Vũ Điệu Quỷ Satan

Lượt đọc: 79 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V. TIỀN ĐỒ, NHÌN TRỰC DIỆN

❊ ❊ ❊

Nhiều năm sau bà vợ Halics vẫn khăng khăng nói rằng, khi Irimiás và Petrina, với cái thằng “quỷ con” nhập bọn với họ, kể từ hôm ấy mất dạng trên con đường lát đá dẫn về phía thành phố trong làn mưa bụi, và họ còn đứng lặng lẽ tới mấy phút trước cửa quán rượu, vì hình dáng vị cứu tinh của họ mãi không mờ khuất hẳn ở khúc ngoặt, bầu trời trên đầu họ - không rõ từ đâu - bất chợt bị che phủ bởi đàn bướm rực rỡ sắc màu, và từ trên trời cao có thể nghe rõ những thanh âm nhè nhẹ của tiếng nhạc thần tiên. Và dù đó chỉ là ý kiến của riêng bà ta, nhưng chắc chắn là chỉ từ đó trở đi họ mới tin tưởng sâu sắc vào sự việc đã xảy ra, chỉ tới lúc này họ mới nhận ra rằng, họ đứng ở đây không phải như những tù binh của một giấc mơ ngọt ngào, du dương nhưng hèn hạ, tỉnh dậy khỏi giấc mơ đó sẽ rất đắng cay, mà họ chính là những kẻ được lựa chọn nhiệt tâm của một cuộc giải thoát đau đớn từ thuở xa xưa, vì cho tới khi họ mất hút, Irimiás cùng chỉ dẫn ngắn gọn và mấy lời an ủi của anh ta, nỗi sợ hãi của họ, rằng một kết cục định mệnh có thể đến với họ bất cứ lúc nào, kết cục ấy có thể xô đẩy chiến thắng mong manh của họ tới sự hỗn loạn không thể chịu đựng nổi, dập tắt sự hăng hái như đống than hồng của họ, thế là trong khoảng thời gian căng thẳng kéo dài từ lúc thỏa thuận tới lúc chia tay vào ban đêm họ đã khôn khéo đánh lạc hướng sự chú ý của bọn Irimiás bằng những câu chuyện khá sôi nổi, có khi họ tranh nhau nói, lúc thì phàn nàn về thời tiết thay đổi bất thường, về các đau đớn do căn bệnh thấp khớp gây ra, hay về các loại vang đóng chai cũng như những sa sút trong đời sống nói chung. Dễ hiểu là chỉ đến lúc đó họ mới thở phào nhẹ nhõm, bởi Irimiás không chỉ là khởi nguồn tương lai của họ, mà cũng có thể là số phận hẩm hiu của họ, không có gì đáng ngạc nhiên, nếu chỉ từ lúc đó họ mới thực sự tin rằng, từ đó trở đi “mọi sự sẽ thuận buồm xuôi gió”, chỉ từ khi đó mới là lúc họ quên hết lo ngại để thực sự cảm nhận sự vui sướng, nhẹ nhõm và sự ngất ngây của tự do đến bất chợt, mà ngay cả “số phận hẩm hiu có vẻ không chịu đựng nổi cũng buộc phải lùi bước”. Sự phấn chấn của họ chỉ tăng thêm, khi vẫy tay chào tạm biệt ông chủ quán lần cuối (Đáng đời ông, đồ keo kiệt! - Kráner hét lên), lúc đó ông khoanh hai tay trước ngực, đứng tựa vào khung cửa nhìn toán người đang vui vẻ, ầm ĩ đi xa dần với vẻ mệt mỏi, đôi mắt thâm quầng, và sau cơn tức giận tím người, lòng thù hận cháy bỏng, sau bao nhiêu đau đớn bất lực, ông chỉ đủ sức gào lên với họ: “Quỷ tha ma bắt hết chúng mày đi, lũ đê tiện, vô ơn!” Vì một đêm thức trắng vô ích, khi rơi từ cái bẫy này sang bẫy khác mỗi lúc ông lại vắt óc nghĩ ra một kế hoạch mới để thủ tiêu Irimiás, kẻ đã láo xược lôi ông ra khỏi giường, trong khi ông vằn mắt lên suy nghĩ xem nên đâm chết, bóp cổ, hay đầu độc, hoặc băm nát hắn bằng chiếc rìu nhỏ, trong khi hắn “mũi khoằm khốn kiếp” đang ngáy khò khò trong góc nhà kho, không hề để ý tới ông; và nói cũng vô ích, chẳng ăn thua gì, dù ông đã làm tất cả, lúc giận dữ, khi nóng nảy, đe dọa, lúc đề nghị, thậm chí van xin, để thuyết phục “đám người ngu ngốc” kia từ bỏ cái kế hoạch chắc chắn mang lại sự tổn hại cho họ, ông đã nói (rằng “Các người hãy tỉnh ngộ đi, mẹ kiếp! Các người không thấy nó đang dắt mũi các người ư?”), nhưng như nước đổ đầu vịt, rồi chẳng biết làm sao nữa, ông nguyền rủa cả thế giới, ông cay đắng tự thú nhận sự hổ thẹn, ông đã phá sản, không cứu vãn nổi. Sau tất cả những chuyện này - hay “vì con lợn say rượu này và vì con đĩ già này mà ông ở lại đây?” - còn có thể làm gì khác hơn là bỏ đi, và đến mùa xuân ông cũng chuyển vào căn nhà trong thành phố, rồi thử rao bán cái quán rượu, và có lẽ... có thể làm gì đó với lũ nhện. “Chẳng hạn - một tia hy vọng chợt lóe lên trong đầu ông - ta có thể đề nghị dùng chúng vào mục đích thí nghiệm khoa học, biết đâu ta chẳng được chút đỉnh... Nhưng mà - ông buồn bã thú nhận - cũng chỉ như muối bỏ biển... Đúng là ta có thể làm lại từ đầu.” Chỉ có nỗi hí hửng của mụ vợ Horgos là lớn hơn nỗi chán chường của ông. Sau khi khinh thị nhìn “tất cả cái trò mèo” mụ quay vào quán rượu, và nhìn ông chủ quán ủ rũ sau bàn quầy với ánh mắt giễu cợt. “Ông thấy chưa? Ông cũng tưởng bở lắm cơ. Giờ ông thử nhìn lại mình xem.” Ông chủ quán không nhúc nhích, dù ông muốn cho mụ một cái đá. “Thế đấy. Khi lên voi, lúc xuống chó. Tôi luôn nói, tốt nhất là ta nên ngồi im. Ông đã làm được gì? Ông có căn nhà tuyệt đẹp trong thành phố, bà vợ quý phái, có ô tô, thế nhưng chưa đủ. Giờ thì ông ngồi đó mà hối!” Ông chủ quán gầm gừ: “Mụ đừng có cục tác ở đây thế! Về nhà mà cục tác.” Bà vợ Horgos uống nốt cốc bia, rồi châm thuốc hút. “Chồng tôi cũng là người bất an như ông. Ông ấy cũng chẳng hài lòng với điều gì. Rồi đến khi thấy mọi việc đã muộn. Ông ấy mò lên tầng áp mái với sợi dây thừng.” Ông chủ quán quát. “Bà thôi đi, đừng lải nhải nữa! Về nhà mà giữ mấy đứa con gái bà, kẻo rồi chúng nó trốn mất đấy!” “Chúng nó ấy à? - Bà vợ Horgos cười mỉm. - Không đâu. Ông tưởng chúng nó lừa được tôi à? Tôi đóng cửa nhốt chúng nó trong nhà, cho tới khi nào đám dân trại chưa biến khỏi đây. Chứ lại không à? Ông thử nói xem. Không thì chúng bỏ lại tôi chết già ở đây à. Rồi chúng sẽ làm ruộng tử tế, đánh đĩ thế là đủ rồi. Thích hay không, rồi chúng cũng phải chịu. Chỉ có thằng Sanyi, thằng ấy thì tôi không giữ. Cho nó đi. Ở nhà nó cũng chẳng làm được gì. Nó ăn như lợn, ai mà chịu nổi nó. Muốn đi đâu thì đi. Đỡ phải lo.” “Bà và ông Kerekes muốn làm gì tùy thích, - ông chủ quán lẩm bẩm. - Còn tôi thì hỏng rồi. Cái thằng mặt chuột ấy đã làm tôi phá sản.” Và ông biết rằng, đến tối, khi ông dọn dẹp xong, vì tới lúc đó thì cả bên cạnh chiếc quan tài, ở phía sau, cả trên các ghế ngồi cũng không chất thêm được thứ gì nữa, ông cẩn thận khóa tất cả các cửa sổ và cửa ra vào, rồi vừa lầm bầm chửi rủa, ông vừa đánh chiếc Warsawa cũ kĩ vào thành phố, ông sẽ không nhìn lại, một lần cũng không nhìn lại sau, bằng cách nhanh nhất có thể, ông giải thoát khỏi cái xác con bé, ông cố xóa khỏi ký ức cái ngôi nhà khốn khổ này càng nhanh càng tốt, với hy vọng rồi tất cả sẽ lún xuống lòng đất, và trên mảnh đất đó đến chó cũng không dừng lại để bới đất lấp thứ chúng thải ra, đúng như đám dân trại vừa rồi đã chẳng hề quay lại nhìn lần cuối cùng mái ngói phủ đầy rêu, chiếc ống khói đổ, những ô cửa sổ lưới sắt, vì họ cảm thấy rằng khi họ đi vòng dưới tấm biển ghi tên khu trại một thời, thì “triển vọng tương lai rực rỡ” không chỉ thay thế, mà còn vĩnh viễn xóa đi quá khứ. Họ thỏa thuận sẽ gặp nhau ở trước ngôi nhà đặt máy cũ, chậm nhất là hai giờ sau, vì họ muốn đến lâu đài Almassy khi trời còn sáng, và chừng đó thời gian hình như thừa đủ để họ thu