Ông bác sĩ đeo kính lên, dụi điếu thuốc đã cháy tới tận móng tay vào thành ghế, rồi phóng một tia nhìn kiểm tra qua khe hở giữa rèm và cửa sổ ra khu trại (và kiểu như chấp nhận bên ngoài tất cả vẫn không có gì thay đổi “thế là được”), ông rót lượng rượu cho phép vào cốc và pha thêm nước, việc xác định mức thích hợp về mọi phương diện - hôm ông về nhà - gây khó khăn không ít: khi lựa chọn tỉ lệ giữa rượu và nước, dù phiền toái ra sao, ông cũng phải lưu ý tới sự đe dọa, rõ ràng là quá đáng, mà ông bác sĩ trưởng trong bệnh viện nhắc đi nhắc lại (theo đó: “Nếu ông không bỏ rượu và không giảm ‘quyết liệt’ liều lượng thuốc lá hằng ngày, thì ông hãy chuẩn bị tới kết cục xấu nhất, và hãy nói với một tu sĩ càng sớm càng hay...”), thế là sau một hồi dài cân nhắc ông bỏ ý tưởng “hai phần rượu, một phần nước”, và rót theo tỉ lệ “một trên ba”. Ông uống chậm rãi, từng ngụm nhỏ hết cốc nước, và lúc này, khi đã trải qua những thử thách khổ sở không thể phủ nhận của “giai đoạn chuyển tiếp”, ông có phần yên tâm xác nhận, rằng có thể quen với cả thứ “nước địa ngục” này, bởi so với cốc rượu pha loãng đầu tiên ông đã bực tức nhổ toẹt ra, thì đến cốc này ông đã nuốt hết mà không thấy ghê sợ, có lẽ vì giữa chừng ông đã thành công trong việc luyện được khả năng, mà khi làm chủ được nó ông có thể tách riêng được phần “tệ hại” và phần “chấp nhận được” của thứ nước luễnh loãng này. Ông đặt cốc về chỗ cũ, sửa lại vị trí của bao diêm trên hộp thuốc lá, rồi hài lòng đưa mắt nhìn quanh “quân ngũ” của đống hũ rượu đầy bắt đầu xếp từ sau chiếc ghế bành, và ông xác định mình có thể can đảm đối chọi với mùa đông sắp tới. Điều này - dĩ nhiên là - không dễ dàng như thế, vì hai hôm trước, khi người ta cho ông ra khỏi bệnh viện thành phố với điều kiện gọi là “tự chịu trách nhiệm”, và khi xe cứu thương quành vào cổng chính của khu trại, thì sự phấp phỏng căng thẳng đã kéo dài từ mấy tuần trước của ông bỗng chuyển thành nỗi sợ hãi, vì ông gần như chắc chắn rằng, ông phải bắt đầu lại từ đầu: ông sẽ thấy phòng mình bị lục tung, đồ đạc vứt bừa bãi, thậm chí - trong khoảnh khắc ấy - ông còn không loại trừ khả năng, rằng mụ vợ ghê gớm của Kráner, lợi dụng lúc ông không có nhà, dùng “những chiếc chổi dơ bẩn và khăn lau ướt hôi thối” để tấn công căn hộ dưới danh nghĩa lau dọn, và về cơ bản sẽ phá tan những gì mà ông, sau bao nhiêu năm lao động nhọc nhằn và toàn tâm toàn ý, mới gây dựng được. Nhưng nỗi sợ của ông tỏ ra không có cơ sở: căn phòng của ông được thấy lại trong trạng thái y nguyên như khi ông đã bỏ lại ba tuần trước đó, các cuốn sổ, bút chì, diêm, cốc, thuốc lá của ông vẫn ở nguyên chỗ cũ, đó là chưa nói khi chiếc xe cứu thương vòng vào ngõ nhà ông, phanh lại trước nhà, ông thấy nhẹ cả người vì không nhìn thấy một gương mặt tò mò nào trong các ô cửa sổ các nhà hàng xóm, và không chỉ lúc đó, khi nhân viên cứu hộ - với số tiền boa không nhỏ - xếp các túi đồ của ông, các túi thức ăn và những bình rượu được đổ đầy ở Mopsz, mà từ đó đến giờ họ cũng không dám quấy quả ông. Dĩ nhiên ông không thể tự huyễn hoặc mình, rằng trong lúc ông đi vắng đã có bất cứ điều gì đó đáng kể đã xảy ra với “lũ người đê tiện đần độn” này, nhưng ông cũng phải công nhận có thể nhận thấy chút tiến bộ nào đó: cứ như khu trại không người, không thấy người chạy đi chạy lại sốt ruột, mưa dai dẳng như mọi khi, nếu thu về, đã giữ họ trong các ngôi nhà lụp xụp, và ông không bất ngờ khi thấy họ không ló mặt ra ngoài dù chỉ một lần, ông chỉ nhìn thấy Kerekes cách đây hai ngày, qua cửa sổ xe cứu thương, khi ông ta đang lững thững đi trên con đường đất cạnh nhà Horgos đến con đường lát đá, nhưng cũng chỉ trong tích tắc, vì ông quay đi chỗ khác ngay. “Hy vọng, từ nay đến mùa xuân ta sẽ không thấy mặt mũi họ!” - ông ghi vào nhật ký, rồi cẩn thận nhấc bút chì lên để khỏi làm rách mặt giấy đã hút ẩm trong không khí - có lẽ do ông đi vắng lâu ngày, đến mức chỉ cần sơ sẩy nhỏ là đã rách... Nghĩa là ông không có lý do gì đặc biệt để lo lắng, bởi một “sức mạnh cao hơn” đã giữ cho vị trí quan sát của ông nguyên vẹn, còn để chống lại sự tàn phá của bụi và không khí ẩm thì đằng nào cũng chẳng thể làm được gì, vì ông biết “không có chiêu trò nào” chống lại được sự tàn lụi. Vì (sau này ông đã trách mình vì thế) ông hơi sửng sốt thấy - khi về nhà và lần đầu bước qua bậc cửa phòng