Sự trở lại của Sherlock Holmes

Lượt đọc: 133 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương: Vụ án trường nội trú Priory

❊ ❊ ❊

Chúng ta từng chứng kiến không ít màn xuất hiện và rút lui đầy kịch tính trên sân khấu nhỏ tại phố Baker, nhưng tôi không thể nhớ nổi có lần nào lại đột ngột và gây sửng sốt hơn sự xuất hiện lần đầu tiên của Thorneycroft Huxtable, Cử nhân Nghệ thuật, Tiến sĩ Triết học, v.v. Tấm danh thiếp của ông, có vẻ quá nhỏ bé để gánh nổi trọng lượng của vô số học vị, đã đi trước ông vài giây, và rồi chính bản thân ông bước vào—to lớn, phô trương và uy nghi đến mức ông chính là hiện thân của sự điềm tĩnh vững vàng. Thế nhưng hành động đầu tiên của ông, khi cánh cửa vừa khép lại sau lưng, lại là lảo đảo lao vào chiếc bàn, rồi từ đó trượt ngã xuống sàn nhà, để rồi con người đường bệ ấy nằm bất tỉnh nhân sự trên tấm thảm lông gấu trước lò sưởi của chúng tôi.

Chúng tôi đã tung chân chồm dậy, và trong giây lát, cả hai đứng sững nhìn ngẩn ngơ trước đống đổ nát nặng nề này, một minh chứng cho thấy trận cuồng phong bất ngờ và chết chóc nào đó ngoài đại dương mênh mông của cuộc đời. Rồi Holmes nhanh chóng mang đến một chiếc gối để kê đầu cho ông, còn tôi thì mang rượu mạnh tới bờ môi ông. Khuôn mặt nặng nề, trắng bệch hằn sâu những nếp nhăn muộn phiền, những bọng thịt xệ xuống dưới đôi mắt nhắm nghiền mang sắc xỉn của chì, khóe miệng trĩu xuống đầy ủ rũ, những ngấn cằm ngấn mỡ chưa được cạo rứa. Cổ áo và áo sơ mi lấm lem bụi đường của một chuyến hành trình dài, và mái tóc rối bù dựng đứng trên vòm đầu cân đối. Một con người đang quằn quại vì đau khổ nằm trước mặt chúng tôi.

“Có chuyện gì vậy, Watson?” Holmes hỏi.

“Kiệt sức hoàn toàn—có lẽ chỉ vì đói và mệt mỏi,” tôi đáp, ngón tay vẫn đặt trên mạch đập yếu ớt như chỉ mành mai chuông, nơi dòng nước chảy của sự sống đang rỉ ra mỏng manh và yếu ớt.

“Vé khứ hồi từ Mackleton, miền bắc nước Anh,” Holmes nói, rút tấm vé từ túi đựng đồng hồ ra. “Vẫn chưa đến mười hai giờ. Quả thực ông ấy đã khởi hành từ rất sớm.”

Đôi mi nhăn nheo bắt đầu rung lên, và giờ đây một cặp mắt xám vô hồn ngước nhìn chúng tôi. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, người đàn ông đã chồm dậy đứng bằng đôi chân của mình, khuôn mặt đỏ bừng vì xấu hổ.

“Xin hãy tha thứ cho sự yếu đuối này, thưa ông Holmes, tôi đã bị căng thẳng quá mức. Cảm ơn ông, nếu tôi có thể xin một ly sữa và một chiếc bánh quy, tôi chắc chắn mình sẽ thấy khá hơn. Tôi trực tiếp đến đây, thưa ông Holmes, là để chắc chắn rằng ông sẽ trở về cùng tôi. Tôi sợ rằng không có bức điện nào có thể thuyết phục ông về tính cấp bách tuyệt đối của vụ việc.”

“Khi ông đã hoàn toàn bình phục——”

“Tôi đã hoàn toàn khỏe lại rồi. Tôi không thể tưởng tượng nổi tại sao mình lại trở nên yếu ớt đến thế. Tôi muốn ông, thưa ông Holmes, hãy cùng tôi đi Mackleton trên chuyến tàu kế tiếp.”

Bạn tôi lắc đầu.

“Cộng sự của tôi, bác sĩ Watson, có thể cho ông biết rằng chúng tôi hiện đang rất bận rộn. Tôi đang phải thụ lý vụ Tài liệu Ferrers, và vụ án mạng ở Abergavenny sắp được đưa ra xét xử. Chỉ có một vấn đề vô cùng quan trọng mới có thể kéo tôi rời khỏi London lúc này.”

“Quan trọng chứ!” Khách của chúng tôi vung hay tay lên. “Chẳng lẽ ông chưa hề nghe gì về vụ bắt cóc người con trai duy nhất của Công tước xứ Holdernesse hay sao?”

“Cái gì! Cựu Bộ trưởng Nội các ấy á?”

“Chính xác. Chúng tôi đã cố gắng ém nhẹm không để báo chí đưa tin, nhưng đã có vài lời đồn đại trên tờ Globe tối qua. Tôi cứ nghĩ nó đã lọt tới tai ông rồi chứ.”

Holmes vươn cánh tay dài và gầy ra để lấy cuốn Tập “H” trong bộ bách khoa toàn thư tra cứu của mình.

“‘Holdernesse, Công tước đời thứ 6, Hiệp sĩ Garter, Ủy viên Hội đồng Cơ mật’—chiếm một nửa bảng chữ cái lận! ‘Nam tước Beverley, Bá tước Carston’—chà chà, một danh sách dài làm sao! ‘Chúa hạt Hallamshire từ năm 1900. Kết hôn với Edith, con gái của Sir Charles Appledore, năm 1888. Người thừa kế và là con một, Lãnh chúa Saltire. Sở hữu khoảng hai trăm năm mươi nghìn mẫu đất. Mỏ khoáng sản ở Lancashire và Wales. Địa chỉ: Carlton House Terrace; Holdernesse Hall, Hallamshire; Carston Castle, Bangor, Wales. Ủy viên Bộ Hải quân, 1872; Tổng thư ký Bộ——’ Chà, chà, con người này quả thực là một trong những bề tôi vĩ đại nhất của Hoàng gia!”

“Vĩ đại nhất và có lẽ cũng giàu có nhất. Tôi biết, thưa ông Holmes, rằng ông rất coi trọng các nguyên tắc nghề nghiệp, và ông sẵn sàng làm việc vì chính công việc đó. Tuy nhiên, tôi xin nói cho ông hay, Ngài Công tước đã ngỏ ý rằng một tấm séc trị giá năm nghìn bảng Anh sẽ được trao tận tay cho bất kỳ ai có thể chỉ cho ngài biết con trai ngài đang ở đâu, và thêm một nghìn bảng nữa cho người nêu tên kẻ hoặc những kẻ đã bắt cóc cậu bé.”

“Đó là một lời đề nghị hào phóng như của bậc vương giả,” Holmes nói. “Watson, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ cùng đi với Tiến sĩ Huxtable trở lại miền bắc nước Anh. Và bây giờ, thưa Tiến sĩ Huxtable, khi ông đã dùng xong ly sữa đó, xin ông vui lòng kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra, khi nào nó xảy ra, nó diễn ra thế nào, và cuối cùng, Tiến sĩ Thorneycroft Huxtable, người đứng đầu trường Priory gần Mackleton, có liên quan gì đến vấn đề này, và tại sao ba ngày sau một sự kiện—nhìn tình trạng cằm của ông là tôi đoán được ngày tháng—ông mới đến đây để nhờ cậy đến những dịch vụ khiêm tốn của tôi.”

Vị khách của chúng tôi đã dùng xong sữa và bánh quy. Ánh sáng đã trở lại trong đôi mắt và sắc hồng đã hằng lên gò má, khi ông bắt đầu vô cùng hào hứng và rành mạch giải thích tình hình.

“Tôi xin thưa với hai vị rằng trường Priory là một trường dự bị tiểu học, do chính tôi sáng lập và làm hiệu trưởng. Tác phẩm Sổ tay giảng dạy về Horace của Huxtable có lẽ phần nào gợi lại tên tuổi của tôi trong trí nhớ của các ông. Trường Priory là ngôi trường dự bị ưu tú và chọn lọc nhất nước Anh, không có ngoại lệ. Lãnh chúa Leverstoke, Bá tước Blackwater, Sir Cathcart Soames—tất cả đều đã gửi gắm con trai họ cho tôi. Nhưng tôi cảm thấy trường học của mình đã đạt đến đỉnh cao khi vào nhiều tuần trước, Công tước xứ Holdernesse đã cử ông James Wilder, thư ký riêng của ngài, đến thông báo rằng Lãnh chúa trẻ Saltire, mười tuổi, con trai duy nhất và là người thừa kế của ngài, sắp được giao phó cho sự chăm sóc của tôi. Nào tôi có ngờ rằng đó lại là khúc dạo đầu cho tai họa nghiền nát cuộc đời tôi.”

“Vào ngày mùng 1 tháng 5, cậu bé đã đến, đó là thời điểm bắt đầu học kỳ mùa hè. Cậu là một thiếu niên đáng yêu, và chẳng mấy chốc đã quen với nề nếp của chúng tôi. Tôi có thể nói với các ông—tôi hy vọng mình không quá suồng sã, nhưng việc úp úp mở mở trong trường hợp này thật là ngớ ngẩn—rằng cậu bé không thực sự hạnh phúc khi ở nhà. Ai cũng ngầm hiểu rằng cuộc hôn nhân của Công tước không hề êm ả, và mọi chuyện đã kết thúc bằng việc ly thân theo thỏa thuận song phương, Nữ công tước dọn về miền nam nước Pháp sinh sống. Chuyện này xảy ra cách đó không lâu lắm, và ai cũng biết tình cảm của cậu bé nghiêng hẳn về phía mẹ. Cậu trở nên buồn rầu sau khi mẹ rời khỏi Holdernesse Hall, và chính vì lý do này mà Công tước muốn gửi cậu đến cơ sở của tôi. Chỉ trong vòng hai tuần, cậu bé đã hoàn toàn hòa nhập với chúng tôi và tỏ ra vô cùng hạnh phúc.”

“Cậu được nhìn thấy lần cuối vào đêm 13 tháng 5—nghĩa là đêm thứ Hai tuần trước. Phòng của cậu nằm ở tầng hai và phải đi qua một căn phòng lớn hơn, nơi có hai nam sinh đang ngủ. Hai đứa trẻ này chẳng thấy và cũng chẳng nghe thấy gì, thế nên chắc chắn là Lãnh chúa Saltire không ra ngoài bằng lối đó. Cửa sổ phòng cậu mở sẵn, và có một khóm thường xuân mọc rậm rạp vắt xuống tận mặt đất. Chúng tôi không tìm thấy dấu chân nào bên dưới, nhưng chắc chắn đó là lối thoát duy nhất có thể xảy ra.”

“Sự vắng mặt của cậu được phát hiện vào lúc bảy giờ sáng thứ Ba. Giường của cậu vẫn còn vương dấu người nằm. Cậu đã mặc quần áo tươm tất trước khi bỏ đi, mang bộ đồng phục học sinh quen thuộc gồm áo khoác Eton màu đen và quần dài xám đậm. Không có dấu hiệu nào cho thấy có kẻ đột nhập vào phòng, và chắc chắn là bất kỳ tiếng kêu hay cuộc ẩu đả nào cũng sẽ bị phát hiện, bởi vì Caunter, cậu học sinh lớn tuổi hơn ở căn phòng phía trong, có giấc ngủ rất nông.”

“Khi phát hiện Lãnh chúa Saltire biến mất, tôi lập tức cho điểm danh toàn bộ cơ sở—học sinh, giáo viên và gia nhân. Chính vào lúc đó, chúng tôi mới xác định được rằng Lãnh chúa Saltire không chỉ có một mình trong cuộc trốn chạy này. Heidegger, giáo viên tiếng Đức, đã mất tích. Phòng của ông ấy nằm ở tầng hai, tận đầu bên kia của tòa nhà, quay mặt về cùng hướng với phòng của Lãnh chúa Saltire. Giường của ông ấy cũng có dấu người nằm, nhưng rõ ràng ông đã bỏ đi khi mặc quần áo dở dang, vì áo sơ mi và tất nằm vung vãi trên sàn nhà. Chắc chắn ông đã leo xuống bằng dây thường xuân, vì chúng tôi có thể nhìn thấy dấu giày của ông ở nơi ông đặt chân xuống thảm cỏ. Chiếc xe đạp của ông được để trong một cái nhà kho nhỏ bên cạnh thảm cỏ ấy, và nó cũng đã biến mất.”