dọn những thứ quan trọng nhất, vì dại gì lại đi mười, mười hai cây số với trăm thứ lỉnh kỉnh cho khổ sở, hơn nữa họ biết rằng ở đó rồi đây họ sẽ chẳng thiếu thốn thứ gì. Bà vợ Halics đề nghị đi ngay, không quan tâm đến thứ gì cả, hãy để lại đây mọi thứ, và bắt đầu bằng sự nghèo khổ Cơ đốc giáo, vì “ân sủng chính đã dành cho chúng ta. Chúng ta có Kinh Thánh.”; nhưng những người khác - nhất là Halics - đã thuyết phục bà ta dẫu sao hãy đem theo những đồ cá nhân cần thiết nhất. Họ hồi hộp chia tay nhau, và vội vã xếp dọn đồ, trước tiên ba người đàn bà dọn sạch tủ quần áo và các tủ đựng đồ trong bếp, rồi đến gian đựng thức ăn, Schmidt, Kráner và Halics thì đầu tiên chọn các dụng cụ cần thiết nhất, sau đó họ săm soi lại tất cả các phòng, sợ vì sự cẩu thả của các bà mà “bỏ sót lại ở đây thứ gì đó có giá trị”. Hai người đàn ông độc thân là đơn giản nhất: mỗi người dồn hết đồ đạc vào chỉ được hai chiếc va li to, không như ông đốc học, ông thu dọn nhanh nhưng chọn lựa cẩn thận, chú ý “sử dụng chỗ ta có một cách hợp lý nhất”, Futaki vội vã nhét đồ đạc vào mấy chiếc va li cũ rích do ông bố để lại, rồi lập tức khóa kín lại, như người nhốt ma vào lọ, rồi xếp chúng chồng lên nhau, sau đó gã ngồi lên trên và châm thuốc hút. Lúc này, khi không còn thứ gì gợi nhớ đến sự hiện hữu của cá nhân gã, khi các căn phòng trống rỗng không còn đồ đạc của nả lạnh lùng vây quanh, gã có cảm giác như thể với việc gói ghém xong đồ đạc, gã đã tiêu hủy những tín hiệu cho tới lúc này có sứ mệnh chứng minh quyền gắn bó của gã với một mảnh nhỏ của thế giới này. Thế là dù những ngày, những tuần lễ, những tháng, và có lẽ những năm đầy hy vọng đang chờ ở phía trước, vì gã biết rõ rằng số phận mình đã đến hồi may mắn, giờ đây khi ngồi trên đỉnh chồng va li, trong căn phòng tối, gió lùa và hôi hám này (căn phòng mà gã không thể nói “tôi đã sống ở đây”, cũng như không thể trả lời “vậy thì ở đâu”) càng lúc gã càng không thể cưỡng nổi một nỗi buồn nghèn nghẹn bất chợt dâng lên. Cái chân mang bệnh của gã bắt đầu đau, gã tụt khỏi chồng va li và thận trọng ngả mình xuống giường. Mấy phút sau gã đã ngủ, rồi khi hốt hoảng tỉnh dậy, gã nhảy ra khỏi giường vụng về đến nỗi cái chân đau mắc kẹt vào khe hở cạnh giường, và suýt nữa gã ngã sóng soài ra đất. Gã vừa chửi rủa vừa nằm trở lại, gác chân lên thành giường, nhìn lên cái trần nhà nứt lở, rồi chống khuỷu tay nhỏm dậy nhìn quanh căn phòng trống. Và lúc đó gã hiểu ra điều gì đã giữ gã ở lại đây hết lần này tới lần khác, khiến gã không thể quyết định rời bỏ nơi này, bởi giờ đây gã đã thanh toán cả sự bảo đảm duy nhất, và bỗng nhiên gã không còn gì nữa; và cũng như cho đến lúc này không còn đủ can đảm để ở lại đây, giờ đây gã đã không còn đủ can đảm để ra đi, và với việc đã thu dọn hết đồ đạc, cứ như gã tự thu nhỏ cái kích cỡ lớn hơn của mình lại, chỉ đổi cái bẫy cũ sang cái bẫy mới hơn. Xưa nay, gã là tù binh của nhà xay và khu trại, bây giờ gã là kẻ thụ động trong một cuộc mạo hiểm; và nếu như đến nay gã luôn run sợ ngày ấy - ngày mà gã sẽ không còn biết phải mở cánh cửa này ra thế nào - sẽ đến, và không một thứ ánh sáng nào sẽ chiếu qua cửa sổ, giờ thì gã tự kết án mình, với tư cách là nô lệ của một guồng máy vĩnh cửu, gã sẽ mất nốt cả điều này nữa. “Một phút nữa và ta sẽ đi,” - gã cho phép mình trì hoãn thêm chút nữa, tay gã lần tìm bao thuốc lá cạnh giường. Gã cay đắng nhớ lại những lời Irimiás nói trước cửa quán rượu (“Các vị, các bạn, từ giờ này trở đi các bạn là người tự do!”) vì lúc này gã cảm thấy mình là tất cả, nhưng là người tự do thì không: gã không thể nào quyết định lên đường, dù thời gian gấp gáp. Gã nhắm mắt, thử tưởng tượng cuộc sống sắp tới, để trấn tĩnh bớt sự căng thẳng “không cần thiết” này, nhưng thay vì bình tĩnh lại, sự căng thẳng khiến gã toát mồ hôi trán. Vì dù có cố buộc trí tưởng tượng thay đổi, nhưng nó cứ trở đi trở lại với một hình ảnh duy nhất: gã thấy mình bước đi trong mưa trên con đường lát đá, áo khoác sờn cũ, trên vai khoác một chiếc túi rách, rồi gã dừng lại, ngập ngừng quay lui. “Không! - gã nói dứt khoát. Vậy là đủ rồi, Futaki!” Gã ra khỏi giường, gài áo sơ mi vào trong quần, khoác chiếc áo sờn cũ, chằng buộc các tay xách va li lại với nhau. Đem chúng ra hiền, rồi - vì không thấy động tĩnh gì - gã đi ra, để giục những người khác. Đúng lúc gã định gõ cửa nhà Kráner ở sát nách nhà gã, thì nghe bên trong có tiếng xủng xoảng, rồi ngay sau đó như thể có vật nặng nào đó rơi đánh rầm xuống. Gã lùi lại mấy bước, vì thoạt tiên gã tưởng có chuyện chẳng lành. Nhưng khi định gõ cửa, gã nghe rõ tiếng cười giòn của vợ Kráner, rồi... có tiếng một cái đĩa... hay một cái cốc vỡ trên sàn đá. “Vợ chồng nhà này làm trò gì thế nhỉ?” Gã đi tới cửa sổ bếp, lấy tay che mặt, nhìn vào trong. Lúc đầu gã không muốn tin ở mắt mình: Kráner đang giơ một chiếc nồi mười lít lên đỉnh đầu, rồi dùng hết sức quăng vào cửa bếp, bà vợ Kráner thì đang giật những tấm rèm từ ô cửa sổ nhìn ra sân sau, rồi mụ ra hiệu cho Kráner đang đứng thở hãy chú ý, mụ dịch cái tủ bếp đã trống rỗng ra xa tường, bằng một động tác mạnh lật tung chiếc tủ lên. Chiếc tủ đổ mạnh xuống nền bếp, một bên tủ bung ra, Kráner tiếp tục đá tung các phần khác. Vợ Kráner đứng lên đỉnh đống gỗ giữa bếp, giật mạnh chiếc đèn chùm sắt tây, khua khua trên đầu một vòng, Futaki chỉ đủ thời gian cúi rạp xuống, chiếc đèn đã bay vù về phía gã, xé thủng cửa sổ, lăn mấy mét về phía một bụi cây. “Ông làm cái gì ở đây thế hở?” - Kráner hét lên với gã, sau khi thận trọng mở được cánh cửa sổ. “Ôi, lạy Chúa! - vợ Kráner rít lên phía sau, nhìn Futaki vừa lẩm bẩm chửi vừa lò dò đứng dậy. - Ông có làm sao không?” “Tôi sang định bảo, - Futaki nói, vẻ mặt buồn bã. - Nhưng nếu tôi biết sẽ được đón tiếp thế này, thì tôi đã ở nhà cho rồi.” Kráner mồ hôi nhễ nhại, và dù cố gắng đến đâu cũng không rũ bỏ được những dấu vết của cơn tức giận đập phá trước đó trên nét mặt. “Đáng đời cho kẻ rình mò người khác! - gã miễn cưỡng cười nhìn Futaki. - Nào, ông vào đây ta uống một cốc làm lành!” Futaki nháy mắt, giũ bùn đất khỏi ủng, và đến lúc gã khó nhọc bước qua các mảnh vỡ của một tấm gương lớn, một chiếc lò sưởi dầu méo mó, một tủ quần áo đã bị đập nát, thì Kráner đã rót đầy ba cốc. “Nào, ông thấy sao? - Kráner hỏi gã, vẻ mãn nguyện. Nom được đấy chứ?” “Công nhận!” - Futaki đáp, và tay chạm cốc với Kráner. “Tôi không muốn để một bọn Di gan nào đó đến vơ vét! Thà đập nát hết đi còn hơn!” - Kráner giải thích. “Tôi hiểu!” - Futaki ngập ngừng, gã cảm ơn cốc rượu, rồi rút nhanh. Gã đi qua khoảng ngăn cách hai dãy nhà, đến nhà Schmidt gã đã chú ý hơn, đầu tiên gã cẩn thận nhòm qua cửa bếp. Nhưng ở đây không hề có mối đe dọa nào, gã chỉ nhìn thấy đống rác vụn, vợ chồng Schmidt mệt mỏi ngồi trên đỉnh chiếc tủ bếp lật ngược. “Tất cả đều mất trí hết rồi