Vũ Điệu Quỷ Satan

Lượt đọc: 79 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
III. BIẾT MỘT ĐIỀU GÌ ĐÓ

❊ ❊ ❊

Với sự kết thúc của thời kỳ Paleozoic[1], khu vực trung Âu bắt đầu quá trình lún. Trong đó dĩ nhiên có cả vùng đất Hungary của chúng ta. Trong quá trình thay đổi địa chất, các ngọn núi hình thành thời kỳ Paleozoic ngày một chìm sâu và bị bao phủ bởi lớp bùn biển. Do quá trình lún, diện tích của nước Hungary trở thành một phần đại dương bao phủ Nam Âu, trở thành vùng vịnh Tây-Bắc của nó. Biển ngự trị suốt thời kỳ Mesozoic[2]. Ông bác sĩ cau có ngồi cạnh cửa sổ, tựa vào bức tường ẩm và lạnh, và ông cũng chẳng cần nghiêng đầu giữa tấm rèm hoa bẩn thỉu mà mẹ ông để lại và khung cửa sổ mục nát để nhìn ra khu trại, chỉ cần ngẩng lên khỏi quyển sách, chỉ cần liếc mắt một cái, để có thể nhận ra sự thay đổi nhỏ nhất, và nếu có khi vẫn xảy ra chuyện này chuyện nọ, chẳng hạn như có thể là ông mải suy nghĩ, hay như ông ở một điểm cách xa nơi này, mà ông bỏ qua việc gì đó, thì thính giác cực kỳ bén nhạy của ông sẽ giúp ông; nhưng ít khi ông chìm vào trong ý nghĩ, và còn ít hơn những lần ông rời khỏi chiếc ghế tựa được lót bằng áo khoác lông và các tấm đệm nhồi, mà vị trí của nó được xác định bởi những trải nghiệm dựa trên các hoạt động hằng ngày, ông đã thành công trong việc giảm thiểu số lượng các trường hợp mà vì chúng ông phải rời bỏ vị trí quan sát bên cửa sổ. Điều này dĩ nhiên không phải là một nhiệm vụ dễ dàng mà ông có thể thực hiện được ngày một ngày hai. Trái lại: ông phải gom và sắp xếp tối ưu nhất tất cả các đồ vật cần thiết để ăn, để uống, để hút, để ghi nhật ký, để đọc và cần thiết cho vô vàn thứ việc lặt vặt không đếm xuể, thậm chí ông phải từ bỏ cả việc mặc kệ tiểu tiết trôi qua - hoàn toàn do thói nương nhẹ bản thân - không bị trừng phạt; bởi vì cuối cùng, nếu làm như vậy, là ông hành động chống lại bản thân mình: sự sai sót minh chứng bằng thói lơ đãng hay không chú ý sẽ làm tăng hiểm họa, và kéo theo những hậu quả nghiêm trọng hơn, so với khi người ta suy nghĩ hời hợt: một cử chỉ thừa liệu có cho thấy sự lúng túng bắt đầu hay không; một bao diêm hay một chén uống rượu để không đúng chỗ bản thân nó đã là vật tưởng niệm những hiệu quả hủy hoại của chứng mất trí nhớ, ấy là chưa nói tới buộc phải có những thay đổi tiếp theo: lần lượt bao thuốc, quyển vở, con dao và chiếc bút chì sẽ dịch chuyển sang chỗ khác, và cùng với nó “tất cả hệ thống của các động tác tối ưu” sẽ thay đổi, hỗn loạn hết, hỏng hết. Không phải một lúc mà ông đã tạo ra điều kiện tối ưu để quan sát, không; hàng năm trời, mỗi ngày hệ thống lại được mài giũa tinh xảo hơn - qua bao nhiêu tự dằn vặt, trừng phạt và qua các đợt sóng ghê sợ của những sai lỗi liên tục, nhưng sau sự lúng túng gây ra bởi các nỗi hoài nghi ban đầu và cơn tuyệt vọng thỉnh thoảng lại trỗi dậy thì đến một lúc khi ông đã không cần phải kiểm tra riêng biệt từng động tác của mình, các đồ vật được nằm đúng chỗ cuối cùng của chúng và ông có thể điều khiển các chi tiết nhỏ nhất trong hành động của mình một cách dứt khoát mà không cần dùng tới thị giác, và ông có thể tự thú với mình, mà không cần lừa dối bản thân, hay bị cho là tự phụ, rằng cuộc sống của ông có thể được vận hành hoàn hảo. Dĩ nhiên sau tất cả những thành quả này vẫn cần hàng tháng trời để nỗi sợ hãi thoát khỏi con người ông, vì ông biết rằng, dù bằng cách đó ông đã đặt nền móng hoàn hảo cho vị trí của mình ở đây, thì trong việc cung cấp thức ăn, rượu, thuốc lá và các thứ không thể thiếu khác - rất tiếc là - ông phải nhờ những người khác. Nỗi lo lắng của ông về bà vợ Kráner, người được ủy nhiệm mua thực phẩm và các nghi ngại ông cảm thấy đối với ông chủ quán rượu tỏ ra không có cơ sở: người đàn bà chính xác tỉ mẩn, thậm chí ông đã thành công trong việc khiến bà ta bỏ thói quen quấy rầy ông vào những khoảnh khắc bất ngờ nhất (“Chỉ để nó khỏi nguội mất, thưa bác sĩ!”) bằng một vài món ăn mà ở khu trại được coi là hiếm hoi. Còn đồ uống thì chính ông mua với số lượng lớn và cứ cách một khoảng thời gian dài, hoặc - thường xuyên hơn - với một chút lộc, ông giao cho lão chủ quán rượu thực hiện, vì lão sợ ông bác sĩ tính khí thất thường sẽ có ngày mất lòng tin vào lão, mà như thế lão sẽ mất một khoản thu chắc chắn, nên lão cố gắng đáp ứng cả những yêu cầu có vẻ nhỏ nhặt nhất, nhiều khi đúng là dở hơi của ông. Hai người này thì ông không phải ngại, còn những người khác của khu trại thì từ lâu đã bỏ thói quen, rằng với lý do một cơn sốt cao, cơn đau dạ dày hay bị thương bất chợt họ lại gõ cửa mà không báo trước, vì tất cả bọn họ đều biết cùng với việc bị cấm hành nghề, thì chuyên môn y khoa và độ đáng tin của ông cũng mất. Điều này - dù rõ ràng hơi quá - nhưng không phải hoàn toàn không có cơ sở: ông sử dụng phần lớn sức lực vào việc duy trì nguyên vẹn trí nhớ mong manh của ông, và ông để mọi thứ thừa thãi rơi rụng hết. Mặc dầu vậy ông thường xuyên sống trong lo lắng, như ông hay ghi vào nhật ký: “Bọn này có thể làm mọi chuyện!”, vì vậy khi nhìn thấy bà vợ Kráner, hay lão chủ quán rượu trên bậc cửa, ông im lặng chú ý họ đến mấy phút, ông nhìn sâu vào mắt họ, để qua độ nhanh của những cái liếc mắt xuống đất hay sang hai bên của họ, qua sự thay đổi tỉ lệ chung của sự nghi ngại, sự tò mò và sợ hãi tỏa ra từ mắt họ mà xác định xem từ nay họ có muốn giữ mình đúng theo như thỏa thuận, là cơ sở cho quan hệ làm ăn của ông với họ, rồi ông mới nháy mắt ra hiệu cho họ lại gần hơn. Ông chỉ hạn chế ở mức những gì cần thiết nhất, ông không cả đáp lại lời chào của họ, ông chỉ nhìn thoáng vào những túi xếp đầy các thứ, rồi chăm chú nhìn những cử chỉ vụng về của họ, ông nghe những yêu cầu hay những lời giải thích vớ vẩn của họ với vẻ mặt cau có và sốt ruột, khiến họ (đặc biệt là bà vợ Kráner) thường nói năng lập bập chẳng ra lời, họ cầm lấy số tiền đã đếm trước vội vàng mà không đếm lại, vội vã ra ngoài. Ít nhiều thì đó cũng là lý do vì sao ông xa lạ với khu vực gần cửa ra vào; vì ông cảm thấy khó chịu thật sự - ông đau đầu hay bất chợt lên cơn khó thở, nếu có lúc (chủ yếu vì sự cẩu thả của hai người kia) ông phải đứng dậy khỏi ghế bành để lấy một thứ gì đó từ phía góc phòng; những lúc như thế (sau một hồi đắn đo khá lâu từ trước) ông cố xong việc thật nhanh, nhưng đến khi quay lại chỗ ngồi, thì ông đã hỏng cả ngày hôm đó: một sự bất an sâu sắc không thể giải thích nổi chế ngự ông, chiếc cốc hay cây bút chì run rẩy trong tay ông, và ông ghi chép những điều căng thẳng vào nhật ký, sau đó đương nhiên là ông giận dữ, thô bạo gạch bỏ. Sau đó thì không có gì lạ, nếu trong cái góc đáng nguyền rủa đó của căn phòng mọi thứ rối tung hết cả lên: bùn được tha vào đã khô thành một lớp dày trên nền nhà mục nát, chỗ chân tường bên cạnh cửa cỏ dại mọc lên, phía bên phải một chiếc mũ bị giẫm bẹp gần như không thể nhận ra nữa, xung quanh rải rác vụn thức ăn, các túi nylon, mấy lọ đựng thuốc, giấy xé từ vở, đầu mẩu bút chì. Ông bác sĩ - theo một số người thì có lẽ trái ngược hẳn với sự ngăn nắp có thể nói là quá đáng, bệnh hoạn của ông - chẳng làm gì để chấm dứt cái tình trạng không thể chịu nổi đó: ông hiểu rõ là cái nửa sau này của căn phòng đã “thuộc về thế giới bên ngoài”, nó đã là một phần của khu vực bên ngoài thù