mình -, sau mấy tuần không có người, tất cả đã phủ một lớp bụi mỏng, những sợi tơ mỏng của mạng nhện bắt đầu từ góc phòng gần như đã giăng kín cả trần nhà; nhưng ông lấy lại ngay được sự tự chủ, nhanh chóng mời tay nhân viên cứu thương - đang định cảm ơn ông một lần nữa vì món tiền boa kha khá - ra ngoài, rồi ông đi vòng quanh phòng, bắt đầu xem xét kĩ lưỡng “mức độ và tính chất” của sự hư hỏng. Ban đầu ông loại bỏ ý nghĩ quét dọn là “không cần thiết”, sau đó là “vô nghĩa”, vì - rõ ràng - bằng việc ấy, ông sẽ làm hư hỏng chính thứ mà biết đâu lại chẳng khiến ông quan sát kĩ càng hơn; thế là ông chỉ lau bàn và các thứ trên bàn, và giũ bụi sơ các tấm trải, và bắt tay ngay vào việc. Ông nhớ lại trạng thái cách đây mấy tuần, rồi ông xem các đồ vật - chiếc bóng đèn trần ở giữa trần nhà, công tắc điện, sàn nhà, các bức tường, cái tủ quần áo xộc xệch, đống rác trước cửa, so với các khả năng, ông cố gắng ghi lại một cách trung thành sự thay đổi. Ông làm suốt đêm hôm ấy, rồi gần như liên tục cả ngày hôm sau, và trừ những lúc ngủ gà gật vài phút, ông chỉ cho phép mình ngủ một giấc dài hơn hai tiếng khi cho rằng đã ghi chép xong tất cả một cách chi tiết. Xong việc, ông vui vẻ nhận thấy, sau khi nghỉ bắt buộc, sức khỏe, sức chịu đựng của ông không những không giảm, mà hình như còn tăng lên đôi chút; tuy khả năng chống lại các “hoàn cảnh gây nhiễu” của ông so với trước đây thì thuyên giảm trông thấy: trước đây nếu chăn tụt khỏi vai, hay cặp kính trượt xuống mũi, hay ngứa ngáy ngoài da hoàn toàn không làm ông bận tâm, thì nay một thay đổi nhỏ cũng khiến ông mất tập trung, và ông chỉ tiếp tục luồng suy nghĩ của mình, nếu trở lại được với “trạng thái ban đầu”, nếu loại bỏ được “những vặt vãnh khó chịu”. Nhờ sự sa sút này mà sáng nay sau hai ngày vật vã ông đã phải bỏ chiếc đồng hồ báo thức mua “chui” trong bệnh viện, thứ mà ban đầu ông định mua - sau khi mặc cả và cân nhắc khá lâu, để điều chỉnh lịch uống thuốc tuân thủ nghiêm ngặt thời gian biểu; nhưng ông không thể quen với tiếng tích tắc chói tai, đáng sợ của nó, ngón tay, ngón chân ông bất giác bắt theo nhịp gõ khó chịu của chiếc đồng hồ, và thế là - ngoài tiếng kêu kinh hãi của nó vào những thời điểm nhất định - ông còn phải chịu đựng thêm: ông buộc phải gật gật đầu theo nhịp điệu của cái đồng hồ ma quỷ kia nữa, ông cầm chiếc đồng hồ, mở cửa ra vào, giận run người, ném nó ra sân. Yên tĩnh trở lại, và lúc này, đã hàng giờ tận hưởng sự tĩnh lặng suýt đánh mất, ông không hiểu tại sao mình không làm thế sớm hơn, từ hôm qua, hay từ hôm kia. Ông châm thuốc, nhả khói một hơi dài, chỉnh sửa lại tấm chăn trượt sang một bên, rồi lại cúi xuống cuốn nhật ký. “Ơn Chúa, mưa không ngừng rơi. Sự phòng vệ hoàn hảo. Ta cảm thấy tạm ổn, dù do ngủ nhiều đầu óc hơi mụ mị. Tất cả mọi nơi yên tĩnh. Nhà lão đốc học bị đạp vỡ cửa và cửa sổ, không hiểu có chuyện gì, và vì sao lão ta không sửa.” Ông ngẩng đầu lên, nghe ngóng trong tĩnh lặng, rồi ánh mắt ông dừng lại trên bao diêm; trong một tích tắc ông có cảm giác dứt khoát nó sẽ trượt khỏi đỉnh bao thuốc lá. Ông nín thở theo dõi. Nhưng không có chuyện gì xảy ra. Ông pha một cốc rượu, nút lại hũ rượu, dùng một tấm giẻ thấm nước trên bàn, đẩy cái bình đựng nước - ông cũng mua ở Mopsz ba chục forint - về chỗ, và dốc hết chỗ rượu. Một sự uể oải dễ chịu ập xuống, trong chăn ấm, tấm thân mập của ông rũ ra, đầu ông ngật sang bên, mi mắt ông từ từ díu lại; nhưng giấc ngủ lơ mơ của ông không kéo dài lâu, vì những gì nhìn thấy khiến ông không thể chịu nổi quá vài phút: một con ngựa mắt lồi lao bổ vào ông, ông cầm một chiếc gậy sắt lấy hết sức - hoảng hốt - đập vào đầu nó, và ông đánh nó mãi không dừng được, dù đã cố gắng, cho tới khi nhìn thấy bộ óc lầy nhầy của nó trong hộp sọ vỡ toác... Ông lấy cuốn sổ có ghi ký hiệu FUTAKI từ chồng sổ xếp cẩn thận ở mép bàn, ghi thêm: “Gã không dám ra khỏi nhà để máy. Chắc gã nằm ườn trên giường, ngáy hay nhìn lên trần. Hoặc là gã nằm gõ gõ chiếc đèn ngủ bằng cây gậy cong, như một chú chim gõ kiến tìm sâu trong cây. Gã không hề biết, làm như thế là gã tạo ra điều mà gã vẫn sợ hãi. Ta sẽ có mặt trong đám tang mi, thằng dở người.” Ông lại pha thêm một cốc nữa, khổ sở uống hết, rồi uống liều thuốc buổi sáng bằng một ngụm nước. Hai lần trong phần còn lại của ngày hôm ấy - lúc trưa và lúc hoàng hôn - ông