sao? Họ làm sao thế nhỉ?” Gã gõ gõ lên mặt kính, và vẫy tay cho Schmidt đang nhìn gã lúng túng, ra hiệu cho họ hãy khẩn trương lên, đã đến lúc khởi hành; rồi gã đi về phía cổng, nhưng sau mấy bước gã chững lại, vì thấy ông đốc học đang thận trọng đi qua khoảng trống vào sân nhà Kráner, lén nhìn qua khung cửa sổ bếp đã vỡ; rồi - vẫn nghĩ không một ai nhìn thấy (Futaki được cổng nhà Schmidt che kín) - ông ta chạy trở lại nhà mình, dập cửa ra vào, lúc đầu còn dè dặt, về sau càng lúc càng dữ dội hơn. “Ông ta làm sao thế nhỉ? Mọi người phát điên hết rồi sao?” - Futaki nghĩ, không hiểu nổi, gã bước khỏi nhà Schmidt, và từ từ đi sang nhà ông đốc học. Ông kia dập cửa mỗi lúc một mạnh hơn, như thể ông muốn tự kích động mình, rồi thấy làm thế cũng vô ích, ông ta nhấc cánh cửa ra khỏi bản lề, lùi lại hai bước, dùng hết sức dập vào tường. Nhưng cánh cửa vẫn không vỡ, thấy thế ông ta giận dữ nhảy lên nó, giẫm đạp cho tới khi không còn mảnh nào lành lặn. Nếu không vô tình nhìn lại đằng sau và không nhìn thấy Futaki đang cười cười ở phía ngoài, có lẽ ông đốc học sẽ lao vào số đồ gỗ ở trong nhà, cho tới lúc ấy còn nguyên vẹn; ông lúng túng, chỉnh sửa lại chiếc áo dạ màu xám đang mặc, và bối rối mỉm cười với Futaki. “Ông biết đấy.” Nhưng Futaki không nói một lời. “Ông biết sự việc thế nào đấy. Hơn nữa...” Futaki nhún vai. “Rõ rồi. Tôi chỉ muốn biết khi nào ông chuẩn bị xong. Những người khác đã xong cả rồi.” Ông đốc học hắng giọng. “Tôi à? Nói thế nào nhỉ, tôi cũng đã xong rồi. Chỉ cần chất mấy cái va li của tôi lên chiếc xe nhỏ của nhà Kráner.” “Thế thì tốt, rồi các vị bàn với nhau.” “Chúng tôi đã thống nhất rồi. Tôi trả hai lít rượu mạnh. Trong trường hợp khác, có lẽ tôi đã cân nhắc, nhưng bây giờ, trước một chuyến đi thế này...” “Rõ rồi, cũng đáng thôi.” - Futaki an ủi, gã chào ông đốc học rồi quay về nhà đặt máy. Như chỉ chờ có thế, khi Futaki vừa quay đi, để tiễn biệt, đầu tiên ông liền nhổ một bãi lớn vào phòng đệm qua khung cửa mở trống, rồi nhặt lên một viên gạch, ném thẳng vào cửa sổ bếp. Khi nghe tiếng kính vỡ Futaki bất chợt quay nhìn lại đằng sau, ông đốc học vội vàng phủi bụi trên áo khoác, vờ như người không nghe thấy gì ông bắt đầu lục lọi trên đống mảnh vỡ. Nửa tiếng sau mọi người đã sẵn sàng lên đường, họ đứng trước cửa nhà đặt máy, trừ Schmidt (người kéo Futaki ra một chỗ để giải thích về những việc đã diễn ra. “Ông biết không, ông bạn, tôi không định thế đâu. Chỉ vô tình một cái nồi đã rơi từ trên bàn xuống, rồi mọi chuyện cứ tự nó tiếp tục.”), những gương mặt đỏ gay, nhưng đôi mắt rực sáng để chứng tỏ “cuộc chia tay rất thành công”. Ngoài những chiếc va li của ông đốc học, thì đồ đạc của nhà Halics cũng chất đủ lên chiếc xe hai bánh của vợ chồng Kráner, nhà Schmidt thì có một xe riêng, như thế họ không lo vì nhiều đồ đạc mà tốc độ di chuyển sẽ chậm. Tất cả đã xong, họ đã có thể xuất phát, chỉ có điều không có người nào nói ra lời quyết định. Người nọ chờ người kia, và thế là họ cứ đứng im tại chỗ, và họ nhìn khu trại, mỗi lúc một bối rối hơn, và lúc này, trong giây phút trước khi lên đường ai cũng cảm thấy “dẫu sao cũng phải nói một điều gì đó”, một lời từ biệt ngắn, “hay đại loại thế”, họ tin rằng người đó sẽ là Futaki, nhưng khi gã chưa nghĩ ra những lời phù hợp với hoàn cảnh, sau sự tàn phá tới lúc này đối với gã vẫn là không thể hiểu nổi, thì Halics đã chán cảnh chờ đợi, nắm lấy hai càng xe và nói “Nào”. Kráner nhắc càng xe lên, dẫn đầu đoàn, vợ Kráner và vợ Halics giữ các túi đồ từ hai phía, để một chiếc túi hay chiếc cặp nào đó khỏi rơi dọc đường do xe rung lắc; ngay sau họ là Halics đẩy chiếc xe cút kít của lão, sau rốt là vợ chồng nhà Schmidt. Họ vòng ra khỏi chỗ trước đây là cổng của khu trại, một lúc lâu chỉ nghe tiếng cót két của các bánh xe và xe cút kít, vì ngoài Kráner - người không chịu được sự im lặng lâu, thỉnh thoảng lại lên tiếng nói về vị trí của đống đồ đạc chất trên đỉnh xe của họ - không một ai phá vỡ sự yên lặng, bởi không dễ gì cùng một lúc mà quen được với sự hồi hộp, với cảm giác pha trộn đặc biệt của sự hăng hái và nỗi lo ngại về những điều bất trắc đang chờ đón họ ở phía trước, thêm nỗi lo là sau hai đêm mất ngủ liệu họ có chịu nổi những thử thách của chuyến đi dài. Nhưng tất cả những điều đó không kéo dài lâu, họ được trấn tĩnh vì đã mấy tiếng chỉ có mưa lất phất, chắc thời tiết về sau cũng sẽ không xấu đi, mặt khác mỗi lúc càng khó kìm nén trong lòng những ngôn từ của cảm giác nhẹ nhõm và sự quả quyết can đảm, thứ ngôn từ mà không một người xuất phát đi tìm sự mạo hiểm nào có thể kìm nén lâu trong lòng. Kráner muốn hét lên ngay từ khi họ ngoặt ra con đường đá và đi ngược hướng vào thành phố về phía lâu đài Almassy, vì thời điểm mà đoàn người khởi hành đối với ông là kết thúc của sự khổ ải hơn mười năm, mà trước đó nửa tiếng ông đã trả được mối hận, nhưng thấy các bạn đồng hành phía sau đang giấu sự xúc động, ông đã kìm lại, cho tới khi họ tới lối vào con đường đất đi Hochmeiss: tới đó thì ông không còn giấu được tâm trạng hứng khởi của mình, và vui vẻ hét lên: “Vĩnh biệt cuộc sống cùng cực! Thế là chúng ta đã thành công! Bà con ơi! Các bạn ơi! Chúng ta đã thành công!”, ông cho xe dừng, rồi quay lại phía sau, vỗ tay lên đùi và lại hét lên: “Các bạn nghe tôi nói đây! Kết thúc sự khốn cùng! Các bạn có hiểu không? Bà xã có hiểu không?” Ông ta nhảy đến chỗ vợ, nhấc bổng bà ta lên như nhấc một đứa bé, và quay tròn nhanh đến lúc còn đủ sức, rồi đặt vợ xuống, gục đầu vào cổ vợ và nhắc đi nhắc lại: “Tôi đã nói rồi! Tôi đã nói rồi!” Đến lúc đó thì những người khác cũng “không kìm nén được nữa”, đầu tiên là Halics lem lém chửi trời, chửi đất và quay lại khu trại giơ nắm đấm lên đe dọa, rồi đến Futaki bước lại gần Schmidt đang toe toét cười, và xúc động nói: “Ông bạn....”, ông đốc học hăng hái giải thích cho vợ Schmidt (“Có đúng là tôi đã nói, không bao giờ được từ bỏ hy vọng? Cần phải tin tưởng, tôi nói, đến hơi thở cuối cùng! Nếu không, chúng ta sẽ ra sao? Ra sao? Bà nói đi!”), nhưng ả kia - như người khó chịu vì sự bùng phát bất ngờ này của thứ niềm vui sống sượng - chỉ miễn cưỡng nở một nụ cười mơ hồ trên mặt để tránh sự chú ý của mọi người. Bà vợ Halics ngước nhìn lên trời và vui vẻ đọc bài cầu nguyện “Luôn ca ngợi Chúa!”, cho tới khi bà phải cúi mặt xuống do làn mưa rơi, và rồi bà nhận thấy dẫu sao cũng không thể át được “sự ầm ĩ vô đạo này”. “Mọi người ơi, - bà vợ Kráner hét to. - Phải uống mừng sự kiện này!” Và lôi một chai nửa lít từ trong một chiếc túi ra. “Mẹ kiếp! Hóa ra họ đã chuẩn bị kĩ cho cuộc sống mới!” - Halics reo mừng, và nhanh chóng tiến đến sau lưng Kráner mong đến lượt trước; nhưng chai rượu được chuyền từ miệng người này đến miệng người khác không theo quy luật, và đến khi nhận ra thì lão chỉ còn dốc được chút ít sót lại dưới đáy chai.

