hay ở xa. Y nghi hoặc quay lại phía “thằng nhóc”. “Này nhóc! Hôm nay mày đã ăn chưa? Không phải mày sủi bụng đấy chứ?” “Petrina, đừng vớ vẩn nữa! - Irimiás nói với lại sau. - Nhanh chân lên!...” Họ đã đi cách chỗ rẽ chừng ba, bốn trăm mét, khi họ nhìn thấy trong tiếng ầm ì không dứt đáng sợ kia một thứ gì đó kỳ lạ. Petrina phát hiện ra đầu tiên, y không nói nên lời, chỉ hốt hoảng ú ớ lên thành tiếng, rồi im lặng, trợn mắt chỉ lên phía trên. Phía bên phải từ chỗ họ đứng, phía trên khu đất đã biến thành đầm lầy, không sự sống, chừng mười lăm, hai mươi mét, một tấm voan trắng trong suốt bay dập dờn, đang từ từ nhẹ nhàng hạ dần xuống mặt đất. Chưa kịp hoàn hồn sau bất ngờ, cả ba lại kinh ngạc nhìn thấy trong khoảnh khắc “cái thứ gì như tấm voan” ấy vừa chạm đất là bỗng tan biến mất. “Các người hãy cấu tôi đi!” - Petrina van vỉ, và lắc đầu vẻ hoài nghi. “Thằng nhóc” há hốc mồm vì kinh ngạc, nhưng rồi, khi nó thấy cả Irimiás cả Petrina không nói được câu nào, nó liền nói vẻ tự tin. “Sao, các bác chưa nhìn thấy sương mù bao giờ à?” “Đấy mà mày bảo là sương mù à? - Petrina bực tức bật ra. Đừng nói nhảm.” “Tôi dám cược, đây là... một tấm voan đám cưới... nào đó... Ông bạn, tôi cảm thấy có sự chẳng lành...” Irimiás khó hiểu nhìn chỗ mà màn voan mỏng vừa đáp xuống. “Thật nực cười. Petrina, hãy bình tĩnh lại, và nói một điều gì đó.” “Các bác nhìn kìa!” - “thằng nhóc” kêu lên. Và nó chỉ tay về phía một tấm voan mỏng khác đang đáp xuống cách chỗ lúc trước không xa. Cả ba nhìn như bị thôi miên cho tới khi tấm voan chạm đất, rồi - đúng như thể một màn sương mù - nó cũng tan biến mất... “Ta đi khỏi đây thôi, ông ơi! - Petrina đề nghị với giọng run run. Cứ thế này, theo tôi, không mấy nữa sẽ có bọn trẻ con Di gan từ trên trời rơi xuống…” “Chắc hẳn phải có lời giải thích! - Irimiás nói dứt khoát. - Giá như tôi biết đó là thứ quái quỷ gì!... Không có chuyện cả ba chúng ta đều phát rồ cùng một lúc!” “Giá có bà vợ Halics ở đây! - ‘thằng nhóc’ tủm tỉm cười. - “Bà ấy sẽ nói ngay đó là gì!” Irimiás ngẩng đầu lên. “Cậu nói gì?” Rồi cả ba im lặng. “Thằng nhóc” lúng túng nhìn xuống đất. “Cháu chỉ nói vậy thôi...” “Mày biết điều gì hả?” - Petrina hỏi vẻ hốt hoảng. “Cháu á? - “thằng nhóc” cười. - Làm sao cháu biết được? Cháu chỉ nói vậy thôi...” Họ im lặng đi tiếp. Và cả Petrina, cả Irimiás đã có lúc nảy ra ý nghĩ, liệu có may mắn hơn nếu họ quay lại ngay lập tức; nhưng không ai dám quyết định, vì họ không hoàn toàn chắc chắn rằng, quay lại liệu có ít mạo hiểm hơn không... Họ rảo bước nhanh hơn, lần này thì ngay cả Petrina cũng không phản đối, thậm chí nếu chỉ có y thì y đã chạy ngay lập tức, cho đến khi tới thành phố; khi tòa nhà bỏ hoang của lâu đài Weinckheim hiện ra, và Irimiás đề nghị nghỉ lại một lúc (“Chân tôi cứng đơ hẳn rồi... Chúng ta nhóm lửa, ăn cái gì đó, hong khô quần áo, rồi sẽ đi tiếp...”), thì y kêu lên. “Không! Ông tưởng tôi có thể ở yên một chỗ trong một phút hả? Sau những gì vừa thấy?” “Không cần vãi đái ra quần! - Irimiás trấn an. - Vấn đề là chúng ta quá mệt mỏi. Hai ngày qua chúng ta gần như không ngủ. Cần nghỉ ngơi. Đường còn dài.” “Được rồi, nhưng ông đi trước!” - Petrina tuyên bố, và y lấy hết can đảm đi theo cách hai người kia khoảng mười bước chân; tim y đập lên tận cổ, và y cũng chẳng buồn mắng “thằng nhóc” vì đã giễu cợt y, khi thấy sự bình tĩnh của Irimiás y cũng thoải mái hơn, và muốn được nhìn nhận hắn với sự tôn trọng dành cho “những người can đảm”... Y đợi hai người kia rẽ vào con đường nhỏ dẫn tới lâu đài, rồi y cũng ngó sang hai bên, lẻn theo họ, nhưng khi đối diện với cửa chính của tòa nhà đổ nát, y bủn rủn hết chân tay, và dù у nhìn thấy bọn Irimiás nấp vội vào sau một bụi cây, nhưng y không thể nào rời khỏi lối đi. “Từ đâu đó - có phải từ tòa lâu đài? Hay từ khu vườn cháy rụi, ẩm ướt, nghe rõ tiếng cười vui vẻ, lảnh lót vang lên. Giờ là lúc ta sẽ phát điên lên mất. Ta cảm thấy thế.” Nỗi sợ khiến y toát mồ hôi trán. “Quỷ cốc và địa ngục! Chúng ta đã rơi vào đâu thế này?” Y nín thở, gân cốt căng lên, và y nhảy ngang tới sau một bụi cây. Tiếng cười rộn rã lại vang lên, tất cả giống như có một đám người phấn khích, vui