Sách Ngược Đời Xuôi

Lượt đọc: 62 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thật Khó Để Kiếm Được Một Anh Chàng Tử Tế
Thật Khó Để Kiếm Được Một Anh Chàng Tử Tế

❊ ❊ ❊

1953 – Flannery O’Connor[1]

Chuyến du lịch của gia đình trở thành thảm họa. Cô Amy rất thích cuốn này. (Nhìn cô ấy hiền lành thế cơ mà nhỉ?) Amy và ta không thường chung sở thích, nhưng cuốn này là ngoại lệ.

Khi Amy nói đó là cuốn sách cô yêu thích, ta chợt nhận ra những điểm mới mẻ và thú vị trong tính cách của cô, một góc tối nơi sâu thẳm trái tim mà có lẽ ta rất mong được tìm hiểu.

Người ta vẫn luôn buông lời dối trá về chính trị, Chúa và tình yêu. Con có thể biết mọi điều cần biết về một người chỉ với câu hỏi nhỏ: Cuốn sách yêu thích của anh là gì?

AJF.

Vào tuần thứ hai của tháng Tám, ngay trước khi Maya bắt đầu đi nhà trẻ, nó được tặng một bộ cốc (tròn tròn, viền đỏ) và bị mắc thủy đậu (cũng tròn tròn, đỏ nốt). AJ. nguyền rủa bà mẹ nào đã bảo gã rằng vắc xin thủy đậu chẳng cần tiêm cũng được. Thủy đậu là thứ đậu mùa gớm ghiếc chết tiệt. Maya thật khổ sở, và gã cũng thấy khổ sở vì Maya khổ sở. Những vết đỏ quái ác mọc đầy mặt con bé, lại thêm điều hòa hỏng nên chẳng ai ngủ nổi. AJ. lấy khăn lạnh cho Maya, bóc vỏ quýt, đi tất vào tay và ngồi trông nó cả đêm.

Đến ngày thứ ba, khi Maya đã ngủ, AJ. thì mệt lử nhưng lại không ngủ nổi. Gã kêu nhân viên mang hai tập bản thảo dưới hầm lên. Không may, cô nàng mới vào làm nên đã lấy nhầm từ chồng SÁCH LOẠI thay vì chồng CHƯA ĐỌC. AJ. không muốn rời mắt khỏi Maya nên quyết định đọc một bản thảo cũ đã bị loại. Đập vào mắt gã là một tiểu thuyết viễn tưởng dành cho độc giả trẻ mà nhân vật chính đã chết. Chậc, gã nghĩ. Đúng hai thứ gã ghét nhất (truyện về cõi âm và tiểu thuyết cho độc giả trẻ) trong một cuốn sách. Gã vứt mớ giấy lộn đó qua một bên. Quyển thứ hai là hồi kí của một ông lão 80 tuổi, viết bài cho rất nhiều tờ báo ở Trung Tây Hoa Kỳ và độc thân mãi đến năm 78 tuổi. Người vợ mất hai năm sau khi cưới ở tuổi 83. Đóa hoa nở muộn của Leon Friedman. Nhìn quen quen mà AJ. không nhớ ra nổi. Gã mở bản thảo và một danh thiếp rơi ra: AMELIA LOMAN, Nhà xuất bản Dực Long. À, giờ gã nhớ ra rồi.

Đương nhiên, gã vẫn giữ liên lạc với Amelia Loman suốt nhiều năm sau buổi gặp gỡ đầu tiên tệ hại kia. Họ trao đổi cả đống email và một năm ba lần, cô lại tới đảo để giới thiệu những đầu sách nổi nhất của Dực Long. Sau chừng mười buổi chiều gặp gỡ, gần đây gã đã đi tới kết luận, cô nàng làm việc cũng không tồi. Cô hiểu về các đầu sách của mình và cả các xu hướng văn học lớn, luôn lạc quan nhưng không quá lố. Cô cũng đối xử tốt với Maya, thường xuyên mang sách thiếu nhi bên Dực Long tặng cho con bé và chưa nặng lời với nó bao giờ. Trên tất cả, Amelia Loman rất chuyên nghiệp, không hề để bụng tới thái độ thô lỗ của AJ. trong buổi gặp đầu tiên. Chúa ơi, hôm đó gã thật tệ. Gã quyết định cho Đóa hoa nở muộn một cơ hội để thay lời xin lỗi, dẫu gã chẳng hứng thú lắm với thể loại này.

“Tôi 81 tuổi, và theo thống kê thì tôi nên chết từ 4,7 năm trước rồi mới phải,” cuốn sách mở đầu như thế.

5 giờ sáng, AJ. gấp cuốn sách lại, vỗ nhẹ bìa một cái.

Maya tỉnh giấc và đã cảm thấy đỡ hơn. “Sao ba khóc?”

“Ta đọc sách con ạ,” AJ. nói.

Số lạ, nhưng Amelia Loman vẫn ấn trả lời ngay sau tiếng chuông đầu tiên.

“Chào cô, Amelia. Tôi là AJFikry bên tiệm Hải Đảo. Tôi không nghĩ cô sẽ nghe điện đấy.”

“À, đúng vậy,” cô cười lớn. “Tôi là người cuối cùng còn sót lại trên Trái Đất này vẫn chịu trả lời điện thoại.”

“Có lẽ vậy.”

“Nhà thờ còn đang tính phong tôi làm Thánh đấy.”

“Thánh Amelia, người luôn nghe điện thoại,” AJ. nói. Trước giờ, AJ. chưa từng chủ động gọi cho Amelia.

Cô liền hỏi, “Cuộc hẹn hai tuần nữa vẫn vậy chứ, hay là phải hủy?”

“À, không, không phải chuyện đó. Tôi đã tính để lại lời nhắn cho cô rồi.”

Amelia lập tức nhại giọng đều đều, “Xin chào, đây là hộp thư thoại của Amelia Loman. Bíp.”

“Ờm.”

“Bíp,” cô lặp lại. “Xin để lại lời nhắn.”

“Ờm, chào cô, Amelia. Tôi là AJFikry. Tôi vừa đọc xong một cuốn cô giới thiệu...”

“Ối, cuốn nào vậy?”

“Kì quái thật. Hộp thư thoại đang nói chuyện với tôi. Từ vài năm trước. Là cuốn Đóa hoa nở muộn của Leon Friedman.”

“Đừng làm tan nát trái tim tôi, anh AJ. Đó là cuốn tôi vô cùng yêu thích trong danh sách mùa đông bốn năm trước đấy. Chẳng ai muốn đọc, nhưng tôi lại thích, giờ vẫn còn thích, dẫu tôi được mệnh danh là nữ hoàng của những điều vô vọng.”

“Có lẽ tại bìa,” AJ. rụt rè đáp.

“Cái bìa thảm hại. Chân người già rồi đám hoa,” Amelia gật gù. “Làm gì có ai muốn mua một cuốn sách mà đập vào mắt là mấy bàn chân nhăn nheo cơ chứ. Bìa lót cũng chẳng khá hơn, đen trắng lại chêm cả đống hoa vào. Ý tưởng của đám họa sĩ bên nhà xuất bản đó.”

“Không biết cô còn nhớ không, cô giới thiệu Đóa hoa nở muộn cho tôi vào lần đầu gặp mặt đấy.”