“Đừng buồn nhé, Lajos!” - Vợ Kráner rỉ tai với lão, lại còn nháy mắt với lão một cái... - Rồi ông sẽ thấy, vẫn còn.” Từ lúc đó trở đi Halics như có cánh, nhanh nhẹn hẳn, lão đẩy chiếc xe cút kít lao đi nhẹ như không trên đường, và chỉ hơi trầm tĩnh lại khi tiến lên cách chỗ đó khoảng hai trăm mét; gã nhìn vợ Kráner với vẻ dò hỏi, nhưng bà kia nhìn lão với ánh mắt “Bây giờ thì chưa...” để hạ hỏa cho lão. Sự phấn chấn của lão khiến những người khác cũng vui lây, và dù gần như liên tục phải chỉnh sửa các túi đồ trên xe, họ đi khá nhanh: chẳng mấy chốc họ đã đi qua cây cầu nhỏ bắc qua mương dẫn nước, và ở phía xa đã nhìn thấy những cột điện cao thế khổng lồ và những dây cáp dẫn điện chùng xuống như sóng. Thỉnh thoảng Futaki cũng tham gia vào câu chuyện rời rạc, dù gã di chuyển khó nhọc nhất vì phải đeo các va li nặng trĩu trên vai để đi kịp những người khác (Kráner và Schmidt đã thử mấy lần nhưng không thể nào chất nổi chúng lên xe), gã phải cố gắng lắm với cái chân thọt để không bị tụt hậu. “Dù sao tôi cũng tò mò muốn biết họ ra sao?”- gã lên tiếng. “Họ là những ai?”- Schmidt hoi. “Kerekes chẳng hạn.” “Kerekes? - Kráner hỏi vọng lại sau. - Ông khỏi lo cho hắn. Hôm qua hắn đã về nhà, lăn ra giường và nếu cái giường không sập thì theo tôi chỉ ngày mai hắn mới thức dậy. Hắn sẽ lầm bầm vài câu trước quán rượu rồi sẽ mò sang chỗ vợ Horgos. Hai người ấy xứng đôi như hai quả trứng vậy.” “Chắc chắn thế! - Halics xen vào. Chúng nó dính vào nhau, và chẳng còn quan tâm đến ai đâu. Mụ vợ Horgos đã trút bỏ tang phục ngay ngày hôm sau...” “Giờ tôi mới nhớ ra! - vợ Kráner cắt ngang. - Chuyện gì đã xảy ra với Kelemen khét tiếng ấy nhỉ? Hắn lẩn nhanh như chạch, tôi không hề biết nữa.” “Kelemen à? Ông bạn chí cốt của tôi hả? - Kráner quay lại cười. - Hắn biến: từ trưa hôm qua rồi. Độ này hắn bệt lắm, he he! Đầu tiên là tôi đã làm cho hắn khốn đốn, sau đó là hắn lại sinh chuyện với Irimiás. Đem trứng chọi đá, hắn đã bị Irimiás đuổi thẳng cổ, khi hắn bắt đầu khoác lác thế này thế nọ, rằng rồi để hắn sẽ nói phải làm gì, rằng phải tống tất cả chúng ta vào nhà đá, rằng hắn phải được đối xử khác biệt và đại loại như vậy! Hắn biến rồi, lẩn nhanh như chạch. Tôi nghĩ chính là khi hắn giơ tấm băng cảnh sát tình nguyện ra trước mắt Irimiás là lúc hắn đã tự khép lại cánh cổng phía sau mình, Irimiás bảo hắn đem về mà chùi đít, xin lỗi các vị.” “Tôi cũng không ưa gì hắn, - Schmidt chêm vào. - Nhưng cái xe kéo của hắn, thì lúc này tôi sẵn sàng nhận.” “Ừ tôi cũng nghĩ thế. Nhưng sau đó thì sao?