“Ông ấy đã làm việc cho tôi được hai năm, mang theo những giấy giới thiệu tốt nhất, nhưng lại là một con người trầm tính, cau có, không được lòng cả giáo viên lẫn học sinh. Không tìm thấy chút manh mối nào của những kẻ trốn chạy, và giờ đây, vào sáng thứ Năm này, chúng tôi cũng mù tịt như hôm thứ Ba. Dĩ nhiên, việc hỏi thăm đã được tiến hành ngay lập tức tại Holdernesse Hall. Nơi đó chỉ cách đây vài dặm, và chúng tôi cứ đinh ninh rằng, do một cơn nhớ nhà bộc phát nào đó, cậu bé đã quay về với cha mình, nhưng chẳng ai hay biết gì về cậu cả. Ngài Công tước vô cùng bấn loạn, còn tôi thì như các ông thấy đấy, trạng thái suy sụp thần kinh vì sự hồi hộp và trách nhiệm này đã đày ải tôi ra nông nỗi này. Thưa ông Holmes, nếu có lúc nào ông đem hết tài năng của mình ra để cất nhắc, tôi nài xin ông hãy làm điều đó ngay lúc này, bởi vì chưa bao giờ trong đời ông lại có một vụ án nào xứng đáng với tài năng của ông hơn thế.”

Sherlock Holmes đã lắng nghe với sự chú tâm tột độ lời trần tình của viên hiệu trưởng bất hạnh. Hàng mày nhíu lại cùng nếp nhăn sâu thẳm giữa trán cho thấy anh chẳng cần phải thúc giục gì thêm để tập trung toàn bộ sự chú ý vào một bài toán mà bên cạnh những lợi ích to lớn liên quan, nó còn đánh trúng trực diện vào niềm đam mê những thứ phức tạp và kỳ lạ của anh. Giờ đây anh rút cuốn sổ tay ra và ghi chú lại một hoặc hai điều.

“Ông đã quá lơ lãng khi không đến tìm tôi sớm hơn,” anh nghiêm khắc nói. “Ông bắt đầu cuộc điều tra của tôi với một sự bất lợi vô cùng lớn. Ví dụ như, thật không thể tưởng tượng nổi là khóm thường xuân và thảm cỏ kia lại chẳng cung cấp nổi một chút manh mối nào cho một nhà quan sát tinh tường.”

“Tôi không có lỗi, thưa ông Holmes. Ngài Công tước cực kỳ tha thiết muốn tránh mọi điều tiếng tai tiếng trước công chúng. Ngài sợ chuyện gia đình bất hòa của mình bị lôi ra trước thiên hạ. Ngài có sự kinh hoàng tột độ đối với những chuyện đại loại như thế.”

“Nhưng đã có cuộc điều tra chính thức nào chưa?”

“Vâng, thưa ngài, và nó tỏ ra vô cùng đáng thất vọng. Một manh mối có vẻ như khả ố đã thu được ngay lập tức, vì có người báo cáo trông thấy một nam sinh và một thanh niên rời khỏi một nhà ga gần đó trên chuyến tàu sớm. Chỉ tối qua thôi, chúng tôi nhận được tin hai kẻ đó đã bị truy lùng ở Liverpool, và chúng hoàn toàn chẳng dính líu gì đến vụ việc này cả. Thế là trong sự tuyệt vọng và thất vọng tràn trề sau một đêm trắng, tôi đã bắt chuyến tàu sớm nhất đến thẳng chỗ ông.”

“Tôi đoán là cuộc điều tra tại địa phương đã bị lơi lỏng trong lúc người ta mải đuổi theo manh mối giả này chứ gì?”

“Nó đã bị bỏ bẵng hoàn toàn.”

“Thế là ba ngày đã trôi qua vô ích. Vụ việc đã bị xử lý một cách tồi tệ đến đáng thương.”

“Tôi cảm nhận được điều đó và xin nhận lỗi.”

“Và thế mà bài toán này lẽ ra phải có lời giải đáp cuối cùng. Tôi rất sẵn lòng tìm hiểu về nó. Ông có lần mò ra mối liên hệ nào giữa cậu học sinh mất tích và giáo viên dạy tiếng Đức này không?”

“Hoàn toàn không.”

“Cậu bé có nằm trong lớp học của ông ta không?”

“Không, theo tôi biết thì cậu chưa từng trao đổi nửa lời với hắn.”

“Quả là điều kỳ lạ. Cậu bé có xe đạp riêng không?”

“Không.”

“Có chiếc xe đạp nào khác bị mất tích nữa không?”

“Không.”

“Chắc chắn chứ?”

“Hoàn toàn chắc chắn.”

“Vậy thì, ý ông không phải muốn nghiêm túc ám chỉ rằng gã người Đức này đã đạp xe bỏ trốn giữa đêm khuya, tay ôm theo cậu bé đấy chứ?”

“Dĩ nhiên là không rồi.”

“Thế thì trong đầu ông đang ấp ủ giả thuyết nào?”

“Chiếc xe đạp có thể chỉ là một vỏ bọc đánh lạc hướng. Nó có thể đã bị giấu đâu đó, và hai người họ đã bỏ đi bằng cách đi bộ.”

“Phải đấy, nhưng có vẻ đó là một cách đánh lạc hướng ngớ ngẩn làm sao, phải không nào? Trong nhà kho đó còn những chiếc xe đạp nào khác nữa không?”

“Nhiều lắm.”

“Lẽ ra hắn phải giấu lấy một cặp, nếu như hắn muốn tạo ấn tượng rằng cả hai cùng chuồn đi bằng xe đạp chứ nhỉ?”

“Tôi cho là vậy.”

“Đương nhiên là thế rồi. Giả thuyết đánh lạc hướng đó không ổn đâu. Nhưng tình tiết này lại là một điểm khởi đầu tuyệt vời cho một cuộc điều tra. Suy cho cùng, một chiếc xe đạp không phải là thứ dễ giấu hay dễ tiêu hủy. Còn một câu hỏi nữa. Có ai ghé thăm cậu bé vào cái ngày trước khi cậu mất tích không?”

“Không.”

“Cậu có nhận được lá thư nào không?”

“Có, một bức thư.”

“Từ ai?”

“Từ cha cậu.”

“Ông có bóc thư của học sinh ra xem không?”

“Không.”

“Sao ông biết đó là thư của cha cậu bé?”

“Có huy hiệu gia tộc trên phong bì, và nó được viết bằng nét chữ cứng nhắc đặc trưng của Ngài Công tước. Hơn nữa, Ngài Công tước cũng nhớ là mình đã viết thư.”

“Trước đó cậu nhận được thư vào lúc nào?”

“Đã mấy ngày nay không có.”

“Cậu có bao giờ nhận được thư từ Pháp gửi sang không?”

“Không, chưa bao giờ.”

“Dĩ nhiên là ông hiểu ý trong các câu hỏi của tôi rồi chứ. Hoặc là cậu bé bị bắt cóc bằng vũ lực, hoặc tự nguyện bỏ đi. Trong trường hợp sau, ông sẽ phải đoán trước rằng cần phải có sự thúc giục nào đó từ bên ngoài thì một đứa trẻ còn quá nhỏ mới làm được một việc tày trời như thế. Nếu cậu chẳng có vị khách nào ghé thăm, thì sự thúc giục đó ắt hẳn phải đến qua những bức thư; do đó tôi đang cố tìm xem những ai là người thường xuyên thư từ qua lại với cậu.”

“Tôi e là mình không giúp gì nhiều cho ông được. Theo tôi biết, người duy nhất trao đổi thư từ với cậu chính là cha ruột cậu.”

“Người đã viết thư cho cậu đúng vào ngày cậu biến mất. Mối quan hệ giữa cha con họ có vẻ thân thiết lắm chứ?”

“Ngài Công tước chưa bao giờ thân thiết với ai cả. Ngài hoàn toàn chìm đắm trong những vấn đề quốc sự lớn lao, và khá khó gần đối với mọi cảm xúc thông thường. Nhưng ngài vẫn luôn đối xử tử tế với con trai theo cách riêng của mình.”

“Nhưng tình cảm của cậu bé lại nghiêng về phía người mẹ?”

“Vâng.”

“Cậu có nói thế không?”

“Không.”

“Thế ra là Công tước nói à?”

“Lạy Chúa tôi, không đời nào!”

“Thế sao ông lại biết?”

“Tôi đã có vài buổi trò chuyện kín đáo với ông James Wilder, thư ký riêng của Ngài Công tước. Chính ông ấy là người đã cung cấp cho tôi thông tin về tình cảm của Lãnh chúa Saltire.”

“Tôi hiểu rồi. Nhân tiện đây, bức thư cuối cùng của Ngài Công tước—nó có được tìm thấy trong phòng cậu bé sau khi cậu đi mất không?”

“Không, cậu đã mang theo nó rồi. Tôi nghĩ, thưa ông Holmes, đã đến lúc chúng ta khởi hành đi ga Euston rồi đấy.”

“Tôi sẽ gọi một chiếc xe bốn bánh. Chỉ mười lăm phút nữa thôi là chúng tôi sẵn sàng phục vụ ông. Nếu ông có gửi điện về nhà, thưa ông Huxtable, tốt hơn hết là cứ để mọi người ở quanh vùng lầm tưởng rằng cuộc điều tra vẫn đang tiếp tục ở Liverpool, hay bất cứ nơi nào mà con cá trích đỏ đó đã dẫn dắt bầy chó săn của ông đánh hơi theo. Trong lúc này, tôi sẽ làm một chút công việc thầm lặng ngay tại cửa nhà ông, và có lẽ manh mối cũng chưa đến nỗi nguội lạnh để mà hai con chó săn già như Watson và tôi không thể ngửi ra chút mùi vị gì.”

Buổi tối hôm đó đưa chúng tôi đến với bầu không khí lạnh giá, sảng khoái của vùng Peak, nơi tọa lạc ngôi trường nổi tiếng của Tiến sĩ Huxtable. Trời đã sập tối khi chúng tôi đến nơi. Một tấm danh thiếp đang nằm trên bàn ở sảnh, và viên quản gia thì thầm vài điều với chủ nhân của mình, người đang quay sang chúng tôi với vẻ bấn loạn hằn trên từng nét mặt nặng nề.

“Ngài Công tước đang ở đây,” ông nói. “Ngài Công tước và ông Wilder đang ở trong phòng làm việc. Mời các vị, tôi sẽ đưa các vị vào giới thiệu.”

Dĩ nhiên là tôi đã quen thuộc với những bức chân dung của vị chính khách nổi tiếng này, nhưng con người bằng xương bằng thịt ngoài đời lại rất khác so với hình ảnh của ngài. Ngài là một người cao lớn và đường bệ, ăn mặc vô cùng chỉnh tề, với khuôn mặt gầy gò, hốc hác, và chiếc mũi dài uốn cong một cách kỳ quặc. Nước da ngài trắng bệch như xác chết, càng làm nổi bật tương phản đến giật mình với bộ râu dài thưa thớt màu đỏ rực rỡ, rủ xuống tận chiếc áo ghi-lê trắng với sợi dây đồng hồ lấp ló qua lớp rìa râu. Đó chính là sự hiện diện đường bệ đang nhìn trừng trừng vào chúng tôi từ giữa tấm thảm trước lò sưởi của Tiến sĩ Huxtable. Đứng bên cạnh ngài là một thanh niên rất trẻ, mà tôi hiểu là Wilder, viên thư ký riêng. Cậu ta thấp người, dễ kích động, lanh lợi với đôi mắt xanh nhạt thông minh và những nét mặt linh hoạt. Chính cậu ta là người đã lập tức mở lời trước bằng một giọng điệu sắc sảo và quả quyết.

“Tôi đã ghé qua vào sáng nay, thưa Tiến sĩ Huxtable, nhưng quá muộn để ngăn ông khởi hành đi London. Tôi được biết mục đích của ông là mời ông Sherlock Holmes đến đảm nhận việc điều tra vụ án này. Ngài Công tước lấy làm ngạc nhiên, thưa Tiến sĩ Huxtable, khi ông lại có thể tự ý thực hiện một bước đi như thế mà không hề hỏi ý kiến ngài.”

“Khi tôi biết cảnh sát đã thất bại——”

“Ngài Công tước hoàn toàn không tin là cảnh sát đã thất bại.”

“Nhưng thưa ông Wilder, chắc là——”

“Ông thừa biết rõ, thưa Tiến sĩ Huxtable, rằng Ngài Công tước đặc biệt lo lắng muốn tránh mọi tai tiếng trước công chúng. Ngài thích giữ càng ít người biết chuyện càng tốt.”