Amelia khựng lại, “Vậy sao? À, phải rồi. Khoảng thời gian tôi bắt đầu làm cho Dực Long.”

“Ừm, cô biết đấy, hồi kí văn học không phải gu của tôi, nhưng cuốn này khá tuyệt. Dí dỏm và...” Nói về những điều mình thực sự yêu thích khiến gã cảm giác đang bị lột trần.

“Anh nói tiếp đi.”

“Câu chữ chuẩn xác, đúng lúc, đúng chỗ. Tôi chỉ có thể nói vậy. Xin lỗi vì đã để đến tận giờ mới đọc.”

“Cái số tôi ấy mà. Nhưng sao cuối cùng anh lại đọc vậy?”

“Công chúa nhỏ của tôi bị ốm nên...”

“Ôi, tội nghiệp bé Maya! Không có gì nghiêm trọng chứ?”

“Thủy đậu thôi. Tôi thức đêm trông con bé nên vơ bừa một cuốn để đọc.”

“Rất vui vì anh đã đọc nó. Tôi năn nỉ tất cả những người mình quen nhưng chẳng ai chịu ngó ngàng, ngoại trừ mẹ tôi, thậm chí bà còn không mấy hứng thú.”

“Đôi khi, phải chờ tới một thời điểm thích hợp, những cuốn sách mới tìm đến chúng ta.”

“Lời an ủi này chẳng thể làm ngài Friedman tội nghiệp thấy khá hơn đâu,” cô nàng tiếp lời.

“Vậy, tôi muốn đặt một thùng sách với cái bìa thảm hại này. Vào mùa hè, khi khách du lịch đông hơn, chúng ta có thể tổ chức một sự kiện và mời ngài Friedman đến.”

“Nếu ngài ấy còn sống được đến lúc đó.” Amelia nói.

“Ông ta ốm sao?”

“Không, nhưng gần 90 tuổi rồi.”

Gã bật cười, “Thế nhé, Amelia, hẹn gặp cô hai tuần nữa.”

“Tốt nhất lần tới, nếu tôi giới thiệu cuốn ‘Hay nhất trong danh sách mùa đông’ thì anh nên nghe tôi đi!” Amelia nói.

“Có thể không. Tôi già rồi nên bảo thủ lắm.”

“Anh chưa già tới mức đó đâu.”

“Đề nghị không so với ngài Friedman nhé,” AJ. hắng giọng. “Khi nào cô đến thị trấn, chúng ta có thể đi ăn tối hay gì đó được không?”

Thực ra, nhân viên kinh doanh bên xuất bản với đại lý phát hành đi ăn cùng nhau cũng chẳng phải chuyện hiếm gặp, nhưng Amelia nhận ra sự khác biệt trong giọng nói của AJ., cô liền đáp, “Nhân tiện tôi sẽ giới thiệu mấy đầu sách mới của mùa đông cho anh luôn.”

“Vâng, tất nhiên rồi,” AJ. vội vàng đáp. “Cô đi cả quãng đường dài đến đây nên chắc hẳn sẽ đói. Thật khiếm nhã vì trước giờ tôi chưa từng mời cô đi ăn.”

“Vậy chuyển thành ăn trưa muộn đi. Tôi cần bắt chuyến phà cuối trở về Hyannis.”

AJ. quyết định đưa Amelia tới tiệm Pequod’s, nhà hàng hải sản ngon thứ hai trên đảo Alice. El Corazon, nhà hàng ngon nhất, lại không mở cửa vào bữa trưa, mà dù có mở, nơi đó cũng quá lãng mạn với một buổi gặp bàn chuyện làm ăn đơn thuần.

AJ. đến trước và nhanh chóng hối hận vì sự lựa chọn của mình. Gã không tới Pequod’s từ hồi có Maya, và bây giờ cách bài trí của quán thật phô trương và rối rắm. Khăn trải bàn màu trắng trang nhã chẳng ăn nhập chút nào với những bức tường treo đầy lao móc, lưới đánh cá và áo mưa kia, rồi còn cả vị thuyền trưởng tạc từ gỗ chào đón khách với xô kẹo bơ cứng và một chú cá voi bằng thủy tinh với đôi mắt buồn rười rượi gắn trên trần nhà nữa chứ. Gã như thấy con cá thì thầm: Đáng nhẽ phải đến El Corazon, anh bạn ạ.

Amelia đến trễ năm phút. “Pequod’s, giống trong Moby Dick[2] nhỉ,” cô nói. Cô mặc bộ váy trông như may lại từ chiếc khăn trải bàn màu hồng cổ điển, cài một bông cúc giả trên mái tóc vàng lượn sóng và đi đôi giày cao su dẫu trời nắng chang chang. AJ. thầm nghĩ, đôi giày khiến cô nàng giống hệt mấy hướng đạo sinh trong trạng thái sẵn sàng ứng phó với thảm họa vậy.

“Cô thích Moby Dick không?”

“Cực ghét,” cô nói. “Giáo viên thì bắt đọc cuốn đó, phụ huynh mừng rỡ khi thấy tụi nhỏ đọc thứ gì đó ‘chất lượng’. Chính vì kiểu ép uổng ấy mà lũ trẻ đâm ra chán ghét việc đọc sách.”

“Ngạc nhiên là cô lại không hủy hẹn lúc thấy tên nhà hàng đấy.”

“À, tôi cũng tính thế,” Amelia thích thú đáp, “nhưng rồi lại tự nhủ, tên nhà hàng thì đâu ảnh hưởng nhiều tới các món ăn chứ. Vả lại, tôi cũng đã đọc mấy lời nhận xét trên mạng, có vẻ khá ngon.”

“Cô không tin tôi giới thiệu à?”

“Tôi thích nghĩ về việc mình nên ăn gì ở đây, tôi thích xem-xét-trước,” cô nàng nhấn nhá từng chữ rồi mở thực đơn. “Họ có vài loại cocktail đặt theo tên nhân vật trong Moby Dick này.” Cô lật trang tiếp theo. “Thêm nữa, nếu không muốn ăn, chắc tôi sẽ kiếm lý do dị ứng hải sản.”

“Bịa ra lý do dị ứng à, cô ranh ma đấy.”

“Giờ thì không xài chiêu đó với anh được rồi.”

Anh chàng bồi bàn tiến tới trong chiếc áo tay phồng trắng tinh chẳng ăn nhập chút nào với đôi kính đen và quả tóc dựng ngược, nom như dân hippy[3] hải tặc vậy. “Hây, chào mừng những vị khách đến từ đất liền. Thử một ly cocktail đặc biệt trên tàu nhé?”

“Tôi thích mấy loại truyền thống cơ, nhưng sao có thể từ chối thử loại đặc biệt nhỉ? Một Queequeg nhé,” cô tóm lấy tay anh bồi bàn rồi hỏi, “Đợi đã, nó có ngon không?”

“Ờm, du khách có vẻ thích.”

“Ồ, du khách thích thì được.”

“Vậy thưa tiểu thư, tiểu thư vẫn muốn gọi cocktail chứ?”

“Tất nhiên rồi. Dù không ngon thì tôi cũng chẳng trách anh đâu,” cô mỉm cười với anh bồi bàn.

