Bạch Diệp không phải khoác lác, cậu thật sự có dự định này.
Dù sao phong cảnh của sơn thôn này vô cùng phù hợp với thẩm mỹ và sở thích của cậu. Sơn thủy khói mưa liên miên, trống trải tĩnh lặng, tự tại nhàn hạ. Đại tự nhiên tựa như một bức tranh cuộn, ý vị sâu xa, đẹp đến nao lòng.
Sống ở nơi thế này để tu tâm dưỡng tính, sống thêm mấy chục năm không phải vấn đề.
Lớn tuổi rồi, dưỡng lão ở đây chắc chắn sẽ rất thoải mái.
Chỉ là chuyện đó là của rất lâu sau này, ai bảo bây giờ cậu không có tiền chứ. Một đồng tiền khó khăn anh hùng hảo hán, huống chi đây lại là con số tính bằng đơn vị hàng trăm triệu.
Cho nên hai người trầm mặc, yên lặng thưởng thức phong cảnh.
Mặt trời mọc giữa không trung, ánh lên muôn vàn tia sáng rực rỡ, mây mù lượn lờ giữa núi non theo đó cũng tiêu tan.
Bách tính trong thôn lần lượt thức dậy, bắt đầu một ngày lao động. Hai người cũng theo đó cáo biệt Cung Phú Quý, rời khỏi sơn thôn nhỏ hẻo lánh này, quay trở lại Tô Châu.
Đến thành phố, Bạch Diệp gọi một chiếc xe, thử hỏi: "Thầy Lâm, cô ở đâu vậy, tôi đưa cô về."
"... Được."
Lâm Tiện Ngư không từ chối, đọc địa chỉ cho tài xế.
Hơn nửa tiếng sau, xe đến đích. Hoặc nói chính xác là ở gần điểm đến, xe không thể lái vào được nữa.
Đó là một khu nhà cổ, những con hẻm chằng chịt đan xen, không thích hợp lái xe.
Lâm Tiện Ngư xuống xe, vẫy tay tạm biệt Bạch Diệp: "Cảm ơn nhiều nhé, tạm biệt!"
Bước chân cô nhẹ nhàng, bước vào một con hẻm nhỏ, nhanh chóng biến mất ở góc đường. Lúc này Bạch Diệp mới thu hồi ánh mắt, ra hiệu cho tài xế tiếp tục lái xe quay về khách sạn.
Thế nhưng khi tài xế khởi động xe, chạy dọc theo con đường bên cạnh một lúc lâu.
Ánh mắt Bạch Diệp chuyển động, lập tức gọi lớn: "Đợi chút!"
"Ké t!"
Tài xế phanh gấp một cú, quay đầu lộ vẻ khó hiểu.
Bạch Diệp nhìn đồng hồ trên xe, trực tiếp rút ra hai tờ một trăm tệ đưa qua: "Đợi tôi vài phút."
"Ờ..."
Tài xế ngẩn người.
Cùng lúc đó, Bạch Diệp đã xuống xe.
Cậu đứng bên vệ đường, dừng chân ngắm nhìn khung cảnh trước mắt. Chỉ thấy bên cạnh con đường là một hồ nước nhỏ, những ngôi nhà cổ và kiến trúc bên cạnh cơ bản đều được xây bao quanh hồ.
Đây là kiến trúc kiểu Tô Châu điển hình, tường trắng ngói đen, mái hiên uốn cong, tạo nên khung cảnh nên thơ như họa. Nhìn lướt qua, những bức tường trắng tinh quy hoạch ngăn nắp, mái nhà màu đen cao thấp nhấp nhô, tràn đầy vẻ hoài cổ.
Mặt hồ trong vắt phản chiếu những hàng cây xanh bên đường cùng kiến trúc tao nhã.
Đây là một bức tranh tự nhiên...
Bạch Diệp ngắm nghía một hồi lâu, khóe môi hiện lên nụ cười nhạt.
Sau đó, cậu lên lại xe và trở về.
Lại nửa tiếng nữa, thuận lợi quay về khách sạn. Cậu bước qua sảnh lớn, chuẩn bị về phòng. Chỉ là trong sân, cậu phát hiện ở chiếc chòi bên cạnh có hai người.
Tiêu La và Ngu Trì đang đứng trước một giá vẽ, không biết là đang trò chuyện hay đang vẽ tranh.
Khoảnh khắc tiếp theo, bước chân Bạch Diệp chuyển hướng, đi về phía chiếc chòi.
Lạch cạch lạch cạch.
Cậu bước chân nặng hơn, tự nhiên thu hút sự chú ý của hai người.
Ngu Trì ngước mắt nhìn một cái, sau đó thu hồi ánh mắt, thái độ có chút lạnh nhạt.
Còn về phần Tiêu La, thậm chí còn phớt lờ luôn...
Thật vô tình làm sao.
Bạch Diệp cũng không để tâm, trực tiếp bước vào trong chòi, liếc mắt nhìn sang giá vẽ. Chính xác mà nói, ánh mắt cậu rơi vào bức vải trên giá vẽ.
Đường nét của một bức tranh sơn dầu lập tức đập vào mắt. Kiểu dáng chưa hoàn thiện, chỉ là hình bóng mờ ảo, thế nhưng màu sắc mạnh mẽ đã chực trào tuôn ra.
"Cậu đã bắt đầu sáng tác rồi sao?" Bạch Diệp hỏi.
"Chứ sao nữa?"
Ngu Trì lên tiếng, chê bai nói: "Suốt ngày nhàn rỗi chẳng có việc gì làm giống cậu à?"
"Tôi đi thực tế phong cảnh mà." Bạch Diệp giải thích.
"Hừm."
Ngu Trì cười lạnh, một dấu câu cũng không tin.