còn ghi lại “các điều kiện ánh sáng” ở bên ngoài, ông vẽ nhiều phác họa về các đường thoát nước liên tục thay đổi của khu đất, đúng lúc ông vừa xong đoạn viết về các trạng thái đặc trưng giả định trong căn bếp ngột ngạt của nhà Kráner - sau nhà Schmidt và nhà Halics - thì bỗng nhiên có tiếng chuông từ xa vọng lại. Ông nhớ rõ ràng hôm trước khi ông nhập viện ông đã nghe thấy những âm thanh này một lần, cũng như ông chắc chắn rằng lần này sự thính tai cũng không đánh lừa ông. Khi ông lật giở các ghi chép ngày hôm ấy (ông không tìm thấy dấu vết liên quan tới chuyện này, chắc ông đã quên, hoặc không gán cho nó tầm quan trọng đặc biệt), thì tiếng chuông cũng dứt... Ông lập tức ghi chép lại sự kiện hoàn toàn không thể hiểu nổi này, và xem xét một cách bao quát các giải đáp có thể: chắc chắn không có nhà thờ ở quanh đây, nếu không kể cái nhà nguyện đổ nát, hàng năm nay bỏ không trên đường mòn đi Hochmeis, khu trại thì ở xa thành phố tới mức có thể loại trừ khả năng có thể gió đưa từ đó tới đây. Trong một tích tắc ông chợt nghĩ, hay là Futaki, hoặc Halics, cũng có thể Kráner chơi trò gì đó trong lúc buồn chán, nhưng rồi ông cũng loại bỏ luôn khả năng đó, vì không một ai trong số họ có thể bắt chước tiếng chuông nhà thờ khéo léo đến thế... Nhưng thính giác tinh tế của ông không thể đánh lừa!... Hay vẫn có thể?... Có lẽ do khả năng đặc biệt ông đã trở nên nhạy cảm tới mức có thể khám phá ra tiếng chuông nhà thờ ở xa từ một âm thanh nhỏ ở gần?... Ông bối rối lắng tại trong im lặng, châm thuốc hút, sau một lúc lâu không thấy gì, ông quyết định sẽ ngừng việc này cho tới khi một tín hiệu mới nào đó sẽ giúp ông tìm lời đáp đúng. Ông mở một hộp đậu, ăn hết một nửa rồi đẩy ra, vì dạ dày ông không thể tiêu hóa được quá vài thìa. Ông quyết định, kiểu gì ông cũng sẽ thức trắng đêm, vì không thể biết, liệu những “tiếng chuông” lúc nãy có lặp lại hay không, và nếu lần tới chúng chỉ có thể nghe được trong chốc lát như vừa rồi, thì chỉ cần vài phút ngủ gật là đủ để ông bỏ qua chúng... Ông chuẩn bị một liều thuốc mới, uống vào buổi tối, rồi dùng chân đẩy chiếc va li khỏi gầm bàn, và chọn lựa trong đống tạp chí khá lâu. Ông lật giở, đọc đến sáng, nhưng ông đã thức qua đêm, đã cưỡng lại cơn buồn ngủ một cách vô ích, “tiếng chuông” không vang lên nữa. Ông đứng dậy, rời chiếc ghế, đi lại vài phút cho đỡ tê chân tay, rồi lại ngồi xuống, và đến khi ánh sáng xanh chiếu lên mặt kính cửa sổ, thì ông đã ngủ say. Đến gần trưa ông mới bừng tỉnh, mồ hôi đầm đìa; và cũng như những lúc khác, kể từ khi quen với những giấc ngủ dài, lần này ông cũng quay đầu sang hết bên này bên kia, tức giận rủa sả, bởi đã làm mất thời gian vì ngủ. Ông đặt ngay cặp kính lên mũi, đọc câu cuối cùng ghi trong nhật ký, rồi ngả người ra sau trên ghế, nhìn qua khe hở ra ngoài. Bên ngoài trời mưa nhỏ giọt, bầu trời xám xịt, u ám trùm lên khu trại, trước nhà Schmidt cây keo trụi lá ngả nghiêng trong gió lạnh. “Chúng chết cả rồi, - ông bác sĩ viết. - Hay chúng ngồi, chống khuỷu tay lên bàn ăn. Lão đốc học không khó chịu vì cửa ra vào và cửa sổ đều vỡ. Nếu mùa đông tới, mông lão sẽ đóng băng.” Bất chợt, như người bỗng ngộ ra điều gì, ông thẳng người trên ghế. Ông ngẩng đầu, mắt dán lên trần nhà, thở hổn hển; rồi cầm chặt cây bút chì... “Bây giờ ông ta đứng dậy, - ông viết như bị thôi miên, nhưng cẩn thận để khỏi làm hư giấy. - Ông ta gãi háng, vươn người. Đi vòng quanh phòng, ngồi xuống chỗ cũ. Ra đi giải, quay vào. Ngồi xuống. Đứng dậy.” Ông viết như lên cơn sốt, và ông không chỉ nhìn thấy, tất cả diễn ra đúng như thế ở bên kia, nhưng ông biết chắc chắn, rằng kể từ lúc này trở đi điều đó không thể khác. Vì từng bước một, ông nhận ra rằng công việc lâu dài, nhọc nhằn, dẻo dai của ông đã đến ngày kết trái: ông đã trở thành chủ nhân của một khả năng có một không hai, mà nhờ nó không chỉ bằng sự sẵn sàng viết ông có thể đối đầu với sự thách thức của các sự kiện luôn luôn đi theo một hướng, mà ở mức độ nào đó ông có thể xác định được cấu trúc cơ bản của các sự kiện có vẻ như quay vòng tự do!... Ông bật dậy từ điểm quan sát của mình, và với đôi mắt cháy sáng, ông hồi hộp đi đi lại lại từ góc này tới góc kia của căn phòng hẹp... Ông cố gắng tự trấn tĩnh, nhưng không thành công: sự nhận thức tới bất ngờ, nó lặng lẽ ập xuống khi ông chưa có sự chuẩn bị, trong những