Ông sẽ làm gì? Hắn ta có thể gây sự với bất kỳ ai!” Vợ Kráner bỗng nhiên chững lại. “Dừng lại!” Kráner hốt hoảng dừng xe lại. “Các ông các bà ơi, ôi cái đầu mụ mị của tôi!” “Bà nói đi nào! - Kráner giục vợ. - Bà làm sao thế?” “Ông bác sĩ.” “Ông bác sĩ làm sao?” Yên lặng. Schmidt cũng dừng xe. “Tôi... - người đàn bà ấp úng - tôi... tôi không bảo ông bác sĩ lấy một lời! Lẽ ra..!” “Ối giời, bà này! - Kráner bực bõ nói. - Tôi đã tưởng bà làm sao. Bà quan tâm đến ông bác sĩ làm gì?” “Chắc chắn ông ấy sẽ đi cùng. Ông ấy sẽ chết đói một mình mất. Tôi biết rõ ông ấy, sau bao nhiêu năm trời. Bây giờ ông ấy như một đứa trẻ con. Nếu tôi không đưa thức ăn đến, ông ấy sẽ chết đói. Còn rượu nữa. Thuốc hút. Quần áo bẩn. Một tuần, hai tuần, rồi lũ chuột sẽ gặm nhấm ông ấy.” Schmidt cáu kỉnh nói. “Bà đừng giả bộ tử tế nữa. Nếu bà thương xót ông ta, thì hãy quay lại đi! Tôi thì cóc cần tới ông ta! Theo tôi thì ông ta còn mừng vì chúng ta đã đi khuất mắt ông ấy...” Vợ Halics cũng chen vào. “Bà nói phải đấy! Chúng ta phải biết ơn Chúa vì cái ông bạn bè của địa ngục ấy không đi cùng với chúng ta! Ôngta là người của quỷ Satan, tôi đã biết điều đó từ lâu.” Futaki - đằng nào thì họ cũng đã dừng lại - châm thuốc hút và mời cả những người xung quanh. “Dẫu sao tôi cũng lấy làm lạ, - gã thêm vào - là ông ta lại không nhận ra điều gì sao?” Vợ Schmidt từ nãy vẫn im lặng, giờ cũng tới gần, góp chuyện. “Con người ấy đã trở thành như một con chuột chũi. Hay còn quá thế. Vì chuột chũi ít ra thỉnh thoảng còn chui đầu lên khỏi mặt đất. Còn ông bác sĩ thì hình như muốn chôn sống mình.