nghịch và như vậy ông tìm thấy một trong những lời giải thích quyết định sự sợ hãi phấp phỏng, và cảm giác bất ổn của mình, bởi ông chỉ được “bức tường bảo vệ” từ một phía, còn từ phía bên kia ông có thể “bị tấn công”. Căn phòng mở ra một hành lang tối đầy cỏ dại, từ đó cũng có thể đi vào WC, nơi đã mấy năm, bình nước không hoạt động, chỉ có một chiếc xô mà bà vợ Kráner phải đổ đầy nước ba lần một tuần. Trên hai cửa cuối hành lang là hai chiếc khóa to, han gỉ; phía bên kia có lối thông ra ngoài trời. Bà vợ Kráner, người có chìa khóa vào nhà, thường cảm thấy mùi hôi thối, chua chua ngay từ khi mới bước vào đây, thứ mùi ngấm vào quần áo bà, thậm chí như bà khẳng định, cả vào da thịt bà, dù bà tắm rửa - vào những “ngày đến nhà doctor” bà tắm hai lần - cũng vô ích. Bà giải thích với bà vợ Halics và vợ Schmidt đó cũng là lý do bà ở đó chóng vánh, bà không thể chịu nổi thứ mùi đó quá vài phút, vì “không thể chịu nổi, đúng như tôi nói, không thể chịu nổi! Tôi cũng không thể hiểu làm sao có thể sống trong cái mùi khủng khiếp như thế. Mà ông ấy là người có học đấy...” Ông bác sĩ không để ý tới cả cái mùi không thể chịu đựng nổi, cả các thứ khác nằm ngoài vị trí quan sát của ông trong nhà; trái lại ông gìn giữ với sự chú ý đặc biệt và sự am tường kỹ lưỡng trật tự của các đồ vật xung quanh ông, khoảng cách giữa các loại thực phẩm, dụng cụ ăn, thuốc lá, diêm, cuốn nhật ký và sách trên bàn, trên gờ cửa sổ và xung quanh chiếc ghế bành, trên nền nhà đã hư hại vì liên tục bị một ăn, thỉnh thoảng nếu ông nhìn khắp lượt những thứ đồ đạc được xếp ngăn nắp trong căn phòng dưới ánh hoàng hôn đến bất chợt, ông cảm thấy ấm cúng và hài lòng. Từ mấy tháng trước ông đã nhận ra rằng việc thí nghiệm tiếp tục không có ý nghĩa gì nữa, rồi ông nhanh chóng tỉnh ra rằng dù có muốn đi chăng nữa, ông cũng không có khả năng thay đổi một chút xíu, dù nhỏ nhất nào nữa; những sự thay đổi không chứng tỏ một kết quả rõ rệt, vì sợ rằng nỗi khát khao thay đổi chỉ là sự thể hiện ngấm ngầm của hồi ức đang suy giảm. Trong thực tế ông không làm gì khác ngoài việc chú ý gìn giữ khả năng hồi tưởng khỏi sự hủy hoại, tàn lụi xung quanh; kể từ khi - người ta tuyên bố dẹp bỏ khu trại, ông quyết định sẽ lợi dụng cơ hội này và ở lại đây, cho tới khi có “quyết định hủy bỏ việc đình chỉ” - ông lên nhà xay với đứa con gái lớn nhà Horgos, ông nhìn việc bốc vác ồn náo, sự vội vã của dân chúng hò hét inh tai, những chiếc xe tải gần như chạy trốn ở phía xa; và đối với ông, có vẻ như cái án khai tử đã làm cả khu trại choáng váng, kể từ hôm ấy ông cảm thấy: ông quá yếu đuối để một mình ông có thể ngăn trở sự hủy hoại tưng bừng này, dù có giãy giụa thế nào ông cũng không thể cưỡng lại cái sức mạnh đang phá hủy tất cả: nhà cửa, cây cối, đất cát, chim chóc, thú vật, con người, khát vọng và hy vọng, ông không đủ khả năng, dù có cố thử ngăn chặn cuộc tấn công nhục nhã chống lại con người này, vì vậy mà ông đã kịp thời nhận ra rằng, tất cả những gì ông có thể làm được là dùng hồi tưởng và ký ức để chống lại sự lụi tàn rủi ro và hèn hạ này, vì ông tin rằng, nếu tất cả những thứ người thợ nề đã xây dựng lên, người thợ mộc đã đục đẽo ra, người đàn bà đã khâu vá thành, đều vẫn thuộc về những gì ẩm thấp, bí ẩn, luồn lách trong những hang lỗ ngang dọc dưới mặt đất, thì trí nhớ của ông vẫn còn sinh động, cho tới khi các bộ phận cơ thể ông chưa từ bỏ “sự thỏa thuận, nền tảng của các quan hệ làm ăn”, tới khi những con kền kền chết chóc của sự hủy hoại còn chưa rỉa xương móc thịt ông. Ông quyết định sẽ chú ý cặn kẽ tất cả, liên tục ghi chép, cố gắng không bỏ sót một chi tiết nhỏ nhặt nào. Vì ông ngộ ra rằng, bỏ qua những sự việc có vẻ như nhỏ nhặt đồng nghĩa với sự công nhận: chúng ta không có khả năng tự vệ trước sự tan rã; bất kể điều nhỏ nhặt nào đã xảy ra, ví thử “một góc bàn bị bẩn” do tàn thuốc lá, hướng bay của đàn vịt trời, hay một loạt cử chỉ kế tiếp nhau liên tục có vẻ vô nghĩa của con người, cần được chú ý thường xuyên và lưu giữ lại, chỉ có như vậy chúng ta mới có thể hy vọng rằng, đến một ngày chúng ta không biến thành các tù nhân không dấu vết và câm lặng của cái trật tự hủy hoại và không ngừng phát triển của quỷ Satan. Nhưng hồi ức có lương tâm, hồi ức đơn thuần không đủ; “tự nó còn bất lực”, không có khả năng đánh vật với nhiệm vụ, cần phải tìm ra các công cụ khác, tìm ra tổ hợp tồn tại và thông minh của các tín hiệu, và với sự giúp đỡ của chúng, vòng tròn tác động của hồi ức liên tục hoạt động có thể mở rộng, và có thể duy trì qua thời gian. Tốt nhất là, ông bác sĩ nghĩ khi đó ở trên nhà xay, nếu “ta giảm đến tối thiểu số các trường hợp mà vì chúng ta gia tăng số lượng các sự kiện được theo dõi”; ngay tối hôm đó, sau khi thô bạo đuổi cô con gái nhà Horgos, và thông báo với cô gái là từ nay ông không cần tới cô nữa, ông đã chuẩn bị vị trí quan sát chưa hoàn hảo của ông bên cạnh cửa sổ, và ông bắt đầu tổ chức một số chi tiết cơ bản của cái hệ thống theo một số quan điểm nhất định có thể gọi là điên rồ của ông. Ngoài kia trời đã tang tảng sáng, ở xa xa, trên Szikes, bốn con quạ tả tơi quần đảo nhau, vẻ đe dọa, theo những đường vòng cung chậm; ông sửa lại tấm chăn trên vai, và lần mò châm thuốc hút. Trong thời kỳ Crete[3], xét về mặt các chất cấu thành đất nước ta, có thể phân chia thành hai nhóm lớn, một khối bên trong hiện cho thấy những sự lún thường xuyên. Hình thành những khu vực hình lòng chảo mà các chất lắng cặn cố gắng lấp đầy. Trái lại ở các vùng biên chúng ta thấy các nếp oằn, nghĩa là hình thành các hệ thống kiểu mành buông... Hiện nay, trong lịch sử của khối Nội-Hung[4] bắt đầu một chương mới, một giai đoạn phát triển mới, trong đó giống như một phản ứng quan hệ cho tới nay là chặt chẽ của vùng khung và khối cứng bên trong bị phá vỡ. Các trạng thái ứng xuất của vỏ trái đất đang chờ được cân bằng, và điều này cũng sẽ diễn ra, khi khối lượng lạnh cứng thống trị bên trong suy sụp, chìm lún, và như vậy vùng lòng chảo đẹp nhất châu Âu xuất hiện. Do quá trình lún biển neogén[5] sẽ tràn ngập thung lũng mới. Ông ngẩng lên khỏi cuốn sách, và thấy gió bất chợt nổi lên, như thể nó muốn tấn công khu vực này; phía đông sắc đỏ mặt trời đang nhuộm dần đường chân trời, và bỗng nhiên cả vầng mặt trời cũng hiện lên nền trời, nhợt nhạt sau những đám mây lững lờ trôi trước nó. Phía đầu hồi nhà lão Schmidt và nhà ông đốc học, bên con đường đất hẹp, những tán lá nhỏ của các cây keo rung lên bần bật; gió thổi dữ dội cuốn bay đám lá khô dày trên mặt đất, một chú mèo đen hốt hoảng chui qua hàng rào nhà ông đốc học. Ông đẩy cuốn sách sang bên, kéo nhật ký lại gần, và rùng mình vì không khí lạnh lọt qua khe cửa sổ. Ông dụi điếu thuốc vào tay vịn ghế bành, đeo kính lên rồi đọc lướt qua những điều ông đã ghi chép vào ban đêm, rồi ông ghi tiếp: “Sẽ có bão, tối phải cho các tấm che cửa sổ lên. Futaki vẫn ở trong nhà. Một con mèo vào nhà ông đốc học, tôi chưa thấy bao giờ, một con mèo tìm cái gì ở đây?! Có thể nó hốt hoảng vì một cái gì đó, nó chui qua một khe rất hẹp, lưng nó gần như quét trên mặt đất, chỉ trong một khoảnh khắc. Tôi không ngủ được, đau đầu.” Ông uống cạn cốc rượu mạnh đã rót từ trước, rồi lại rót ngay đúng chừng ấy vào cốc. Ông bỏ kính xuống, và bất giác