“Chuyện này có thể dễ dàng khắc phục thôi,” vị bác sĩ đang bị áp đảo nói; “Ông Sherlock Holmes có thể trở về London bằng chuyến tàu buổi sáng.”

“Khó lòng mà thế được, thưa Bác sĩ, khó lòng lắm,” Holmes nói bằng chất giọng êm dịu nhất của mình. “Không khí miền bắc này thật sảng khoái và dễ chịu, thế nên tôi dự định sẽ dành vài ngày lang thang trên các cánh đồng hoang của các ông, và tận dụng óc suy luận của mình hết mức có thể. Việc tôi nhận được sự che chở dưới mái nhà của ông hay tại quán trọ trong làng, dĩ nhiên là tùy thuộc vào quyết định của ông thôi.”

Tôi có thể thấy vị bác sĩ bất hạnh đang ở trong tình trạng lưỡng lự đến cùng cực, và ông chỉ được giải cứu khỏi tình thế đó bởi giọng nói trầm ấm, vang vọng như tiếng cồng điểm danh bữa tối của vị Công tước râu đỏ.

“Tôi đồng ý với ông Wilder, thưa Tiến sĩ Huxtable, rằng ông đã cư xử khôn ngoan hơn nếu tham khảo ý kiến của tôi. Nhưng vì ông Holmes đã được đưa vào vòng bí mật của ông, thì quả thực thật ngớ ngẩn nếu chúng ta không tận dụng những dịch vụ của ông ấy. Thay vì ra quán trọ, thưa ông Holmes, tôi sẽ rất lấy làm vinh hạnh nếu ông đến ở lại cùng tôi tại Holdernesse Hall.”

“Cảm ơn Ngài Công tước. Cho mục đích điều tra của mình, tôi nghĩ sẽ khôn ngoan hơn nếu tôi ở lại ngay tại hiện trường của vụ án bí ẩn này.”

“Tùy ý ông thôi, thưa ông Holmes. Bất kỳ thông tin nào mà ông Wilder hoặc tôi có thể cung cấp, dĩ nhiên đều sẵn sàng phục vụ ông.”

“Có lẽ tôi sẽ cần phải gặp Ngài tại Lâu đài,” Holmes nói. “Bây giờ tôi chỉ muốn hỏi ngài một điều, thưa ngài, là liệu ngài đã hình thành bất kỳ lời giải thích nào trong đầu mình về sự biến mất bí ẩn của con trai ngài chưa?”

“Không, thưa ngài, tôi chưa có.”

“Xin lỗi nếu tôi phải đề cập đến điều đau đớn đối với ngài, nhưng tôi không còn cách nào khác. Ngài có nghĩ rằng Nữ công tước có dính líu gì đến vụ này không?”

Vị đại thần đáng kính thể hiện sự do dự thấy rõ.

“Tôi không nghĩ vậy,” cuối cùng ngài lên tiếng.

“Một lời giải thích hiển nhiên khác là đứa trẻ đã bị bắt cóc nhằm mục đích tống tiền. Ngài chưa nhận được yêu sách nào đại loại như thế chứ?”

“Không, thưa ngài.”

“Thêm một câu hỏi nữa, thưa Ngài Công tước. Tôi được biết ngài đã viết thư cho con trai mình vào đúng ngày xảy ra sự việc này?”

“Không, tôi viết vào ngày hôm trước.”

“Chính xác. Nhưng cậu bé nhận được nó vào ngày hôm đó phải không?”

“Vâng.”

“Trong thư của ngài có điều gì có thể khiến cậu bé mất bình tĩnh hoặc xúi giục cậu có hành động nông nổi đó không?”

“Không, thưa ngài, chắc chắn là không có.”

“Chính ngài đã bỏ bức thư đó vào thùng thư chứ?”

Câu trả lời của nhà quý tộc bị cắt ngang bởi viên thư ký, người đã xen vào với vẻ khá bực dọc.

Năng lực tự chủ của vị đại thần đã bị phá vỡ khi ngài đứng phắt dậy, tay quơ cào trong không trung như một kẻ đang chìm xuống vực thẳm. Rồi bằng một nỗ lực phi thường của sự điềm tĩnh mang phong cách quý tộc, ngài ngồi xuống và vùi mặt vào hay bàn tay. Phải mất vài phút ngài mới lên tiếng.

“Ngài Công tước không có thói quen tự tay gửi thư,” cậu ta nói. “Bức thư này được đặt cùng với những bức khác trên bàn làm việc, và chính tôi là người đã bỏ chúng vào túi đựng thư.”

“Cậu chắc chắn bức thư này nằm trong số đó chứ?”

“Vâng, tôi đã để ý thấy nó.”

“Ngài Công tước đã viết bao nhiêu bức thư vào ngày hôm đó?”

“Hai mươi hoặc ba mươi bức. Tôi có lượng thư từ giao dịch rất lớn. Nhưng chắc chắn là điều này có phần không liên quan lắm chứ nhỉ?”

“Không hẳn thế đâu,” Holmes nói.

“Về phần mình,” vị Công tước tiếp tục, “tôi đã khuyên cảnh sát hướng sự chú ý về phía miền nam nước Pháp. Tôi đã nói rồi, tôi không tin là Nữ công tước lại có thể khuyến khích một hành động quái đản như thế, nhưng đứa trẻ vốn mang những suy nghĩ vô cùng lệch lạc, và rất có thể nó đã trốn sang đó, dưới sự giúp đỡ và xúi giục của gã người Đức này. Tôi nghĩ, thưa Tiến sĩ Huxtable, chúng ta sẽ quay trở lại Lâu đài thôi.”

Tôi nhận ra vẫn còn những câu hỏi khác mà Holmes muốn đặt ra, nhưng thái độ cụt lủn của nhà quý tộc cho thấy cuộc phỏng vấn đã kết thúc. Hiển nhiên là đối với bản tính đậm chất quý tộc của ngài, việc thảo luận những chuyện gia đình riêng tư này với một kẻ xa lạ là điều vô cùng ghê tởm, và ngài sợ rằng mỗi câu hỏi mới đưa ra sẽ hắt ánh sáng gay gắt hơn vào những góc khuất được che đậy kín đáo trong lịch sử gia tộc công tước của mình.

Khi nhà quý tộc và viên thư ký đã rời đi, bạn tôi liền lao ngay vào cuộc điều tra với sự háo hức đặc trưng.

Phòng của cậu bé được kiểm tra kỹ lưỡng, và chẳng mang lại kết quả gì ngoại trừ một niềm xác tín tuyệt đối rằng chỉ có qua đường cửa sổ thì cậu mới có thể trốn thoát. Phòng và đồ đạc của giáo viên dạy tiếng Đức cũng không cung cấp thêm chút manh mối nào. Trong trường hợp của ông ta, một nhánh dây thường xuân đã bị đứt gãy dưới sức nặng của cơ thể, và chúng tôi nhìn thấy rõ dấu vết trên thảm cỏ dưới ánh đèn lồng nơi gót giày ông chạm đất. Vết lõm duy nhất trên thảm cỏ xanh ngắn ngủi ấy chính là nhân chứng vật chất duy nhất sót lại của cuộc trốn chạy ban đêm không tài nào lý giải nổi này.

Sherlock Holmes rời khỏi nhà một mình, và chỉ trở về sau mười một giờ đêm. Anh đã kiếm được một bản đồ quân sự khổ lớn của vùng lân cận, mang nó vào phòng tôi, trải lên giường, và sau khi đặt chiếc đèn dầu cân bằng ở chính giữa, anh bắt đầu phả khói thuốc bay lơ lửng bên trên, thỉnh thoảng lại dùng phần ống hổ phách ru rứa khói của chiếc tẩu để chỉ ra những đối tượng quan tâm.

“Vụ án này càng lúc càng lôi cuốn tôi đấy, Watson,” anh nói. “Rõ ràng có một vài điểm thú vị liên quan đến nó. Ở giai đoạn đầu này, tôi muốn anh nắm bắt được những đặc điểm địa lý mà có lẽ sẽ đóng vai trò quan trọng trong cuộc điều tra của chúng ta.”

BẢN ĐỒ VÙNG LÂN CẬN NHÀ TRƯỜNG CỦA HOLMES.

“Hãy nhìn vào bản đồ này. Ô vuông tối màu này chính là trường Priory. Tôi sẽ cắm một chiếc ghim vào đó. Giờ thì đường nét này là con đường chính. Anh thấy đấy, nó chạy hướng đông và tây vắt qua trường học, và anh cũng thấy rằng không có bất kỳ con đường nhánh nào trong bán kính một dặm về cả hai phía. Nếu hai kẻ đó tẩu thoát bằng đường bộ, thì chính là con đường này đây.”

“Chính xác.”

“Một cách tình cờ đầy kỳ lạ và may mắn, chúng ta phần nào có thể kiểm chứng được những gì đã đi qua con đường này trong đêm định mệnh ấy. Tại điểm này, nơi tẩu thuốc của tôi đang đặt, một cảnh sát tuần tra hạt đã làm nhiệm vụ từ mười hai giờ đêm đến sáu giờ sáng. Như anh thấy đấy, đó là ngã tư đầu tiên ở phía đông. Viên cảnh sát này khẳng định ông ta không hề rời khỏi vị trí dù chỉ một giây, và chắc chắn một trăm phần trăm là không có nam sinh hay người lớn nào có thể qua lại lối đó mà không bị nhìn thấy. Tôi đã nói chuyện với viên cảnh sát này tối nay và thấy ông ta là một người hoàn toàn đáng tin cậy. Điều đó bịt kín đầu bên này. Giờ chúng ta phải giải quyết đầu bên kia. Ở đây có một quán trọ, The Red Bull, bà chủ quán đang bị ốm. Bà đã cử người đi Mackleton mời bác sĩ, nhưng mãi đến sáng bác sĩ mới tới do vướng bận một ca bệnh khác. Mọi người ở quán trọ đã thức trắng đêm để chờ ông đến, và dường như ai nấy đều liên tục dán mắt ra đường. Họ khẳng định không có ai qua lại cả. Nếu lời khai của họ là đáng tin cậy, thì chúng ta thật may mắn khi có thể phong tỏa phía tây, và đồng thời có thể khẳng định rằng những kẻ trốn chạy hoàn toàn không sử dụng đường lớn.”

“Nhưng còn chiếc xe đạp thì sao?” tôi phản bác.

“Đúng thế. Lát nữa chúng ta sẽ bàn đến chiếc xe đạp. Để tiếp tục lập luận của mình: nếu những người này không đi bằng đường lớn, họ buộc phải băng qua vùng đất nằm về phía bắc hoặc phía nam của ngôi nhà. Điều đó là chắc chắn. Hãy cân nhắc bên này với bên kia. Phía nam ngôi nhà, như anh thấy đấy, là một khu vực rộng lớn đất trồng trọt, bị chia cắt thành những cánh đồng nhỏ ngăn cách nhau bởi những bức tường đá. Ở đó, tôi thừa nhận là xe đạp không thể đi qua nổi. Chúng ta có thể dẹp bỏ ý định đó. Giờ ta chuyển sang vùng đất ở phía bắc. Nơi đây có một lùm cây, được đánh dấu là ‘Ragged Shaw’, và bên kia nữa là một vùng đồng hoang lượn sóng rộng lớn, Lower Gill Moor, kéo dài mười dặm và thoai thoải dốc lên cao. Tại đây, ở một phía của vùng đất hoang vu này là Holdernesse Hall, cách mười dặm nếu đi đường xe nhưng chỉ sáu dặm nếu băng qua đồng hoang. Đó là một vùng bình nguyên cô quạnh đặc biệt. Một vài nông dân vùng đồng hoang có những mảnh đất nhỏ, nơi họ nuôi cừu và gia súc. Ngoài họ ra, chim rẽ vàng và chim rầm rì chính là những cư dân duy nhất cho đến khi anh ra tới quốc lộ Chesterfield. Có một nhà thờ ở đó, anh thấy đấy, vài ngôi nhà nhỏ, và một quán trọ. Vượt qua đó là những ngọn đồi hiểm trở. Chắc chắn là ở hướng bắc này mới là nơi cuộc tìm kiếm của chúng ta phải hướng tới.”

“Nhưng còn chiếc xe đạp thì sao?” tôi vẫn kiên trì hỏi.

“Thôi nào, thôi nào!” Holmes sốt ruột nói. “Một tay đua xe đạp cừ khôi chẳng cần đến đường cái lớn. Đồng hoang đan xen chằng chịt những lối mòn, và trăng lại đang độ rằm. Kia! Cái gì thế này?”