giây phút đầu tiên ông tưởng mình đã đánh mất đi sự tỉnh táo... Liệu có thể như vậy? Hay ta phát điên mất rồi?” Một thời gian khá lâu sau ông vẫn không thể trấn tĩnh được, cổ ông khô rát vì hồi hộp, tim ông đập loạn xạ, mồ hôi vã ra. Có một khoảnh khắc khi ông cảm thấy mình sắp nổ tung, ông không chịu nổi gánh nặng của các sự việc, cơ thể phát phì, kềnh càng khiến ông thở dốc trong căn phòng, đến khi cảm thấy khó thở, ông hổn hển ngồi phịch xuống ghế. Ông phải suy nghĩ lại bao nhiêu thứ trong cùng một lúc, và ông cứ ngồi trong căn phòng lạnh, trong ánh sáng chói, đầu óc gần như đau, sự hỗn loạn mỗi lúc một tăng... Ông thận trọng cầm bút chì, rút cuốn vở ký hiệu SCHMIDT, mở ra trang thích hợp, và ngập ngừng, như người có lý do để sợ “những hậu quả nghiêm trọng của việc mình làm”, ông viết câu tiếp theo: “Ông ta ngồi quay lưng vào cửa sổ, đổ bóng mờ mờ trên sàn nhà.” Ông nuốt nước miếng, đặt bút chì xuống, tay run run pha cho mình một cốc rượu nữa, đổ đi một nửa rồi uống nốt chỗ còn lại. “Trong lòng ông ta là một chiếc nồi đỏ, trong nồi là khoai tây nấu ớt. Ông ta không ăn. Ông ta không thấy ngon miệng. Phải đi giải, ông ta đứng dậy, tránh chiếc bàn ăn đi ra vườn qua cửa sau. Ông ta quay lại, ngồi xuống. Vợ Schmidt hỏi ông điều gì đó. Ông ta không đáp. Ông lấy chân đẩy dịch chiếc nồi đã đặt xuống sàn nhà ra xa. Ông không muốn ăn.” Ông bác sĩ châm thuốc hút với bàn tay vẫn còn run run, ông vuốt mồ hôi trán, rồi hai tay làm động tác bay, để xua mùi hôi nách. Ông chỉnh lại tấm mền trên vai. “Hoặc là ta mất trí, hoặc là ơn Chúa, chiều nay ta đã nhận rằng ta là chủ nhân của một sức mạnh quyến rũ. Chỉ bằng ngôn từ ta có thể xác định được cấu trúc của các sự kiện quanh ta. Trước mắt ta còn chưa đoán định được ta phải làm gì. Hay là ta đã mất trí...” Ông hoài nghi. “Tất cả chỉ là tưởng tượng...” - ông lẩm bẩm, và thử lại một lần nữa. Ông đẩy cuốn nhật ký sang bên, và lấy cuốn sổ ghi ký hiệu KRÁNER. Ông tìm đoạn ghi chép cuối cùng và lại bắt đầu viết như lên cơn sốt. “Ông ta nằm trong phòng, trên giường, để nguyên quần áo. Thò ủng ra ngoài để không làm bẩn tấm ga trải giường. Nóng ngột ngạt. Bên ngoài, vợ Kráner xủng xoảng với nồi niêu trong bếp. Kráner nói qua cửa để ngỏ. Vợ ông nói gì đó. Kráner bực mình quay lưng về phía cửa, vùi đầu vào gối. Ông ta nhắm mắt, cố ngủ. Ông ta ngủ.” Ông bác sĩ thở dài vẻ căng thẳng. Ông pha một cốc nữa, rồi nút hũ rượu lại, lúng túng nhìn quanh. Ông diễn đạt lại trong đầu với sự ngờ vực pha lẫn chút hốt hoảng, rằng “không nghi ngờ gì nữa, tới một mức độ nhất định của sự tập trung chú ý, ông ta có thể quyết định được điều gì xảy ra trong khu trại. Vì chỉ xảy ra điều đã được diễn đạt thành khái niệm. Chỉ có điều, dĩ nhiên, với ta hoàn toàn mù mờ, ta định hướng như thế nào, bởi vì…” Đúng trong giây phút ấy ông lại nghe thấy “những tiếng chuông”. Ông chỉ có đủ thời gian để nhận định, buổi tối qua ông không lầm, ông đã nghe thấy những “âm thanh” thật, nhưng ông không đủ thời gian để xác định những tiếng âm vang đó từ đâu tới, vì vừa tới chỗ ông bác sĩ chúng đã mất hút trong sự tĩnh lặng, và khi tiếng chuông cuối cùng vụt tắt, ông cảm thấy một sự trống trải trong tâm hồn, như thể ông vừa đánh mất một điều gì quan yếu. Từ những âm thanh xa xôi, lạ kỳ kia ông cảm thấy mình vừa nghe thấy “nhạc điệu tưởng chừng đã mất của hy vọng”, gần như một sự an ủi vô hình, những ngôn từ tuyệt đối không thể hiểu nổi của một thông điệp có ý nghĩa quyết định, mà từ đó, ở đây, chỉ có thể hiểu được rằng, nó có nghĩa là “một điều tốt lành nào đó, và nó còn xác định các khả năng bất ổn của ta...” Thế là ông tạm ngừng những ghi chép cuốn hút của mình, khoác vội áo choàng, nhét thuốc lá, diêm vào túi, vì lúc này ông cảm thấy việc quan trọng nhất là tìm ra nguồn cội của những âm thanh kỳ lạ kia. Chếnh choáng một giây khi bước ra không khí thoáng đãng, ông dụi mắt vì chói, rồi - để tránh sự chú ý của những cư dân của khu trại ngồi lì trong nhà - ông đi ra qua cổng dẫn vào vườn sau, và rảo bước thật nhanh. Khi đến chỗ nhà xay, ông chững lại, vì không biết mình đi có đúng hướng hay không. Ông bước qua cái cổng khổng lồ của nhà xay, và từ một tầng trên nào đó ông nghe có tiếng cười rúc rích. “Lũ con gái nhà Horgos.” Ông bước ra cửa. Chần chừ nhìn quanh, chưa biết làm gì. Đi vòng qua khu trại, về phía