nhộn đang nhảy nhót, cứ như việc đám người hân hoan kia đang giết thời gian ở đúng khu vực hoang vắng, giữa trời mưa, gió, lạnh lẽo là sự đương nhiên... Hơn nữa tiếng cười kia... vang lên lạ lùng... Khí lạnh chạy dọc sống lưng y. Y ngó ra lối đi, rồi trong một tích tắc cho là thích hợp, y co cẳng chạy, và đổ vật xuống bên cạnh bọn Irimiás, hệt như trong chiến tranh khi người ta mạo hiểm sống chết, lao từ chiến hào này qua chiến hào khác dưới làn đạn của đối phương. “Ông bạn... y thầm thì như nghẹn, và nép sát vào Irimiás đang quỳ. - Chuyện gì đang xảy ra ở đây thế?” “Trước mắt tôi không nhìn thấy gì cả, - người kia bình tĩnh đáp rất khẽ, tự chủ, và không rời mắt khỏi tòa lâu đài cũ. - Nhưng chúng ta sẽ biết ngay bây giờ.” “Đừng! - Petrina rên lên. Tốt nhất là đừng nên biết!” “Cứ như họ đang nô đùa...” - “thằng nhóc” hồi hộp và sốt sắng lên tiếng, vì nó đang chờ ông chủ giao cho nó một việc gì đó. “Ở đây? - Petrina lập bập - Giữa trời mưa?... Ở nơi hoang vu này?... Sếp ơi, chúng ta biến khỏi đây đi khi còn chưa muộn!...” “Ông im mồm đi! Tôi không nghe thấy gì hết!” “Tôi nghe thấy! Tôi nghe thấy! Chính vì thế mà tôi nói, rằng…” “Im đi nào!” - Irimiás mắng. Trong khu vườn, cây dại đã phủ kín những cây sồi, cây óc chó, cây hoàng dương và các khóm hoa, vẫn không thấy động tĩnh gì, - vì từ chỗ họ đứng chỉ nhìn thấy một phần khu vườn - thế là Irimiás quyết định họ thận trọng tiến lên phía trước; hắn túm lấy tay Petrina đang nhấp nhổm, và kéo y tới gần cửa chính, rồi họ rẽ sang phải nhón chân lò dò đi men theo bức tường. Irimiás đi trước, khi đến chỗ góc tòa nhà, hắn thận trọng ngó ra nửa sau khu vườn; hắn sững người lại trong tích tắc, rồi vội vàng rụt đầu lại. “Cái chuyện gì thế? - Petrina thì thào. - Chúng mình chạy trốn chứ?” “Các người có thấy ngôi nhà gỗ kia không? - Irimiás hỏi nhỏ, và chỉ vào ngôi nhà xiêu vẹo đứng cách đó một đoạn. - Chạy. Từng người một. Đầu tiên là tôi. Rồi đến ông, Petrina. Cuối cùng là cậu, nhóc ạ. Rõ chưa?” Và hắn cúi khom người lao về phía căn nhà mùa hè. “Tôi không! - Petrina lẩm bẩm, ánh mắt y có vẻ lúng túng. - Đây tới đó ít ra phải hai chục mét! Chúng nó bắn tan xác mất!” “Chạy đi!” - “thằng nhóc” đẩy mạnh y, cú đẩy làm Petrina bất ngờ, sau vài bước y mất cân bằng, ngã xoài lên bùn. Nhưng y bật dậy ngay, rồi lại ngã, và như một con rắn, y trườn tới chỗ người bạn đường đã tới - căn nhà gỗ. Y hốt hoảng đến nỗi mãi không dám nhìn lên, cứ lấy hai tay che mắt, nằm bất động trên mặt đất, cho đến lúc ý thức được “nhờ ơn Chúa” y vẫn còn sống, y mới lấy hết can đảm lò dò đứng dậy, hé nhìn ra khu vườn qua một khe hẹp. Hệ thần kinh đã bị tra tấn căng thẳng của y không thể chịu nổi những gì y nhìn thấy. “Nằm xuống” - y hét lên rồi ngã vật ra đất. “Đừng gào lên như thế, đồ con lừa! - Irimiás mắng y. - Nếu ông còn nói một tiếng, tôi sẽ bóp chết!” Ở phía cuối khu vườn, trước ba cây sồi lớn, trần trụi, trên một bãi trống... một thi thể bé bỏng quấn trong những tấm voan trắng trong suốt. Có lẽ họ chỉ cách đó chừng ba chục mét, có thể nhìn thấy khuôn mặt của đứa bé, vì các tấm voan chừa ra; và nếu cả ba đều không cho đó là hư ảo, và nếu không phải chính bàn tay họ đã đặt cô bé vào chiếc quan tài thô mộc do Kráner đóng, thì họ đã dám thề rằng họ đã nhìn thấy đứa em gái của “thằng nhóc”, mặt trắng như sáp, những lọn tóc đỏ loăn xoăn, như thể nó đang nằm ngủ... Thỉnh thoảng gió lại nâng đầu những tấm voan lên, mưa nhẹ nhàng gội cái thi thể bé nhỏ, và ba cây sồi già vặn vẹo răng rắc như sắp đổ... Và quanh cái thi thể nhỏ không một bóng người, chỉ có tiếng cười ngọt ngào, rúc rích, tiếng cười vui vẻ nghe thấy từ mọi phía, như một bản hoan ca phấn khích của những âm thanh vô tư và nhí nhảnh... “Thằng nhóc” đứng như trời trồng, nhìn khu đất, không thể biết nó sợ hãi điều gì hơn: sợ phải nhìn thấy thi thể ướt át, cứng đơ của em gái nó, trắng như tuyết, trong sạch đang nằm kia, hay sợ bỗng nhiên thi thể cô bé bỗng nhiên động đậy, rồi đứng dậy, đi về phía nó; chân nó run lẩy bẩy, trước mắt nó tất cả bỗng sầm tối, khu vườn, tòa lâu đài, bầu trời, chỉ có cô bé nằm giữa khu đất nhỏ mỗi lúc thêm sáng rực lên đau đớn, mỗi