AJ. gọi một ly rượu vang đỏ.

“Buồn thật đấy,” Amelia nói. “Tôi cá là cả đời anh chưa từng thử một ly Queequeg dẫu anh sống ở đây, bán sách và có thể còn thích Moby Dick nữa.”

“Nhìn là biết cô chuộng mấy thứ mới mẻ hơn tôi rồi.”

“Ờ, rõ ràng. Mỗi lần uống một ly cocktail xong, cuộc đời tôi như thể sang trang mới vậy.”

Đồ uống được mang ra. “Ồ, nhìn này,” Amelia nói. “Một chiếc lao móc nhỏ xíu gắn vào con tôm. Thật thú vị.” Cô lấy điện thoại ra chụp lại. “Tôi thích chụp mấy món đồ uống."

“Có vẻ liên quan nhỉ.”

“Hơn cả liên quan ấy chứ,” cô cụng nhẹ vào ly của AJ.

“Hương vị thế nào?” Gã hỏi.

“Mằn mặn, mùi trái cây, mùi cá. Kiểu như cocktail tôm lai Bloody Mary vậy.”

“Tôi thích cách cô dùng từ lai. Nhưng thứ đồ uống đó nghe có vẻ kinh khủng lắm.”

Cô nhấp thêm ngụm nữa rồi nhún vai, “Cũng không tệ.”

“Nếu mỗi nhà hàng đều dựa vào một cuốn tiểu thuyết, cô sẽ chọn cái tên nào để dùng bữa vậy?” AJ. hỏi.

“Ồ, khó nhỉ. Nghe buồn cười nhưng hồi đại học, lần nào đọc Quần đảo ngục tù[4] tôi cũng thấy đói. Trong đó mô tả xúp với bánh mì ở nhà tù Liên Xô.”

“Cô thật kì quặc.”

“Cảm ơn lời khen. Thế còn anh thì sao?”

“Sẽ chẳng có nhà hàng đó đâu, nhưng tôi luôn muốn thử Turkish Delight[5] trong truyện Biên niên sử Narnia[6]. Hồi còn bé, lúc đọc Sư tử, Phù thủy và Cái tủ áo[7], tôi vẫn nghĩ, Turkish Delight hẳn phải ngon lắm nên Edmund mới phản bội mọi người vì nó. Chắc tôi đã từng kể với vợ mình điều này, vì có một năm, Nic tặng tôi một hộp đầy thứ kẹo dẻo phủ bột ấy. Cả đời tôi chưa bao giờ thất vọng đến thế.”

“Hồi nhỏ anh mơ mộng nhỉ?”

“Hiện thực thì lại quá phũ phàng.”

“Biết đâu kẹo của mụ Phù thủy Trắng lại khác thì sao? Kiểu như Turkish Delight thần kì vậy.”

“Hoặc giả Lewis muốn nói, Edmund chẳng băn khoăn gì nhiều khi phản bội mọi người.”

“Đừng hoài nghi vậy chứ.”

“Amelia, cô từng ăn Turkish Delight chưa?”

“Chưa.”

“Thế để hôm nào tôi cho cô ăn thử.”

“Nhỡ tôi nghiện thì sao?”

“Thì tôi sẽ có lý do để ít nghĩ về cô hơn.”

“Ồ, AJ., tôi sẽ không nói dối chỉ để anh thích tôi đâu. Một trong những phẩm chất tốt nhất của tôi là trung thực đấy.”

“Nãy cô vừa bảo sẽ giả vờ dị ứng hải sản để hủy hẹn còn gì.”

“Phải, nhưng chỉ khi nó không làm tổn hại đến ai thôi. Tôi sẽ chẳng bao giờ nói dối một điều quan trọng như Turkish Delight cả.”

Họ gọi món, rồi Amelia lôi trong túi ra cuốn catalog mùa đông. “Giờ thì đến Dực Long.”

“Phải rồi, Dực Long,” gã nhắc lại.

Cô lướt qua danh sách mùa đông, thẳng tay loại bỏ những cuốn không phải gu của gã, nhấn mạnh các đầu sách được kỳ vọng và hào hứng kể về vài cuốn mình yêu thích. Một số khách hàng thường quan tâm đến mấy lời có cánh của nhà xuất bản ở bìa sau, nhưng AJ. thì không. Vào cuộc gặp lần thứ hai hay thứ ba gì đó, gã đã gọi chúng là “kim cương máu[8] của mấy tay xuất bản”. Giờ cô đã hiểu gã thêm một chút nên, khỏi phải nói, việc giới thiệu cũng đỡ tốn công hơn. Anh ta tin mình hơn, hoặc đơn thuần do làm cha nên hiền hòa hẳn, cô thầm nghĩ (và đừng có dại mà lỡ miệng nói ra câu đó). Cuối cùng, AJ. hứa sẽ đọc vài bản in thử.

“Hy vọng không mất tới bốn năm.”

“Tôi sẽ cố đọc xong trong ba năm thôi,” gã ngừng lại. “Gọi đồ tráng miệng đi, hình như có món ‘Kem ly cá voi’ thì phải.”

“Tên gì tệ thế,” Amelia rên rỉ.

“Nếu không phiền, tại sao cô lại thích Đóa hoa nở muộn vậy? Cô còn trẻ...”

“Trẻ gì nữa anh, tôi 35 tuổi rồi.”

“Vẫn quá trẻ. Ý tôi là, chưa trải qua những gì ngài Friedman đã viết. Tôi nghĩ về cô và đọc cuốn sách, băn khoăn tự hỏi, không biết điều gì đã khiến cô mê mẩn nó.”

“Anh Fikry này, đối với tôi, đó là một câu hỏi rất riêng tư đấy,” cô uống cạn ly Queequeg thứ hai. “Lý do chính tất nhiên là giọng văn.”

“Rõ ràng rồi. Nhưng như vậy thì chưa đủ.”

“Nói thế nào nhỉ, tôi đã trải qua rất rất nhiều cuộc hẹn hò tệ hại trước khi đọc Đóa hoa nở muộn. Tôi là kiểu người lãng mạn nhưng thực tại lại phũ phàng. Thông điệp của Đóa hoa nở muộn là chúng ta có thể tìm thấy tình yêu đích thực ở bất cứ độ tuổi nào. Nghe hơi sáo rỗng nhỉ.”

AJ. gật đầu.

“Còn anh? Sao anh lại thích nó?” Amelia hỏi.

“Văn hay này nọ.”

“Anh vừa kêu lý do đó chưa đủ mà!”

“Cô không muốn nghe bi kịch đời tôi đâu nhỉ?”

“Có đấy, tôi thích những câu chuyện buồn.”

Gã bèn kể sơ về cái chết của Nic.

“Friedman viết về việc mất đi ai đó theo cách rất riêng. Không chỉ đơn thuần là chia xa người ấy, mà mất mát này sẽ nối tiếp mất mát kia.”

“Chị ấy mất lâu chưa?” Amelia hỏi.

“Cũng khá lâu rồi, hồi tôi chỉ hơn cô lúc này vài tuổi.”

“Vậy thì phải là rất lâu rồi.”

Gã phớt lờ lời trêu chọc ấy, “Đóa hoa nở muộn đáng lẽ phải rất nổi tiếng mới phải.”