Có tiếng gõ cửa đầy hốt hoảng và ngay lập tức Tiến sĩ Huxtable đã bước vào phòng. Trên tay ông cầm chiếc mũ chơi cờ lê màu xanh lam với hình chữ V màu trắng trên vành mũ.

“Cuối cùng chúng ta cũng có manh mối rồi!” ông kêu lên. “Tạ ơn Chúa! Cuối cùng chúng ta cũng bám theo được dấu vết của cậu bé tội nghiệp! Đây là chiếc mũ của thằng bé.”

“Nó được tìm thấy ở đâu vậy?”

“Trong chiếc xe lữ hành của bọn du mục cắm trại trên đồng hoang. Bọn chúng đã rời đi vào thứ Ba. Hôm nay cảnh sát đã lần ra dấu vết và khám xét xe của chúng. Chiếc mũ này đã được tìm thấy.”

“Bọn chúng giải thích thế nào?”

“Bọn chúng quanh co dối trá—nói rằng nhặt được nó trên đồng hoang vào sáng thứ Ba. Bọn chúng biết cậu bé đang ở đâu, lũ khốn kiếp ấy! Ơn Chúa, tất cả bọn chúng đã bị tống giam khóa tay kỹ lưỡng rồi. Hoặc là nỗi sợ pháp luật hoặc hầu bao của Công tước chắc chắn sẽ moi ra được tất cả những gì chúng biết.”

“Thế là tốt rồi,” Holmes nói khi vị bác sĩ cuối cùng đã rời khỏi phòng. “Ít nhất nó cũng củng cố cho giả thuyết rằng chúng ta phải hy vọng thu được kết quả ở phía Lower Gill Moor. Cảnh sát thực sự chẳng làm được tích sự gì ở địa phương cả, ngoại trừ việc bắt giam nhóm du mục này. Nhìn đây, Watson! Có một dòng suối chảy cắt ngang đồng hoang. Anh thấy nó được đánh dấu ở đây trên bản đồ chứ. Ở vài đoạn nó phình rộng ra thành một vùng đầm lầy. Điều này đặc biệt đúng ở khu vực nằm giữa Holdernesse Hall và nhà trường. Thật vô ích khi tìm kiếm dấu vết ở những nơi khác trong thời tiết hanh khô này, nhưng tại điểm đó chắc chắn có cơ hội lưu lại chút dấu tích nào đó. Tôi sẽ gọi anh dậy thật sớm vào sáng mai, rồi anh và tôi sẽ thử xem chúng ta có thể làm sáng tỏ đôi chút về điều bí ẩn này không.”

Trời vừa hửng sáng khi tôi tỉnh giấc và nhận ra hình bóng dài gầy của Holmes đang đứng bên giường. Ông đã mặc quần áo tề chỉnh và có vẻ như đã ra ngoài từ trước rồi.

“Tôi đã kiểm tra bãi cỏ và nhà để xe đạp xong xuôi rồi,” anh nói. “Tôi cũng vừa lùng sục một vòng qua khu Ragged Shaw. Nào, Watson, ca cao đã pha sẵn ở phòng bên cạnh rồi đấy. Tôi phải phàn nàn là anh cần khẩn trương lên, vì chúng ta có một ngày bận rộn đang chờ trước mắt.”

Đôi mắt anh sáng lên, gò má ửng hồng vì sự phấn khích của một người thợ cả nhìn thấy công việc của mình đã nằm sẵn trước mặt. Một Holmes hoàn toàn khác biệt, con người năng động, lanh lợi này khác hẳn với gã mơ mộng nội tâm và xanh xao ở phố Baker. Khi nhìn vào dáng người dẻo dai ấy, tràn trề năng lượng thần kinh, tôi cảm thấy quả thực một ngày đầy cam go đang chờ đón chúng tôi.

Thế nhưng nó lại mở màn bằng sự thất vọng đen tối nhất. Với nhiều hy vọng tràn trề, chúng tôi băng qua vùng đồng hoang màu nâu đỏ đầy than bùn, đan xen hàng nghìn lối mòn cừu đi, cho đến khi đến được dải màu xanh nhạt rộng lớn đánh dấu vùng đầm lầy nằm giữa chúng tôi và Holdernesse. Chắc chắn nếu cậu bé đi về hướng nhà, cậu buộc phải bước qua chỗ này, và không thể nào qua mà không để lại dấu vết. Nhưng chẳng có lấy một dấu hiệu nào của cậu hay gã người Đức xuất hiện cả. Với nét mặt sầm sì, bạn tôi sải bước dọc theo mép đầm, chăm chú quan sát từng vết bùn lầy trên bề mặt phủ rêu. Dấu chân cừu thì la liệt, và ở một chỗ, cách đó vài dặm về phía dưới, bò đã để lại dấu tích của chúng. Chẳng có gì hơn thế.

“Cú vấp thứ nhất,” Holmes nói, ảm đạm nhìn ra không gian bao la nhấp nhô của đồng hoang. “Có một vùng đầm lầy khác ở đằng kia, và một cái cổ chai hẹp nằm giữa. Kia! Kia! Kia! Chúng ta có gì thế này?”

Chúng tôi đã tiến đến một dải đường mòn đen nhỏ. Ngay chính giữa nó, hằn rõ trên lớp đất sũng nước, là vệt bánh xe đạp.

“Hoan hô!” tôi kêu lên. “Chúng ta tìm thấy rồi.”

Nhưng Holmes đang lắc đầu, khuôn mặt anh lộ vẻ bối rối và đầy chờ đợi hơn là vui mừng.

“Một chiếc xe đạp, đúng thế, nhưng không phải là chiếc xe đạp đó,” anh nói. “Tôi rất quen thuộc với bốn mươi hai loại dấu vết khác nhau do các loại lốp để lại. Cái này, như anh thấy đấy, là lốp Dunlop, có miếng vá ở vỏ ngoài. Lốp xe của Heidegger là lốp Palmer, để lại các đường sọc dọc. Aveling, giáo viên toán, đã khẳng định chắc chắn về điểm này. Do đó, đây không phải là dấu vết của Heidegger.”

“Thế thì là của cậu bé à?”

“Có thể lắm, nếu chúng ta có thể chứng minh được là có chiếc xe đạp thuộc quyền sở hữu của cậu. Nhưng chúng ta hoàn toàn thất bại trong việc đó. Vết bánh xe này, như anh thấy đấy, được tạo ra bởi một người đang đi từ hướng nhà trường tới.”

“Hay là đi về hướng ngược lại?”

“Không, không, Watson thân mến của tôi. Vết hằn sâu hơn đương nhiên là bánh sau, nơi trọng lượng cơ thể dồn vào. Anh có thể nhận thấy một số nơi nó đè lên và làm mờ đi vết nông hơn của bánh trước. Chắc chắn nó đang hướng ra xa trường học. Nó có thể có hoặc không liên quan đến cuộc điều tra của chúng ta, nhưng chúng ta sẽ lần theo vết nó ngược lại trước khi đi tiếp bất cứ đâu.”

Chúng tôi đã làm thế, và sau vài trăm thước thì mất hút dấu vết khi ra khỏi phần đầm lầy của đồng hoang. Lần theo con đường mòn ngược lại, chúng tôi chọn được một điểm khác, nơi có mạch nước ngầm rỉ qua. Ở đây, một lần nữa, lại xuất hiện vết bánh xe đạp, dù đã gần như bị xóa sạch bởi móng vuốt của bò. Sau đó thì chẳng còn dấu hiệu nào nữa, nhưng con đường mòn cứ thế đâm thẳng vào Ragged Shaw, khu rừng nằm tựa lưng vào trường học. Từ khu rừng này chắc chắn chiếc xe đạp đã đi ra. Holmes ngồi xuống một khối đá lớn, hai tay chống cằm. Tôi đã hút xong hai điếu thuốc trước khi anh ấy dịch chuyển.

“Chà, chà,” cuối cùng anh lên tiếng. “Dĩ nhiên vẫn có khả năng một kẻ gian xảo thay lốp xe đạp để đánh lạc hướng bằng những dấu vết lạ lẫm. Một tên tội phạm có thể nghĩ ra điều đó là một kẻ mà tôi rất hân hạnh được giao đấu cùng. Chúng ta sẽ gác lại câu hỏi này chưa giải quyết và quay trở lại vùng đầm lầy của chúng ta, vì chúng ta vẫn còn rất nhiều việc chưa khám phá hết.”

Chúng tôi tiếp tục cuộc khảo sát có hệ thống dọc theo mép phần đất sũng nước của đồng hoang, và chẳng mấy chốc sự kiên trì của chúng tôi đã được đền đáp một cách huy hoàng. Ngay băng qua phần dưới của đầm lầy là một lối mòn lầy lội. Holmes thốt lên một tiếng reo vui khi anh tiến lại gần nó. Một vệt hằn trông giống như một bó dây điện báo thanh mảnh chạy dọc chính giữa lối mòn. Đó chính là lốp xe Palmer.

“Chắc chắn là Ngài Heidegger đây rồi!” Holmes hân hoan kêu lên. “Lập luận của tôi xem ra khá chuẩn xác đấy chứ, Watson.”

“Xin chúc mừng anh.”

“Nhưng chúng ta vẫn còn một chặng đường dài phải đi. Xin vui lòng bước tránh xa con đường mòn. Giờ hãy cùng lần theo dấu vết nào. Tôi e rằng nó sẽ không dẫn đi quá xa đâu.”

Tuy nhiên, khi tiến sâu hơn, chúng tôi phát hiện ra rằng phần này của đồng hoang đan xen những vùng đất mềm, và dù chúng tôi thường xuyên mất dấu, nhưng chúng tôi luôn thành công trong việc tìm lại được nó.

“Anh có nhận thấy không,” Holmes nói, “rằng tay đua giờ đây chắc chắn đang ép tốc độ không? Không còn nghi ngờ gì nữa. Hãy nhìn vết hằn này xem, nơi anh có thể thấy rõ cả hai bánh xe. Bánh nào cũng sâu như bánh nào. Điều đó chỉ có nghĩa là tay đua đang dồn trọng lượng lên tay lái, giống như tư thế của một người đang chạy nước rút. Lạy Chúa! Ngã rồi đây.”

Có một vệt lem nhem rộng và không đều che phủ vài thước chiều dài của đường mòn. Sau đó là một vài dấu chân, rồi vết lốp xe lại xuất hiện trở lại.

“Bị trượt bánh sang bên,” tôi gợi ý.

Holmes giơ lên một cành hoa thạch thảo đang nở rộ bị vò nát. Đến nỗi kinh hoàng của tôi, tôi nhận thấy những bông hoa vàng đều đẫm những sắc đỏ thẫm. Ngay trên lối mòn, và lẫn trong đám thạch thảo cũng có những vết máu đông đặc sẫm màu.

“Tệ rồi!” Holmes nói. “Tệ thật đấy! Tránh ra nào, Watson! Đừng bước những bước chân không cần thiết! Tôi đọc được gì từ đây nhỉ? Hắn ngã bị thương—hắn đứng dậy—hắn leo lên xe tiếp tục đi. Nhưng không có dấu vết nào khác cả. Gia súc xuất hiện ở lối rẽ này. Chắc chắn hắn không bị bò húc chứ? Bất khả thi! Nhưng tôi chẳng thấy dấu vết của ai khác cả. Chúng ta phải tiến lên thôi, Watson, chắc chắn với những vết máu cùng với vết bánh xe làm chỉ dẫn, hắn không thể thoát khỏi chúng ta lúc này được đâu.”

Cuộc tìm kiếm của chúng tôi không kéo dài lâu. Vết bánh xe bắt đầu uốn lượn kỳ dị trên con đường ướt át và sáng bóng. Đột ngột, khi tôi nhìn về phía trước, ánh kim loại lóe lên đập vào mắt tôi giữa những bụi thạch thảo dày đặc. Lôi ra từ trong đó là một chiếc xe đạp mang lốp Palmer, một bên bàn đạp bị cong, và toàn bộ phần trước dính đầy máu nhão nhoét ghê tởm. Phía bên kia bụi cây có một chiếc giày nhô ra. Chúng tôi chạy vòng ra, và nằm ở đó chính là tay đua bất hạnh. Ông là một người đàn ông cao lớn, để râu rậm, đeo kính, một bên tròng kính đã bị đánh bay mất. Nguyên nhân cái chết là một cú đánh kinh hoàng vào đầu, làm nát một phần hộp sọ. Việc ông có thể tiếp tục đi sau khi nhận phải chấn thương như vậy đã nói lên phần nào sức sống mãnh liệt và lòng can đảm của con người này. Ông đi giày nhưng không mang tất, và chiếc áo khoác phanh ra để lộ chiếc áo ngủ bên dưới. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là giáo viên dạy tiếng Đức.

Holmes cung kính lật ngửa thi thể lại và kiểm tra hết sức tỉ mỉ. Sau đó ông ngồi trầm ngâm suy nghĩ một lúc, và tôi có thể nhận ra qua cái trán cau lại rằng phát hiện u ám này, theo quan điểm của ông, chưa giúp chúng ta tiến xa hơn nhiều trong cuộc điều tra.

“Thật hơi khó khăn khi phải quyết định phải làm gì lúc này, Watson,” cuối cùng ông lên tiếng. “Ý định của bản thân tôi là tiếp tục đẩy mạnh cuộc điều tra này, vì chúng ta đã mất quá nhiều thời gian nên không thể phí phạm thêm một giờ nào nữa. Mặt khác, chúng ta có nghĩa vụ phải báo cảnh sát về phát hiện này, và đảm bảo thi thể của người bạn tội nghiệp này được lo liệu chu đáo.”

“Tôi có thể mang một bức thư quay về.”

“Nhưng tôi cần sự đồng hành và hỗ trợ của anh. Đợi chút! Có một gã đang cắt than bùn đằng kia kìa. Dẫn hắn đến đây, hắn sẽ làm người dẫn đường cho cảnh sát.”

Tôi dẫn gã nông dân lại, và Holmes phái gã đàn ông đang hoảng sợ mang theo bức thư gửi Tiến sĩ Huxtable.

“Nào, Watson,” anh nói, “sáng nay chúng ta đã thu được hai manh mối. Một là chiếc xe đạp lắp lốp Palmer, và chúng ta đã thấy nó dẫn đến kết quả gì. Manh mối thứ hai là chiếc xe đạp lắp lốp Dunlop có miếng vá. Trước khi chúng ta bắt đầu điều tra chiếc xe đó, hãy cố gắng nhận thức rõ những gì chúng ta đã biết, để tận dụng tối đa nó, và tách bạch giữa những điều cốt yếu với những thứ ngẫu nhiên.”

“Trước hết, tôi muốn khắc sâu vào tâm trí anh rằng cậu bé chắc chắn ra đi hoàn toàn tự nguyện. Cậu trèo qua cửa sổ phòng mình và bỏ trốn, đi một mình hoặc đi cùng ai đó. Điều đó là chắc chắn.”

Tôi gật đầu đồng ý.

“Được rồi, giờ hãy chuyển hướng sang người giáo viên Đức bất hạnh này. Cậu bé đã mặc quần áo chỉnh tề khi trốn chạy. Do đó, cậu đã lường trước được việc mình sẽ làm. Nhưng gã người Đức lại đi không vớ. Chắc chắn hắn ta hành động trong một tình huống quá gấp gáp.”

“Không còn nghi ngờ gì nữa.”

“Tại sao hắn lại đuổi theo? Bởi vì từ cửa sổ phòng ngủ, hắn đã trông thấy cuộc tẩu thoát của cậu bé, vì hắn muốn bắt kịp cậu và đưa cậu trở lại. Hắn chộp lấy chiếc xe đạp, truy đuổi cậu bé, và trong quá trình truy đuổi ấy đã phải bỏ mạng.”

“Xem chừng là vậy.”

“Giờ tôi đi đến phần quan trọng trong lập luận của mình. Hành động tự nhiên của một người khi đuổi theo một đứa trẻ sẽ là chạy bộ theo sau. Hắn thừa biết mình có thể bắt kịp cậu bé. Nhưng gã người Đức lại không làm thế. Hắn quay sang chiếc xe đạp của mình. Tôi được biết hắn là một tay đua xe đạp xuất sắc. Hắn sẽ không làm thế nếu hắn không nhận thấy cậu bé có một phương tiện tẩu thoát tốc độ nào đó.”

“Chiếc xe đạp kia.”

“Chúng ta hãy tiếp tục quá trình tái hiện lại vụ việc. Hắn bỏ mạng cách trường học năm dặm—chú ý nhé, không phải do một viên đạn, thứ mà ngay cả một đứa trẻ cũng có thể cướp cò, mà là bởi một cú đánh tàn bạo vung ra từ một cánh tay cường tráng. Cậu bé, do đó, đã có kẻ đồng hành trong cuộc trốn chạy. Và cuộc tẩu thoát diễn ra rất nhanh, vì phải mất đến năm dặm đường một tay đua xe đạp cừ khôi mới bắt kịp họ. Thế mà khi chúng ta quan sát kỹ lưỡng khu vực quanh hiện trường vụ án mạng. Chúng ta tìm thấy gì nào? Một vài dấu chân gia súc, chẳng có gì hơn. Tôi đã lùng một vòng rộng bên ngoài, và không có con đường nào trong vòng năm chục thước. Một tay đua xe đạp khác không thể nào liên quan đến vụ án mạng thực tế này, cũng chẳng có chút dấu chân người nào khác.”

“Holmes,” tôi kêu lên, “điều này thật bất khả thi.”

“Tuyệt vời!” anh nói. “Một nhận xét vô cùng sáng suốt. Nó bất khả thi theo như cách tôi trình bày, và do đó tôi đã trình bày sai ở một khía cạnh nào đó. Thế nhưng anh đã tận mắt nhìn thấy rồi đấy. Anh có thể gợi ý ra điểm ngụy biện nào không?”

“Cậu ta không thể bị nứt hộp sọ do ngã xe được sao?”

“Giữa một vùng đầm lầy á, Watson?”

“Tôi cạn sạch ý kiến rồi.”

“Thôi nào, thôi nào, chúng ta đã từng giải quyết những bài toán hóc búa hơn nhiều. Ít nhất chúng ta có rất nhiều chất liệu, miễn là chúng ta biết cách tận dụng chúng. Nào, vậy thì sau khi đã khai thác cạn kiệt lốp Palmer, chúng ta hãy xem chiếc lốp Dunlop vá săm kia có gì để mang lại cho chúng ta nào.”

Chúng tôi bắt lại dấu vết và lần theo nó đi tiếp một quãng đường, nhưng chẳng mấy chốc đồng hoang nhô cao thành một đoạn uốn khúc rậm rạp thạch thảo, và chúng tôi đã bỏ lại dòng suối đằng sau. Không thể hy vọng nhận được sự trợ giúp nào nữa từ các dấu vết. Tại điểm mà chúng tôi nhìn thấy dấu vết cuối cùng của lốp Dunlop, nó hoàn toàn có thể dẫn đến Holdernesse Hall, nơi những ngọn tháp nguy nga vươn cao ở phía bên trái chúng tôi, hoặc dẫn đến một ngôi làng xám xịt thấp tè nằm ngay trước mặt và đánh dấu vị trí của quốc lộ Chesterfield.

Khi chúng tôi đến gần quán trọ tồi tàn và ảm đạm, với biển hiệu hình chú gà chọi treo trên cửa, Holmes bỗng rên lên một tiếng và túm lấy vai tôi để giữ thăng bằng không bị ngã. Anh đã gặp phải một trong những cơn trẹo mắt cá chân dữ dội khiến con người ta trở nên bất lực. Với bao khó khăn, anh khập khiễng bước tới cửa, nơi một gã đàn ông lớn tuổi, lùn tịt và da ngăm đen đang phả khói từ một chiếc tẩu đất màu đen.

“Dạo này thế nào, ông Reuben Hayes?” Holmes nói.

“Mày là ai, và sao mày lại biết rành rọt tên tao thế?” gã nhà quê đáp lại, đôi mắt ranh mãnh lóe lên vẻ đầy nghi kỵ.

“À, nó được in trên tấm bảng treo trên đầu anh kìa. Dễ dàng nhận ra một kẻ làm chủ ngôi nhà của chính mình chứ. Tôi đoán là trong chuồng ngựa của anh không có sẵn một cỗ xe nào đâu nhỉ?”

“Không, tao không có.”

“Tôi khó lòng mà nhấc nổi chân lên đất được nữa.”

“Thì đừng nhấc nó lên đất nữa.”

“Nhưng tôi không đi bộ nổi.”

“Thế thì nhảy lò cò đi.”

Thái độ của ông Reuben Hayes hoàn toàn chẳng mấy niềm nở, nhưng Holmes đã đón nhận nó với sự nhã nhặn đến ngạc nhiên.

“Nghe này, anh bạn,” anh nói. “Thực sự tôi đang rơi vào hoàn cảnh khá trớ trêu. Thế nào cũng được miễn là tôi đi được.”

“Tao cũng thế thôi,” gã chủ quán cáu kỉnh đáp.

“Vấn đề rất quan trọng. Tôi sẵn sàng tặng anh một đồng vàng nếu cho mượn chiếc xe đạp.”

Gã chủ quán vểnh tai lên.

“Mày muốn đi đâu?”

“Đến Holdernesse Hall.”

“Cạ cứng của Ngài Công tước hả tụi mày?” gã chủ quán liếc nhìn bộ trang phục lấm lem bùn đất của chúng tôi bằng đôi mắt đầy vẻ mỉa mai.

Holmes cười xòa đầy thiện chí.

“Kiểu gì ngài ấy cũng sẽ rất vui khi gặp chúng tôi thôi.”

“Tại sao?”

“Bởi vì chúng tôi mang đến tin tức về đứa con trai thất lạc của ngài.”

Gã chủ quán giật mình trông thấy rõ.

“Cái gì, tụi mày đang bám theo dấu vết của thằng bé à?”

“Cậu bé đã được nhìn thấy ở Liverpool. Người ta hy vọng sẽ tóm được cậu ta từng giờ từng phút.”

Một lần nữa sự thay đổi nhanh chóng lại lướt qua khuôn mặt nặng nề, chưa cạo râu của hắn. Thái độ của hắn bỗng chốc trở nên niềm nở.

“Tao ít có lý do để chúc phúc cho Ngài Công tước hơn hầu hết mọi người,” hắn nói, “vì tao từng là một nài xe đánh xe ngựa trưởng, và ngài ấy đối xử với tao tệ bạc tàn nhẫn. Chính ngài ấy đã sa thải tao mà không có lấy một tờ giấy giới thiệu chỉ vì lời nói của một tên buôn ngô xảo trá. Nhưng tao rất vui khi nghe tin vị thiếu gia được tìm thấy ở Liverpool, và tao sẽ giúp tụi mày mang tin tức đó đến Lâu đài.”

“Cảm ơn anh,” Holmes nói. “Trước tiên chúng tôi sẽ ăn chút gì đó. Rồi anh có thể dắt chiếc xe đạp ra.”

“Tao không có xe đạp.”

Holmes giơ lên một đồng vàng.

“Tao bảo mày rồi, tao không có xe đạp. Tao sẽ cho tụi mày hai con ngựa để đi đến Lâu đài.”

“Thôi được rồi,” Holmes nói, “chúng ta sẽ bàn chuyện đó sau khi đã ăn chút gì lót dạ.”

Khi chúng tôi bị bỏ lại một mình trong căn bếp lát đá, thật kinh ngạc là cái chân trẹo đó hồi phục nhanh chóng đến thế nào. Trời đã gần chập tối, và chúng tôi chẳng ăn gì từ sáng sớm, thế nên chúng tôi dành khá nhiều thời gian cho bữa ăn của mình. Holmes chìm đắm trong suy tư, và đôi khi anh lại bước ra cửa sổ trân trân nhìn ra ngoài đầy đăm chiêu. Cửa sổ mở ra một cái sân trong tồi tàn. Ở góc xa là một lò rèn, nơi một thiếu niên lấm lem đang làm việc. Phía bên kia là khu chuồng ngựa. Holmes vừa ngồi xuống ghế sau một lần đi ra ngó nghiêng như thế, thì anh bỗng chồm phắt dậy khỏi ghế với một tiếng kêu lớn.

“Lạy Chúa, Watson, tôi tin là mình đã nắm được rồi!” anh kêu lên. “Đúng thế, đúng thế, chắc chắn phải là thế rồi. Watson, anh có nhớ thấy bất kỳ vết chân bò nào trong ngày hôm nay không?”

“Có, vài chỗ.”

“Ở đâu?”

“À, khắp nơi. Chúng ở đầm lầy, rồi trên lối mòn, và cả gần nơi tội nghiệp Heidegger bỏ mạng nữa.”

“Chính xác. Giờ thì, Watson, anh đã thấy bao nhiêu con bò trên đồng hoang?”

“Tôi không nhớ là thấy con nào cả.”