lúc một rõ nét hơn. Và trong sự tĩnh lặng bất chợt, trong sự câm lặng tuyệt đối đến ngay cả những giọt mưa rơi cũng lặng lẽ vỡ tóe ra trên mặt đất, và họ có thể tưởng rằng họ đã bị điếc, vì có thể cảm thấy, nhưng không thể nghe thấy cả tiếng gió rít, cả cái làn gió mềm mại, lạ lùng lướt qua và nhẹ nhàng chạm vào họ. Nó cảm thấy như tiếng ầm ì và tiếng cười lảnh lót âm vang lúc trước bỗng biến thành tiếng rên rỉ và khụt khịt, và nó thấy những tiếng động ấy đang tiến lại gần nó, nó lấy cánh tay che mắt và òa khóc. “Ông nhìn thấy không?” - Irimiás thầm thì, và nắm chặt tay Petrina đến nỗi các ngón tay của y trắng bệch ra. Gió nổi lên quanh cái thi thể nhỏ, và trong sự tĩnh lặng hoàn toàn, cái xác chết trắng toát chập chờn bay lên... rồi tới độ cao ngang ngọn những cây sồi nó bỗng nhiên lật nghiêng, quằn quại và bắt đầu thấp dần và hạ xuống giữa khu đất. Lúc này những âm thanh vô hình lúc trước bắt đầu than phiền một cách giận dữ, như một dàn hợp xướng bất mãn lại thú nhận thất bại mà không phải lỗi là do nó. Petrina thở dốc. “Cậu có tin điều này không?” “Tôi cố gắng để tin,” - Irimiás nói, mặt trắng bệch. “Liệu họ thử từ khi nào? Đứa trẻ chết đã gần hai ngày.” “Petrina, có lẽ lần đầu tiên trong đời, tôi thấy sợ.” “Ông bạn, tôi có thể hỏi điều gì đó chứ?” “Nào, nói đi!” “Theo cậu..?” “Theo tôi?” “Theo cậu... hừm... có địa ngục không?” Irimiás nuốt nước bọt. “Ai mà biết được. Có thể.” Bỗng nhiên lại tĩnh lặng. Chỉ có tiếng ầm ì hơi to hơn. Cái thi thể lại nâng lên, cách mặt đất độ hai mét nó bắt đầu rung rung, rồi bất ngờ bay vụt lên cao, và trong chốc lát đã mất hút giữa những đám mây bất động, ủ rũ trên bầu trời. Gió thổi lướt qua khu vườn, những cây sồi rùng mình, cả căn nhà gỗ mùa hè, rồi họ còn nghe thấy những âm thanh bing boong vang lên trên đầu và dần tắt hẳn, và sau chúng không còn lại gì khác, chỉ thấy mấy mảnh voan rơi lả tả, chỉ nghe tiếng ngói xô trên mái nhà xô lệch của tòa lâu đài, tiếng rơi rờn rợn của những miếng tôn trên ống máng đập vào tường... Họ đứng như trời trồng nhìn khu đất trống mấy phút, mãi không có chuyện gì xảy ra, họ dần dần tỉnh lại. “Tôi nghĩ, đã kết thúc.” - Irimiás nói, rồi nấc một tiếng. “Tôi hy vọng, - Petrina thầm thì. - Chúng ta sẽ làm thằng bé tỉnh lại.” Hai người xốc nách thằng bé cho đến lúc đó vẫn gục xuống run rẩy, dựng nó dậy. “Nào, can đảm lên, - Petrina động viên, chính hai chân y cũng đang muốn khuỵu xuống. - Không có chuyện gì chẳng lành đâu.” “Để tôi yên! - ‘thằng nhóc’ vùng vằng. - Buông tôi ra!” “Được rồi! Không có gì phải sợ nữa!” “Hãy để tôi ở lại đây! Tôi không đi đâu hết!” “Sao lại không đi nữa? Khóc lóc thế là đủ rồi! Mà ở đó có còn gì nữa đâu...” “Thằng nhóc” đứng sát lại khe hở, nhìn ra khoảng đất trống. “Đâu... Nó đâu rồi?” “Nó đã bay lên, như sương mù.” - Petrina đáp, và đưa tay bám vào một viên gạch nhô ra. “Như... sương mù?” “Đúng, như sương mù.” “Thằng nhóc rụt rè nói: Thế nghĩa là tôi đã nói đúng?” “Chính xác - Irimiás cất tiếng, mong chấm dứt cơn nấc. - Ta phải công nhận cậu nói đúng.” “Nhưng các bác... các bác đã nhìn thấy gì?” “Về phần tôi, chỉ thấy sương mù, - Petrina nói, rồi nhìn vào khoảng không và buồn bã lắc đầu. - Sương mù ở khắp mọi nơi.” Thằng nhóc sốt ruột nhìn Irimiás. “Nhưng... đó là cái gì chứ?” “Ảo ảnh,” - Irimiás đáp, mặt tái dại; giọng hắn yếu ớt đến nỗi “thằng nhóc” bất giác cúi lại gần. “Chúng ta quá mệt mỏi. Nhất là cậu. Xét cho cùng... chẳng có gì đáng ngạc nhiên.” “Đúng thế, chẳng có gì đáng ngạc nhiên - Petrina đế thêm. - Những lúc như thế này con người ta nhìn thấy đủ thứ. Ở mặt trận đêm đêm chúng tôi còn thấy các mụ phù thủy cưỡi cán chổi rượt đuổi.” Họ đi hết con đường nhỏ, sau đó lặng lẽ đi trên con đường dẫn tới Postelek một lúc lâu, vừa đi vừa né tránh những vũng nước sâu đến mắt cá chân, và khi gần tới con đường cũ dẫn tới phía Đông-Nam thành phố, mỗi lúc Petrina càng lo lắng hơn cho tình trạng của Irimiás. Có thể nhận thấy hắn căng thẳng tột độ, đầu gối hắn ta thỉnh thoảng muốn trật ra, nhiều lần có vẻ như chỉ thêm một bước nữa là hắn sẽ đổ gục. Mặt hắn tái dại, các đường nét nhão ra, đôi mắt thủy tinh nhìn vào hư vô. Cũng may