Đến hàng tuần nay tôi không nhìn thấy bóng dáng ông ta...” “Làm gì có chuyện đó! - Kráner kêu lên. - Ông ấy cảm thấy thoải mái trong nhà đấy. Ngày nào ông ta cũng say khướt, rồi ngủ một giấc, chứ ông ta có việc gì khác đâu. Không cần phải thương xót cho ông ta. Giá như tôi có số di sản mà mẹ ông ta để lại trong túi! Thôi, nghỉ thế đủ rồi! Chúng ta đi thôi, không biết bao giờ mới đến nơi!” Nhưng Futaki có vẻ còn băn khoăn. “Ông ta ngồi suốt ngày bên cạnh chiếc bàn. Sao lại có chuyện ông ta không nhận ra điều gì? - Gã lo lắng nghĩ, và chống gậy bước theo bọn Kráner. - Ông ta không thể không nghe thấy tiếng ồn náo ầm ĩ ấy. Rồi sự đi lại, tiếng xe cộ cót két, tiếng la ối... Tất nhiên. Có thể. Cũng có thể ông ta đã ngủ trong suốt thời gian đó. Bà Kráner đã nói chuyện với ông ta chiều hôm kia, khi đó chắc chắn ông ta không làm sao. Hơn nữa, Kráner nói đúng, ai biết việc người ấy. Nếu ông ta muốn chết rũ ở đó, thì cứ việc. Tôi dám cược rằng, một hai ngày nữa, nếu biết điều gì đã diễn ra, ông ta sẽ gói ghém đồ đạc và đi theo chúng ta. Ông ta không thể sống thiếu chúng ta đâu.” Trên đoạn đường chừng năm sáu trăm mét mưa bắt đầu rơi nặng hạt hơn, đoàn người lầm lũi bước; những cây keo trụi lá hai bên đường mỗi lúc một thưa dần, như thể sự sống cũng mỗi lúc một cạn. Phía trong, trên các khu đất đã biến thành đầm lầy, còn hoang vu hơn thế: không thấy cây cối, đến cả một con quạ cũng không. Trăng đã hiện lên trên nền trời, ánh sáng yếu ớt của nó chỉ vừa đủ xuyên qua những đám mây bất động, u ám. Thêm một giờ nữa, và họ biết hoàng hôn bắt đầu buông, rồi màn đêm bất chợt ập xuống. Nhưng họ không có cách nào đi nhanh hơn, thêm nữa sự mệt mỏi cũng như thể bỗng nhiên đè xuống họ: khi họ đi tới chỗ bức tượng Chúa Christ bằng tôn rách nát ở Csüd, và Halics đề nghị nghỉ một lát (thêm câu “Lạy Chúa!”), thì mọi người giận dữ phản đối, như thể họ biết rằng nếu lúc này dừng lại thì họ sẽ không đủ sức để đi tiếp chặng đường. Kráner cố nhắc lại vài câu chuyện đáng nhớ (“Các vị có nhớ khi vợ ông chủ quán đã đánh vào đầu ông ta đến nát cả cái thìa gỗ.”, hay “Các vị có nhớ khi Petrina đã xát muối vào mông con mèo đỏ, xin lỗi...”) để mua vui cho các bạn đồng hành, thì các vị kia không những không hứng thú, mà còn thầm nguyền rủa Kráner vì mồm miệng ông ta chẳng lúc nào yên. Hơn nữa, - Schmidt nổi cáu. - Ai nói với ông ta ở đây ông ta là trưởng đoàn? Ông ta làm gì có quyền ra lệnh cho tôi? Rồi tôi sẽ nói với Irimiás, để hắn bẻ gãy sừng ông ta đi, gần đây ông ta hay lên mặt vênh vang lắm...” Và đến khi Kráner không chịu thôi, mà thêm một câu nữa để mọi người thêm vui vẻ ( “Nghỉ một phút thôi! Tất cả hãy uống một ngụm! Mỗi giọt là một giọt vàng, không phải rượu của ông chủ quán đâu!”, thì họ tu rượu một cách bực tức, như thể Kráner đã giấu không cho họ: “Ông phởn chí nhỉ. Tôi tò mò muốn biết, nếu phải tha hai cái va li này bằng đôi chân thọt, thì liệu ông có phởn thế không?” “Thế ông tưởng tôi sung sướng với cái xe khốn khổ này sao? - Kráner phản ứng. - Tôi không biết phải làm sao để nó khỏi vỡ tung ra trên con đường khốn nạn này đây?” Rồi Kráner im lặng, vẻ mặt đầy tự ái, từ đó trở đi ông ta chẳng nói với ai thêm lời nào nữa, mà giữ chặt hai càng xe, nhìn mặt đường phía trước. Vợ Halics bắt đầu rủa thầm bà vợ Kráner, vì bà ta chắc chắn bà kia chẳng làm gì ở phía bên kia xe; còn Halics, cứ nghĩ đến hai bàn tay đau, là lại rủa thầm Kráner và Schmidt, vì “tất nhiên, đối với chúng nó thì dễ nói chuyện tào lao...” Nhưng đặc biệt vợ Schmidt là cái gai trong mắt mọi người, vì - dù cho tới lúc đó thì chưa - nhưng lúc này đã rõ là cô ả im lặng không nói gì, kể từ lúc họ khởi hành, thậm chí, “nếu xét cho kĩ, - vợ Kráner và cả Schmidt thoáng nghĩ, - gần như không nghe thấy tiếng ả từ khi Irimiás xuất hiện...” “Mụ vợ Schmidt, đối với tôi, thật đáng ngờ, - vợ Kráner nghĩ thêm. - Ả làm sao thế nhỉ? Hay ả ốm? Hay là... Ah, không thể. Ả đủ khôn ngoan. Chắc Irimiás đã nói gì đó với ả, khi gọi ả vào kho, lúc tối... Nhưng liệu gã muốn gì ở ả? Tất nhiên ai cũng biết quan hệ giữa hai đứa ngày trước... Nhưng lâu rồi còn gì? Bao nhiêu năm rồi?” “Irimiás đã khiến ả mất hồn, - Schmidt lo lắng nghĩ. - Ngay lúc vợ Halics đưa tin đến, ả đã nhìn mình rất khó hiểu!... Như muốn đâm xuyên qua mình bằng ánh mắt của ả! Liệu ả có...Ah, không. Ở tuổi này chẳng lẽ mụ lại mê muội thế. Nhưng... nếu đúng thế? Mụ phải biết, ta sẽ vặn cổ mụ ngay lập tức! Không, mụ không làm chuyện đó. Hơn nữa, sao lão có thể nghĩ Irimiás lại mê đúng mụ cơ chứ! Thật nực cười. Mụ hôi như một con lợn, dù có xức nước hoa cả ngày! Chẳng lẽ Irimiás lại cần đến một con mụ như thế! Hắn thiếu gì gái đẹp, hắn cần gì tới một con ngỗng quê mùa. Ah, không. Nhưng thế thì tại sao mắt mụ cứ sáng long lanh? Đôi mắt bê non ấy? Và sao mụ cứ mồi chài Irimiás như thế, quỷ tha ma bắt mụ đi. Dĩ nhiên rồi, ai mà mụ chẳng mồi chài, miễn đó là đàn ông... Rồi ta sẽ rèn cho mụ bỏ cái thói đó đi! Nếu đến giờ chưa đủ, ta sẽ cho mụ biết! Ta sẽ cho mụ tỉnh ngộ, khỏi lo! Ta sẽ cho tiệt nọc cái nòi đĩ thõa!” Futaki càng lúc càng khó nhọc hơn, đôi vai gã bị các dây đai siết đến tứa máu, xương cốt gã đau nhừ, và tới khi cái chân bệnh tật của gã lại bắt đầu đau, thì gã tụt hẳn lại phía sau; nhưng đám người đi trước không hay, ngay cả Schmidt cũng chẳng để ý tới gã, chỉ vừa ngoái lại sau vừa hét: “Thế nào? Chúng ta đi thế này đã quá chậm rồi, ông còn kéo cả đoàn chậm theo hả?”, vì Schmidt mỗi lúc càng thêm cay cú với Kráner, bởi “ông ta cứ làm như mình là thủ lĩnh”, vì thế lão cáu kỉnh giục vợ nhanh chân lên, và lão cũng cố lấy sức bước nhanh hơn trên đôi chân bé choắt. Chỉ một lát sau lão đuổi kịp xe nhà Kráner, và tiến lên dẫn đầu đoàn. “Mày cứ đi đi, cứ đi đi! - Kráner tức tối nghĩ. - Rồi xem ai hơn ai!” Halics rên lên. “Ôi, các bạn... Đừng có vội vàng thế! Đôi ủng khốn khổ này khiến gót tôi đau nhức, mỗi bước đi là một cực hình!” “Ông đừng có tên rỉ! - Vợ Halics cáu kỉnh nói. - Đừng có kêu la nữa! Tốt hơn cả là ông hãy cho mọi người thấy ông không chỉ anh hùng trong quán rượu!” Thế là Halics nghiến răng, cố theo kịp Kráner và Schmidt đang cay cú ganh đua nhau ở phía trước, lúc thì người này, lúc thì người kia vượt lên đầu đoàn người. Futaki càng lúc càng tụt xa lại phía sau, và khi đã cách xa khoảng hai trăm mét, thì gã thôi không cố gắng đuổi theo nữa. Gã nghĩ trong đầu đủ mọi cách để có thể tiến lên trước dễ dàng hơn với những chiếc va li mỗi lúc thêm nặng trịch hơn, nhưng dù chỉnh sửa các quai đeo thế nào, thì sự khổ sở của gã cũng không chấm dứt. Vì thế gã quyết định không hành hạ bản thân thêm nữa, và đến khi nhìn thấy một cây keo lớn, gã rời khỏi con đường, và cứ thế ngã xuống bùn, cả người cả đống va li. Gã tựa lưng vào gốc cây, thở dốc mấy phút, rồi tự giải thoát khỏi các dây đeo, duỗi chân ra. Gã thò tay vào túi, nhưng không còn đủ sức châm thuốc hút, gã chìm vào giấc ngủ. Gã tỉnh dậy vì buồn giải, định lần mò đứng dậy, nhưng chân tay tê cứng đến nỗi lại đổ người xuống, đến lần thứ hai gã mới đứng dậy nổi. “Chúng ta đúng là lũ ngu như bò... - gã lẩm bẩm, xong việc gã quay lại ngồi lên một chiếc va li. Giá như chúng ta nghe theo Irimiás! Hắn chả bảo hãy đợi đã, đừng có đi vội, thế mà chúng ta? Ngay hôm nay! Ngay tối nay! Thế đấy, bây giờ thì ta ngồi trong bùn, mệt bã người... Cứ như thế không phải là hôm nay, hay ngày mai, hay một tuần nữa thì cũng vậy cả thôi... Biết đâu Irimiás sẽ kiếm được một chiếc xe tải! Nhưng chúng ta cứ không và không! Ngay lập tức... ngay!... Nhất là tay Kráner! Nhưng sự đã rồi... Hối thì đã muộn. Chắc không còn xa nữa.” Gã lấy thuốc ra, rít hơi đầu tiên thật sâu. Cảm thấy khoan khoái hơn, dù còn hơi chếnh choáng, đau đầu. Gã duỗi chân duỗi tay, xoa bóp đôi chân, rồi dùng gậy chọc chọc xuống đất phía trước. Hoàng hôn đã buông xuống. Con đường mờ dần, nhưng Futaki cảm thấy yên tâm: không thể mất phương hướng, bởi nó sẽ kết thúc ở lâu đài Almassy, hơn nữa, trước đây vài năm gã đã nhiều lần đi về phía đó, vì hồi đó người ta dùng nó làm chỗ chứa máy móc hỏng, và một trong những nhiệm vụ của gã là tổ chức chuyên chở máy cày, các loại máy móc nông nghiệp hỏng bị thải loại, không sử dụng được nữa và ai mà biết những thứ vớ vẩn gì nữa đến ngôi nhà hồi đó cũng đã xập xệ. “Còn có nhiều chuyện lạ ở đây... - gã bỗng nghĩ. - Trước hết đó là... cái Trang trại. Có thể vào thời ông bá tước còn sống, nom nó khá hơn. Còn bây giờ thì? Lần cuối cùng khi ta nhìn thấy, cỏ đã mọc kín các căn phòng, gió đã thổi bay ngói từ trên đỉnh tháp, không những cửa và cửa sổ không còn lấy một chiếc, mà đôi chỗ ngay cả nền nhà cũng sụt lở, có thể nhìn thông thống xuống tầng hầm... Dĩ nhiên là không nên can thiệp vào... Irimiás là sếp, hắn biết tại sao hắn lại chọn trại này! Có thể cái hay chính vì nó cách xa mọi nơi... Vì quanh đó không có thôn xóm, chẳng có gì hết... Ai mà biết được. Có thể.” Trong thời tiết ẩm ướt này gã không muốn thử bật thứ diêm vốn đã khó cháy, thế là gã châm nối thêm một điếu vào đầu đang cháy của điếu thuốc trước, cũng không ném ngay chiếc đầu mẩu, mà còn cặp nó giữa hai ngón tay cong queo một lúc nữa, vì lúc này một chút hơi nóng cũng làm gã dễ chịu. “Rồi tất cả... mọi chuyện, ngày hôm qua... Dù cố gắng đến mấy, ta cũng không thể hiểu nổi... Vì Irimiás, chúng ta hiểu rõ hắn. Thế thì cần gì phải diễn trò nữa? Hắn ta nói như một nhà truyền giáo... Có thể thấy chính hắn ta cũng khổ sở, chứ không chỉ có chúng ta... Ta không hiểu, vì sao hắn có thể biết chúng ta muốn gì! Và hắn cũng có thể biết rằng, chúng ta chỉ dự vào cái trò dại dột liên quan đứa bé ngốc nghếch kia, vì cuối cùng chúng ta muốn nghe hắn nói. “Được rồi.... thế là đủ rồi. Các bạn, tôi đây, tôi đã về đây. Chuyện gì mà phải sầu não đến thế? Chúng ta hãy làm điều gì đó khôn ngoan. Ai có ý tưởng gì hay ho nào...” Nhưng không! Các vị thế này thế kia, các quý ông quý bà thế này thế kia, tất cả các vị đều có tội... Đúng là không thể tưởng tượng nổi! Ai mà biết hắn đùa hay thật? Ngay cả yêu cầu hắn đừng nói nữa cũng không thể... Lại thêm chuyện về con bé dở người ấy nữa... Nó đã ăn một nắm bả chuột, thì đã sao? Với nó thế có khi lại hay, nó không phải khổ thêm nữa. Nhưng ta thì có liên quan gì tới chuyện đó?! Mẹ nó đấy, giá mẹ nó để ý đến nó! Lại còn cả ngày hôm ấy, trong thời tiết khốn khổ ấy, hắn đã bắt chúng ta lùng sục khắc các bờ bụi trong vùng để cuối cùng tìm được đứa bé bất hạnh ấy!... Lẽ ra con mẹ phù thủy của nó phải tìm! Ừ, dĩ nhiên! Ai hiểu nổi Irimiás? Không một ai cả... Chỉ có điều... ngày trước chắc chắn hắn không làm thế... Mọi người đều há hốc mồm vì kinh ngạc... Vì chắc chắn rằng hắn đã khác trước nhiều. Tất nhiên, có ai biết trong mấy năm qua hắn đã trải qua những gì. Chỉ có cái mũi khoằm, chiếc áo vest kẻ ca-rô và chiếc cravat đỏ là vẫn như cũ. Chẳng có chuyện gì đáng ngại!” Gã thở dài khoan khoái, đứng dậy, sửa lại những dây đeo trên vai, rồi chống gậy bước ra con đường lát đá. Để thời gian trôi nhanh hơn, và để quên đi những dây đeo siết vào da thịt, và cũng vì nỗi sợ có một mình trên con đường vắng, gã bắt đầu hát bài “Nước Hung ngọt ngào tươi đẹp”, nhưng sau câu thứ hai thì gã quên mất lời, thế là vì không nghĩ ra thứ gì khác, gã bắt đầu hát bài “Quốc ca”. Nhưng khi hát gã còn cảm thấy mình đơn độc hơn, gã ngừng hát, nín thở. Hình như gã nghe thấy tiếng động gì đó từ bên phải... Cố quên cái chân đau, gã bước gấp lên. Nhưng lúc này lại có tiếng động ở phía bên phải... “Cái của khỉ gì thế nhỉ...” Thế là gã nghĩ nên tiếp tục hát. Chắc cũng không còn xa nữa. Và để thời gian trôi...