nhắm mắt lại. Ông thấy một bóng người thoáng qua trong đêm tối, một dáng cao cao, chuyển động vụng về; ông nhận ra đã muộn, rằng con đường cong gập gồ, đầy rẫy chướng ngại bất chợt kết thúc. Ông không đợi cái bóng lao xuống hố sâu: ông hốt hoảng mở mắt. Đột nhiên như thể có tiếng chuông ngân, rồi ngừng ngay. Tiếng chuông? Và hơn nữa lại rất gần... ít ra là trong một khoảnh khắc ông cảm thấy nó rất gần. Với ánh mắt lạnh lùng ông nhìn lướt qua cả khu trại qua khe cửa. Trong cửa sổ nhà Schmidt hình như ông nhìn thấy một bộ mặt mờ nhòe, rồi rất nhanh ông nhận ra nét mặt nhầu nhĩ của Futaki: hắn ngó đầu ra các ô nhỏ trên cửa sổ, hốt hoảng tìm một thứ gì đó trên các ngôi nhà. Hắn muốn gì? Ông bác sĩ rút ra một cuốn vở đánh dấu “FUTAKI” từ đống giấy tờ để cuối bàn, và tìm trang thích hợp. “Futaki sợ điều gì đó. Sớm mai hắn hốt hoảng ngó ra cửa sổ. F. sợ cái chết.” Ông uống cạn cốc rượu, và lại rót đầy cốc ngay. Rồi ông châm thuốc hút, và nói thành tiếng: “Không bao lâu nữa chúng nó sẽ chết. Cả mày nữa, Futaki, cũng ngoẻo. Đừng sợ són đái ra thế.” Mấy phút sau, bên ngoài trời bắt đầu mưa. Rồi mưa bắt đầu nặng hạt, dữ dội, và chẳng mấy chốc các rạch lớn nhỏ đã đầy nước, những con suối nhỏ khắp nơi ngập tràn trong chốc lát. Ông bác sĩ chăm chú nhìn một lúc, rồi ông vẽ vào nhật ký những phác họa, cẩn thận và chi tiết đánh dấu từ vũng nước nhỏ nhất, các lối đi, rồi ông ghi ngày tháng lên cuối bản vẽ. Căn phòng sáng dần lên, bóng đèn trần trụi lạnh lùng chiếu sáng trên trần. Ông bác sĩ khó nhọc đứng dậy, chui ra khỏi những tấm chăn, tắt điện rồi lại ngồi vào chỗ. Ông lấy ra từ chiếc thùng các tông lớn đặt bên trái ghế bành cá hộp và phó mát. Miếng pho mát bị mốc một chỗ, ông bác sĩ xem xét một lúc rồi quẳng nó vào thùng rác trước cửa. Ông mở hộp cá, cẩn thận, chậm rãi nhai kĩ từng miếng trước khi nuốt. Rồi ông uống một cốc rượu nữa. Ông đã hết rét, nhưng vẫn để nguyên các tấm chăn trên người một lúc nữa. Ông lấy cuốn sách đặt vào lòng và nhanh tay rót đầy một cốc rượu nữa. Rất thú vị nếu chúng ta quan sát, cuối thời kỳ Ponticum, khi biển Nagyalfödi[6] đã hầu như cạn kiệt, và chỉ còn lại các hồ nước nông, lớn như Balaton ngày nay, xem gió và nước đã chung sức tạo ra sóng gây nên những tàn phá lớn. Cái gì thế này, sự tiên tri hay lịch sử trái đất, ông bác sĩ bực mình. Ông giở sang trang tiếp. Cũng trong thời gian này toàn bộ vùng Alföld cũng dâng cao, và như vậy nước của các hồ chảy tới cả các vùng xa(?). Không có sự dâng cao epirogenetic[7] của khối Tisia[8] thì chúng ta cũng không có lời giải thích cho sự biến mất nhanh chóng của các hồ Lavente. Sau sự biến mất của các hồ nước tĩnh Lavente, thời kỳ Pleistocene[9] chỉ còn lại dấu vết một thời của đại dương là các hồ nước nhỏ, đầm lầy, bãi cạn... Cuốn sách xuất bản bởi tiến sĩ Benda, bản in địa phương, có vẻ thiếu thuyết phục, có vẻ thiếu cơ sở, và do sự sơ sài trong việc phân tích nguyên nhân một cách logic, đôi chỗ ông cảm thấy nó thiếu nghiêm túc, dù ông không thông thạo đề tài này, và không hiểu hết ý nghĩa của các từ chuyên môn; tuy nhiên, trong khi đọc, trước mắt ông hiện lên sống động lịch sử của vùng đất có vẻ như một khối rắn chắc và ổn định bên dưới và xung quanh ông, do cách viết không liên tục, đứt đoạn và trúc trắc của tác giả khuyết danh, từ lời văn đôi khi viết ở thời hiện tại ông không thể và cũng không muốn biết chính xác: liệu ông đang có một văn bản tiên tri trạng thái sau con người, hay đúng là ông đang có trong tay lịch sử vùng đất mà trên đó ông cần phải sống. Trí tưởng tượng của ông gần như bị mê hoặc bởi ý nghĩ, rằng có lẽ khu trại và vùng đất một thời được coi là màu mỡ quanh khu trại hàng triệu năm trước đây đã từng chìm ngập dưới lòng đại dương..., rằng ở chỗ này biển và đất liền đã thế chỗ cho nhau trong thời gian, và bất chợt - trong khi ông chăm chú ghi chép việc lão Schmidt thấp đậm, dáng đi khật khưỡng, đội chiếc mũ pufajka[10] ướt rượt, đi đôi ủng nặng vì dính bùn đất xuất hiện trên con đường đất nhỏ dẫn từ khu Szikes về, vội vàng như kẻ sợ người khác nhìn thấy, lão lủi vào nhà từ phía sau - ông đăm chiêu trong thời gian, và lạnh lùng cảm nhận sự hiện hữu của mình: ông thấy mình là nạn nhân yếu đuối, bất lực của lớp vỏ trái đất chao đảo, đường cong sinh tử mong mạnh của ông biến đi trong cuộc vật lộn của biển cả ào ạt và các dãy núi nhô lên mặt đất, và như thể ông đang cảm nhận được sự rung động tinh tế dưới cái cơ thể phì nộn ngự trên ghế bành, có lẽ đó là tín hiệu báo trước sự trào dâng tiếp theo của biển cả, sự cảnh báo về cuộc trốn chạy vô ích, mà ông cũng không thể tách khỏi sức mạnh cưỡng bức của nó, và rồi ông cũng sẽ lao theo đoàn quân hoang dã, hốt hoảng ào ạt xô tới của nai, gấu, thỏ, hoẵng, chuột, gián và các loại thằn lằn, chó và người - tất cả sự sống vô đích và vô nghĩa đều lao tới sự hủy diệt chung và không thể lý giải nổi, - và phía trên chúng, đường bay mỏi mệt và rơi rụng của các loài chim là hy vọng duy nhất. Trong một khoảng thời gian ngắn, một kế hoạch mơ hồ đã hình thành, có lẽ sẽ may mắn hơn nếu ông từ bỏ các thử nghiệm mới, và như vậy ông sẽ dành sức lực được giải phóng để “chấm dứt các khát vọng của mình”, bỏ dần đồ ăn, rượu và thuốc lá, ông sẽ lựa chọn sự im lặng thay vì bị hành hạ thường xuyên bởi việc gọi tên các sự vật, sau một vài tháng hay sau một, hai tuần là đạt được cuộc sống thanh bạch hoàn hảo, và thay vì để lại sau mình các dấu vết, ông sẽ tan biến trong sự tĩnh lặng cuối cùng đang khẩn thiết mời gọi; nhưng ông nhanh chóng thấy điều đó thật nực cười: ít ra là nó chẳng hơn gì sự yếu đuối sinh ra bởi nỗi sợ hãi và ý thức danh dự, và hơi hốt hoảng ông uống cạn cốc rượu đã rót sẵn, và ngay lập tức ông lại rót đầy, vì chiếc cốc trống rỗng khiến ông hơi cảm thấy bất an. Rồi ông lại châm thuốc hút, và ông lại ghi chép. “Futaki thận trọng ra khỏi cửa. Gã chờ một lát. Rồi gõ cửa, nói to một điều gì đó. Rồi vội vã vào nhà. Vợ chồng Schmidt không ra. Ông đốc học đem thùng rác ra phía sau, vợ Kráner rình ngoài cổng. Ta mỏi rồi, cần phải ngủ. Hôm nay là thứ mấy?” Ông đẩy kính lên trán, đặt bút chì xuống, xoa bóp chiếc mũi đỏ. Trong mưa tầm tã ông chỉ còn thấy các quầng, vết nhòe nhoẹt bên ngoài, một vài lùm cây lúc mờ nhạt lúc rõ nét, và trong những khoảnh khắc im lặng giữa đợt sấm rền ông bỗng nghe thấy tiếng tru đau đớn của lũ chó. “Cứ như có đứa nào hành hạ chúng.” Ông nhìn thấy những con chó bị trói chân treo ngược, một thằng nhóc điên khùng nào đó dùng lửa diêm đốt vào mũi chúng, cạnh một nhà chứa đồ hay nhà kho; ông chú ý lắng nghe, và tiếp tục ghi chép. “Có vẻ nó đã ngừng, giờ lại kêu to hơn.” Mấy phút sau ông không chắc chắn là đã nghe thấy tiếng kêu đau đớn kia thật không, hay chỉ là do công việc mệt mỏi của bao nhiêu năm mà ông có khả năng qua tiếng gầm của sấm, nghe thấy cả tiếng rú xa xưa mà bằng cách nào đó ông đã lưu giữ được theo thời gian (“Sự đau đớn không qua đi mà không để lại dấu vết” - ông hy vọng), và giờ đây, giống như bụi, chúng được mưa cuốn lên. Rồi sau đó bỗng nhiên ông thấy như đã nghe thấy cả những âm thanh khác, tiếng rên rỉ, tiếng nức nở và thổn thức của con người, tiếng khóc đòi hỏi, thô, đau đớn, giống như các lùm cây và nhà cửa bên ngoài đã biến thành các hình