“Lạ thật đấy, Watson, khi chúng ta thấy dấu chân suốt cả dọc đường đi, nhưng lại chẳng thấy bóng dáng con bò nào trên cả vùng đồng hoang. Rất lạ phải không Watson?”

“Vâng, quả thực rất lạ.”

“Nào Watson, hãy cố gắng lên, hồi tưởng lại xem nào. Anh có nhìn thấy những vết chân trên đường mòn đó không?”

“Có, tôi thấy.”

“Anh có nhớ là các dấu chân thỉnh thoảng trông thế này không, Watson,”—anh sắp xếp một loạt vụn bánh mì theo kiểu này—: : : : :—“và thỉnh thoảng lại thế này”—: . : . : . : .—“và đôi khi lại thế này”—.・.・.・. “Anh có nhớ điều đó không?”

“Không, tôi không nhớ.”

“Nhưng tôi thì có. Tôi dám thề là có. Tuy nhiên, chúng ta sẽ quay lại đó thong thả kiểm chứng sau. Tôi đúng là một gã bọ hung mù quáng khi không tự rút ra được kết luận.”

“Và kết luận của anh là gì?”

“Chỉ là đó là một con bò vô cùng đặc biệt vừa biết đi, vừa phi nước đại, lại vừa chạy phi nước kiệu. Lạy Chúa! Watson, chẳng có bộ óc của một gã chủ quán trọ thôn quê nào lại nghĩ ra nổi một lớp ngụy trang che đậy hoàn hảo đến thế. Mọi chuyện xem chừng có vẻ quang đãng, ngoại trừ cậu nhóc trong lò rèn. Hãy lẻn ra ngoài xem chúng ta có thể thấy gì nào.”

Có hai con ngựa lông xù, bờm xờm trong chuồng ngựa đổ nát. Holmes nhấc chân sau của một con lên và cười lớn.

“Móng cũ nhưng được đóng mới—móng cũ nhưng đinh mới. Vụ án này xứng đáng trở thành một tác phẩm kinh điển đấy. Chúng ta hãy qua lò rèn xem sao.”

Cậu thiếu niên vẫn tiếp tục công việc mà chẳng thèm quan tâm đến chúng tôi. Tôi thấy mắt Holmes liếc xéo sang phải rồi sang trái giữa đống sắt vụn và gỗ rải rác khắp sàn nhà. Tuy nhiên, đột nhiên chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân phía sau, và đó chính là gã chủ quán, đôi mày rậm trùm lên cặp mắt hung ác, những nét mặt sạm đen co giật vì tức giận. Hắn cầm một cây gậy đầu ngắn bọc kim loại trên tay, và tiến lại với vẻ đe dọa đến mức tôi vô cùng mừng rỡ khi cảm nhận được khẩu súng lục trong túi áo.

“Lũ gián điệp khốn kiếp!” gã đàn ông hét lên. “Tụi mày đang làm gì ở đấy thế?”

“Ơ kìa, ông Reuben Hayes,” Holmes thản nhiên nói, “người ta có thể nghĩ rằng anh đang sợ chúng tôi phát hiện ra điều gì đó đấy.”

Gã đàn ông nén giận bằng một nỗ lực dữ dội, và khóe miệng dữ tợn của hắn giãn ra thành một nụ cười giả tạo còn có vẻ đe dọa hơn cả cái cau mày.

“Tụi mày thích tìm hiểu gì trong lò rèn của tao thì cứ tự nhiên,” hắn nói. “Nhưng nghe đây, các ông ạ, tao không thích mấy kẻ cứ lảng vảng táy máy quanh nhà tao khi chưa được phép, thế nên các ông trả tiền nước nôi rồi cút xéo khỏi đây càng sớm càng tốt thì tao càng vui lòng.”

“Được rồi, ông Hayes, không có ý hại gì đâu,” Holmes nói. “Chúng tôi chỉ ghé qua ngó nghiêng ngựa của anh thôi, nhưng tôi nghĩ cuối cùng tôi vẫn sẽ đi bộ. Chắc cũng chẳng xa lắm đâu.”

“Không quá hai dặm là tới cổng Lâu đài. Con đường rẽ trái đó.” Hắn trừng mắt nhìn chúng tôi đầy vẻ hậm hực cho đến khi chúng tôi khuất dạng khỏi cơ ngơi của hắn.

Chúng tôi không đi quá xa dọc theo con đường, vì Holmes dừng lại ngay khoảnh khắc khúc cua che khuất chúng tôi khỏi tầm nhìn của gã chủ quán.

“Chúng ta suýt trúng đích rồi đấy, như cách trẻ con hay nói ở quán trọ đó,” anh nói. “Tôi có cảm giác mình càng đi xa nó thì càng lạc lối. Không, không thể nào rời khỏi đây được.”

“Tôi tin chắc rằng,” tôi nói, “gã Reuben Hayes này biết tất cả mọi chuyện. Một tên ác nhân lộ liễu thế này tôi chưa từng thấy bao giờ.”

“ Ồ! Hắn gây ấn tượng với anh theo cách đó cơ à? Kia là những con ngựa, kìa là lò rèn. Phải, đây là một nơi rất thú vị, quán Gà Chọi này. Tôi nghĩ chúng ta sẽ ghé qua quan sát lại nó một lần nữa một cách kín đáo.”

Một sườn đồi thoai thoải dài, rải rác những tảng đá vôi màu xám trải dài phía sau chúng tôi. Chúng tôi đã rời khỏi đường cái và đang mò mẫm leo lên đồi, thì khi nhìn về hướng Holdernesse Hall, tôi thoáng thấy một người đi xe đạp đang lao vùn vụt tới.

“Nấp xuống, Watson!” Holmes hét lên, bàn tay nặng trịch đè lên vai tôi. Chúng tôi vừa kịp ngụp xuống khuất tầm nhìn thì gã đàn ông đã lao vút qua chúng tôi trên đường. Giữa đám mây bụi cuồn cuộn, tôi thoáng thấy một khuôn mặt nhợt nhạt, hốt hoảng—một khuôn mặt hiện rõ sự kinh hoàng trong từng đường nét, miệng há hốc, đôi mắt trợn ngược trừng trừng nhìn về phía trước. Trông y như một bức biếm họa kỳ lạ về James Wilder bảnh bao mà chúng tôi đã gặp tối hôm trước.

“Thư ký của Công tước!” Holmes kêu lên. “Nào Watson, chúng ta hãy xem hắn làm gì nhé.”

Chúng tôi luồn lách từ tảng đá này sang tảng đá khác, chỉ chốc lát sau đã leo đến một điểm mà từ đó chúng tôi có thể nhìn rõ cửa trước của quán trọ. Chiếc xe đạp của Wilder đang dựng dựa vào bức tường ngay bên cạnh. Không có ai di chuyển quanh nhà, và chúng tôi cũng chẳng thấy bóng dáng khuôn mặt nào ở cửa sổ. Chàng hoàng hôn chầm chậm buông xuống khi mặt trời lặn sau những ngọn tháp cao của Holdernesse Hall. Rồi trong bóng tối lờ mờ, chúng tôi thấy hai đèn súp-de của một chiếc xe ngựa bật sáng ở sân sau quán trọ, và ngay sau đó nghe thấy tiếng móng ngựa lộc cộc khi nó quay đầu ra đường cái và phi đi với tốc độ cuồng nộ theo hướng Chesterfield.

“Anh nghĩ sao về chuyện này, Watson?” Holmes thì thầm.

“Trông giống như một cuộc trốn chạy.”

“Chỉ có một kẻ độc hành trên chiếc xe ngựa nhẹ, theo như tôi có thể nhìn thấy. Chà, chắc chắn đó không phải là ông James Wilder đâu, vì hắn đang đứng lù lù ở cửa kìa.”

Một ô vuông ánh sáng đỏ rực vừa bật lên từ màn đêm. Ở chính giữa đó là bóng đen của viên thư ký, đầu rướn về phía trước, đang dòm ngó ra màn đêm. Rõ ràng hắn ta đang chờ đợi ai đó. Rồi cuối cùng có tiếng bước chân trên đường, bóng dáng thứ hai hiện lên thoáng qua trong ánh sáng, cánh cửa đóng sầm lại, và mọi thứ chìm vào bóng tối hoàn toàn một lần nữa. Năm phút sau, một ngọn đèn được thắp lên trong căn phòng trên tầng hai.

“Có vẻ như đó là một tệp khách hàng khá kỳ lạ lui tới quán Gà Chọi nhỉ,” Holmes nói.

“Quầy bar nằm ở phía bên kia cơ mà.”

“Đúng thế. Đây là những vị khách mà người ta có thể gọi là khách riêng tư. Nào, quỷ thần thiên địa ơi, ông James Wilder đang làm cái quái gì trong cái hang ổ đó vào giờ này đêm hôm, và kẻ đồng hành đến gặp hắn ở đó là ai cơ chứ? Nào Watson, chúng ta thực sự phải chấp nhận mạo hiểm và thử tìm hiểu sát sao hơn một chút thôi.”

Cùng nhau, chúng tôi lẻn xuống đường và bò sát đến cửa quán trọ. Chiếc xe đạp vẫn dựng dựa vào tường. Holmes bật một que diêm quẹt lên đưa sát bánh sau, và tôi nghe thấy tiếng anh khúc khích cười khi ánh lửa rọi vào chiếc lốp Dunlop vá săm. Phía trên đầu chúng tôi là ô cửa sổ đang sáng đèn.

“Tôi phải liếc qua ô cửa sổ đó một cái mới được, Watson. Nếu anh khom lưng và chống người vào tường, tôi nghĩ tôi có thể trèo lên được.”

Ngay khoảnh khắc tiếp theo, đôi chân anh đã đặt lên vai tôi, nhưng anh vừa nhoài người lên thì đã tụt xuống ngay.

“Nào anh bạn,” anh nói, “công việc trong ngày của chúng ta thế là quá đủ dài rồi đấy. Tôi nghĩ chúng ta đã thu thập được tất cả những gì có thể. Đi bộ về trường còn một đoạn đường dài, và chúng ta khởi hành sớm chừng nào tốt chừng nấy.”

Anh hầu như không hé môi trong suốt chuyến hành trình mệt mỏi băng qua đồng hoang đó, và khi về đến trường, anh cũng chẳng thèm bước vào mà đi thẳng đến ga Mackleton để gửi vài bức điện. Đêm muộn, tôi nghe thấy anh đang an ủi Tiến sĩ Huxtable, người đang suy sụp vì thảm kịch cái chết của giáo viên của mình, và muộn hơn thế nữa, anh bước vào phòng tôi vẫn lanh lợi và sung sức như hồi khởi hành vào buổi sáng. “Mọi chuyện đều xuôi chè rồi anh bạn ạ,” anh nói. “Tôi hứa trước tối mai chúng ta sẽ giải quyết xong xuôi điều bí ẩn này.”

Mười một giờ sáng hôm sau, tôi và bạn tôi đang rảo bước trên đại lộ cây thủy tùng nổi tiếng của Holdernesse Hall. Chúng tôi được dẫn qua ô cửa kiểu Elizabeth nguy nga để vào phòng làm việc của Ngài Công tước. Ở đó chúng tôi gặp ông James Wilder, ra điều đoan trang và lịch thiệp nhưng vẫn phảng phất chút dấu vết của sự kinh hoàng tột độ từ đêm hôm trước còn ẩn hiện trong đôi mắt láo liên và những nét mặt giật giật của cậu ta.

“Các ông đến để gặp Ngài Công tước ư? Tôi rất tiếc, nhưng thực tế là sức khỏe của Ngài Công tước không được tốt cho lắm. Ngài vô cùng suy sụp trước tin tức bi thảm này. Chúng tôi đã nhận được bức điện từ Tiến sĩ Huxtable vào chiều hôm qua, thông báo cho chúng tôi về phát hiện của các ông.”

“Tôi phải gặp Ngài Công tước, thưa ông Wilder.”

“Nhưng ngài ấy đang ở trong phòng ngủ.”

“Vậy thì tôi phải vào phòng ngài ấy.”

“Tôi tin là ngài đang nằm trên giường.”

“Tôi sẽ gặp ngài ở đó.”

Thái độ lạnh lùng và bất khuất của Holmes cho viên thư ký thấy rằng việc đôi co với anh là hoàn toàn vô ích.

“Được rồi, thưa ông Holmes, tôi sẽ báo với ngài là các ông đang ở đây.”

Sau một tiếng đồng hồ chờ đợi, vị đại thần xuất hiện. Khuôn mặt ngài còn hốc hác hơn trước nhiều, đôi vai còng xuống, và trong mắt tôi ngài trông già đi hẳn so với buổi sáng hôm trước. Ngài chào đón chúng tôi bằng sự lịch thiệp đường bệ và ngồi xuống bàn làm việc, bộ râu đỏ rủ dài xuống mặt bàn.