là “thằng nhóc” không nhận thấy gì cả, một phần vì những câu nói của Irimiás và Petrina đã khiến nó trấn tĩnh lại (“Tất nhiên! Không thể là gì khác hơn là ảo giác. Mình phải cố gắng kẻo họ lại cười cho!...”), phần khác nó cũng phấn khởi vì Petrina trao cho nó nhiệm vụ giống như trinh sát, và nó có thể tiến lên dẫn đầu. Irimiás bất chợt dừng lại, Petrina hốt hoảng nhảy lại gần xem có cần giúp đỡ gì không. Nhưng Irimiás đẩy tay y ra, quay sang đứng đối diện với y, và quát: “Đồ con lừa! Sao không cút đi chỗ khác cho khuất mắt? Tôi chán ông lắm rồi! Hiểu chứ?” Petrina vội cụp mắt xuống. Thấy thế Irimiás nắm lấy cổ áo y, định nhấc y lên nhưng không nhấc nổi, thế là hắn đẩy mạnh y một cái. Petrina mất thăng bằng, ngã sóng soài ra bùn sau vài bước. “Ông bạn... - y van vỉ. - Đừng để mất...” “Còn cãi lại à?!” - Irimiás quát, rồi lao đến chỗ Petrina, kéo y dậy từ bùn đất, và dang tay, lấy hết sức, đấm thẳng vào mặt y. Rồi họ cứ thế đứng đối diện nhau, Petrina kinh ngạc và hốt hoảng nhìn hắn, còn hắn thì bỗng tỉnh ra, và chỉ cảm thấy mệt rã rời, một sự trống rỗng nào đó, áp lực nặng nề của nỗi thất vọng, như một con thú sập bẫy và nhận ra không còn lối thoát. “Sếp ơi... - Petrina lắp bắp. - Tôi, tôi... không giận ông….” Irimiás cúi đầu. “Đừng giận tôi, tai cụp nhé!...” Họ lại đi tiếp, Petrina ra hiệu cho “thằng nhóc” đang đứng sững nhìn hai người từ phía trước “Đi đi, không có chuyện gì đâu”, thỉnh thoảng y lại thở thật sâu, và gãi gãi tai. “Tôi là người phúc âm...” “Người theo đạo Phúc âm chứ, đúng không?” Irimiás chữa lại. “Đúng, đúng! Tôi muốn nói thế...” - Petrina đỡ lời, và thở ra nhẹ nhõm, vì thấy người bạn đường đã qua “phút khó khăn nhất”... “Thế còn ông?” “Tôi? Tôi chưa được làm lễ rửa tội. Chắc người ta biết có làm cũng chẳng thay đổi được gì.” Petrina ra hiệu im lặng và chỉ lên phía trên. “Khẽ thôi!” “Có sao đâu, tai cụp... - Irimiás buồn bã nói. - Giờ thì mọi chuyện đã rồi...” “Có thể với ông là thế, nhưng với tôi thì không! Nếu nghĩ đến những chiếc vạc nóng bỏng ấy, là tôi đã nghẹt thở!” “Tất cả đều không phải như thế, - Irimiás lên tiếng sau một lúc lâu im lặng. - Lúc này chúng ta nhìn thấy một cái gì đó, cũng vô ích, điều đó chẳng có nghĩa gì. Thiên đường? Địa ngục. Thế giới bên kia? Tào lao cả. Tôi chắc chắn rằng, chúng ta hoàn toàn nhầm lẫn. Trí tưởng tượng của chúng ta hoạt động liên tục cũng vô ích, chúng ta chẳng tới gần sự thật hơn chút nào.” Nghe thế Petrina bình tĩnh hẳn lại. Giờ thì y biết “tất cả đều ổn”, cũng biết lúc này cần phải nói gì để bạn y trở lại là đúng con người như trước. “Ít ra thì ông cũng đừng có gào lên thế! - y nhắc. - Chúng ta chưa đủ khốn nạn hay sao?” “Vì Chúa không biểu thị bằng ngôn từ, tai cụp ạ. Và ngài hoàn toàn chẳng biểu thị trong bất cứ điều gì. Ngài không hiển thị. Ngài không tồn tại.” “Tôi là người có đức tin. - Petrina đáp lại vẻ bực tức. - Ít nhất ông cũng phải nể tôi, đồ vô thần!” “Một sự nhầm lẫn. Vì lúc trước tôi đã ngộ ra, rằng giữa tôi và một con côn trùng, giữa con côn trùng và một dòng sông, giữa một dòng sông và một tiếng kêu bay qua nó, không có gì khác nhau cả. Tất cả đều vận hành trống rỗng và vô nghĩa, trong cưỡng bức của sự phụ thuộc và của những dao động hoang dã, phi thời gian, và chỉ có trí tưởng tượng của chúng ta, và thất bại vĩnh hằng của những tri giác của chúng ta đeo bám chúng ta bằng niềm tin dai dẳng, rằng chúng ta có thể tự nâng mình khỏi những hang ổ của sự khốn cùng. Không có sự giải thoát, tai cụp ạ.” “Ông nói điều đó đúng vào lúc này ư? - Petrina phản đối. - Đúng lúc này? Sau những gì chúng ta nhìn thấy?” Irimiás cau có nhăn mặt. “Chính vì thế mà tôi nói chúng ta sẽ không bao giờ thoát ra được. Tất cả đã được sắp đặt. Tốt nhất là ông cũng đừng cố nữa, và đừng tin vào mắt mình nữa. Đó là cạm bẫy, Petrina ạ. Và chúng ta cứ mãi mãi rơi vào. Khi chúng ta vừa tin là chúng ta sẽ được giải thoát, thì chúng ta chỉ sửa lại những cái khóa. Tất cả đã được sắp đặt.” Đến lúc này thì Petrina đã cáu thật sự. “Tôi chẳng hiểu cái cóc khô gì cả! Ông đừng có ca cho tôi nghe nữa, mẹ kiếp! Hãy nói trắng ra đi!” “Chúng ta hãy tự treo cổ lên, tai cụp ạ, - Irimiás buồn