“Đúng vậy. Tôi đang nghĩ về việc có ai đó đọc một đoạn trong hôn lễ của mình.”

AJ. khựng lại, “Cô sắp kết hôn à Amelia? Chúc mừng cô nhé. Anh chàng nào may mắn thế?”

Cô khuấy chiếc lao móc, cố tìm con tôm mất tích trong ly nước Queequeg, “Anh ấy tên là Brett Brewer. Tôi đang tính bỏ hẹn hò qua mạng thì gặp được anh ấy.”

AJ. uống nốt phần cặn đắng ngắt của ly rượu thứ hai. “Kể thêm đi.”

“Anh ấy là quân nhân, giờ đang làm nhiệm vụ ở Afghanistan.”

“Hay quá. Cô kiếm được một anh hùng nước Mỹ đấy.” Gã nói.

“Chắc vậy.”

“Tôi ghét mấy cha đó. Họ luôn khiến tôi thấy mình thật kém cỏi. Kể điều gì khác tồi tệ đi, để tôi dễ chịu hơn một chút.”

“Ừm, anh ấy ít được nghỉ phép lắm.”

“Hẳn cô sẽ nhớ anh ta rất nhiều.”

“Nhớ chứ. Nhưng nhờ thế, tôi đọc được cả đống sách.”

“Cũng hay. Tay đó cũng thích sách vở chứ?”

“Thực ra thì không, anh ấy ít đọc lắm. Nhưng như thế cũng thích nhỉ? Ý tôi là, ở bên người, ờm, có sở thích khác mình cũng thích lắm. Chẳng hiểu sao tôi cứ lặp đi lặp lại từ ‘thích’ nữa. Nói chung, anh ấy là người tốt.”

“Anh ấy tốt với cô không?”

Amelia gật đầu.

“Thế là được rồi. Trên đời làm gì có ai hoàn hảo đâu,” AJ. nói. “Chắc anh ta đã bị ép đọc Moby Dick thời trung học.”

Cuối cùng Amelia cũng tóm được con tôm. “Bắt được rồi,” cô lẩm bẩm. “Vợ anh... Cô ấy thích đọc sách không?”

“Cả viết văn nữa. Nhưng chuyện đó chẳng quan trọng lắm. Người ta đánh giá việc đọc sách hơi thái quá. Trên ti vi có cả tá thứ hay ho, như Thuần huyết[9] chẳng hạn.”

“Anh đang cười nhạo tôi đấy à?!”

“Chà! Sách chỉ dành cho mấy con mọt thôi,” AJ. nói.

“Mấy con mọt như chúng ta vậy.”

Lúc lấy hóa đơn, AJ. liền thanh toán. Trong những trường hợp thế này, thường là bên xuất bản trả tiền.

“Anh chắc chứ?” Amelia hỏi.

AJ. nói lần tới sẽ đến lượt cô.

Ra khỏi nhà hàng, Amelia và AJ. bắt tay nhau và nói vài lời xã giao thường lệ. Cô quay người đi bộ đến bến phà, một giây sau, gã cũng xoay gót bước về cửa tiệm.

“Anh AJ. này,” Amelia gọi với theo. “Mở tiệm sách là một kiểu anh hùng đấy, và nhận con nuôi cũng thế.”

“Tôi chỉ làm trong khả năng thôi,” gã cúi đầu chào. Bỗng nhận ra hành động ấy chẳng giống mình, gã liền nói, “Cảm ơn cô, Amelia.”

“Bạn bè gọi tôi là Amy,” cô đáp.

Maya chưa từng thấy AJ. bận rộn đến vậy. “Ba ơi,” con bé hỏi, “sao ba có nhiều bài tập thế?”

“Đây là ngoại khóa con ạ,” gã đáp.

‘“Ngoại khóa’ là gì vậy ba?”

“Nếu là con, ta sẽ tự mình tìm hiểu đấy.”

Dực Long chỉ là một nhà xuất bản khiêm tốn nhưng đọc hết cả đống sách sẽ phát hành trong mùa vẫn tốn rất nhiều thời gian, nhất là với người vừa kinh doanh vừa chăm con mọn như AJ. Đọc xong mỗi đầu sách, gã sẽ gửi cảm nhận qua email cho Amelia. Trong thư, gã còn chẳng đủ can đảm gọi cô là “Amy” dẫu đã được cô cho phép. Đôi khi, nếu thực sự thích cuốn sách nào đó, gã sẽ gọi luôn cho cô, còn nếu ghét, gã sẽ nhắn tin, Không phải gu của tôi. Amelia chưa từng nhận được nhiều hồi đáp như thế từ bất cứ nhà phát hành nào.

Anh không phải đọc sách của nhà nào khác à? Amelia nhắn lại.

AJ. ngẫm nghĩ một lúc lâu rồi mới trả lời. Bản nháp là Không có bên đại diện nào khiến tôi thích như cô. Nhưng rồi gã cảm thấy, nhắn vậy cho một cô gái có vị hôn phu là anh hùng Mỹ thì hơi quá đà. Gã đành gõ lại, Chắc tại mấy đầu sách của Dực Long khá hấp dẫn.

AJ. đặt nhiều sách bên Dực Long đến nỗi sếp của Amelia cũng phải tò mò. “Chưa bao giờ thấy một tiệm nhỏ như Hải Đảo nhập nhiều đến thế. Chủ mới à?”

“Vẫn cũ thôi,” Amelia đáp. “Nhưng anh ta khác hẳn so với lần đầu tôi gặp.”

“Chẳc cô đã phải nỗ lực thuyết phục rất nhiều. Gã đó không bao giờ lấy thứ gì không bán được, kể cả Harvey cũng chưa từng đạt doanh số như hiện tại.”

Rốt cuộc, AJ. cũng đọc đến đầu sách cuối cùng. Một hồi kí khá hấp dẫn về tình mẫu tử, album ảnh và cuộc đời viết lách của nhà thơ người Canada mà gã thích. Quyển sách chỉ dày 150 trang nhưng gã phải đọc mất hai tuần. Gã chẳng thể xem hết một chương mà không bị ngủ gật giữa chừng hay ngắt quãng bởi Maya. Đọc xong, AJ. lại nhận ra mình không viết nổi thư hồi đáp cho Amelia. Lối viết thanh nhã vừa đủ, gã chắc chắn mấy bà hay lượn qua tiệm sẽ rất thích. Tất nhiên, vấn đề là, gửi thư đi đồng nghĩa với việc catalog mùa đông của Dực Long đã được xem xét xong, gã sẽ phải chờ danh sách mùa hè tới thì mới có cơ hội liên lạc lại với cô. Gã thích Amelia và cảm thấy cô cũng thích gã, dù lần gặp đầu tiên vô cùng tệ hại. Nhưng... AJ. không phải hạng người có thể cướp hôn thê từ tay một thằng cha khác. Gã không tin vào “người trong mộng”. Có cả tỉ người trên trái đất này, chẳng một ai đặc biệt đến thế. Hơn nữa, gã cũng đâu biết rõ Amelia Loman, chẳng may cướp được cô nàng về rồi, hai người lại không hòa hợp thì sao?

Amelia nhắn tin cho gã, Thế nào rồi? Anh không thích à?