thù lúc tỏ lúc mờ trong tiếng mưa như trút nước. “Vircsaft[11] vũ trụ, - ông viết vào cuốn sổ. - Tai tôi mỗi ngày một kém.” Ông nhìn ra ngoài trời, uống cạn cốc rượu, nhưng lần này ông quên rót, ông cảm thấy nóng, trán và cái cổ to của ông đẫm mồ hôi, ông cảm thấy hơi chóng mặt, và hơi đau hay đúng hơn là hơi co thắt ở gần trái tim. Cuối cùng ông thấy chẳng có gì bất ngờ vì nó: từ tối hôm qua, sau vài giờ ngủ ngắn ngủi, mộng mị và bất an, một tiếng kêu gần đã khiến ông thức giấc, ông đã uống liên tục (trong “cái bình có sức chứa lớn” để phía bên phải ông rượu chỉ còn đủ uống cho một ngày), thêm nữa ông đã hầu như chẳng ăn gì. Ông dậy cho người nhẹ nhõm, nhưng nhìn đống rác chất cao trước cửa, tốt hơn cả là ông nghĩ lại. “Thôi để sau. Đi đâu mà vội.” - ông nói thành tiếng, nhưng không ngồi trở lại, ông đi vài bước bên cạnh bàn tới bức tường bên kia, biết đâu “sự co thắt” sẽ hết. Từ hai bên nách mồ hôi chảy thành dòng xuống hai bên sườn núng nính của ông: ông cảm thấy mệt mỏi. Trong lúc ông bước đi, tấm chăn tụt khỏi vai, nhưng ông cảm thấy không đủ sức để kéo nó lên. Ông lại ngồi vào ghế bành, rót đầy cốc rượu và nghĩ rượu sẽ giúp ông; và đúng thật: mấy phút sau ông thấy người khỏe hơn, dễ thở và mồ hôi cũng đỡ đổ ra như trước. Khó nhìn ra ngoài vì nước đọng trên kính cửa sổ, thế là ông quyết định tạm dừng quan sát một lúc; ông biết mình không thể bỏ qua điều gì, bởi ông chú ý tới “mọi âm thanh, mọi động tĩnh nhỏ nhất”, có khi là những tiếng động nhỏ đến từ bên trong, từ tim, não hay từ dạ dày. Ông nhanh chóng đi vào giấc ngủ đầy mộng mị. Chiếc cốc uống rượu mà ông cầm trong tay cho tới khi ngủ rơi xuống đất, nhưng không vỡ; đầu ông ngật về phía trước, dãi chảy ra khóe miệng. Và như thể tất cả chỉ chờ có thế: trong phòng bỗng nhiên tối hẳn, như có ai đứng chắn nơi cửa sổ; màu của các bức tường, trần nhà, cửa ra vào, rèm, cửa sổ, sàn nhà đều sẫm hơn, tóc trên đầu ông bác sĩ mọc nhanh hơn, trên các ngón tay ngắn và mập mạp của ông móng tay mọc nhanh hơn, bàn ghế rung nhẹ cọt kẹt, ngay cả căn nhà cũng lún xuống một chút trong sự nổi loạn hèn hạ này; phía sau, sát chân tường cỏ bắt đầu mọc nhanh hơn, những tờ giấy bị vo vụn nằm rải rác bỗng rùng mình cố phẳng phiu hơn; các xà trên nóc nhà nổ nứt, lũ chuột chạy táo tợn hơn trên hành lang. Ông thức dậy ngái ngủ, khó chịu. Ông không biết, chỉ đoán lúc đó có thể là mấy giờ; tối hôm đó ông quên không đeo chiếc đồng hồ Raketa có tiếng là bền, chống va đập, chống thấm nước, chống đóng băng, và lúc này chiếc kim ngắn vừa rời khỏi con số mười một. Lưng áo sơ mi của ông ướt đẫm mồ hôi, ông cảm thấy lạnh và chóng mặt; không dễ xác định, nhưng hình như cơn đau đầu tập trung vào gáy. Ông rót đầy cốc rượu, và chỉ lúc này ông mới nhận ra: lượng rượu không còn đủ cho một ngày, mà chỉ đủ cho vài giờ. “Mình cần vào thành phố, ông khó chịu nghĩ. - Có thể đổ đầy bình ở chỗ Mopsz. Nhưng xe khách! Nếu mưa tạnh ta có thể đi bộ suốt quãng đường.” Ông nhìn qua cửa sổ, và bực mình thấy nước đã biến các con đường thành không thể đi lại nổi. Hơn nữa, nếu con đường cũ không thể đi lại nổi, thì ông cũng không thể đi trên con đường đá, vì có lẽ đến sáng mai cũng chẳng tới đó. Ông quyết định ăn trưa thứ gì đó đã rồi tính sau. Ông mở một hộp cá mới, bắt đầu dùng thìa xúc, người hơi cúi về phía trước. Vừa ăn xong ông lại bắt đầu vẽ các phác thảo mới về hệ thống mương rạch ngập và các lối đi lại, để so sánh với trạng thái lúc rạng sáng xem chúng khác nhau thế nào, đúng lúc đó ông nghe có tiếng động từ phía cửa ra vào. Ai đó đang loay hoay dùng chìa mở cửa. Ông bác sĩ bỏ các phác thảo sang bên, chán ngán ngả người ra ghế. “Chào bác sĩ! - Bà vợ Kráner nói và đứng trên bậu cửa. - Là tôi đây mà.” Bà ta biết mình phải đợi, và đúng vậy, lúc này ông bác sĩ cũng không bỏ qua việc xem xét các đường nét trên mặt bà một cách tàn nhẫn, chậm rãi, kĩ lưỡng. Bà vợ Kráner nheo nheo mắt, chịu đựng một cách khó hiểu (“Cứ để lão nhìn, cứ để lão soi mói, nếu lão thích thế!” - về nhà bà ta nói với chồng), rồi ông bác sĩ nháy mắt ra hiệu thì bà bước lại gần. “Tôi đến chỉ vì, như bác sĩ thấy đó, trời mưa, buổi trưa tôi nói với ông nhà tôi, còn lâu nó mới kết thúc, rồi sau đó là đến tuyết rơi nữa.” Ông bác sĩ không đáp, cau có nhìn đi đâu. “Tôi bảo ông nhà tôi, vì đằng nào tôi cũng không thể đi được nữa, từ giờ đến mùa xuân xe khách không chạy, chúng tôi nghĩ ngài phải nói chuyện với ông chủ quán rượu, có chiếc ô tô đó, với nó mỗi lần có thể chở nhiều hơn, đủ cho hai-ba tuần, ông nhà tôi nói. Rồi đến mùa xuân chúng ta lại tính tiếp xem thế nào.” Ông bác sĩ thấy khó thở. “Thế có nghĩa là bà không nhận làm nữa?” Hình như bà vợ Kráner đã chuẩn bị cho câu hỏi này. “Sao lại không, mà sao tôi lại không nhận giúp ngài, bác sĩ biết tôi đấy, chẳng bao giờ có chuyện gì đâu, nhưng ngài cũng thấy, đây là mùa mưa, xe khách cũng không chạy, ngài bác sĩ cũng biết điều này, ông nhà tôi bảo thế, rồi ngài sẽ hiểu, làm sao tôi đi bộ vào thành phố được, với ngài cũng sẽ tốt hơn nếu ông chủ quán rượu chở bằng ô tô, dù sao cũng được nhiều hơn...” “Được rồi, bà Kráner, bà có thể về.” Người đàn bà quay về phía cửa. “Thế ngài sẽ nói chuyện với ông chủ.” “Tôi sẽ nói với ai tôi muốn.” - ông bác sĩ nói lớn. Vợ Kráner đi ra, sau vài bước chân trên hành lang bà vội vàng quay lại. “Ôi, ngài thấy không, tôi quên. Chiếc chìa khóa.” “Bà muốn gì với chiếc chìa khóa?” “Tôi phải để vào đâu?” “Bà muốn để vào đâu thì để.” Nhà Kráner sát kề nhà ông bác sĩ, nên ông chỉ nhìn thấy bà trong chốc lát, khổ sở đi về với đôi ủng dính đầy bùn. Ông bác sĩ tìm trong đống giấy tờ cuốn vở đánh dấu “VỢ KRÁNER”, và ghi vào sổ: “K. xin thôi việc. Không nhận làm tiếp. Mình phải gặp lão chủ quán rượu. Mùa thu năm ngoái mụ chưa có vấn đề gì với việc mua hàng và đi bộ. Mụ có kế hoạch dứt khoát. Nom mụ lúng túng, nhưng kiên quyết. Mụ có dự định gì đó. Nhưng mụ muốn cái quái quỷ gì mới được chứ?” “Đến chiều ông giở ra đọc lại những gì đã ghi chép về bà vợ Kráner trong mấy tháng qua, nhưng ông vẫn lúng túng, có thể nỗi nghi hoặc của ông không có cơ sở, chẳng qua là mụ suốt ngày mơ mộng ở nhà và đến bây giờ thì mụ rối như gà mắc tóc. Ông bác sĩ biết căn bếp nhà Kráner từ lâu, ông nhớ rất kĩ cái ổ chật hẹp, sưởi quá nóng, và ông biết những cái ổ ngột ngạt, hồi hám ấy là chỗ nuôi dưỡng của những ý tưởng không cơ sở và rất trẻ con, những khát vọng ngốc nghếch và nực cười của họ đôi khi xì ra ngoài như hơi xì ra từ một chiếc nồi đang sôi. Rõ ràng lúc này cũng đang xảy ra điều đó, hơi đẩy vung nồi lên lập bập. Rồi cũng như đã bao nhiêu lần, sáng mai sẽ tới giây phút đắng cay của sự tỉnh ngộ, và mụ vợ Kráner lại sấp ngửa chạy tới, để cứu vãn những gì mụ đã làm hỏng hôm qua. Thỉnh thoảng mưa có vẻ ngớt, rồi lại bắt đầu gầm rú, rõ ràng mụ vợ Kráner nói đúng, và đây đúng là trận mưa thu đầu tiên. Ông bác sĩ nghĩ tới mùa thu năm ngoái, và những năm trước đó nữa, và ông biết rằng năm nay cũng chẳng khác: ngoại trừ những lúc trời nắng, chỉ ngắn vài giờ, hay bất quá một ngày, sẽ là mưa sùi sụt liên miên, cho tới lúc có lớp băng đầu tiên; các con đường sẽ không thể đi lại nổi, họ sẽ bị cách ly với thế giới bên ngoài, với thành phố, với các tuyến đường sắt; do mưa liên miên mặt