Cầu Chúa phù hộ cho người Hung

Được yên vui, phong lưu, dư giả

Hãy dang tay che chở

Nếu họ đối mặt với kẻ thù...

Lúc này, hình như gã nghe... có tiếng kêu... Hay không phải, như là tiếng khóc. “Không, là một con vật... Nó rên rỉ. Chắc nó bị gãy chân.” Gã nhìn sang hai bên, nhưng vô ích, bóng tối đã phủ kín hai bên đường, không nhìn thấy gì hết.

Số phận bất hạnh giáng xuống từ lâu

Hãy cho họ một năm vui vẻ…

“Chúng tôi nghĩ ông đã đổi ý!” - Kráner nói đùa, khi họ nhìn thấy Futaki đang lại gần. “Nhìn dáng đi là tôi đã nhận ra. - vợ Kráner nói thêm. - Không thể nhầm được. Dáng đi của ông ấy giống một con mèo thọt.” Futaki hạ mấy cái va li xuống đất, tụt ra khỏi các dây đeo, thở ra nhẹ nhõm. “Các người không nghe thấy gì dọc đường sao?” - gã hỏi. “Không, thế ông nghe thấy gì?” - Schmidt ngạc nhiên. “Tôi chỉ hỏi vậy thôi.” Vợ Halics ngồi trên một tảng đá và đang xoa bóp chân. “Chúng tôi chỉ nghe thấy tiếng động lạ này khi ông tới. Chúng tôi không biết, đó có thể là ai.” “Tại sao, các vị nghĩ sao, đó có thể là ai? Còn ai đi về phía này ngoài chúng ta? Bọn trộm cướp tàng hình à? Đến một cánh chim cũng không thấy, chứ đừng nói là người.” Họ đang đứng trên con đường nhỏ dẫn tới tòa nhà chính, hai bên đường, từ hàng chục năm nay, mọc đầy những cây hoàng dương dại, thỉnh thoảng lại thấy một cây gỗ dẻ hay cây thông bị tầm gửi phủ kín, chúng leo lên với sự dẻo dai cũng giống như dây thường xuân phủ kín các bức tường dày của ngôi nhà, và thế là cả “tòa lâu đài” (như ở đây người ta gọi) giống như một điều gì đó vô vọng, vì tuy phần trên của mặt tiền vẫn còn trống, nhưng rõ ràng, chỉ vài năm nữa là nó không thể cưỡng lại nổi sự tấn công không khoan nhượng của dây leo. Trên hai bên bậc cầu thang rộng dẫn tới lối ra vào rộng lớn của cửa chính, một thời đặt hai “bức tượng phụ nữ khỏa thân”, và Futaki, người còn nhớ như in từ mấy năm trước, việc đầu tiên là tìm hai bức tượng ở khắp xung quanh, nhưng vô ích, cứ như thể đất đã nuốt chửng chúng mất tăm. Họ, ngần ngại, mở to mắt, im lặng bước lên các bậc cầu thang, vì “lâu đài” mọc lên từ bóng tối - dù vữa đã gần như tróc hết khỏi mặt tiền, nom cái tháp xiêu vẹo có vẻ không chịu nổi thêm một trận gió bão, chưa nói tới những ô cửa sổ trống huếch - vẫn còn lưu giữ dấu vết vẻ tráng lệ, sự bề thế phi thời gian của nó mà người ta đã xây lên một thời. Họ vừa lên tới nơi, vợ Schmidt đã bước ngay qua cái khung cửa chính xập xệ, hồi hộp nhưng không chút sợ hãi đi vào khoảng không trống rỗng bên trong; mắt ả nhanh chóng quen với bóng tối, khi vào một căn phòng nhỏ hơn phía bên trái, ả khéo léo né tránh được những chiếc máy và phụ tùng han gỉ nằm trên nền nhà lát gạch men đã nứt vỡ hay trên nền gỗ mục nát, và dừng lại trước những chỗ sụt lở mà Futaki vẫn nhớ rất rõ. Những người khác đi sau ả chừng tám, mười bước, cứ thế họ khám phá những căn phòng bỏ hoang, gió lùa, lạnh lẽo của “tòa lâu đài” chết, thỉnh thoảng họ dừng lại trước một ô cửa sổ, nhìn xuống khu vườn hoang đầy cây cỏ dại, và không nhớ tới sự mỏi mệt, họ chăm chú nhìn những vết chạm khắc gỗ trên các khung cửa, khung cửa sổ đã mục ruỗng trong ánh lửa diêm ngắn ngủi, phía trên chúng đôi khi còn thấy hình hài trên những bức phù điêu, nhưng đáng chú ý nhất là một chiếc lò sưởi đã đổ nghiêng sang một bên, trang trí các miếng ốp bằng đồng được cắt tỉa đặc biệt “tinh tế”, trên đó, bà vợ Halics, khi đó đã tỉnh táo hẳn, đếm được mười hai cái đầu rồng. Giọng nói vui vẻ của vợ Kráner đã đánh thức cả đám người đang say ngắm trong im lặng, mụ đứng giữa phòng trên đôi chân to bè, giơ tay lên và kêu lên một cách khó hiểu: “Làm thế nào người ta có thể sưởi được chỗ này?” Và bởi trong câu hỏi đã ẩn chứa câu trả lời, những người kia chỉ ậm ừ ghi nhận lời vợ Kráner, rồi họ quay lại căn phòng đầu tiên, sau một lát tranh cãi (đặc biệt Schmidt phản đối đề nghị của Kráner, rằng: “Đúng chỗ này? Chỗ gió lùa nhất này ư? Có thể nói, thưa ông sếp, trúng lắm...”), cả đám đã chấp nhận đề nghị của Kráner, theo đó “tốt nhất, chúng ta sẽ nghỉ đêm tại đây. Đúng là gió lùa, này nọ, nhưng nếu Irimiás quay lại trước khi trời sáng thì sao? Hắn làm sao tìm được chúng ta trong cái mê lộ khổng lồ này?”, họ đi ra chỗ để xe, buộc lại các tấm phủ ngộ nhỡ ban đêm trời sẽ mưa gió, rồi họ quay lại và ai có thứ gì - bao tải, đệm, chăn - thì tự sắp cho mình một chỗ nằm tạm. Khi tất cả đã yên vị trên những thứ vớ vẩn họ có, và dưới những tấm đắp đã ấm lên đôi chút, họ không thể ngủ nổi vì mỏi mệt. “Tôi không thể nào hiểu được Irimiás, - Kráner nói trong bóng tối. - Có ai giải thích cho tôi rõ... Anh ta từng là một người đơn giản như chúng ta, nghĩ sao nói vậy, chỉ có điều nhanh trí. Thế mà bây giờ? Cứ như một ông lớn, một con chó đầu đàn nào đó!... Chứ không à?” Im lặng một lúc lâu, Schmidt lên tiếng. “Đúng thế thật, đúng là khó hiểu. Hắn làm trò gì thế nhỉ? Tôi biết hắn rất muốn một điều gì đó, nhưng không biết kết cục sẽ ra sao?... Nếu biết ngay từ đầu rằng gã cũng muốn điều chúng ta muốn, thì tôi đã nói cho gã rằng không cần phải cố công, khó nhọc thế...” Ông đốc học trở mình, lo lắng nhìn vào bóng tối. “Tôi cũng phải nói, dẫu sao hắn cũng quá đáng, nào là tội lỗi thế này thế nọ, nào là Estike thế này thế kia. Tôi thì có liên quan gì tới con bé dở người ấy! Nghe thấy tên nó là tôi đã nóng máu lên rồi! Vì Estike là gì? Một cái tên à? Có thể gọi một đứa bé là ‘Này, Estike...’ Thật khôi hài. Tên tử tế của con bé là Erzsi, nhưng sự nuông chiều. Sự nuông chiều của ông bố đã làm nó sinh hư. Tôi nói để các vị biết. Tại tôi ư? Tại chúng ta ư? Hơn nữa, tôi đã làm tất cả để con bé tự đứng trên đôi chân của nó!... Tôi đã nói cho con mụ phù thủy ấy khi mụ đưa con bé từ trường cá biệt về nhà, rằng với một chút thù lao, tôi sẽ chữa cho nó khỏi, chỉ cần đưa nó đến chỗ tôi mỗi buổi sáng. Nhưng không và không. Con mụ quái quỷ đó đã tiếc vài đồng xu chi cho đứa bé bất hạnh ấy! Thế mà tôi là kẻ có tội ư? Thật nực cười, đúng không!” “Nói nhỏ thôi! - Vợ Halics nhắc họ. - Ông nhà tôi ngủ rồi! Ông ấy quen yên tĩnh!” Nhưng Futaki bỏ ngoài tai. “Thế nào thì thế. Rồi ra sẽ rõ, Irimiás muốn gì với tất cả chuyện này? Vì ngày mai sẽ rõ mọi chuyện. Hay đúng hơn là đêm nay. Các vị có tưởng tượng nổi không?” “Tôi có, - ông đốc học đáp. Các vị có thấy các căn nhà phụ không? Có tới năm căn nhà. Tôi cược, đó sẽ là những căn nhà xưởng.” “Nhà