Tiếc rằng đó không phải gu của tôi, gã trả lời. Đón đợi danh sách mùa hè của Dực Long. Thân, AJ.

Câu trả lời ngắn ngủn khách sáo khiến Amelia rất bất ngờ. Cô định nhấc điện thoại gọi cho gã nhưng lại thôi. Cô nhắn,Trong lúc chờ đợi, nhất định anh phải xem THUẦN HUYẾT nhé. Thuần huyết là chương trình truyền hình yêu thích của Amelia. Hai người từng đùa rằng nếu AJ. chịu theo dõi thì nhất định cũng sẽ thích ma cà rồng cho coi. Thuần huyết. Amelia luôn ước mình có khả năng như Sookie Stackhouse[10].

Không đâu, Amy. Hẹn gặp vào tháng Ba. AJ. trả lời.

Phải bốn tháng rưỡi nữa mới đến tháng Ba. Lúc ấy, cơn cảm nắng này đã tan đi hoặc ít nhất cũng ngủ say ở góc nào đó trong tim của gã.

Phải bốn tháng rưỡi nữa mới đến tháng Ba.

Maya hỏi gã sao thế, gã đáp mình đang buồn vì sẽ không được gặp một người bạn trong một khoảng thời gian.

“Cô Amelia ạ?” Nó hỏi.

“Sao con nghĩ thế?”

Maya nhướng mày lên khiến AJ. phải tự hỏi, con bé đã học được điệu bộ ấy từ khi nào và ở đâu nhỉ?

Tối đó, Lambiase tổ chức họp mặt câu lạc bộ Sách tuyển chọn của Cảnh sát trưởng ở tiệm Hải Đảo (cuốn được chọn là: Bí mật Los Angeles[11]). Sau đó, như thông lệ, anh và AJ. sẽ uống cạn một chai.

“Tôi nghĩ mình đã phải lòng một cô,” AJ. nói sau khi đã chếnh choáng.

“Tuyệt vời,” Lambiase nói.

“Vấn đề là cô ấy đính hôn rồi.”

“Sai thời điểm,” Lambiase tuyên bố. “Tôi đã làm cảnh sát được hai mươi năm nay và nói để anh biết, hầu hết những điều tệ hại trên đời đều do sai thời điểm cả, còn mọi thứ tốt cũng bởi đúng thời điểm mà ra.”

“Gì mà đơn giản vậy.”

“Nghĩ mà xem, nếu cuốn Tamerlane không bị lấy cắp, anh sẽ chẳng để cửa mở, và Marian Wallace không thể bỏ đứa bé lại trong tiệm. Đấy gọi là đúng thời điểm.”

“Đúng vậy. Nhưng tôi gặp Amelia từ bốn năm trước rồi,” AJ. nói. “Hai tháng trước tôi còn chẳng thèm để mắt đến cô ấy."

“Vẫn sai thời điểm. Vợ anh mới qua đời, anh lại vướng bận với Maya.”

“An ủi kiểu gì thế?!”

“Nhưng này, rất vui vì trái tim anh vẫn còn hoạt động. Muốn tôi làm mối cho không?”

AJ. lắc đầu.

“Thôi nào,” Lambiase nài nỉ. “Tôi biết tất cả mọi người trong thị trấn đấy.”

“Tiếc rằng thị trấn này quá nhỏ.”

Để khởi động, Lambiase giới thiệu cô em họ cho AJ. Đó là một cô nàng gốc Phi với mái tóc vàng hoe, đôi chân mày tỉa tót kĩ càng, mặt hình trái tim và chất giọng cao vút như Michael Jackson. Cô mặc áo trễ cổ cùng áo lót siêu đẩy khiến sợi dây chuyền gắn tên mình nằm chình ình trên ngực. Tên cô là Maria. Ăn được nửa đĩa phô mai que thì họ đã chẳng còn gì để nói.

“Cuốn sách ưa thích của em là gì?” AJ. cố tiếp tục cuộc hội thoại.

Cô nhai miếng phô mai, tay nắm sợi dây chuyền Maria như nắm chuỗi tràng hạt, “Anh định kiểm tra em à?”

“Không, không có câu trả lời đúng sai gì cả. Anh chỉ tò mò thôi,” AJ. nói.

Cô với tay lấy ly rượu và uống.

“Hoặc em có thể kể về cuốn sách có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc đời mình. Anh chỉ muốn biết thêm về em thôi.”

Cô nàng lại uống thêm ngụm nữa.

“Không thì cuốn em mới đọc gần đây cũng được?”

“Mới đọc gần đây...” Cô nàng nhướng mày, “mới đọc gần đây là thực đơn anh ạ.”

“Cái anh mới đọc gần đây là dây chuyền của em,” gã nói. “Maria.”

Sau đó là bữa ăn thân mật và gã chẳng bao giờ biết được Maria từng đọc thứ gì.

Tiếp đó, bà khách Margene giới thiệu cho gã cô hàng xóm của bà, một cô lính cứu hỏa năng động tên Rosie. Rosie có mái tóc bông xù đen nhánh điểm xuyết vài lọn xanh da trời, cơ bắp cánh tay cuồn cuộn, tiếng cười sang sảng và móng tay ngắn ngủn được sơn đỏ cam loang lổ. Cô từng vô địch môn chạy vượt rào hồi đại học và thích đọc về lịch sử thể thao cũng như hồi kí của mấy tay vận động viên.

Vào buổi hẹn hò thứ ba, cô nàng đang say sưa kể một đoạn kịch tính trong hồi kí Juiced của vận động viên bóng chày Jose Canseco thì gã ngắt lời, “Anh ta thuê người viết hộ đấy.”

Rosie nói cô biết nhưng ai thèm quan tâm cơ chứ. “Ở đẳng cấp ấy thì phải tập luyện cả ngày, lấy đâu ra thời gian mà viết sách?”

“Nhưng thế thì... ý anh là về cơ bản, chúng toàn lời dối trá.”

Rosie ngẩng đầu nhìn gã, gõ gõ những đầu ngón tay rực lửa xuống bàn, “Anh là một kẻ hợm hĩnh, anh biết chứ? Điều đó sẽ khiến anh bỏ lỡ nhiều thứ lắm.”

“Trước cũng có người bảo anh thế.”

“Trong tất cả những cuốn hồi kí thể thao, cuộc đời của anh là luyện tập gian khổ, thành công, rồi cơ thể gặp vấn đề gì đó và chấm hết.”

“Nghe giống phần sau trong tiểu thuyết của Philip Roth[12] nhỉ,” gã nói.

Rosie khoanh tay lại, “Anh nói cứ như mình hiểu biết lắm ấy, nhưng thực ra chỉ đang cố hạ thấp người khác thôi.”

Tối đó, sau cuộc mây mưa như đánh vật trên giường, Rosie lăn xa khỏi gã và nói, “Chắc mình khỏi hẹn hò nữa anh ạ.”

“Xin lỗi đã làm tổn thương em,” gã vừa nói vừa mặc lại quần. “Chuyện cuốn hồi kí ấy.”

Cô nàng phẩy tay. “Không sao. Tính anh thế mà.”

Hẳn là vậy. Gã chỉ là kẻ hợm hĩnh, không phù hợp để yêu đương. Gã sẽ nuôi Maya, tập trung kinh doanh, đọc sách. Thế là quá đủ rồi.