bã tự khuyên. - Ít ra thì sẽ kết thúc sớm. Mà treo hay không treo, đằng nào cũng thế cả. Thôi đừng tự treo cổ nữa.” “Ông bạn, chẳng thể hiểu nổi ông nữa! Ta thôi đi, kẻo tôi phát khóc lên đây.” Họ im lặng bước đi một đoạn nữa, nhưng câu chuyện khiến Petrina không thể nào yên tâm. “Ông có biết mình không ổn ở chỗ nào không, hở sếp? Tại ông không được làm lễ rửa tội.” “Cũng có thể.” Họ đang đi trên con đường cũ, “thằng nhóc” quan sát ở phía trước, nó thích mạo hiểm, nhưng ngoài những ổ gà sâu do vết bánh xe mùa hè để lại trên đường không có mối hiểm họa nào rình rập họ; trên đầu họ thỉnh thoảng có tiếng kêu của đàn quạ bay qua, có lúc mưa dày hạt hơn, và họ càng đến gần thành phố hơn, hình như gió cũng thổi mạnh hơn. “Nào, thế bây giờ?” - Petrina hỏi “Cái gì?” “Bây giờ sẽ ra sao?” “Sẽ ra sao là ra sao? - Irimiás rít qua kẽ răng. - Vận của chúng ta đang lên. Trước nay người ta nói cho ông cần phải làm gì, bây giờ ông sẽ là người nói. Nhưng nói đúng như thế. Từng từ một.” Họ châm thuốc, và buồn bã nhả khói. Khi họ tới khu Đông Nam thành phố thì trời đã tối, họ đi trên những đường phố vắng, các ô cửa sổ sáng ánh điện, bên trong người ta ngồi bên các đĩa thức ăn nghi ngút hơi. “Này, - Irimiás dừng lại, khi họ tới chỗ quán Mérö. - Chúng ta ghé vào đây một lát.” Họ ghé vào cái quán rượu đầy khói, nóng bức, đã chật ních người, và len qua các nhóm lái xe, nhân viên thu thuế, thợ thuyền và sinh viên đang vui vẻ cười hô hố, hay đang tranh cãi ầm ĩ, họ tới đứng vào cuối hàng người trước quầy rượu. Người bán quán, nhận ra Irimiás ngay từ khi họ mới bước vào cửa, nhanh nhẹn chạy tới cuối bàn quầy, và nói với hắn: “Hi hi! Lâu quá rồi mới thấy ông. Xin chào! Cả ông nữa, chuyên gia tếu! - Ông ta rướn qua bàn, giơ tay định bắt và hỏi nhỏ: - Tôi có thể mang tới cho các vị thứ gì?” Irimiás chẳng thèm để ý đến bàn tay đưa ra, lạnh lùng đáp. “Hai kevert[1], và một cốc nhỏ fröcs!”[2] “Có ngay, thưa các vị, - người bán quán hơi chững người, rụt tay lại. - Hai cốc kevert một đề-xi và một fröcs nhỏ. Có ngay.” Ông mau mắn chạy lại chỗ giữa bàn quầy, nhanh tay rót rượu vào các cốc, rồi đưa đến. “Các vị là khách của tôi.” “Cảm ơn, - Irimiás nói. - Có tin gì không, Weisz?” Người bán quán đưa tay áo lên lau mồ hôi trán, liếc nhìn xung quanh, và cúi sát mặt Irimiás. “Lũ ngựa đã sổng khỏi lò mổ... - ông ta hồi hộp thì thầm. - Tôi nghe nói thế.” “Ngựa à?” “Đúng thế! Tôi vừa nghe nói người ta chưa lùa được chúng về. Một đàn ngựa. Chúng chạy lung tung trong thành phố. Tôi nghe nói thế.” Irimiás gật gù, nâng mấy cốc rượu lên trên đầu lách qua đám đông, vất vả lắm mới tới chỗ Petrina và “thằng nhóc” đã kiếm được một chỗ ngồi hẹp bên cạnh cửa sổ. “Tôi lấy fröcs cho cậu đấy, nhóc ạ.” “Cảm ơn ông, hóa ra ông biết.” “Không khó để biết. Nào, chúc sức khỏe!” Họ cạn chén, Petrina mời thuốc, họ châm thuốc hút. Irimiás cảm thấy một bàn tay đặt trên vai. “Chào buổi tối, là ông à?! Sao ông lại ở đây? Ôi, tôi mừng quá!” Một người đàn ông đầu trọc, thấp lùn, mặt đỏ như trái ớt đứng bên cạnh Irimiás, và tin cậy đưa tay ra. “A, cả chuyên gia tếu nổi tiếng! Xin chào!” - ông ta quay về phía Petrina. “Toth, ông thế nào?” “Cũng thường thường thôi, thời buổi này! Thế còn các vị? Có lẽ đến hai, không!, ít nhất ba năm rồi tôi không gặp các vị! Có chuyện gì nghiêm trọng không?” Petrina gật đầu. “Có đấy.” “Nếu vậy thì lại khác... - ông đầu trọc lúng túng thanh minh, và quay về phía Irimiás. - Ông nghe thấy chưa? Ông Szabo tàn đời rồi.” “Hừ, hừ...” - người kia ừ hữ, và dốc nốt chỗ rượu. “Tình hình thế nào, ông Toth?” Ông trọc ghé sát tai Irimiás. “Tôi nhận được nhà.” “Thế à? Chúc mừng nhé! Có gì khác không?” “Cuộc sống cứ trôi đi, - Toth đáp cụt ngủn. - Vừa bầu cử. Ông có biết bao nhiêu người không đi? Hừ! Đoán thử xem. Tôi biết tên hết. Ở cả đây.” Và ông chỉ vào trán. “Khá lắm, Toth. - Irimiás nói mệt mỏi. - Tôi thấy, ông không hoài phí thời gian.” “Rõ ràng thế! - Ông đầu trọc dang hai tay. - Con người ta phải biết chỗ của mình. Đúng thế không?” “Nào, thế thì ra xếp hàng đi, lấy cho chúng tôi thứ gì chứ!” - Petrina lên tiếng. “Các vị uống gì? Tôi mời.” “Kevert” “Có ngay đây, một