đất biến thành các vũng lầy, các loài thú kéo nhau tới các cánh rừng bên kia Szikes, với vùng rừng thưa hẹp cạnh con đường đất tới Hochmeiss hay khu vườn đã trở nên hoang dã của biệt thự Weinckheim, vì lầy lội sẽ giết chết mọi sự sống, nó làm cây cỏ mục rữa, và ở đây sẽ không còn lại gì, chỉ có bùn đất đến ống chân với những vũng nước do các ổ trũng mà bánh xe đã tạo ra từ cuối hè. Và các loại bèo tấm, lau sậy, cói túi, tảo bẹ đến bắt rễ sinh sôi, để đến tối hay lúc hoàng hôn muộn ánh trăng chết chóc chiếu sáng lên chúng, và chúng như những con mắt nhỏ trên mặt đất lấp lánh ánh bạc nhìn lên bầu trời. Bà vợ Halics đi ngang qua cửa sổ, cắt qua bên kia đường phía đối diện, và gõ gõ vào cửa sổ nhà Schmidt. Mấy phút trước hình như ông có nghe tiếng nói loáng thoáng từ phía nhà Halics, vì thế ông nghĩ lại có chuyện chẳng lành với Halics, và lúc này bà Halics cao kều sang gọi nhà Schmidt nhờ giúp đỡ. “Chắc lão Halics lại say rượu. Người đàn bà hấp tấp giải thích cho bà vợ Schmidt điều gì đó, bà kia chú ý có vẻ ngạc nhiên và hốt hoảng. Tôi không nhìn rõ. Ông đốc học cũng ra đuổi con mèo. Rồi ông đi về phía nhà văn hóa, dưới nách cắp chiếc máy chiếu. Những người khác cũng bắt đầu đến, đúng, sẽ có chiếu phim.” Ông lại cạn một cốc rượu nữa và châm thuốc. “Nhộn nhịp quá hả!” - ông lẩm bẩm một mình. Trời tối dần, ông đứng dậy để bật đèn. Bỗng nhiên ông bị cơn chóng mặt; ông còn lần được tới chỗ công tắc. Ông bật điện lên, nhưng không quay lại được nữa dù chỉ một bước. Ông vấp vào vật gì đó, đầu đập mạnh vào tường, và gục xuống, ngay dưới cái công tắc. Khi ông tỉnh dậy và lọ mọ đứng lên được, điều đầu tiên ông cảm thấy là từ trên trán ông rỉ xuống một dòng máu nhỏ. Ông không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua kể từ khi ông ngất xỉu. Ông quay lại chỗ ngồi. “Có lẽ mình say quá,” - ông nghĩ, rồi ông lại uống một chút rượu, vì không muốn hút thuốc. Ông vô hồn nhìn vào khoảng không phía trước, người vẫn choáng váng. Ông chỉnh lại tấm chăn khoác trên vai, và nhìn vào bóng tối mù qua khe cửa. Qua sự xoa dịu của rượu, ông vẫn cảm thấy từ cơ thể mình “những đau đớn khác nhau” đang cố tìm về với ý thức của ông, nhưng ông không muốn để ý tới chúng: “Mình ngã một cái, có thế thôi.” Ông nhớ lại cuộc nói chuyện với vợ Kráner buổi chiều, và thử quyết định xem nên làm thế nào. Trong thời tiết này, dù sao ông cũng không thể đi được, tuy lượng rượu đang cần bổ sung cấp tốc. Ông không nghĩ cách thay thế bà Kráner - nếu như mụ không nghĩ lại, không chỉ việc mua thực phẩm, mà cần tìm một ai đó làm những việc lặt vặt, nhưng cần thiết quanh nhà, và đây không phải là việc dễ dàng; vì vậy lúc này ông thử nghĩ ra một kế hoạch có thể chấp nhận được, để qua vụ việc bất ngờ, không chờ đợi trước này (lẽ ra ngày mai vợ Kráner phải liên hệ với ông chủ quán rượu) bằng cách nào đó ông phải mua được số rượu đủ dùng cho tới khi có “giải pháp cuối cùng”. Hiển nhiên, ông phải nói chuyện với lão chủ quán. Nhưng ai sẽ nhắn cho lão? Ông không nghĩ tới việc - trong tình hình sức khỏe như thế này - chính ông phải mò sang quán rượu. Sau đó ông lại nghĩ, tốt hơn hết là không nhờ một ai làm việc này, chắc chắn lão chủ quán sẽ pha loãng rượu, và sau đó gã sẽ thanh minh: “Tôi không biết ngài bác sĩ là người đặt hàng.” Ông quyết định sẽ chờ một lúc, đỡ mệt ông sẽ lên đường. Ông sờ trán, rồi lấy chiếc khăn nhúng vào bình đựng nước trên bàn để lau vết thương. Cơn đau đầu chẳng thuyên giảm chút nào, nhưng ông không dám mạo hiểm đi tìm thuốc. Ông cố chợp mắt một lát, dù không ngủ được. Nhưng do những ảo ảnh khủng khiếp liên tục xuất hiện, ông phải mở mắt, ông dùng chân kéo chiếc va li da thật kiểu cũ từ dưới gầm bàn, và lôi ra mấy tờ tạp chí nước ngoài. Các loại báo - cũng như các cuốn sách mua không chọn lựa - ông mua từ lão bán sách cũ ở khu phố La Mã, của lão Schwarzenfeld luôn tự hào về tổ tiên Swabian[12] của mình, người mà mỗi năm một lần, vào các tháng mùa đông, khi khách du lịch trong thành phố thưa vắng lão phải đóng cái cửa hiệu nhỏ, lão đi một vòng mua và bán, lão tới những khu dân cư to, nhỏ quanh vùng, và khi đó lão không bao giờ bỏ qua việc tới thăm ông bác sĩ, người mà, theo lão nói, lão hân hạnh được gặp “một người có học thức” đáng kính. Ông bác sĩ chẳng để ý tới các bài viết trong các tạp chí, ông chỉ xem các bức ảnh - cũng như lúc này - để giết thời gian. Thông thường ông thích xem các bức ảnh phóng sự về các cuộc chiến ở châu Á, trong mắt ông chúng không có vẻ xa xôi và kỳ lạ; ông nghĩ chúng được chụp ở nơi nào đó gần đây, thi thoảng ông cảm thấy một vài nét mặt quen quen; khi đó ông cố nhận diện họ khá lâu và căng thẳng. Ông xếp thứ tự và phân loại các bức ảnh xuất sắc nhất, và ông đã có thể tìm những bức ông yêu thích bằng những động tác quen thuộc và dứt khoát. Đặc biệt - dù thứ tự sau một thời gian có thay đổi - ông thích nhất một bức chụp từ trên không: một đoàn người rách rưới rồng rắn đi trên một bãi như sa mạc, phía sau họ - trong khói lửa - là thành phố bị bắn phá đổ nát, phía trước họ, ở nửa ảnh bên này là một vùng tối lớn, đe dọa. Và điều khiến bức ảnh đáng chú ý là một khí cụ quan sát quân sự, nhìn lần đầu có vẻ thừa - ở góc trái bên dưới bức ảnh. Theo ý kiến ông, đây là bức ảnh rất đáng chú ý: với độ tin cậy cao, tập trung vào bản chất một cách hào hùng, nó cho thấy “lịch sử có thể nói là sâu sắc, sự vận hành hoàn hảo của nghiên cứu, với khoảng cách tối ưu của người quan sát và cái được quan sát, nhấn mạnh tính chi tiết của sự quan sát, đến mức đã nhiều lần ông tưởng tượng mình đứng sau khí cụ, bằng một động tác chắc chắn ông bấm vào máy ảnh. Kể cả lúc này đây, gần như vô tình, ông đang nhìn bức ảnh này; ông biết kĩ từng chi tiết nhỏ, thế mà, lần nào nhìn lại ông cũng hy vọng phát hiện ra tình tiết mới nào đó. Dù có đeo kính, nhưng lúc này ông thấy tất cả hơi mờ. Ông xếp các tờ báo lại, và uống “ngụm cuối cùng” trước khi đi. Ông nặng nề chui vào áo khoác lông, rồi gấp các tấm chăn lại, liêu xiêu đi ra khỏi nhà. Không khí lạnh, trong lành ập đến. Ông sờ ví tiền trong túi, cuốn vở ghi chép, ông chỉnh lại chiếc mũ rộng vành, và thận trọng đi về phía nhà xay. Lẽ ra, ông có thể chọn con đường ngắn hơn để tới quán rượu, nhưng thế thì trước hết phải đi qua trước nhà Kráner, sau đến nhà Halics, đấy là chưa nói trước nhà văn hóa hay nhà để máy, có thể ông sẽ gặp một “thằng ngốc nào đó”, dùng những lời lẽ hèn hạ và cục súc, giả vờ chào hỏi và tò mò chặn ông lại. Ông di chuyển khó khăn trong bùn lầy, hơn nữa hầu như ông chẳng nhìn thấy gì trong bóng tối, đến khi men theo cái sân sau của nhà ông ra đến con đường mòn dẫn tới nhà xay, thì ông đã quen dần; nhưng ông chưa lấy lại được cảm giác thăng bằng, bước chân ông lảo đảo và chập chững, và như vậy thường xảy ra việc ông tính toán sai một bước chân, và va vào một thân cây, hoặc vấp phải một bụi cây thấp. Ông thở dốc, phổi như tắc nghẹn, và cảm giác bị co bóp xung quanh tim từ chiều chưa hết. Ông bước nhanh hơn để có thể mau tránh mưa ở nhà xay, và ông không cả tránh những vũng nước khó chịu trên đường nữa, nếu cần, ông lội trong nước tới ống chân, bùn nhóp nhép trong đôi giày cao cổ, chiếc áo lông nặng trịch. Ông dùng vai đẩy cánh cổng nặng khó mở của nhà xay, rồi