Szikes?... Hay đi trên đường đá về phía quán rượu? Hay nên thử đi về phía lâu đài Almassy? Hoặc ở lại đây, đợi trước nhà xay, biết đâu “tiếng chuông” lại vang lên? Ông châm thuốc, hắng giọng, và vì không quyết định nổi: đi hay ở, ông sốt ruột đứng loanh quanh một chỗ. Ông nhìn những cây keo quanh tòa nhà lớn, rùng mình trong gió lạnh, và nghĩ, cuộc dạo chơi bất chợt này liệu có ngu ngốc, liệu ông có vội vàng quá hay không, vì giữa hai lần nghe thấy tiếng chuông là cả một đêm, sao ông lại nghĩ sẽ nghe thấy nó trong chốc lát... Ông đã nghĩ sẽ quay lại, đi về, rồi đợi chúng ở trong nhà, dưới lớp chăn ấm, tới khi một điều gì đó sẽ diễn ra, nhưng đúng lúc ấy thì “tiếng chuông” lại vang lên... Ông vội vàng ra khu đất trống trước nhà xay, và lần này ông đã thành công ở mức nào đó trong việc giải mã điều bí ẩn: “tiếng chuông” dường như đến từ phía bên kia con đường đá (“Như thể từ lối mòn đi Hochmeiss...), và giờ đây ông không chỉ xác định được hướng nó tới, mà lại một lần nữa ông bị thuyết phục rằng, tiếng vang này là một thông điệp không thể hiểu sai, một lời mời gọi khích lệ, hay một lời hứa hẹn, không phải sản phẩm của trí tưởng tượng bệnh hoạn của ông, không chỉ là trò chơi giả tạo của cảm xúc bất chợt... Ông hăng hái lao về phía con đường đá, vượt qua nó, và không để ý tới bùn, vũng nước, ông đi về phía đường đất đi Hochmeiss, “trong tim chứa đầy khao khát, niềm tin và hy vọng”... Ông cảm thấy “tiếng chuông” này bù đắp cho ông vì tất cả những khổ ải trước đó, vì những gì số phận đã giáng xuống ông, phần thưởng xứng đáng cho sự kiên trì dẻo dai của ông... Và sau này nếu ông hiểu chính xác hơn sự khích lệ này, thì chắc chắn ông sẽ thành công trong việc làm chủ một sức mạnh đặc biệt, ông sẽ có khả năng mang lại cho “sự nghiệp của con người” một động năng mới cho tới lúc đó chưa từng biết... Ông mừng như một đứa trẻ, khi ở cuối con đường mòn đi Hochmeiss ông nhìn thấy cái nhà nguyện nhỏ, xiêu vẹo, và dù ông không biết rằng nó đã bị hư hại trong cuộc chiến gần đây nhất, và từ đó trong công trình nhỏ kia không một dấu hiệu nào của sự sống ấy có sót lại chuông hay bất cứ thứ gì khác, thì lúc này tại sao ông lại cho rằng, điều đó là không thể tưởng tượng nổi... Vì nhiều năm nay không ai qua lại đây, nếu không kể đến một, hai đứa dở người đã trú ngụ qua một đêm ở đây... Ông đứng trước cổng chính của nhà nguyện, và thử mở cánh cửa, nhưng dù đã đẩy, giật mạnh, tì cả người vào cũng không ăn thua, nó không hề xê dịch. Ông đi vòng quanh ngôi nhà, và tìm thấy một cánh cửa rất nhỏ đã mục trên bức tường lở loét; ông đẩy nhẹ và cánh cửa cót két mở ra. Ông cúi đầu, bước vào nhà nguyện: mạng nhện, bụi bẩn, hôi thối và bóng tối, khu chỗ ngồi chỉ còn vài chiếc ghế băng gãy nát, bệ thờ còn thảm hại hơn thế, sập nát gần hết, nền gạch tróc lở mọc đầy cỏ dại. Đột nhiên ông quay lưng lại, vì hình như ông nghe có tiếng thở hổn hển từ góc nhà cạnh cửa chính. Ông bước lại gần, và nhìn thấy một bóng người trước mặt: một người đàn ông già nua, nhăn nheo, run rẩy vì sợ hãi, co quắp nằm trên mặt đất, hai mắt sáng rực lên trong bóng tối. Thấy đã bị phát hiện, người đàn ông ực lên một tiếng, và bò sang góc nhà đối diện. “Ông là ai?” - ông bác sĩ hỏi dứt khoát, sau khi chế ngự được sự sợ hãi. Con người bé nhỏ kia không đáp, ông ta co rúm người lùi vào góc nhà, căng người sẵn sàng bật dậy. “Ông không hiểu tôi hỏi sao?! - Ông bác sĩ cao giọng. - Ông là ai?!...” Ông già lí nhí không nghe rõ, và đưa tay lên che mặt tự vệ. Rồi ông ta khóc. Ông bác sĩ quát to. “Ông làm gì ở đây? Bị truy nã à?” Và khi ông già bé nhỏ đã gần như thôi khóc, ông bác sĩ đã hết kiên nhẫn. “Ở đây có chuông không?” - ông gầm lên. Ông già hốt hoảng đứng dậy, trong một tích tắc ông thôi không khóc nữa, và bắt đầu khua tay. “U-ông! U-ông! - ông ta ú ớ, và ra hiệu cho ông bác sĩ đi theo. Ông ta mở một cánh cửa nhỏ ở một hốc lõm cạnh cửa chính, và chỉ lên trên. “U-ông! U-ông!” “Lạy Đức cha! - Ông bác sĩ lẩm bẩm. - Một gã thần kinh! Ông đã trốn ở đâu ra thế, đồ dở người?” Ông già đi trước, ông bác sĩ đi sau vài bậc thang, chú ý đi sát vào tường, để cái cầu thang mục, kêu cọt kẹt đáng sợ, không sập xuống vì nặng. Khi họ lên đến chỗ cái tháp chuông nhỏ, chỉ còn lại một bức tường gạch, chỏm tháp từ lâu đã bị bão hay một quả bom thổi bay, trong một tích tắc ông bác sĩ tỉnh hẳn từ trạng thái “ngây ngất bệnh hoạn và nực cười” đã duy trì từ mấy giờ liền. Một chiếc chuông nhỏ treo giữa tháp chuông trần trụi, bởi một thanh ngang một đầu tì trên đỉnh bức tường gạch, đầu kia gác lên tay vịn cầu thang. “Làm sao ông đặt được cái xà lên trên đó?” - Ông bác sĩ hỏi. Ông lão đứng im nhìn một lúc, rồi bước lại gần quả chuông. “U-ên o tu-ếch! Và U-ên o tu-ếch! U-ên o tu-ếch ,” - ông rít lên bằng thứ tiếng không thể hiểu nổi, rồi hốt hoảng gõ vào quả chuông bằng một thanh sắt. Ông bác sĩ tái mặt đứng dựa vào tường, chỗ lối đi xuống. “Dừng lại! Dừng lại ngay!” Nhưng ông lão càng lúng túng hơn. “U-ên o tu-ếch! Và U-ên o tu-ếch! U-ên o tu-ếch “ - ông lão bướng bỉnh nhắc lại, và gõ chuông còn mạnh hơn trước. “Mẹ kiếp, đồ điên!” - Ông bác sĩ quát, rồi dồn sức leo xuống bậc thang, bước nhanh ra ngoài, cố gắng rời khỏi nơi này càng nhanh càng tốt, để khỏi phải nghe giọng nói ú ớ, mông muội, ghê sợ của ông lão, còn vang theo ông như tiếng kèn tắc nghẹn đến tận con đường đá. Trời đã sẩm tối khi ông về tới nhà, và ngồi vào vị trí quan sát của mình bên cửa sổ. Ông chỉ lấy lại được sự bình tĩnh rất chậm, từng phút từng phút một, rồi đến lúc tay ông đã đỡ run đến mức có thể nhấc lên một hũ rượu, thì ông pha cho mình một cốc, và châm một điếu thuốc. Ông uống một hơi hết chỗ rượu, kéo cuốn sổ nhật ký lại gần, và thử diễn tả bằng ngôn từ những điều trước đó ông vừa trải qua. Ông nhìn tờ giấy, vẻ cay đắng, và ông viết: “Một sai lầm không thể tha thứ. Tôi đã lẫn lộn giữa Tiếng chuông Âm vang của Trời với tiếng chuông gọi linh hồn. Một kẻ lang thang bẩn thỉu! Một gã thần kinh trốn trại! Tôi đúng là một con bò!” Ông kéo tấm chăn đắp, ngả người ra sau ghế, nhìn ra vườn. Bên ngoài trời lất phất mưa. Ông dần lấy lại được sự tự tin. Ông nhớ lại các sự kiện xảy ra vào buổi chiều, “giây phút giác ngộ của ông”, rồi rút ra cuốn vở đánh dấu VỢ HALICS. Ông mở đúng trang đang ghi chép dở, và bắt đầu viết. “Mụ ngồi trong bếp. Trước mặt mụ là Kinh Thánh, mụ đọc nhỏ. Mụ đứng dậy. Đói. Mụ ra chỗ buồng để thức ăn, quay lại với xúc xích, thịt hun khói, bánh mì. Mụ bắt đầu nhai thành tiếng, cắn cả bánh mì. Thỉnh thoảng lật trang Kinh Thánh.” Dù công việc ảnh hưởng tốt tới ông bác sĩ, thế nhưng, sau khi đọc những gì đã viết trong các cuốn vở đề SCHMIDT, KRÁNER, VỢ HALICS, ông buồn bã nhận thấy mình đã làm hỏng hết. Ông đứng dậy, đi lại trong phòng, thỉnh thoảng dừng lại vẻ đăm chiêu, xong lại đi tiếp. Rồi ông nhìn quanh phòng, ánh mắt ông dừng lại trên cánh cửa. “Chết thật!” - ông bật ra, sau đó lôi ra từ đáy tủ quần áo một hộp đinh, rồi cầm mấy chiếc đinh trong lòng tay, tay kia cầm búa ông tiến lại gần cửa, mỗi lúc một giận dữ hơn đóng mạnh lên mặt cầu đinh, ghim cánh cửa lại ở tám chỗ. Rồi ông quay lại vị trí quan sát, đã bình tĩnh hơn, kéo các tấm đắp lên lưng, trộn một cốc rượu mới, sau một lát suy nghĩ, với tỉ lệ một nước một rượu. Ông đăm chiêu suy nghĩ, rồi bỗng nhiên lấy ra một cuốn vở mới, mắt sáng lên. “Trời mưa, khi...” - ông viết, nhưng ông lắc đầu, gạch đi hết. “Khi Futaki thức dậy, ngoài trời mưa như trút và...” - ông thử lại, nhưng thấy cả câu sau cũng dở òm. Ông xoa chóp mũi, chỉnh lại cặp kính, rồi chống khuỷu tay lên bàn, và tựa đầu lên hai bàn tay. Như một bức tranh rõ nét huyền diệu, ông nhìn thấy toàn bộ con đường đợi ông phía trước, thấy sương mù chầm chậm kéo lên từ hai phía, và ở giữa là một dải mỏng với một gương mặt rạng rỡ của tương lai, các đường nét của nó mang những dấu hiệu địa ngục của sự chết chìm. Ông lại với bút chì, và lần này ông cảm thấy mình đi đúng mạch; vở ghi chép vẫn còn, rượu, thuốc uống còn đủ dùng có khi đến mùa xuân, và tới khi nào những chiếc đinh trên cửa chưa hỏng, sẽ không có một ai quấy rầy ông. Cẩn thận để khỏi làm hỏng giấy, ông bắt đầu viết:
“Một buổi sáng cuối tháng Mười, trước khi những giọt mưa mùa thu dai dẳng rơi xuống mặt đất khô khốc, nứt nẻ bên sườn phía đông của khu trại (để rồi cái biển bùn hôi thối biến những con đường mòn trở thành không thể đi lại nổi cho tới khi nó đóng băng lại lần đầu tiên, và thành phố cũng trở nên không thể tiếp cận nổi), Futaki thức giấc, và nghe thấy tiếng chuông ngân. Gần đây nhất, cách bốn cây số về phía tây nam, ở khu đất Hochmeiss cũ có một nhà nguyện đơn độc, nhưng ở đó làm gì có chuông, ngay cả tháp cũng đã sập từ thời chiến tranh, thành phố thì ở cách đây quá xa để từ đó có thể vọng tới đây bất cứ tiếng động nào. Và hơn nữa, những tiếng bing boong âm vang này không gợi nhớ đến tiếng chuông từ xa vọng lại, và có vẻ gió đưa chúng lại từ đâu đó rất gần (“Hình như từ phía cối xay...”). Gã chống khuỷu tay lên gối, nhìn qua cái lỗ nhỏ bằng con chuột trên cửa sổ bếp, nhưng phía sau tấm kính mờ vì hơi nước, khu trại tắm trong thứ ánh sáng xanh lúc trời rạng sáng và tiếng chuông mỗi lúc một nhỏ dần vẫn im lặng, chưa thấy động tĩnh gì: phía bên kia, trong số các ngôi nhà đứng tách xa nhau, chỉ thấy ánh sáng lọt qua cửa sổ đã buông rèm của nhà ông bác sĩ, cũng chỉ bởi chủ nhân của căn nhà, từ nhiều năm nay, không thể nào ngủ được trong bóng tối. Gã nín thở để lắng nghe dù chỉ một âm thanh lạc điệu duy nhất trong tiếng chuông đang lịm dần, vì muốn biết sự thật (“Chắc ngươi còn đang ngái ngủ, Futaki...”), và để biết, gã cần đến mỗi tiếng động, dù đó là một âm thanh côi cút. Bằng những bước chân mềm, nhẹ như mèo gã tập tễnh đến bên cửa sổ trên nền gạch lát nền bếp lạnh như băng (“Không ai thức giấc cả sao? Không ai nghe thấy gì? Không một ai?”), gã mở cánh cửa sổ, thò đầu ra ngoài. Không khí lạnh buốt, ẩm ướt ập tới, khiến gã nhắm mắt lại trong tích tắc; trong tiếng gà gáy, tiếng chó sủa vu vơ từ xa và tiếng rít dữ dội của cơn gió mới nổi lên trước đó mấy phút, gã hoài công dỏng tai nghe, gã chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng đập của trái tim mình, dường như tất cả chỉ là trò đùa ma quỷ của giấc mơ trong lúc nửa mê nửa tỉnh, như thể (“có ai đó muốn dọa ngươi”). Gã chán nản nhìn bầu trời như một điềm gở, những thứ khô cháy còn lại sau một mùa hè bị nạn châu chấu tàn phá, và bất chợt gã như thấy cả bốn mùa xuân hạ thu và đông lướt qua trên ngọn cây keo, như thể gã cảm thấy tất cả thời gian chỉ làm trò trong quả cầu bất động của sự vĩnh hằng, một trò ảo thuật khéo léo để tạo ra một thứ trật tự từ sự hỗn loạn, để biến sự điên loạn thành cần thiết... và gã nhìn thấy bản thân mình, trên cây thập ác của chiếc nôi và chiếc quan tài của chính gã, đau đớn rùng mình một cái, để cuối cùng tự giao nộp mình - hoàn toàn trần trụi và không một dấu vết nhận dạng - cho những kẻ tắm rửa xác chết, những kẻ thực hiện công việc trong một bầu không khí lạnh lùng trên cái nền cảnh ồn náo nơi những kẻ tra tấn hành hạ da thịt con người, nơi gã phải nhìn nhận một cách không thương tiếc tình trạng con người, mà không có dù chỉ một lối mòn duy nhất dẫn gã quay trở lại, và khi đó thì gã biết rằng, gã đã dính vào ván bài với bọn cờ bạc bịp, ván bài đã được dàn xếp trước từ lâu, và đến cuối thì chúng đã tước đi của gã cả thứ vũ khí cuối cùng là hy vọng, rằng có lúc gã sẽ tìm thấy con đường trở về nhà. Gã quay đầu sang bên, về phía những ngôi nhà nằm ở phía đông của trang trại, một thời đông đúc và náo nhiệt, hiện giờ đổ nát và hoang tàn, và gã cay đắng nhìn những tia nắng đầu tiên của vầng mặt trời phồng to, đỏ rực chiếu qua giữa những thanh xà trên nóc một ngôi nhà trơ trọi, xiêu vẹo. ‘Cuối cùng thì đã đến lúc ngươi phải quyết định. Ngươi không thể ở lại đây.’ Gã quay lại, chui vào tấm chăn ấm, gối đầu lên cánh tay, nhưng gã không nhắm mắt được nữa: tiếng chuông ma quỷ làm gã sợ, sự yên lặng bất chợt này còn đáng sợ hơn, sự im ắng đe dọa này, vì gã cảm thấy sau đây mọi chuyện đều có thể xảy ra. Nhưng chẳng có gì động đậy, và gã cũng không động đậy trên giường, cho tới khi những đồ vật xung quanh gã bỗng nhiên bắt đầu một cuộc đối thoại kỳ lạ nào đó...”
Hết
Chỉ viết một quyển sách trong suốt cuộc đời cầm bút
Giáp Văn Chung
Ngày 18-5-2015, nhà văn Hungary Krasznahorkai László đã được trao Giải thưởng quốc tế Man Booker (Man Booker International Prize). Trong lễ trao giải, bà Marina Warner, Chủ tịch Hội đồng giám khảo, đánh giá Krasznahorkai László là “nhà văn có sức mạnh nội tâm và thang điệu đặc biệt, giàu ảo ảnh và trí tưởng tượng, người đã ghi lại cuộc sống hiện hữu trong những tình tiết kinh hoàng, kỳ lạ, khôi hài đến bất ngờ và nhiều khi đẹp tới xúc động”. Bà Marina Warner nhận xét ba tác phẩm Az ellenállás melankóliája (The Melancholy of Resistance), Sátántangó (Satantango) và Sieobo járt odalent (Sieobo there below) là các tác phẩm tuyệt vời được xây dựng trên trí tưởng tượng sâu sắc và những đam mê phức tạp.