Chị Ismay khăng khăng muốn Maya học múa. “Chú không muốn con bé phải thiếu thốn thứ gì, đúng chưa?”

“Đương nhiên là không rồi,” AJ. đáp.

“Vậy thì,” Ismay nói, “học múa quan trọng lắm, không chỉ tăng cường thể chất mà còn giúp con bé cởi mở hơn. Hẳn chú không muốn con bé bị chậm phát triển đâu nhỉ?”

“Em không biết nữa, chị Ismay à. Chẳng phải ‘con gái cần học múa’ là quan niệm lỗi thời rồi sao?”

Gã không biết Maya có thích múa không. Dù đã lên 6, Maya chỉ chăm chăm ôm sách, quanh quẩn trên nhà hoặc cửa tiệm. “Nó đâu có chậm phát triển? Nó đang đọc sách kia kìa.”

“Tất nhiên không phải về mặt trí tuệ,” Ismay nói. “Nhưng con bé cứ dính lấy chú, chẳng buồn kết bạn với ai, như vậy không tốt đâu.”

“Sao lại không tốt?” AJ. bắt đầu thấy ngứa ngáy khó chịu.

“Lớn lên nó sẽ như chú mất,” Ismay đáp.

“Thì sao?”

Ismay nhìn gã như thể câu trả lời đã quá rõ ràng. “AJ., hai người cứ cô độc thế, chú thì chẳng hẹn hò...”

“Em có hẹn hò.”

“Chẳng bao giờ đi đây đi đó...”

Gã gạt phắt, “Đừng lạc đề sang em.”

“Bỏ cái tính cố chấp ấy đi. Chú muốn chị làm mẹ đỡ đầu cho con bé và giờ bà mẹ đỡ đầu này muốn chú đăng ký cho nó đi học múa. Chị sẽ trả học phí nên đừng ý kiến ý cò gì nữa.”

Trên đảo Alice chỉ có một trung tâm dạy múa và một lớp dành cho các bé gái từ 5 đến 6 tuổi. Olenska là bà chủ kiêm giáo viên. Bà đã hơn sáu mươi tuổi, không mập nhưng làn da nhăn nhúm, chứng tỏ xương cốt cũng đang dần teo lại. Tay bà lúc nào cũng đeo đầy nhẫn. Bà khiến lũ trẻ vừa thích thú vừa sợ hãi. Gã cũng vậy. Lần đầu tiên gã đưa Maya đến, bà Olenska đã nói, “Anh Fikry, anh là người đàn ông đầu tiên đặt chân đến trung tâm này trong suốt hai mươi năm qua. Nhất định phải lợi dụng một chút mới được.”

Qua chất giọng Nga của bà Olenska, mấy câu này nghe cứ như lời tán tỉnh nhưng thật ra, bà chỉ muốn kiếm một tay cu li mà thôi. Gã phải ngồi sơn và sửa lại các thùng gỗ thành những khối hình dễ thương, gắn mắt giả, chuông và hoa lên rồi uốn dây kim tuyến để chuẩn bị cho buổi biểu diễn trước kỳ nghỉ (gã đoán sẽ chẳng bao giờ lau hết được bột óng ánh giắt ở móng tay mất).

Mùa đông đó, gã dành hầu hết thời gian ở chỗ bà Olenska, và gã cũng hiểu thêm về bà. Ví dụ, một trong những học trò ưu tú của bà chính là cô con gái, hiện đang tham gia một buổi biểu diễn ở Broadway[13] và cả thập kỷ nay, hai người chưa nói chuyện. Olenska lắc lắc ngón tay, “Đừng giẫm vào vết xe đổ đó.” Bà buồn bã nhìn ra cửa sổ rồi chậm rãi quay lại phía AJ. “Anh sẽ tài trợ cho chương trình để quảng cáo tiệm sách nhỉ.” Đó thậm chí còn chẳng phải là câu hỏi. Tiệm sách Hải Đảo trở thành nhà tài trợ duy nhất cho buổi diễn Kẹp hạt dẻ, Rudolph và các bạn; mọi người được nhận cả phiếu giảm giá khi mua sách ở tiệm vào kỳ nghỉ lễ. AJ. thậm chí còn bán vé quay số với giải thưởng là một giỏ đầy sách về khiêu vũ và toàn bộ số tiền thu về sẽ được ủng hộ cho trường Boston Ballet.

AJ. theo dõi buổi biểu diễn từ bàn bán vé, cảm thấy kiệt sức và sắp cúm tới nơi. Chương trình được sắp xếp theo trình độ nên nhóm của Maya ra trước nhất. Con bé mặc trang phục chuột con duyên dáng, tự do chạy lon ton, nhăn nhăn mũi và vẫy chiếc đuôi làm từ dây kim tuyến do chính gã cẩn thận cuộn cho. Gã nhận ra nghề nhảy múa chẳng dành cho con bé.

Chị Ismay ngồi bên cạnh đưa cho gã hộp khăn giấy Kleenex.

“Cảm lạnh,” gã than thở.

“Rõ ràng là vậy rồi,” Ismay nói.

Cuối buổi diễn, bà Olenska bước đến chỗ gã, “Cảm ơn anh, Fikry. Anh thật tốt.”

“Chắc tại tôi có một đứa trẻ tốt.” Gã còn phải đón bé chuột của mình từ phòng thay đồ nữa.

“Đúng thế, nhưng như vậy chưa đủ. Anh còn phải tìm lấy một cô gái tốt nữa.”

“Tôi thích cuộc sống như hiện giờ.” AJ. đáp.

“Giờ anh thấy có con bé là đủ nhưng rồi nó cũng phải lớn lên. Anh thấy có công việc là đủ nhưng công việc đâu thể mang lại cảm giác ấm áp như con người.”

Gã nghĩ, hẳn bà Olenska vừa uống vài ly Stoli[14] đây mà.

“Chúc bà kỳ nghỉ vui vẻ nhé.”

Trong lúc đi bộ về nhà với Maya, gã nghĩ về những lời bà giáo viên đó nói. Cũng phải gần sáu năm rồi gã chẳng có ai. Đau buồn thì khó nén, nhưng cô độc thì gã chịu được. Vả lại, gã cũng không muốn chọn đại một bà cô già nào đó. Gã muốn Amelia Loman với trái tim nhân hậu và gu thời trang tệ hại của cô, hoặc ít nhất là ai đó tương tự thế.

Tuyết bắt đầu rơi, những bông tuyết bám trên bộ ria chuột của bé Maya. Gã muốn chụp lại một tấm hình làm kỷ niệm nhưng lại thấy hành động ấy chẳng giống mình chút nào. “Bộ ria hợp với con lắm,” gã nói.

AJ. nhớ lại buổi biểu diễn ban nãy, chợt nhiên thấy bối rối: “Maya, con biết ta bao nhiêu tuổi rồi không?”

“Có chứ ạ,” nó đáp. “22.”

“Ta già hơn thế một chút.”

“89 ạ?”

“Ta...” Gã xòe cả hai bàn tay bốn lần, rồi xòe ba ngón nữa.

“43 ạ?”