“Thế nào, thưa ông Holmes?” ngài lên tiếng.

Nhưng mắt bạn tôi đã dán chặt vào viên thư ký đang đứng cạnh chiếc ghế của chủ nhân.

“Tôi nghĩ, thưa Ngài Công tước, tôi có thể nói chuyện cởi mở hơn nếu vắng mặt ông Wilder.”

Gã đàn ông tái mặt đi một chút và liếc nhìn Holmes đầy ác ý.

“Nếu Ngài Công tước muốn——”

“Đúng, đúng, tốt hơn là cậu nên ra ngoài đi. Nào, thưa ông Holmes, ngài có điều gì muốn nói?”

Bạn tôi chờ cho đến khi cánh cửa khép lại sau lưng viên thư ký đang lủi thủi bước ra.

“Thực ra là thế này, thưa Ngài Công tước,” anh nói, “cộng sự của tôi, bác sĩ Watson, và bản thân tôi đã nhận được sự đảm bảo từ Tiến sĩ Huxtable rằng có một khoản tiền thưởng đã được treo lên trong vụ án này. Tôi muốn điều này được xác nhận từ chính miệng ngài.”

“Dĩ nhiên rồi, thưa ông Holmes.”

“Nếu tôi nhớ không lầm thì nó lên tới năm nghìn bảng Anh cho bất kỳ ai cho ngài biết con trai ngài đang ở đâu?”

“Chính xác.”

“Và thêm một nghìn bảng nữa cho người nêu tên kẻ hoặc những kẻ giam giữ cậu bé?”

“Chính xác.”

“Dưới đề mục sau chắc chắn không chỉ bao gồm những kẻ đã bắt cóc cậu bé đi, mà còn cả những kẻ đồng lõa giữ cậu bé ở vị trí hiện tại của cậu chứ?”

“Đúng, đúng,” Công tước sốt sắng kêu lên. “Nếu các ông hoàn thành tốt công việc của mình, thưa ông Sherlock Holmes, các ông sẽ không có lý do gì để phàn nàn về sự đối xử keo kiệt đâu.”

Bạn tôi xoa hai bàn tay gầy gò vào nhau với vẻ hào hứng khiến tôi vô cùng ngạc nhiên, bởi tôi thừa biết thói quen tằn tiện của anh.

“Tôi tưởng tượng là tôi thấy cuốn sổ séc của Ngài Công tước đang để trên bàn đấy,” anh nói. “Tôi rất mong ngài viết cho tôi một tờ séc trị giá sáu nghìn bảng Anh. Có lẽ ngài cũng nên gạch chéo tờ séc thì tốt hơn. Chi nhánh Phố Oxford thuộc Ngân hàng Capital and Counties là đại lý của tôi.”

Ngài Công tước ngồi thẳng lưng đầy nghiêm nghị trên ghế và trân trừng nhìn bạn tôi.

“Đây là một trò đùa phải không ông Holmes? Đây khó lòng là chủ đề để mang ra cười đùa đấy.”

“Không hề đâu, thưa Ngài Công tước. Chưa bao giờ trong đời tôi nghiêm túc như lúc này.”

“Thế ý ngài là gì?”

“Ý tôi là tôi đã kiếm được khoản tiền thưởng đó rồi. Tôi biết con trai ngài đang ở đâu, và tôi ít nhất cũng biết một vài kẻ đang giam giữ cậu bé.”

Bộ râu của Công tước bỗng chuyển sang màu đỏ hung hãn hơn bao giờ hết trước khuôn mặt trắng bệch như tử thi của ngài.

“Nó ở đâu?” ngài thều thào.

“Nó đang ở, hoặc tối qua vẫn ở tại quán trọ Gà Chọi, cách cổng công viên của ngài khoảng hai dặm.”

Ngài Công tước ngả người khuỵu xuống ghế.

“Và ngài buộc tội ai?”

Câu trả lời của Sherlock Holmes thực sự gây sửng sốt. Anh bước nhanh tới trước và chạm tay lên vai Ngài Công tước.

“Tôi buộc tội ngài,” anh nói. “Và giờ đây, thưa Ngài Công tước, tôi làm phiền ngài tấm séc đó nhé.”

Tôi sẽ không bao giờ quên dáng vẻ của Ngài Công tước khi ngài chồm phắt dậy và cào cấu hai bàn tay vào nhau, tựa như một kẻ đang chìm dần xuống vực thẳm. Rồi bằng một nỗ lực phi thường kiểm soát sự điềm tĩnh kiểu quý tộc, ngài ngồi xuống và vùi mặt vào hai bàn tay. Phải mất vài phút ngài mới lên tiếng.

“Ngài biết được bao nhiêu rồi?” cuối cùng ngài hỏi mà không ngẩng đầu lên.

“Tôi đã thấy hai người gặp nhau tối qua.”

“Còn ai ngoài cộng sự của ngài biết chuyện này nữa không?”

“Tôi chưa nói với ai cả.”

Ngài Công tước cầm một cây bút bằng những ngón tay đang run rẩy và mở sổ séc ra.

“Tôi sẽ giữ đúng lời hứa, thưa ông Holmes. Tôi chuẩn bị viết séc cho ngài đây, dù cho thông tin ngài thu thập được có khó chịu đến thế nào đối với tôi đi chăng nữa. Khi lời đề nghị lần đầu được đưa ra, tôi ít khi nghĩ đến ngã rẽ mà các sự việc có thể xảy ra. Nhưng ngài và cộng sự đều là những người kín đáo chứ, thưa ông Holmes?”

“Tôi không hiểu ý ngài lắm, thưa Ngài Công tước.”

“Tôi phải nói huỵch tẹt ra vậy, thưa ông Holmes. Nếu chỉ có hai người các ngài biết về vụ việc này, chẳng có lý do gì để nó lọt ra ngoài xa hơn nữa. Tôi nghĩ mười hai nghìn bảng Anh là số tiền tôi nợ các ngài, phải không nhỉ?”

Nhưng Holmes mỉm cười và lắc đầu.

“Tôi e rằng, thưa Ngài Công tước, mọi chuyện khó mà sắp xếp êm thấm dễ dàng thế được. Vẫn còn cái chết của vị giáo viên này cần phải được làm rõ.”

“Nhưng James không biết gì về chuyện đó cả. Ngài không thể bắt cậu ấy chịu trách nhiệm cho chuyện đó được. Đó là tác phẩm của tên côn đồ tàn bạo mà bất đắc dĩ cậu ấy phải thuê mướn.”

“Tôi buộc phải nhìn nhận theo quan điểm thế này, thưa Ngài Công tước, khi một kẻ dấn thân vào con đường tội phạm, kẻ đó phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức đối với bất kỳ tội ác nào khác phát sinh từ đó.”

“Về mặt đạo đức, thưa ông Holmes. Chắc chắn ngài nói đúng. Nhưng chắc chắn là không phải trước pháp luật. Một người không thể bị kết án vì một vụ án mạng mà anh ta không có mặt, và một mực ghê tởm, căm ghét nó chẳng kém gì ngài. Ngay khoảnh khắc hay tin, cậu ấy đã thú nhận toàn bộ với tôi, ngập tràn trong sự kinh hoàng và hối hận. Cậu ấy không chần chừ dù chỉ một giờ để cắt đứt hoàn toàn với tên sát nhân. Ồ, thưa ông Holmes, ngài phải cứu cậu ấy—ngài phải cứu lấy cậu ấy! Tôi nói là ngài phải cứu lấy cậu ấy!” Ngài Công tước đã vứt bỏ nỗ lực giữ bình tĩnh cuối cùng, và đang sải bước quanh phòng với khuôn mặt co giật, đôi bàn tay siết chặt quơ cào trong không trung. Cuối cùng ngài cũng kiềm chế được bản thân và ngồi xuống bàn làm việc một lần nữa. “Tôi đánh giá cao cách cư xử của ngài khi đến đây trước khi nói chuyện với bất kỳ ai khác,” ngài nói. “Ít nhất, chúng ta có thể bàn bạc làm thế nào để giảm thiểu vụ tai tiếng gớm ghiếc này xuống mức tối thiểu.”

“Chính xác,” Holmes nói. “Tôi nghĩ, thưa Ngài Công tước, điều này chỉ có thể được thực hiện bằng sự thành thật tuyệt đối giữa chúng ta. Tôi sẵn lòng giúp đỡ Ngài Công tước hết khả năng của mình, nhưng để làm được điều đó, tôi phải hiểu rõ đến từng chi tiết mọi chuyện đang diễn ra thế nào. Tôi nhận ra những lời ngài vừa nói áp dụng cho ông James Wilder, và rằng cậu ta không phải là kẻ sát nhân.”

“Không, kẻ sát nhân đã trốn thoát rồi.”

Sherlock Holmes mỉm cười kín đáo.

“Ngài Công tước có lẽ chưa từng nghe qua chút danh tiếng ít ỏi mà tôi sở hữu, bằng không ngài đã chẳng tưởng tượng rằng việc trốn thoát khỏi tôi lại dễ dàng đến thế. Ông Reuben Hayes đã bị bắt tại Chesterfield, theo thông tin do tôi cung cấp, vào lúc mười một giờ đêm qua. Tôi đã nhận được một bức điện từ người đứng đầu sở cảnh sát địa phương trước khi rời trường sáng nay.”

Ngài Công tước ngả người ra sau ghế và trân trừng nhìn bạn tôi đầy kinh ngạc.

“Ngài dường như sở hữu những quyền năng phi thường không phải của con người,” ngài nói. “Thế là Reuben Hayes đã bị tóm rồi ư? Tôi rất vui mừng khi nghe điều đó, miễn là nó không ảnh hưởng liên lụy đến số phận của James.”

“Viên thư ký của ngài á?”

“Không, thưa ngài, con trai tôi.”

Đến lượt Holmes tỏ ra ngạc nhiên.

“Tôi thú nhận rằng điều này hoàn toàn mới mẻ đối với tôi, thưa Ngài Công tước. Tôi phải khẩn khoản đề nghị ngài nói rõ hơn.”

“Tôi sẽ không giấu giếm ngài điều gì cả. Tôi đồng ý với ngài rằng sự thành thật hoàn toàn, dẫu có đau đớn đến đâu đối với tôi, vẫn là thượng sách trong tình thế tuyệt vọng này mà sự dại dột và ghen tị của James đã đẩy chúng ta vào. Khi tôi còn là một thanh niên trẻ tuổi, thưa ông Holmes, tôi đã yêu một mối tình chỉ đến một lần trong đời. Tôi ngỏ ý muốn cưới cô ấy, nhưng cô ấy từ chối với lý do một cuộc hôn nhân như thế sẽ làm rạn nứt sự nghiệp của tôi. Nếu cô ấy còn sống, chắc chắn tôi sẽ không bao giờ kết hôn với ai khác nữa. Cô ấy qua đời, để lại đứa con duy nhất này, vì cô ấy mà tôi đã nâng niu, chăm sóc. Tôi không thể công khai huyết thống với thiên hạ, nhưng tôi đã cho nó nền giáo dục tốt nhất, và từ khi nó trưởng thành, tôi luôn giữ nó ở bên cạnh. Nó đã phỏng đoán ra bí mật của tôi, và từ đó luôn vin vào quyền lợi mà nó có được từ tôi, cũng như khả năng gây ra một vụ bê bối khiến tôi ghê tởm để trục lợi. Sự hiện diện của nó có phần liên quan đến kết quả không hạnh phúc trong cuộc hôn nhân của tôi. Hơn hết thảy, nó căm ghét người con thừa kế hợp pháp còn nhỏ tuổi của tôi ngay từ đầu với một mối thù hằn dai dẳng. Ngài có thể hoàn toàn hỏi tôi tại sao trong hoàn cảnh đó, tôi vẫn giữ James dưới mái nhà mình. Tôi trả lời rằng đó là vì tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt của mẹ cậu ta phảng phất trong đó, và vì người thương yêu nên sự nhẫn nhịn của tôi là vô bờ bến. Tất cả những cử chỉ đáng yêu của cô ấy nữa—chẳng có cái nào là cậu ta không thể gợi nhắc và mang trở lại trong ký ức của tôi. Tôi không thể đuổi cậu ta đi. Nhưng tôi quá sợ cậu ta sẽ gây tổn hại cho Arthur—đó chính là Lãnh chúa Saltire—nên tôi đã tống khứ cậu ta đến trường của Tiến sĩ Huxtable để đảm bảo an toàn.”