phút thôi.” Trong nháy mắt ông đã đứng cạnh quầy, ra hiệu cho người bán hàng, và đã trở lại, trên tay là mấy cốc rượu đầy. “Chúc mừng cuộc tái ngộ!” “Chúc sức khỏe ông!” - Irimiás nói. “Chúc trường thọ!” - Petrina nói. “Thế các vị nói gì đi, ở đằng ấy tình hình thế nào?” - Toth hỏi, nhướng đôi mắt chờ đợi. “Đằng ấy là đằng nào?” - Petrina nhìn ông và hỏi. “À tôi chỉ hỏi chung chung vậy thôi.” “À, chúng tôi vừa tới từ một cuộc phục sinh.” Ông đầu trọc nhe bộ răng màu vàng. “Ông chẳng thay đổi gì cả, Petrina! Ha ha ha! - Rồi ông sẽ thấy. - Chúng tôi vừa tới từ một cuộc phục sinh? Hay lắm! Tôi nhận ra ông.” “Ông không tin, đúng không? - Petrina đáp một cách chua chát. - Rồi ông sẽ thấy một kết cục xấu. Ông đừng mặc quá ấm, trước giờ cuối cùng!” Toth cười rung cả người. “Thôi chào các vị! - ông nói. - Tôi quay lại chỗ các bạn. Chúng ta sẽ còn gặp lại nhau chứ?” “Đáng tiếc, Toth, - Petrina mỉm cười vẻ buồn, - điều đó không thể tránh khỏi.” Họ bước ra khỏi quán rượu, và đi trên đại lộ hai bên có hai hàng cây tùng về phía trung tâm thành phố. Gió thổi lên mặt, mưa táp vào mắt họ, và vì lúc ngồi trong quán mặc áo khoác đã nóng, họ rùng mình. Đến tận quảng trường Nhà Thờ họ không gặp một bóng người, Petrina nhận xét: “Có chuyện gì ở đây nhỉ? Có lệnh giới nghiêm à?” “Không, đang mùa thu, - Irimiás nói vẻ buồn. - Lúc này người ta ngồi bên lò sưởi, rồi đến mùa xuân họ mới đứng dậy. Họ ngồi bên cửa sổ hàng giờ, cho tới khi trời tối. Họ ăn, uống, họ ôm nhau trên giường, dưới chăn. Rồi có lúc họ cảm thấy không chịu được tiếp nữa, họ đánh con một trận, hay đá con mèo, và lại sống tiếp như thế một thời gian nữa. Thế đấy, tai cụp ạ.” Trên quảng trường chính, một nhóm người chặn họ lại. “Các ông không nhìn thấy gì à?” - một người cao hỏi. “Không, chẳng thấy gì!” - Irimiás đáp. “Nếu nhìn thấy gì đó, các ông báo cho chúng tôi ngay nhé. Chúng tôi chờ tin tức ở đây, các ông sẽ thấy chúng tôi ở đây.” “Được. Tạm biệt.” Sau vài bước Petrina hỏi: “Có thể là tôi ngốc. Nhưng nếu bọn họ là?... Nhìn họ có vẻ hoàn toàn bình thường. Chúng ta lẽ ra phải nhìn thấy cái gì?” “Thấy lũ ngựa.” - Irimiás đáp. “Ngựa à? Ngựa nào?” “Ngựa sổng khỏi lò mổ.” Họ đi hết đại lộ vắng người, rồi quành vào khu phố Nagyroman. Tới chỗ giao lộ giữa đường Eminescu và Sétány thì họ nhìn thấy chúng. Phía trong, chỗ giữa đường Eminescu, chừng tám, mười con ngựa đang ăn cỏ bên một giếng nước. Lông chúng thỉnh thoảng sáng lên trong ánh đèn đường yếu ớt, và cho tới khi chúng chưa nhận ra đám người đang nhìn ngắm chúng, thì chúng vẫn ung dung gặm cỏ; rồi bỗng nhiên chúng ngẩng đầu lên, một con hí vang, và trong một phút chúng biến mất ở đầu đường phía bên kia. “Bác ủng hộ ai?” - “thằng nhóc” cười tủm hỏi. “Chính bản thân tôi.” - Petrina trả lời vẻ khó chịu. Trong quán Steigerwald chỉ có vài người, khi họ bước vào, những người ấy cũng nhanh chóng rời khỏi quán; đêm đã về khuya. Steigerwald đang chọc ngoáy chiếc tivi lắp ở góc phòng. “Mẹ cha cái của khỉ này!” - ông ta chửi, không để ý thấy những người mới tới. “Chào buổi tối!” - Irimiás đánh tiếng. Steigerwald quay ngoắt lại phía sau. “Ơn Chúa! Các vị ở đâu ra thế này?” “Không có sự gì đâu. - Petrina trấn an. - Không có sự gì đâu.” “Thế thì tốt. Tôi đã tưởng” - chủ quán lập bập, và đi đến sau bàn quầy. “Cái của khỉ này - ông chỉ cái vô tuyến. - Tôi loay hoay một tiếng với nó, mà nó không chịu có hình trở lại.” “Thế thì ông hãy nghỉ một lúc. Cho hai kevert. Cho ông trẻ này fröcs.” Họ ngồi quanh một chiếc bàn, cởi cúc áo khoác, và châm một điếu thuốc mới. “Cậu nhỏ, - Irimiás nói. - Uống đi rồi sang chỗ Payer. Cậu biết chỗ ở của hắn.” “Ok!” - gã trai đáp, rồi cài lại cúc áo. Cậu đón cốc vang từ tay chủ quán, uống cạn và nhảy nhanh ra cửa. “Steigerwald” - Irimiás ngăn chủ quán - sau khi đặt rượu xuống trước mặt họ - đang định quay lại bàn quầy. “Nào, nghĩa là có chuyện chẳng lành gì đó.” - chủ quán lo ngại, buông cái cơ thể to kềnh ngồi xuống cạnh hai người khách. “Không có gì đáng ngại, - Irimiás trấn an. - Ngày mai tôi cần một chiếc xe tải.” “Khi nào các vị trả lại?” “Ngay tối mai. Và đêm nay chúng tôi ngủ ở đây.” “Được! - Steigerwald gật