“Giỏi lắm. Ta 43 tuổi. Sau chừng đó năm, ta học được rằng, thà yêu thương, mất mát, thà cô độc một mình cũng còn hơn phải sống cùng người mình không thực sự thích. Con thấy có đúng không?”

Con bé nghiêm nghị gật đầu khiến chiếc tai chuột suýt thì rơi mất.

“Nhưng thỉnh thoảng ta cũng chán ngấy mấy bài học rồi.” Gã nhìn xuống khuôn mặt nhăn nhó của con gái. “Chân con ướt à?”

Maya gật đầu, và gã gập người xuống để con bé có thể leo lên lưng gã. “Vòng tay qua cổ ta này.” Rồi gã đứng dậy, khẽ rên rỉ. “Con lại lớn thêm rồi đấy.”

Maya sờ dái tai gã, hỏi, “Gì đây ba?”

“Trước đây ta từng đeo khuyên tai.”

“Tại sao ạ? Ba là cướp biển ư?”

“Hồi đó ta còn trẻ,” gã kể.

“Bằng con ạ?”

“Lớn hơn con. Rồi ta gặp một cô gái.”

“Một thiếu nữ ạ?”

“Một người phụ nữ. Cô ấy thích một ban nhạc tên The Cure, và cô ấy nghĩ nếu xỏ lỗ tai cho ta sẽ rất hay ho.”

Maya ngẫm nghĩ, “Ba có con vẹt nào không ạ?”

“Không, ta có bạn gái thôi.”

“Con vẹt nói chuyện được không ba?”

“Không, vì ta nào có vẹt đâu.”

Con bé cố đánh lừa gã, “Tên con vẹt là gì ba ơi?”

“Không có vẹt mà.”

“Nhưng nếu có thì cậu ta tên gì hả ba?”

“Sao con biết là cậu ta?”

“Á!” Con bé đưa cả hai tay lên bịt miệng, khiến người hơi ngả về sau.

“Ôm chặt cổ ta không ngã đấy. Có thể đặt tên cho cô vẹt ấy là Amy nhỉ?”

“Vẹt Amy. Con biết mà. Ba có thuyền không ba?”

“Có chứ. Một chiếc thuyền đầy sách, phải gọi là tàu nghiên cứu ấy. Chúng ta đã nghiên cứu nhiều lắm.”

“Ba kể chuyện chán ốm.”

“Sự thật đấy, Maya ạ. Trên đời này ngoài cướp biển thích giết người, còn có cướp biển thích nghiên cứu, ba con là loại thứ hai.”

Đảo Alice chưa bao giờ là điểm đến hấp dẫn vào mùa đông, nhưng những ngày đông năm đó lại đặc biệt khắc nghiệt. Đường sá biến thành sân trượt băng, dịch vụ phà bị hủy nhiều ngày liền. Đến cả tay Daniel Parish cũng phải ngồi nhà. Hắn viết lách đôi chút, cố tránh mặt vợ và dành thời gian còn lại bên AJ. cùng Maya.

Giống như vô số phụ nữ khác, Maya rất thích bác Daniel. Mỗi lần đến cửa tiệm, bác không nói chuyện với Maya như với một đứa ngốc chỉ vì nó còn nhỏ. Dù mới lên 6, nó đã rất nhạy cảm với kiểu cư xử ấy. Bác luôn hỏi nó đang đọc gì và thấy thế nào. Hơn nữa, bác còn có đôi lông mày rậm vàng hoe và chất giọng khiến con bé nhớ về những hoa văn nữa.

Vào một chiều sau năm mới chừng một tuần, Daniel và Maya đang đọc sách trên sàn cửa tiệm thì con bé quay sang hỏi, “Bác Daniel, con có câu hỏi. Bác không bao giờ đi làm ạ?”

“Ngay lúc này, bác đang làm việc đây, Maya.”

Con bé gỡ cặp kính của nó ra và lau lau vào vạt áo, “Bác chẳng giống đang đi làm gì cả. Bác giống như đang đọc sách thôi. Bác không có nơi nào đó để đến và làm một công việc ạ?” Con bé giải thích, “Ba Lambiase là cảnh sát, ba con là người bán sách. Bác làm gì?”

Daniel bế con bé lên, đi đến gian bày sách của tác giả địa phương trong tiệm. AJ. nhập tất cả các đầu sách của Daniel vì nể hắn là anh em đồng hao, dẫu cuốn duy nhất bán được là tác phẩm đầu tay, Lũ trẻ trên cây táo. Daniel chỉ tên mình trên gáy sách. “Tên bác đây này, đó là công việc của bác.”

Maya tròn xoe mắt. “Daniel Parish. Bác viết sách nên bác là...” Con bé thốt lên bằng giọng đầy tôn kính, “nhà văn ạ? Cuốn này viết về cái gì ạ?”

“Những điều điên khùng của cánh đàn ông. Một câu chuyện tình yêu và một bi kịch.”

“Nghe chung chung quá ạ,” Maya đáp.

“Một nữ y tá dành cả đời để chăm sóc mọi người, rồi cô bị tai nạn ô tô và lần đầu tiên được người khác chăm sóc lại.”

“Có vẻ không phải thể loại con muốn đọc rồi.”

“Hơi ủy mị phải không?”

“Không hề!” Nó không muốn làm tổn thương bác Daniel. “Nhưng con thích các cuốn có nhiều hành động hơn.”

“Hành động hả? Bác cũng thế. Tiểu thư Fikry thân mến, bác đọc nhiều để có thể viết tốt hơn đấy.” Daniel giải thích.

Maya ngẫm nghĩ rồi đáp, “Con muốn làm công việc này.”

“Nhiều người muốn lắm, cô bé ạ.”

“Làm sao để trở thành nhà văn ạ?”

“Trước tiên phải đọc thật nhiều.”

Maya gật đầu, “Con có đọc nhiều.”

“Thêm một chiếc ghế thoải mái.”

“Con cũng có nữa.”

“Rất tốt,” Daniel nói và đặt con bé trở lại sàn. “Sau này, bác sẽ dạy con phần còn lại. Con là một người bạn vô cùng tuyệt vời, con biết chứ?”

“Ba con cũng nói vậy.”

“Ba con thật thông minh, may mắn, tốt bụng, còn có một cô công chúa sáng dạ nữa.”

AJ. gọi Maya lên tầng ăn tối. “Anh ăn luôn chứ?” Gã hỏi Daniel.

“Giờ hơi sớm, với lại tôi còn có việc phải làm.” Hắn nháy mắt với Maya.

Cuối cùng cũng đến tháng Ba. Băng tan khiến đường ngập đầy bùn. Phà hoạt động trở lại và Daniel Parish lại tiếp tục bay nhảy khắp nơi. Đại diện các nhà xuất bản đến thị trấn cùng những danh sách sách mùa hè và AJ. phải ra ngoài gặp họ. Maya nhận ra rằng, mỗi khi đeo cà vạt là ba sẽ “đi làm”, đối lập với “ở nhà”.

AJ. mong chờ gặp lại Amelia nhất nên đã xếp lịch cuộc hẹn với cô cuối cùng. Khoảng hai tuần trước buổi hẹn, gã gửi tin nhắn cho cô, Pequod’s được không? Hay cô thích thử nơi khác?

Lần này tôi chọn Queequeg, cô nhắn lại. Anh đã xem Thuần huyết chưa đấy?