Thực tế cái gì chứ, tưởng anh không biết đây là đi cùng em gái về nông thôn sưởi ấm lòng người chắc.
Làm việc tốt thì không có gì để bàn cãi. Vấn đề nằm ở chỗ, điều này cũng không che giấu được sự thật Bạch Diệp không chịu làm ăn đàng hoàng.
Không tin thì thôi vậy...
Bạch Diệp hắng giọng một cái, lập tức chuyển đề tài: "Tiêu La, nhìn cách cậu dựng hình thế này, bức tranh này... cậu phải vẽ ít nhất một tháng nhỉ."
"Ừ."
Tiêu La thừa nhận: "Tôi có dự cảm, tác phẩm lần này hẳn là sự tổng kết của tôi trong mấy năm nay về kỹ thuật phái ấn tượng, cũng là một sự bứt phá nước chảy thành thành."
Bạch Diệp không phản bác, dù sao tranh còn chưa hoàn thành, không có cách nào đánh giá.
Nhưng Tiêu La lại hỏi ngược lại: "Cậu thấy bức tranh này thế nào?"
"..."
Bạch Diệp cũng biết nếu không trả lời, Tiêu La chắc chắn sẽ không bỏ qua, thế nên cậu nghĩ ngợi, nửa là qua quýt, nửa là thành thật nói: "Cảm giác màu sắc cũng tạm ổn... Phải rồi, bức tranh này của cậu là cảnh ngoài trời phải không?"
"Đúng vậy."
Tiêu La gật đầu nói: "Vẽ Dương Tứ, tôi bảo cô ấy mặc trang phục cổ điển, tựa người dưới một gốc cây. Tôi dự định mất mười ngày để bố cục, mười ngày tạo hình, mười ngày điều chỉnh..."
Bạch Diệp lập tức ngắt lời: "Quá trình cụ thể, cậu không cần kể cho tôi nghe đâu."
"Không phải kể cho cậu nghe."
Tiêu La thản nhiên nói: "Mà là nhắc nhở cậu, thời gian của cậu không còn nhiều nữa đâu."
"..."
Bạch Diệp lập tức trợn trắng mắt, bĩu môi nói: "Cậu đừng có ra vẻ nắm chắc phần thắng trong tay thế chứ. Ai mà chẳng biết phái ấn tượng nổi tiếng nhất chính là tranh phong cảnh và tĩnh vật. Hồi đó chủ nghĩa ấn tượng sở dĩ trở thành chủ lưu, được người đời đón nhận, chính là vì các họa sĩ phái ấn tượng đã mang tính khai phá khi đưa tranh sơn dầu từ trong phòng ra ngoài trời, theo đuổi sự biến hóa của ánh sáng ngoài trời và màu sắc, nhằm thể hiện mị lực của phong cảnh."
Còn về tranh nhân vật ư... vẫn còn kém một chút!
Phải biết rằng trước phái ấn tượng, các họa sĩ chủ nghĩa cổ điển cơ bản đều hoàn thành tác phẩm trong phòng tranh.
Cho nên sự ra đời của chủ nghĩa ấn tượng, vào thời điểm đó có thể coi là tà đạo. Thậm chí cái từ phái ấn tượng cũng là do có người chế giễu lúc bấy giờ, rằng các họa sĩ vẽ dựa theo ấn tượng, nên mới vẽ không giống thật chút nào. Các họa sĩ phái hàn lâm nhìn thấy tác phẩm của phái ấn tượng, cơ bản đều cảm thấy những bức tranh này rất thô ráp, quá mức tùy tiện, chẳng ai thấy chúng có giá trị nghệ thuật cả.
Trải qua mấy chục năm đấu tranh, cuối cùng phái ấn tượng đã thành công.
Nguyên nhân có rất nhiều, có sự tiến hóa của thời đại, sự thay đổi về thẩm mỹ và các yếu tố khác.
Nhưng quan trọng nhất, e là vẫn là sự phổ biến của máy ảnh, đã giáng một đòn nặng nề vào chủ nghĩa tả thực cổ điển.
Ngược lại, phái ấn tượng với những tác phẩm thoạt nhìn có vẻ thô ráp, nhưng thực chất lại vận dụng học thuyết màu sắc khoa học vào hội họa, vì khác biệt với những bức ảnh chụp giống như thật, nên ngược lại đã nhận được sự khẳng định.
Dù sao kỹ thuật chụp ảnh lúc bấy giờ có chân thực đến đâu, cũng không thể bắt trọn được sự biến hóa của ánh sáng và màu sắc.
Thời tiết khác nhau, mùa khác nhau, thời gian khác nhau, cùng một cảnh vật sẽ thể hiện ra màu sắc và sắc thái khác nhau. Đối với cùng một cảnh vật, họa sĩ miêu tả vào những thời điểm khác nhau, tự nhiên sẽ thể hiện ra hiệu quả khác nhau.
Ví dụ như ở thời không nguyên bản, có những đại sư phái ấn tượng, chỉ riêng một đống cỏ khô thôi mà đã vẽ ra mấy chục phiên bản, hình thành cả một series, trực tiếp thể hiện sự biến hóa của ánh sáng và màu sắc một cách sinh động triệt để.
Cho nên có thể nói, trong phần lớn các trường hợp, đối tượng miêu tả chính của phái ấn tượng đều là các loại phong cảnh, tĩnh vật.
Tranh nhân vật tự nhiên cũng có, nhưng làm sao thông qua mối quan hệ vi tế giữa ánh sáng và màu sắc để truyền đạt ý tượng phong phú của tác phẩm, đây không nghi ngờ gì chính là bài toán khó nhất đối với các họa sĩ phái ấn tượng.
Dù sao vẽ người cũng khó hơn phong cảnh nhiều...