“James tiếp xúc với gã Hayes này vì hắn là người thuê đất của tôi, và James đóng vai trò là quản lý. Gã đó vốn là một tên lưu manh từ đời thuở nào, nhưng chẳng hiểu bằng cách kỳ lạ nào đó mà James lại trở nên thân thiết với hắn. Cậu ta từ lâu đã có sở thích kết giao với tầng lớp thấp kém. Khi James quyết định bắt cóc Lãnh chúa Saltire, chính là dịch vụ của gã này đã được cậu ta tận dụng. Ngài còn nhớ tôi đã viết thư cho Arthur vào ngày cuối cùng đó chứ? Vâng, James đã bóc bức thư ra và chèn thêm một lời nhắn bảo Arthur đến gặp cậu ta tại một khu rừng nhỏ có tên là Ragged Shaw, nằm gần trường học. Cậu ta đã mượn tên Nữ công tước và bằng cách đó dụ được cậu bé đến. Chiếm tối hôm đó James đạp xe sang—tôi đang kể lại những gì chính cậu ta đã thú nhận với tôi—và nói với Arthur, người mà cậu ta gặp trong rừng, rằng mẹ cậu đang rất khao khát được gặp cậu, rằng bà đang đợi cậu trên đồng hoang, và nếu cậu quay lại khu rừng vào lúc nửa đêm, cậu sẽ tìm thấy một người đàn ông dắt theo ngựa, kẻ sẽ đưa cậu đến gặp mẹ. Tội nghiệp Arthur đã sa vào bẫy. Cậu đến điểm hẹn, và tìm thấy gã Hayes này dắt theo một con ngựa con. Arthur leo lên ngựa, và họ cùng nhau lên đường. Có vẻ như—dù điều này mới hôm qua James mới nghe nói—họ đã bị truy đuổi, rằng Hayes đã dùng gậy đánh người truy đuổi, và người đó đã tử vong vì thương tích. Hayes đưa Arthur đến quán trọ của hắn, Gà Chọi, nơi cậu bị giam cầm trong một căn phòng trên lầu, dưới sự chăm sóc của bà Hayes, một phụ nữ tốt bụng nhưng hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của người chồng tàn bạo.”

“Vâng, thưa ông Holmes, tình hình sự việc là thế khi tôi gặp hai ngài hai ngày trước. Tôi hoàn toàn mù tịt về sự thật chẳng khác gì các ngài. Ngài sẽ hỏi tôi động cơ của James khi làm một hành động như thế là gì? Tôi xin đáp rằng trong lòng căm thù mà cậu ta dành cho người thừa kế của tôi có rất nhiều điều phi lý và cuồng tín. Trong suy nghĩ của cậu ta, lẽ ra chính cậu ta mới phải là người thừa kế toàn bộ điền trang của tôi, và cậu ta vô cùng bất mãn trước những luật lệ xã hội khiến điều đó trở thành bất khả thi. Đồng thời, cậu ta cũng có một động cơ rõ ràng. Cậu ta rất sốt sắng muốn tôi phá vỡ quyền thừa kế bất khả phân, và cậu ta cho rằng việc đó nằm trong tầm tay của tôi. Cậu ta định ngã giá với tôi—trả lại Arthur nếu tôi chịu phá vỡ quyền thừa kế, qua đó tạo điều kiện để điền trang có thể được để lại cho cậu ta theo di chúc. Cậu ta thừa biết tôi sẽ không bao giờ đời nào tự nguyện nhờ cậy sự can thiệp của cảnh sát chống lại cậu ta. Tôi nói rằng cậu ta định đề xuất một cuộc ngã giá như thế với tôi, nhưng thực tế cậu ta chưa kịp làm vậy, vì các sự việc diễn ra quá nhanh và cậu ta không có thời gian để biến kế hoạch thành hiện thực.”

“Điều khiến toàn bộ kế hoạch độc ác của cậu ta sụp đổ chính là việc các ngài phát hiện ra thi thể đã chết của gã Heidegger này. James đã hoảng loạn tột độ khi nghe tin. Nó đến với tai chúng tôi ngày hôm qua, khi chúng tôi ngồi bên nhau trong phòng làm việc này. Tiến sĩ Huxtable đã gửi một bức điện. James quá suy sụp vì đau buồn và bấn loạn đến mức những hoài nghi trong tôi, vốn chưa bao giờ hoàn toàn biến mất, nay bùng lên thành sự thật chắc chắn, và tôi đã chất vấn cậu ta về hành động đó. Cậu ta đã hoàn toàn tự nguyện thú tội. Rồi cậu ta nài nỉ tôi giữ kín bí mật cho cậu ta thêm ba ngày nữa, nhằm cho tên túng quẫn đồng lõa cơ hội cứu lấy cái mạng đầy tội lỗi của hắn. Tôi đã nhượng bộ—như tôi vẫn luôn nhượng bộ—những lời nài nỉ của cậu ta, và ngay lập tức James vội vã đến quán Gà Chọi để cảnh báo Hayes và cung cấp phương tiện cho hắn tẩu thoát. Tôi không thể đến đó vào ban ngày mà không gây bàn tán xôn xao, nhưng ngay khi màn đêm buông xuống, tôi đã vội vã đi thăm đứa con trai Arthur yêu quý của mình. Tôi tìm thấy thằng bé vẫn an toàn, khỏe mạnh nhưng hoảng sợ đến tột cùng không thể diễn tả nổi trước vụ việc hãi hùng mà cậu đã chứng kiến. Để tôn trọng lời hứa của mình, và hoàn toàn trái với mong muốn của bản thân, tôi đã đồng ý để cậu ở lại đó trong ba ngày, dưới sự chăm sóc của vợ chồng Hayes, vì hiển nhiên là không thể thông báo cho cảnh sát nơi thằng bé ở mà lại không nói cho họ biết ai là kẻ sát nhân, và tôi không thấy cách nào có thể trừng phạt kẻ sát nhân đó mà không hủy hoại James bất hạnh của tôi. Ngài đã đòi hỏi sự thành thật, thưa ông Holmes, và tôi đã chấp nhận lời ngài, vì tôi đã kể hết cho ngài nghe mọi chuyện mà không hề úp mở hay giấu giếm. Giờ đến lượt ngài hãy thành thật với tôi đi.”

“Tôi sẽ làm thế,” Holmes nói. “Trước hết, thưa Ngài Công tước, tôi buộc phải nói cho ngài biết rằng ngài đã đẩy bản thân vào một vị thế vô cùng nghiêm trọng trước pháp luật. Ngài đã bao che cho một tội phạm trọng tội, và ngài đã hỗ trợ cho kẻ sát nhân tẩu thoát, vì tôi không mảy may nghi ngờ rằng bất kỳ khoản tiền nào được James Wilder lấy để hỗ trợ đồng phạm tẩu thoát đều xuất phát từ hầu bao của Ngài Công tước.”

Ngài Công tước cúi đầu thừa nhận.

“Đây quả thực là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Thậm chí theo quan điểm của tôi, thưa Ngài Công tước, thái độ của ngài đối với đứa con trai nhỏ còn đáng trách hơn nữa. Ngài bỏ mặc nó trong hang ổ đó suốt ba ngày trời.”

“Dưới những lời hứa thiêng liêng——”

“Lời hứa có ý nghĩa gì với những loại người thế này cơ chứ? Ngài chẳng có sự đảm bảo nào rằng nó sẽ không bị bắt cóc mang đi một lần nữa. Để chiều lòng đứa con trai cả đầy tội lỗi của mình, ngài đã đẩy đứa con trai út vô tội vào hiểm họa cận kề và không cần thiết. Đó là một hành động hoàn toàn không thể bào chữa được.”

Bậc vương giả kiêu hãnh của Holdernesse vốn không quen bị quở trách như thế ngay trong sảnh đường công tước của chính mình. Dòng máu dồn lên trán cao của ngài, nhưng lương tâm đã giữ ngài lại trong sự câm lặng.

“Tôi sẽ giúp ngài, nhưng chỉ với một điều kiện duy nhất. Đó là ngài bấm chuông gọi người hầu nam lên và để tôi đưa ra những mệnh lệnh theo ý mình.”

Không nói một lời, Ngài Công tước bấm chiếc chuông điện. Một người hầu bước vào.

“Anh sẽ rất vui khi nghe tin,” Holmes nói, “rằng vị thiếu gia của anh đã được tìm thấy. Đó là mong muốn của Ngài Công tước rằng cỗ xe sẽ ngay lập tức đến quán trọ Gà Chọi để đón Lãnh chúa Saltire về nhà.”

“Giờ thì,” Holmes nói, khi tên đầy tớ vui mừng đã biến mất, “sau khi đã đảm bảo cho tương lai, chúng ta có thể rộng lượng hơn với quá khứ. Tôi không đứng ở vị trí chính thức nào, và không có lý do gì, miễn là các mục đích của công lý được phục vụ, để tôi phải tiết lộ tất cả những gì mình biết. Còn về Hayes, tôi không nói gì cả. Giá treo cổ đang chờ hắn, và tôi sẽ không làm gì để cứu hắn khỏi điều đó cả. Hắn sẽ khai báo những gì tôi không thể đoán trước, nhưng tôi không nghi ngờ gì rằng Ngài Công tước có thể làm cho hắn hiểu rằng im lặng là có lợi cho hắn. Từ góc nhìn của cảnh sát, hắn sẽ bắt cóc đứa trẻ với mục đích tống tiền. Nếu bản thân họ không tự phát hiện ra, tôi thấy chẳng có lý do gì để tôi phải gợi ý họ mở rộng góc nhìn hơn nữa. Tuy nhiên, tôi xin cảnh báo Ngài Công tước rằng, sự hiện diện liên tục của ông James Wilder trong dinh gia nhà ngài chỉ có thể dẫn đến tai họa mà thôi.”

“Tôi hiểu điều đó, thưa ông Holmes, và đã được định đoạt sẵn là cậu ta sẽ rời bỏ tôi mãi mãi, và sang Úc tìm cơ hội cho mình.”

“Trong trường hợp đó, thưa Ngài Công tước, vì chính ngài đã tuyên bố rằng bất kỳ sự bất hạnh nào trong cuộc hôn nhân của ngài đều do sự hiện diện của cậu ta gây ra, tôi xin đề nghị ngài hãy bù đắp hết mức có thể cho Nữ công tước, và thử khôi phục lại những mối quan hệ vốn bị gián đoạn một cách đáng tiếc đó.”

“Chuyện đó tôi cũng đã thu xếp xong xuôi rồi, thưa ông Holmes. Tôi đã viết thư cho Nữ công tước sáng nay.”

“Trong trường hợp đó,” Holmes đứng lên nói, “tôi nghĩ tôi và bạn tôi có thể tự chúc mừng bản thân vì một vài kết quả vô cùng tốt đẹp từ chuyến viếng thăm nhỏ của chúng ta tới miền Bắc. Vẫn còn một điểm nhỏ nữa mà tôi muốn làm sáng tỏ. Gã Hayes này đã đóng những chiếc móng ngựa giả mạo vết chân bò. Có phải cậu Wilder là người đã truyền dạy cho hắn một mẹo mực phi thường như thế không?”

Ngài Công tước đứng trầm ngâm trong giây lát, với vẻ kinh ngạc tột độ hiện trên khuôn mặt. Sau đó ngài mở một cánh cửa và dẫn chúng tôi vào một căn phòng lớn được trang hoàng như một bảo tàng. Ngài dẫn đường đến một tủ kính ở góc phòng, và chỉ vào tấm biển chú thích.

“Những chiếc móng này,” nó ghi, “được đào lên từ hào nước của Holdernesse Hall. Chúng dùng cho ngựa, nhưng bên dưới được tạo hình có dạng móng chẻ bằng sắt, nhằm đánh lạc hướng những kẻ truy đuổi khỏi dấu vết thực sự. Chúng được cho là thuộc về một số nam tước cướp bóc xứ Holdernesse vào thời Trung cổ.”

Holmes mở tủ kính, nhúng ướt ngón tay và quẹt dọc theo chiếc móng. Một lớp bùn mỏng mới đọng lại trên da anh.

“Cảm ơn ngài,” anh nói khi đóng kính lại. “Đó là vật thể thú vị thứ hai mà tôi nhìn thấy ở miền Bắc.”

“Thế còn vật thứ nhất?”

Holmes gấp tấm séc lại và cẩn thận đặt vào trong sổ tay của mình. “Tôi là một người nghèo,” anh vừa nói vừa vỗ nhẹ vào nó đầy trìu mến, rồi đút sâu nó vào trong chiếc túi áo ngực.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.