xưởng à? - Kráner hỏi. - Xưởng gì thế?” “Tôi làm sao biết... Tôi nghĩ... xưởng này, xưởng nọ. Ông vặn vẹo làm gì?” Vợ Halics lại cất tiếng. “Các ông có im đi không? Thế này thì nghỉ ngơi sao được!” “Được rồi - Schmidt đáp. - Nói chuyện cũng không được hay sao?” “Theo tôi - Futaki băn khoăn. - Điều ngược lại sẽ diễn ra. Những căn nhà phụ đó sẽ là nơi ở cho chúng ta, và chỗ này sẽ là các xưởng.” “Lại nói đến xưởng... - Kráner vờ vịt. - Các ông làm sao thế? Tất cả đều muốn thành thợ máy à? Ông Futaki thì tôi hiểu, nhưng còn ông? Ông sẽ là gì? Xưởng trưởng à?” “Xin ông, đừng mỉa mai nữa! - ông đốc học nói lạnh lùng. - Tôi nghĩ đây không phải là lúc đùa nhảm! Hơn nữa, ông là ai mà dám xúc phạm tôi?! Ông thôi đi cho tôi nhờ!” “Các ông ngủ đi, lạy Chúa! - Halics cấm cảu. - Thế này thì tôi làm sao mà ngủ được...” Im lặng mấy phút, nhưng không kéo dài lâu, vì một ai đó vô tình đánh rắm. “Ai thế?” - Kráner phì cười hỏi, rồi hích vào Schmidt nằm bên cạnh. “Để tôi yên. Không phải tôi.” - ông kia bực mình phản đối và xoay người sang phía khác. Nhưng Kráner chưa để yên. “Thế nào, không ai dám nhận à?” Halics - thở gấp gáp vì căng thẳng - ngồi dậy, nói như van vỉ. “Tôi nhận tất... Chỉ cần các vị đừng nói nữa...” Thế là tất cả im lặng, và một lúc sau mọi người đều chìm vào giấc ngủ sâu. Halics bị một người gù bé nhỏ, mắt thủy tinh săn đuổi, sau bao nhiêu khổ ải lão trốn xuống một dòng sông, nhưng tình thế mỗi lúc thêm bị đát, cứ mỗi lần lão định nhô lên hít thở là con người nhỏ thó kia lại gõ lên đầu lão bằng một cây gậy dài, và hét lên với lão bằng một giọng khàn rè: “Đến lúc mày phải trả giá!” Vợ Kráner nghe có tiếng động nào đó ở phía ngoài, nhưng mụ không biết đó là gì. Mụ khoác lên mình một chiếc áo choàng ngắn, và thận trọng đi về phía nhà để máy. Đã gần ra tới con đường đá thì bỗng nhiên mụ cảm thấy lo lo. Mụ quay lại, thấy lửa đang liếm nóc nhà mình. “Cái mồi lửa! Tôi bỏ quên mồi lửa ở ngoài! Lạy Chúa!” - mụ hốt hoảng la lên. Mụ lao trở lại, và kêu gọi sự giúp đỡ, nhưng vô ích, vì mọi người biến đâu hết cả, mụ sợ run lao vội vào nhà, cố cứu vớt thứ gì có thể cứu vãn được. Trước tiên mụ lao vào phòng, vội vàng gom số tiền mặt giấu dưới chăn đệm, rồi nhảy qua bậc cửa đang cháy, lao vào bếp, Kráner ngồi cạnh bàn, như không hề có chuyện gì xảy ra, ông ta đang ăn. “Joska, ông điên à? Nhà đang cháy!” Nhưng Kráner không nhúc nhích. Khi đó vợ Kráner thấy lửa đã bắt vào cả các rèm cửa. “Chạy đi, ông điên à, ông không thấy nhà sắp sập xuống đầu chúng ta?” Mụ lao ra khỏi nhà, rồi cứ ngồi ở ngoài, nỗi sợ hãi, sự run rẩy bỗng bay biến mất, thậm chí mụ còn thấy phấn khích vì tất cả đang từ từ thành tro bụi. Mụ còn chỉ cho vợ Halics đã tới đứng bên cạnh: “Bà thấy không, đẹp quá? Tôi chưa bao giờ thấy màu hồng đẹp tuyệt vời như thế này!” Đất dưới chân Schmidt dịch chuyển, như thể lão đang đi trên đầm lầy. Lão đến chỗ một cây, vội leo lên, nhưng cảm thấy cái cây cũng đang lún xuống... Lão ngồi trên giường, cố kéo chiếc áo ngủ của vợ xuống, nhưng ả bắt đầu gào lên, ông lao theo ả, chiếc áo ngủ rách toạc, ả quay lại đối diện với ông, cười như nắc nẻ, trên hai bầu vú khủng của ả hai núm vú như hai bông hoa hồng đẹp tuyệt. Trong nhà nóng khủng khiếp, cả hai mồ hôi ròng ròng chảy. Lão nhìn ra cửa sổ: mưa xối xả, Kráner chạy về nhà, tay bê một chiếc hộp giấy, bỗng nhiên cái hộp bục đáy, và tất cả vương vãi ra đất, vợ Kráner gọi giục giã, thế là ông ta nhặt chưa được một nửa số đồ lăn ra ngoài, ông quyết định hôm sau sẽ quay lại nhặt nốt. Một con chó bất ngờ lao tới, ông hốt hoảng hét lên và đá vào mặt con chó, nó rên rỉ lăn ra đất. Ông không cưỡng được đá con chó thêm một cái nữa. Bụng con chó mềm. Ông đốc học, khó nhọc và hổ thẹn, thuyết phục một người nhỏ thó mặc chiếc áo vest cũ hãy đi với ông, ông biết một chỗ thích hợp, người kia đồng ý, có vẻ như anh ta không thể từ chối, anh ta không thể chịu đựng được nữa, và khi họ vào một công viên hoang vắng, ông ta còn đẩy anh ta một cái để họ tới chỗ một chiếc ghế đá nằm giữa đám bụi cây rậm nhanh hơn, ông bảo người kia nằm lên ghế và nhảy chồm lên hôn vào cổ anh ta, nhưng đúng lúc đó trên con đường rải đá vụn trắng có mấy bác sĩ mặc áo choàng trắng tiến lại gần, ông ta bẽn lẽn bảo ông sắp đi ngay đây, nhưng rồi ông ta còn giải thích cho một bác sĩ rằng họ không có chỗ nào để đi, các vị phải hiểu điều này và lưu ý cho ông, và ông ta bắt đầu chửi rủa con người nhỏ thó kia, vì tới lúc đó thì ông ta đã ghê tởm anh ta, nhưng ông hoài công liếc ngang liếc dọc, người kia đã biến mất. Ông bác sĩ khinh bỉ nhìn thẳng vào mắt ông ta rồi mệt mỏi phủi tay. Vợ Halics cọ lưng cho vợ Schmidt, vòng tràng hạt móc cạnh bồn tắm từ từ trượt xuống nước như một con rắn, một thằng bé nhăn nhở cười qua khung cửa sổ, vợ Schmidt bảo đủ rồi, da ả đã cháy vì kỳ cọ nhiều, nhưng vợ Halics ấn ả vào bồn tắm và tiếp tục cọ lưng cho ả, vì sợ ả không hài lòng, ả giận dữ kêu “rắn độc cắn bà đi”, bà ta ngồi xuống thành bồn tắm và khóc, vẫn nhìn thấy thằng bé cười nhăn nhở ngoài cửa sổ. Vợ Schmidt là con chim sung sướng bay trên các tầng mây, nhìn thấy có người vẫy ả ở phía dưới, ả liền sà xuống thấp, mụ nghe thấy tiếng hét của Schmidt “sao mày không nấu hả con đĩ, xuống ngay,” nhưng ả đã bay lướt qua và bảo “rồi ngày mai, ông cũng chưa chết đói đâu mà sợ”, ả cảm thấy nắng chiếu rát trên lưng. Schmidt bỗng nhiên đang ở bên cạnh ả. “Thôi ngay đi!”, nhưng ả không để ý, ả sà xuống thấp hơn, ả muốn bắt một con côn trùng. Futaki bị đánh vào vai bằng một thanh sắt. Gã không cử động được vì bị chằng vào một gốc cây, gã căng người và cảm thấy dây chằng dãn ra, gã nhìn xuống vai mình, một vết thương mở chạy dài trên vai, gã ngồi trên một chiếc máy xúc, xẻng máy đào một cái hố khổng lồ, có một người đến và bảo gã hãy khẩn trương lên, vì họ không cấp xăng cho nữa, dù gã có yêu cầu cũng vô ích, gã khoét sâu cái hố, nhưng nó cứ lở mãi xuống, gã cố gắng nhưng vô vọng, thế là gã khóc, gã ngồi trên cửa sổ nhà để máy và không biết trời đang rạng sáng hay sẩm tối, và tất cả không muốn chấm dứt, gã cứ ngồi và không biết bên ngoài ra sao, có thay đổi hay không, chẳng phải buổi sáng mà cũng chẳng phải buổi tối, chỉ thấy liên tục rạng sáng hoặc hoàng hôn.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Krasznahorkai Laszlo

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.