KIẾM TÌM TRONG MÊ LỘ
Krasznahorkai László sinh ngày 5-1-1954 tại Gyula, một thành phố miền đông nam Hungary. Ông từng theo học luật tại Trường ELTE (Đại học Tổng hợp Hungary) và nhận bằng ngôn ngữ Hung và sư phạm. Những bài viết đầu tiên của ông được đăng vào năm 1977 trên tạp chí Mozgó Világ (Thế Giới Vận Động), từ 1977-1982 ông làm việc tại NXB Gondolat (Tư tưởng) và từ năm 1982 là nhà văn tự do.
Krasznahorkai là chủ nhân của nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế, trong đó có giải Kossuth (2004) là giải thưởng cao nhất về văn học nghệ thuật của Hungary. Năm 1993, tác phẩm Az ellenállás melankóliája (The Melancholy of Resistance) của ông đoạt giải Bestenliste-Preis cho sách hay nhất trong năm tại Đức. Năm 2003, ông lọt vào danh sách rút gọn (nằm trong số ít cuối cùng) các nhà văn được đề cử giải Nobel Văn chương. Năm 2014, Krasznahorkai László được trao tặng giải thưởng America award in literature, một giải thưởng “đối ngã” (alternative) với giải Nobel Văn chương.
Các tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, được giới phê bình văn học quốc tế đánh giá cao và rất được ưa chuộng ở các nước phương Tây như Đức, Mỹ, Anh và Nhật Bản. Nữ nhà văn Mỹ Susan Sontag gọi ông là “bậc thầy Hungary khiến người ta nhớ tới Gogol và Melville tiên tri”, còn W.G. Sebald, nhà văn Đức, thì nhận xét: “thiên cảm toàn năng của những hình tượng mà Krasznahorkai László xây dựng rất gần gũi với Những linh hồn chết của Gogol, và nó giải tỏa mọi mối nghi ngại liên quan tới văn học đương đại của chúng ta.”
Krasznahorkai có lối hành văn khác lạ, rắc rối, trùng lặp, câu văn dài lê thê, dồn dập như những dòng nham thạch phun ra từ ngọn núi lửa sôi sục là tâm hồn và trí tưởng tượng của ông. Văn ông không dễ đọc, ngay cả đối với người Hungary, các nhà phê bình, văn giới và bạn đọc Hungary cũng đánh giá về ông rất khác nhau. Bên cạnh những nhìn nhận tích cực, nhiều ý kiến cho rằng ông có cái nhìn bi quan, tiêu cực về thế giới hiện tại và tương lai của nền văn minh nhân loại.
Nhưng ông tự cho mình là người đứng ngoài dòng chảy của văn chương chủ đạo Hungary và dường như ông ít quan tâm đến những điều đó. Ông luôn tự hoài nghi không biết mình có đích thực là một nhà văn hay không. Theo ông, thật ra suốt cuộc đời cầm bút ông chỉ viết một cuốn sách, chỉ theo đuổi, chỉ đi tìm một hình ảnh mập mờ, một ảo ảnh, lúc ẩn lúc hiện, có khi không thực nào đó.
Ông nói: “Các nhân vật của tôi tìm kiếm không mệt mỏi và sẽ còn tìm kiếm trong một mê lộ, mê lộ đó không gì khác hơn là nơi họ mắc sai lầm và là nơi con người ta chỉ có thể có một mục đích duy nhất: hiểu ra sai lầm này và cấu trúc của nó. Họ trực tiếp đi tìm nguyên nhân sự bất an của mình, đi tìm phương thuốc chữa lành nỗi đau của mình, hay ít ra cũng để nhận ra rằng không có phương thuốc nào cho vết thương của họ...”
NHÀ VĂN XÊ DỊCH
Krasznahorkai László là nhà văn xê dịch nhiều, cuộc đời ông liên tục là những chuyến đi xa, những chuyến khám phá các miền đất lạ. Chẳng hạn để viết tiểu thuyết Háború és Háború (War and war, 1999), ông đã bỏ ra hàng tháng trời đi khắp nhiều nước châu Âu và Mỹ, đến hầu hết địa danh mà ông đề cập trong cuốn sách. Từ đầu những năm 1990, sau khi Hungary thay đổi thể chế chính trị, ông thường xuyên thay đổi chỗ ở. Lúc ở Hung, khi quay sang Đức, khi ở Pháp, Tây Ban Nha, Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Ý, Hy Lạp, Trung Quốc và Nhật Bản.
Quan tâm đặc biệt tới văn hóa Á Đông cổ đại, ông đã nhiều lần tới Mông Cổ, Trung Quốc và Nhật Bản, có những chuyến đi kéo dài tới nửa năm trời. Rất mê Lý Bạch và thơ Đường, ông đã đi bằng tàu hỏa, tàu thủy và cả đi bộ qua những vùng mà ông gọi là “Trung Hoa cổ điển” như quê hương Khổng Tử và Lý Bạch, tiếp xúc với nhiều người dân Trung Quốc đủ các tầng lớp. Ông đã hỏi trực tiếp khoảng 300 người Trung Quốc chỉ duy nhất một câu hỏi: Ngày nay, đối với họ, Lý Bạch có ý nghĩa gì?
Sau các chuyến đi Trung Quốc, ông đã hoàn thành tiểu thuyết Az Urgai Fogoly (The prisoner of Urga, 1993) và sau các chuyến đi Nhật Bản ông đã viết tiểu thuyết Északról hegy, Délrõl tó, Nyugatról utak, Keletrõl folyó (From the north by hill, From the south by lake, From the west by roads, From the east by river, 2003).
Krasznahorkai László là một nhà văn có cá tính rất đặc biệt, một trong số ít những tên tuổi lớn đáng chú ý, một ngôi sao có ánh sáng khác lạ trên bầu trời văn chương đương đại Hungary. Người viết những dòng này cũng đang “đánh vật” với một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông - tiểu thuyết Háború és Háború, nơi có khi cả chương chỉ có một câu, hy vọng một ngày không xa độc giả Việt Nam sẽ có dịp thưởng thức món ăn tinh thần rất khác lạ nhưng hết sức thú vị của ông “đầu bếp phù thủy” thượng thặng này.
(Bài đã đăng trong Tuổi trẻ Cuối tuần và TTonline O3-06-2015)