ngồi phịch xuống một chiếc thùng gỗ, thở dốc trong mấy phút. Ông cảm thấy động mạch trên cổ đập nhịp mạnh, đôi chân cứng đơ, hai tay run run. Ông đang ở tầng dưới cùng của ngôi nhà bỏ không, bên trên còn hai tầng nữa. Yên ắng lạ lùng khắp mọi nơi. Từ đây, mọi thứ có thể dùng được đã bị lấy đi hết, cả ngôi nhà khổng lồ, tối mù, khô ráo này trống không; bên phải cổng rải rác mấy hộp gỗ đựng hoa quả, một thùng sắt lớn không biết để làm gì và một thùng gỗ đóng thổ bên ngoài có ghi dòng chữ Để dập lửa!, bên trong không có cát. Ông bác sĩ tháo giày cao cổ, tụt tất ra vắt kiệt nước. Ông tìm thuốc lá, nhưng trong cái gói bị ướt sũng không còn điếu nào có thể hút được nữa. Ánh sáng yếu ớt lọt qua khung cửa để mở đủ nhìn thấy một khoảng nền đất, các thùng gỗ hiện lên như những hình thù lờ mờ trong bóng tối. Dường như có tiếng sột soạt của lũ chuột ở đâu đó. “Chuột? Ở đây ư? - ông bác sĩ ngạc nhiên, ông đi vài bước sâu hơn vào phía trong. Ông đeo kính lên, nheo nheo mắt nhìn vào bóng tối dày đặc. Nhưng không nghe thấy tiếng sột soạt nữa, ông đi về phía cổng, đi tất, xỏ giày cao cổ. Ông cọ xát cạnh bao diêm vào tấm lót trong áo khoác, may ra có thể bật được diêm. Cố gắng của ông đã thành công, và trong ánh lửa diêm lóe lên ông thấy cách chừng ba, bốn mét, trong bức tường bên cạnh cổng hiện lên đường nét của vài bậc cầu thang dẫn lên tầng trên, và ông, không có mục đích gì cụ thể, ngập ngừng bước lên vài bước. Que diêm tắt rất nhanh, và ông cũng chẳng muốn, chẳng có lý do gì để thử một lần nữa. Ông đứng mấy giây trong bóng tối, lần sờ bức tường, và đúng lúc ông định bước ra con đường dẫn tới quán rượu, thì một tiếng động nhỏ lọt vào tai ông. “Vẫn có chuột.” Có vẻ như tiếng động vọng tới từ khá xa, từ tầng trên cùng. Một tay lần theo bức tường, ông leo lên thang gác, và mới đi được mấy bước ông nghe tiếng động rõ hơn. “Không phải tiếng chuột. Nghe như tiếng củi khô tí tách.” Khi lên đến chỗ chiếu nghỉ bậc thang, ông nghe loáng thoáng tiếng người trò chuyện, nhỏ nhưng rõ, lọt vào tai. Ở chỗ phía sau của tầng giữa, cách chỗ ông bác sĩ đứng nhìn chằm chằm, hai cô gái ngồi bên đống lửa bập bùng nhóm bằng cành khô. Ánh lửa soi rõ khuôn mặt họ, những cái bóng lớn chập chờn in lên trần nhà cao. Có vẻ như hai người trò chuyện rất mải mê, nhưng họ không nhìn nhau, mà nhìn vào ngọn lửa lật phật. “Các cô làm gì ở đây thế này?!” - ông bác sĩ to tiếng hỏi và đi về phía họ. Hai người giật mình đứng dậy, rồi một trong hai người thở phào nhẹ nhõm cười: “Ôi, ông bác sĩ đấy à?” Ông bác sĩ bước lại gần đống lửa, ngồi xuống giữa hai cô gái. “Tôi sưởi nhờ một chút, - ông nói. - Nếu các cô không phản đối.” Hai cô gái cũng ngồi xuống cạnh đống lửa, họ thu chân lại, và lặng lẽ cười. “Các cô có thể mời tôi một điếu thuốc lá chứ? - ông bác sĩ hỏi, mắt không rời ngọn lửa. - Thuốc của tôi ướt như một miếng bọt biển.” “Tất nhiên rồi, xin mời ông! - một người đáp. - Thuốc đó, ngay gần chân ông.” Ông bác sĩ châm thuốc hút, nhả khói một hơi dài. “Ông thấy đấy, mưa gió thế này, - một người giải thích. - Chúng tôi vừa ca thán, Mari và tôi, không có việc làm, dạo này cửa hiệu cũng kém (và cô ta cười vui vẻ), và chúng tôi mắc kẹt ở đây, ông biết đấy.” Ông bác sĩ quay nghiêng, để bên sườn cũng ấm. Từ khi cho cô lớn nghỉ, ông không gặp hai cô gái nhà Horgos. Ông biết họ ở nhà xay suốt ngày, uể oải chờ có “khách” tới, hay chờ lão chủ quán rượu nhắn họ. Họ ít khi về khu trại. “Chúng tôi không nghĩ là đáng phải chờ đợi, - cô lớn nhà Horgos nói. Ông biết đấy, nhiều khi ngày này qua ngày khác, và chúng tôi cứ ngồi ở đây, rồi chẳng có gì hết. Có khi suýt nữa chúng tôi cắn xé nhau, cả hai đều sốt ruột. Và chúng tôi sợ ở đây một mình...” Cô bé hơn cười như nắc nẻ. “Chúng tôi sợ thật đấy!” - Rồi nó nói thêm, giọng rất ngây thơ trẻ con: “Ở đây một mình thật buồn!” Và cả hai cùng cười hích hích. “Tôi xin một điếu thuốc nữa, được không?” - ông bác sĩ hỏi, giọng khô khốc. “Được, sao lại không, chả lẽ tôi lại từ chối chính ông ư?” Nghe thấy thế cô bé còn cười to hơn, và bắt chước giọng cô chị, nó nhắc lại: “Chẳng lẽ tôi lại từ chối chính ông ư? Hay lắm, thật đấy, câu này chị đã nói rất hay.” Giọng cười khàn khàn của hai chị em ngừng lại, họ mệt mỏi nhìn đống lửa. Ông bác sĩ khoan khoái vì ngọn lửa, ông nghĩ sẽ ở lại chút nữa, quần áo khô, người hết lạnh, đỡ mệt và ông sẽ đi tiếp tới quán rượu. Ông hơi ngây ngất, thở như huýt sáo, nhìn ngọn lửa. Cô lớn nhà Horgos phá tan sự im lặng trước. Giọng cô mệt mỏi, rè khàn, hờn tủi. “Ông biết đấy, tôi đã ngoài hai mươi, em đây cũng sắp đến hai mươi. Nếu tôi nghĩ, ngay trước khi ông đến đây, chúng tôi cũng đang nói chuyện với nhau, rằng chúng tôi đã làm được gì. Đôi khi, con người ta chán hết! Ông có biết chúng tôi dành dụm được bao nhiêu không?! Ông có tưởng tượng nổi không? A, tôi có thể giết người, tôi nói thật đấy!” Ông bác sĩ lặng im nhìn lửa. Cô em vô cảm nhìn về phía trước; cô giạng hai chân, hai tay chống ra sau gật gật đầu. “Cái thằng trộm cắp nhóc con, và con bé Estike còn đần độn hơn đeo bám chúng tôi, và bà mẹ nữa, lúc nào cũng thế này thế nọ, rằng chúng tôi để tiền đâu, nôn ra đi, tiền thế này, tiền thế nọ, họ tưởng thế nào chứ? Họ có thể lột đến chiếc quần lót cuối cùng của chúng tôi, ông hãy tin tôi! Còn như, cuối cùng chúng tôi hay vào thành phố, và bỏ lại cái ổ nhơ nhớp này... Giá như ông nghe thấy cuộc cãi vã mà bà ấy khởi sự!... Rằng thế này thế nọ, rằng chúng tôi tưởng thế nào, tóm lại... Chúng tôi đã chán ngấy cái cuộc sống này, đúng không Mari, chúng mình đã chán ngấy?!” Cô Horgos bé chán nản phủi tay: “Chị thôi đi, đừng than vãn nữa! Hoặc là chị đi, hoặc là ở lại! Có ai giữ chị lại đâu, chị không thể nói!” Cô chị gào lên. “Mày thích tạo biến khỏi đây chứ gì? Đúng không? Ở lại một mình thì mày béo bở hơn chứ gì? Đừng có tưởng bở! Tao mà cuốn xéo khỏi đây, thì mày cũng phải đi theo!” Cô em làm mặt giễu cợt: “Nào, chị đừng có rít lên như thế, có khi tôi khóc bây giờ đấy!” Cô chị lại gắt lên, nhưng cô không kịp nói hết, một cơn ho cắt lời cô. Sau đó họ ngồi im nhìn than hồng, và hút thuốc. “Không sao, Mari, hôm nay ở đây sẽ có ối tiền! - cô chị phá vỡ sự yên lặng. - Chú ý đấy, xem điều gì sắp diễn ra tại đây!” Cô em cáu kỉnh quay về phía chị. “Lẽ ra họ phải tới đây từ lâu rồi. Chắc có chuyện gì mờ ám đây, em cảm thấy thế.” “Không đâu, em đừng lo, chị biết lão Kráner mà, và những đứa khác nữa. Đến một cái là lão vác chim lên ngay đó, lần nào chả thế, bây giờ cũng vậy. Chắc em không nghĩ là lão thú nhận tất cả?” Ông bác sĩ ngẩng đầu lên. “Các cô nói về món tiền nào thế?” Cô Horgos lớn phải tay rất nhanh. “À, không có gì hay đâu, ông cứ ngồi sưởi ấm đi, ông bác sĩ, đừng để ý đến việc khác.” Ông bác sĩ còn ngồi thêm một lúc nữa, rồi xin mấy điếu thuốc lá, vài que diêm khô, và đi xuống cầu thang. Ông xuống đến cổng vô sự; mưa xiên vào qua khe cửa. Đầu ông đã đỡ đau, ông hết hẳn chóng mặt, chỉ có chứng co thắt trong lồng ngực không muốn hết. Mắt ông nhanh quen với bóng tối, lúc này ông đã nhận ra con đường. So với tình trạng sức khỏe, ông đi khá nhanh, chỉ thỉnh thoảng quệt vào cành hoặc bụi cây; ông đi đầu nghiêng về một bên để tránh mưa táp vào mặt. Ông dừng lại dưới mái hiên nhà Mázsaház[13] vài