đầu vẻ nhẹ nhõm, rồi nặng nề đứng dậy. - Khi nào các ông trả tiền?” “Bây giờ.” “Hả?” “Ông nghe nhầm đấy, - Irimiás chữa lại. - Ngày mai.” Cửa bật mở, và “thằng nhóc” lao vào. “Ông ấy sẽ đến ngay,” - nó thông báo, và ngồi vào chỗ của nó lúc trước. “Được rồi, cậu nhóc. Hãy tự gọi cho mình một cốc fröcs nữa đi. Và bảo ông ta cho chúng ta món xúp đậu.” “Nấu với chân giò!” - Petrina cười cười nói thêm. Mấy phút sau, một người đàn ông to béo, tóc ngả bạc bước vào quán, tay cầm ô, và rõ ràng ông ta đã chuẩn bị đi ngủ, vì ông ta không thay đồ, chỉ kéo một chiếc áo khoác lên trên bộ pijama. Chân đi dép lông nhân tạo. “Tôi được tin ông lại quay về thành phố của chúng tôi, - ông ta ngái ngủ nói, và chậm rãi ngồi xuống chiếc ghế cạnh Irimiás. - Tôi không cưỡng lại, nếu ông muốn siết chặt tay tôi.” Irimiás đang ngồi nhìn đi đâu, nghe thấy Payer nói hắn liền ngẩng đầu lên, và mỉm cười vẻ mãn nguyện. “Rất hân hạnh! Tôi hy vọng là đã không phiền giấc ngủ của ông.” Payer nhắm mắt lại, ranh mãnh đáp. “Ông không quấy rầy giấc ngủ của tôi, và tôi tin rằng sau này cũng thế.” Trên mắt Irimiás nụ cười không biến mất. Hắn vắt tréo hai chân, ngả người ra sau, nhả một hơi khói dài. “Ta vào việc nhé!” “Ông đừng dọa tôi ngay từ đầu, - người mới đến chậm rãi giơ tay lên, vẻ tự tin. - Nếu như ông đã lôi tôi ra khỏi giường, thì hãy gọi cho tôi thứ gì đó!” “Ông uống gì?” “Ông hỏi tôi uống gì? Thứ đó ở đây không có. Lấy cho tôi một đề-xi rượu mận.” Mắt nhắm nghiền như thể đang ngủ, ông ta nghe Irimiás, và chỉ đưa tay lên ra hiệu muốn nói khi chủ quán đưa rượu đến, ông ta uống hết chỗ rượu với cử chỉ chậm rãi. “Một tích tắc! Chúng ta vội đi đâu? Tôi còn chưa biết các bạn đồng hành...” Petrina bật dậy. “Tôi là Petrina, hay Petrina... đích thị là tôi. Điều này tùy ông quyết.” “Thằng nhóc” không cả động đậy. “Horgos.” Payer mở mắt. “Một anh chàng trẻ tuổi phong cách hay, - ông ghi nhận, và liếc sang Irimiás. - Cậu có thể trở thành người có danh.” “Tôi lấy làm mừng vì các bạn tôi giành được cảm tình của ông, ông lái súng” Payer ngả đầu ra sau như muốn tự vệ. “Ông tha cho tôi cách gọi như thế. Tôi không phải là kẻ đam mê nghề, tôi nghĩ, ông hiểu rõ tôi. Cứ gọi tôi là Payer!” “Đồng ý! - Irimiás cười mỉm, dụi đầu thuốc lá vào mặt dưới bàn. - Tình hình là thế này. Tôi sẽ biết ơn ông nếu có một ít... nguyên liệu thô. Càng đa dạng càng tốt.” “Ông chỉ quan tâm về mặt nguyên tắc, hay ông đã có thể chi một khoản nhất định để tôi có thể chịu đựng dễ dàng hơn sự sỉ nhục của cuộc sống đơn thuần đối với tôi?” “Đương nhiên là thế.” Ông khách gật đầu ghi nhận. “Một lần nữa tôi lại có thể khẳng định rằng, ông là người đàng hoàng. Đáng tiếc là càng ngày tôi càng ít có may mắn được làm quen với các bạn ông có tính cách như thế.” “Ông ăn tối với chúng tôi chứ? - Irimiás mỉm nụ cười không bao giờ tắt, khi Steigerwald bê món xúp đậu tới bàn họ ngồi. “Ông có thể chào món gì?” “Chẳng có gì hết!” - chủ quán đáp gọn lỏn. “Nghĩa là món mà ông có thể đưa ra không thể nuốt nổi?” - Payer hỏi, vẻ mệt mỏi. “Đúng vậy.” “Thế thì tôi không gọi gì hết. - Ông ta đứng dậy, hơi cúi mình xuống, nháy mắt về phía “thằng nhóc”. - Thưa các vị, hân hạnh được hợp tác. Các chi tiết để sau, nếu tôi hiểu đúng.” Irimiás cũng đứng dậy, đưa tay ra. “Đúng thế. Cuối tuần tôi sẽ tìm ông. Chúc ông ngủ ngon.” “Ông bạn, lần cuối cùng, chính xác là hai mươi sáu năm trước tôi đã ngủ một mạch năm tiếng rưỡi, từ đó tới nay tôi chỉ trằn trọc nửa thức nửa ngủ. Dù sao, tôi cũng cảm ơn ông.” Ông ta cúi người lần nữa, rồi rời quán với những bước chân chậm rãi, đôi mắt ngái ngủ. Sau bữa tối, Steigerwald lầm lũi dọn chỗ nằm cho mấy vị khách ở một góc, ông dứ nắm đấm dọa cái vô tuyến, và đi về phía lối ra. “Ông có cuốn Kinh Thánh nào không?”- Petrina hỏi với theo. Steigerwald đi chậm, rồi dừng hẳn, quay lại đối diện. “Kinh Thánh? Để ông làm gì?” “Tôi định đọc một chút trước khi ngủ. Đọc xong bao giờ tôi cũng thấy tĩnh tâm.” “Ông không biết ngượng hay sao! - Irimiás càu nhàu. - Lần cuối cùng ông cầm sách là lúc còn trẻ con, mà cũng chỉ để xem tranh...” “Ông đừng nghe ông ta! - Petrina phản đối, vẻ tự ái. - Ông ta ghen tị với