phút, rồi giận dữ đi tiếp. Phía trước, phía sau ông là im lặng và bóng tối. Ông chửi vợ Kráner thành tiếng và nghĩ ra các kế hoạch trả thù các kiểu, rồi lại quên đi nhanh chóng. Ông lại thấy mệt, thỉnh thoảng ông cảm thấy phải ngồi ngay xuống một chỗ nào đó, nếu không ông sẽ ngã vật xuống. Ông rẽ vào con đường đá dẫn tới quán rượu, quyết định không dừng lại nữa cho đến khi tới nơi. “Một trăm bước, không hơn, chỉ còn chừng ấy thôi,” - ông tự động viên mình. Trên cửa và trên chiếc cửa sổ nhỏ xíu của quán rượu, một tia sáng chiếu về phía ông như tia hy vọng, điểm duy nhất trong đêm tối mù mịt để ông có thể định hướng. Ông đã gần nó lắm, nhưng vì ông chú ý tới ánh sáng lọt ra từ đó quá chăm chú, như thể ông không tiến lại gần mà đang rời xa nó. “Chỉ là một cơn khó ở, tất cả chỉ có thế,” - ông khẳng định, và ông dừng lại trong một giây. Ông nhìn lên bầu trời, gió thổi mạnh táp nước lên mặt ông, và ông cảm thấy cần sự giúp đỡ. Nhưng cảm giác mệt mỏi đến nhanh và qua đi cũng nhanh. Ông rời con đường đá và thấy mình đã đứng trước cửa quán rượu, khi một giọng nói mảnh dẻ, từ phía dưới, gọi ông. “Ông bác sĩ!” Đứa con gái nhỏ nhất nhà Horgos, con bé Estike bám tay vào áo khoác ông. Mái tóc vàng như rơm của nó, chiếc áo khoác mỏng dài đến gối của nó ướt đẫm. Nó cúi đầu, tay nắm vào áo khoác của ông bác sĩ như là “nó không có việc gì khác, ngoài nắm chặt vào đó.” “Cháu muốn gì, cháu đấy à, Estike?” Con bé không đáp. “Cháu tìm kiếm gì ở đây vào lúc này?” Ông bác sĩ bất ngờ, ông thử thoát khỏi cô bé, nhưng Estike - như thể cuộc sống của nó phụ thuộc vào điều này - không buông ông ra. “Thả tay ra nào, có chuyện gì với cháu thế?! Mẹ cháu đâu?” Ông bác sĩ nắm lấy tay đứa bé, nó vội rụt tay lại, nhưng lại túm chặt lấy ống tay áo khoác của ông, và nó cứ đứng đó im lặng, đầu cúi gằm. Ông bác sĩ nóng nảy gạt tay nó ra, và khi vừa được giải thoát, bất giác ông bước lùi lại, không may cho ông, ông vấp phải thanh gạt bùn, và dù khua khoắng bằng cả hai tay, ông ngã sóng soài trên đám bùn nước. Cô bé hốt hoảng chạy tới bên cửa sổ quán rượu, và từ đó nó quan sát ở thế sẵn sàng chạy, xem cái cơ thể nặng nề kia chậm chạp bò dậy, đi về phía nó. “Lại đây, lại đây ngay?!” Estike tựa vào gờ cửa sổ, rồi nó đẩy người, chạy ra con đường đá. “Mình chỉ còn thiếu nước này nữa thôi! - ông tức tối lẩm bẩm, rồi gọi với theo con bé. - Chỉ thiếu có mày thôi nữa! Mày chạy đi đâu thế? Lại đây ngay!” Ông loay hoay trước cửa, chẳng hiểu ra đầu cua tai nheo thế nào, ông không biết nên làm gì: làm việc của mình hay đuổi theo con bé. “Mẹ nó đang uống rượu trong này, hai chị gái làm đĩ trong nhà xay, thằng anh nó... ai mà biết, đang ăn trộm cửa hàng nào trong thành phố, còn con bé thì chạy nhảy ở đây với một manh áo... Trời trừng phạt chúng nó!” Ông lại đi lên con đường đá, gọi vào bóng tối: “Estike, bác không làm gì cháu đâu! Cháu phát khùng rồi hay sao?! Quay lại đây nhanh lên!” Không có tiếng trả lời. Ông đi theo hướng nó, và bực mình nghĩ lẽ ra ông không nên rời khỏi nhà. Ông ướt hết, cảm thấy người rã rời, lại gặp con bé dở hơi túm lấy... Ông cảm thấy từ lúc ra khỏi nhà đã có quá nhiều chuyện xảy ra, và bây giờ mọi thứ quay cuồng trong đầu ông. Ông cay đắng xác nhận rằng, mọi thứ ông đã xây dựng nên trong bao nhiêu năm, sau bao tranh đấu nhọc nhằn, mới mong manh làm sao, và ông còn buồn bã thú nhận rằng, cả ông - bất chấp cơ thể to lớn, cường tráng - giờ đây bỗng nhiên suy sụp: chỉ một đoạn dạo chơi tới quán rượu (“Mà mình còn nghỉ giữa chừng nữa!”), một đoạn đường đâu có dài, thế mà hơi thở đứt đoạn, ngực tức, chân yếu, người mệt rã. Và điều còn nghiêm trọng hơn là ông thiếu tỉnh táo, hấp tấp, bị xô đẩy từ chỗ nọ sang chỗ kia một cách bất lực, và không hề biết bây giờ vì sao mình phải chạy trên con đường đá trong mưa như trút theo một con bé mất trí. Ông gọi to thêm lần nữa, theo hướng có lẽ con bé đã đi, rồi ông giận dữ dừng lại, ông nhận ra đằng nào cũng chẳng đuổi kịp nó. Và cũng đã đến lúc ông phải cố hết sức bình sinh. Ông quay lại, và ngạc nhiên thấy mình đã đi khá xa cái quán rượu. Ông đi, sau hai bước chân và chỉ trong một tích tắc, mắt ông tối sầm lại, cảm thấy hai chân trượt trên bùn; trong thời gian rất ngắn ông còn ý thức được mình ngã xuống đường và lăn xuống đâu đó rất sâu, rồi ông mất hết tri giác. Ông tỉnh lại rất khó khăn, từng bước từng bước một. Ông không nhớ mình đã tới đây ra sao, mồm ông đầy bùn, vị đất khiến ông buồn nôn. Áo ông dính đầy bùn, chân ông đơ cứng vì lạnh, vì nước, nhưng thật lạ, ba điếu thuốc mà hai cô con gái nhà Horgos đưa cho, ông vẫn cầm nguyên trong tay để giữ cho chúng khỏi ướt, vẫn còn nguyên vẹn. Ông vội nhét chúng vào túi, và cố đứng dậy. Nhưng chân ông cứ trượt đi trượt lại trên sườn rãnh dốc đầy bùn, mãi sau nhiều lần ông mới trèo lên được con đường đá. “Trái tim tôi! Trái tim tôi!” - lúc đó ông chợt nghĩ, và hốt hoảng ôm ngực. Ông cảm thấy mình rất yếu, và biết rằng ông phải vào bệnh viện nhanh nhất theo cách có thể. Trời mưa khiến ý định của ông trở nên vô vọng, mưa vẫn rơi với cường độ không đổi, thỉnh thoảng lại ào lên một đợt mới táp xiên xuống mặt đường. “Mình cần phải nghỉ. Dưới một gốc cây nào đó... hay trong quán rượu? Không, tốt hơn cả là ở một nơi nào đó.” Ông rời con đường đá, lần đến gần một cây keo già. Ông thu hai chân lại để khỏi phải ngồi trực tiếp xuống đất. Ông cố không nghĩ đến điều gì, cứ nhìn chằm chằm về phía trước. Mấy phút, hoặc mấy giờ cũng có thể đã trôi đi như thế, ông không biết. Phía đông, đường chân trời từ từ sáng dần. Ông bác sĩ mệt mỏi, và với một hy vọng mờ ảo nào đó ông quan sát ánh sáng lan dần ra, không khoan nhượng phủ lên cả vùng. Ông vừa hy vọng vào ánh sáng, vừa cảm thấy sờ sợ nó. Ông khát khao muốn nằm nghỉ trong một căn phòng ấm cúng, thân thiện. Dùng thìa ăn món xúp thịt nóng bỏng dưới ánh mắt canh chừng của các cô hộ lý da trắng, rồi quay mặt vào tường. Tới gần chỗ nhà của người nạo đường, ông bỗng chú ý thấy ba bóng người đang đi tới. Ông ở cách xa họ, quá xa, ông không nghe thấy, chỉ nhìn thấy một đứa trẻ nhỏ đang hăng say giải thích một điều gì đó cho một người, người kia đi theo sau họ vài mét. Khi họ đến ngang độ cao với ông, ông nhận ra mấy người đi bộ đó; ông thử gọi họ, nhưng rõ ràng tiếng ông bị mưa gió át đi, vì những người kia chẳng hề để ý đến ông, họ vẫn tiếp tục đi về phía quán rượu. Ông còn chưa kịp ngạc nhiên, vì vừa nhìn thấy hai gã lang thang được nói là đã chết, thì ông đã quên tất cả; chân ông bắt đầu buốt, cổ khô cháy. Ông mò lên tới con đường đá thì trời đã sáng, ông đi về phía thành phố, ông không muốn quay lại cái quán rượu. Đúng hơn là ông lết, chứ không đi, với những ý nghĩ lộn xộn, và giật mình sợ hãi những âm thanh thỉnh thoảng lại vang lên ở phía trên. Hình như có đàn quạ rình rập bay theo ông, ông cảm thấy rõ rằng chúng nhẫn nại bay theo ông, và chúng không bỏ cuộc. Buổi chiều ông tới ngã rẽ đi Elek, ông không còn đủ sức để một mình trèo lên chiếc xe ngựa kéo; gã Kelemen đang trên đường về nhà bằng cách nào đó đã kéo ông lên đống rơm ướt sau con dê đực. Ông cảm thấy người nhẹ nhõm, và những lời trách móc của tay soát vé còn vọng mãi trong đầu ông: “Ông bác sĩ, lẽ ra không được làm thế! Không được làm như thế!”

❀ ❀ ❀

[1] Thuộc kỷ nguyên xuất hiện cách đây khoảng 220 - 600 triệu năm, đặc trưng của thời kỳ này là sự xuất hiện của các loài cá, côn trùng và bò sát.

[2] Là thời kỳ kéo dài khoảng 180 triệu năm, từ 251 triệu năm đến 65,5 triệu năm về trước.

[3] Crete: tên hòn đảo lớn nhất của Hy Lạp ở Địa Trung Hải, cũng là một địa chỉ khảo cổ nổi tiếng. Thời kỳ Crete cách đây từ 145,5 - 65,5 triệu năm.

[4] Tạm dịch từ cụm từ Belsõ Magyarország.

[5] Một thời kỳ trong lịch sử trái đất, bắt đầu sau thời kỳ Paleogén, 23,03 triệu năm và kết thúc 2,588 triệu năm về trước.

[6] Cũng là vùng Alföld, vùng đồng bằng lớn phía Đông Hungary.

[7] Những chuyển động chậm, không làm thay đổi phần vỏ trái đất, tác động trên các diện tích lớn; cùng với sự giãn nở của trái đất, chúng làm thay đổi sự sắp xếp của các lục địa và đại dương.

[8] Tisia: Còn được nhắc tới với tên Lý thuyết Tisia của nhà địa chất học Hungary Prinz Gyula, theo thuyết này, ở vùng Alföld vào thời cổ đại đã xuất hiện một khối tinh thể thống nhất và cả các dãy núi của vùng Carpat hình thành trên khối này.

[9] Một thời kỳ trong lịch sử hình thành Trái đất, bắt đầu cách ngày nay 2,5 triệu năm và kết thúc cách đây 12000 năm.

[10] Một loại mũ lông có phần che cả gáy và hai tai.

[11] Nguyên văn tiếng Đức là Wirtschaft: kinh tế, làm kinh tế.

[12] Những người sống ở vùng Swabia, miền Tây Nam nước Đức, nay là một phần của khu Baden-Wurtenberg và khu Bavaria.

[13] Nhà cân đong lương thực ngày trước ở các làng quê.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Krasznahorkai Laszlo

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.