tôi đấy, có thế thôi.” Steigerwald vò đầu. “Ở đây chỉ có sách trinh thám. Tôi đưa đến một cuốn nhé?” “Không, lạy Chúa! - Petrina từ chối. - Cái đó không ổn!” Steigerwald làm bộ cau có, rồi biến mất sau cánh cửa mở ra sân. “Lão Steigerwald này thật thô lậu... - Petrina lẩm bẩm. - Tôi thề, một con gấu đói trong cơn ác mộng còn dễ chịu hơn lão ta.” Irimiás đã nằm xuống chỗ, và kéo chăn lên đắp. “Có thể. Nhưng ông ta sẽ sống dai hơn tất cả chúng ta.” “Thằng nhóc” tắt điện, họ nằm im. Chỉ nghe tiếng lầm rầm của Petrina một lúc nữa, y đang loay hoay thử nhớ lại bài kinh cầu bà y dạy từ thời nào:

Cha của chúng con... Cha của chúng con

cha ở trên trời,

trên Thiên đàng, vinh quang

thuộc về Đức Jesus Christ

không... để phù hộ... để chúng con...

ngợi ca tên tuổi Người

và hãy theo ý Người

điều tốt lành… trên trời, và

dưới đất, khắp nơi nơi

bàn tay Người với tới... trên mặt đất

trên mặt đất… trên Thiên đàng...

hay dưới địa ngục, amen...

❀ ❀ ❀

[1] Rượu mạnh đã pha trộn, như blended.

[2] Rượu vang pha nước soda, độ cồn nhẹ.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Krasznahorkai Laszlo

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.