Mùa đông chẳng phải thời gian thích hợp để tham gia các hoạt động xã giao, nên mỗi buổi tối, khi Maya đã ngủ, gã đều xem Thuần huyết. Gã đã xem hết cả bốn mùa. Chương trình hấp dẫn hơn gã tưởng, một kiểu lai lai giữa tiểu thuyết Gothic miền Nam[15] của Flannery O’Connor[16] và Sự sụp đổ của dòng họ Usher hay Caligula[17] gì đó. Chừng nào Amelia tới đảo, AJ. định sẽ khiến cô bất ngờ bởi sự am hiểu về Thuần huyết của gã.

Khi nào đến thì cô sẽ biết, gã nhắn, nhưng chẳng dám bấm nút Gửi vì thấy thế có vẻ tán tỉnh thái quá. Gã không biết cô định tổ chức lễ cưới khi nào, nên biết đâu, giờ cô đã có chồng rồi cũng nên. Hẹn gặp cô vào thứ Năm tới, gã viết.

Thứ Tư, gã nhận được cuộc gọi từ một số lạ. Hóa ra là Brett Brewer, anh hùng Mỹ, nghe giọng giông giống Bill trong Thuần huyết. AJ. nghĩ giọng cha này không được tự nhiên lắm, nhưng đương nhiên, một anh hùng Mỹ thì cần gì phải nhái giọng miền Nam nhỉ. “Anh Fikry nè, tui là Brett Brewer, Amelia kêu tui gọi tới nhắn anh là cổ gặp tai nạn mún đổi lịch hẹn.”

AJ. nới cà vạt ra. “Cô ấy không sao chứ?”

“Tui đã biểu cổ đi đôi ủng đó chi, mưa đi còn được chứ tuyết đi sao nổi. Tui nói có sai đâu, cổ té ở Providence, vỡ mắt cá chân rồi. Không nghiêm trọng lắm nhưng cổ đang phẫu thuật, cho chừa cái tội cứng đầu.”

“Cho tôi gửi lời hỏi thăm vợ chưa cưới của anh nhé.” AJ. đáp.

Đầu kia im lặng một lúc khiến gã tưởng điện thoại bị mất liên lạc. “Rồi, rồi,” Brett Brewer nói rồi gác máy.

Biết Amelia không bị thương nặng, AJ. thở phào nhưng cũng hơi thất vọng vì cô sẽ không đến (cả chuyện vị anh hùng Mỹ kia vẫn còn luẩn quẩn bên đời cô nữa).

Gã định gửi hoa hoặc sách cho cô nhưng cuối cùng lại quyết định gửi tin nhắn. Gã cố tìm câu gì đó hay ho trong Thuần huyết để khiến cô cười. Tra Google thì lại thấy câu nào cũng sến sẩm quá. Gã đành nhắn, Rất tiếc vì cô bị ngã. Tôi rất mong đợi danh sách mùa hè của Dực Long. Hy vọng ta sớm gặp nhau. Rất buồn khi phải nói điều này nhưng “Đưa máu ma cà rồng cho Jason Stackhouse chẳng khác nào đưa bánh Ho Hos cho người bị bệnh tiểu đường vậy.”[18]

Sáu tiếng sau, Amelia nhắn lại, ANH XEM RỒI!!!

AJ., Phải.

Amelia, Trao đổi về mấy đầu sách qua điện thoại hoặc Skype nhé?

AJ., Skype là gì?

Amelia, Chẳng lẽ cái gì tôi cũng phải dạy anh à?!

Amelia giải thích xong về Skype và hai người quyết định hẹn qua đó.

AJ. thấy rất vui vì có thể thấy cô, dẫu chỉ qua màn hình máy tính. Khi cô giới thiệu danh sách, gã thấy mình chẳng thể chú tâm nổi. Gã bị thu hút bởi những thứ rất Amelia ở phía sau cô: Một lọ thủy tinh đựng đầy hoa hướng dương khô, bằng tốt nghiệp của Đại học Vassar (hình như thế), một con búp bê Hermione Granger[19], tấm ảnh của Amelia hồi nhỏ cùng những người khác mà gã đoán là bố mẹ cô, chiếc đèn ngủ chấm bi, ghim giấy có hình Keith Haring[20], vài quyển sách cũ gã không đọc được tên, một lọ sơn móng tay lấp lánh, con tôm hùm vặn cót, bộ răng ma cà rồng, một chai sâm banh hảo hạng chưa mở, một...

“AJ., anh có đang nghe không đấy?” Amelia cắt ngang dòng suy nghĩ của gã.

“Có, tất nhiên rồi, tôi...” đang ngó nghiêng đồ của cô? “Tôi không quen Skype. Mà dùng Skype làm động từ có được không vậy?”

“Chắc từ điển Oxford không đề cập đến đâu, nhưng tôi nghĩ là dùng được. Tôi đang nói, Dực Long không chỉ có một mà đến hai tập truyện ngắn trong danh sách hè này đấy.”

Amelia bắt đầu kể về hai cuốn sách còn AJ. quay lại việc tiếp tục do thám phòng cô. Quyển gì kia nhỉ? Nhìn mỏng hơn Kinh Thánh hay từ điển. Gã gí sát mặt vào màn hình để nhìn rõ hơn nhưng dòng chữ mạ vàng quá mờ để đọc qua cuộc gọi video. Amelia ngừng lại, rõ ràng đang chờ ý kiến của gã.

“Ờm, tôi cũng mong đọc chúng lắm,” AJ. nói.

“Tuyệt, hôm nay hoặc ngày mai, tôi sẽ gửi mail cho anh nhé. Danh sách mùa hè thế là hết rồi.”

“Tôi muốn gặp cô trực tiếp hơn.”

“Tôi sẽ đến, sẽ đến mà.”

“Quyển sách gì kia?”

“Quyển nào?”

“Quyển cũ cũ dựa vào chiếc đèn trên bàn phía sau cô ấy.”

“Anh muốn biết à? Cuốn ưa thích của tôi đấy, quà tốt nghiệp đại học bố tôi tặng.”

“Vậy là quyển gì thế?”

“Khi nào anh lết được đến Providence thì tôi sẽ cho anh biết.”

AJ. nhìn Amelia. Nếu không phải cô đang vừa nói vừa cúi xuống hí hoáy viết thì gã đã hiểu đó là một lời tán tỉnh. Mà còn...

“Anh chàng Brett Brewer có vẻ tử tế đấy,” AJ. nói.

“Hả?”

“Anh ta có gọi cho tôi nói cô bị thương và không đến được,” gã giải thích.

“À ờ.”

“Tôi thấy giọng anh ta hệt như Bill trong Thuần huyết vậy.

Amelia cười lớn, “Giờ lúc nào anh cũng Thuần huyết, Thuần huyết nhỉ. Lần tới gặp, nhất định tôi phải kể với Brett mới được.”

“Mà đám cưới sẽ diễn ra vào lúc nào vậy? Hay xong rồi?”

Amelia nhìn gã, “Thực ra là hủy rồi.”

“Chia buồn cùng cô.”

“Cũng lâu lâu rồi, sau Giáng sinh.”

“Tại tôi thấy anh ta gọi...”

“Lúc đó anh ấy đang ở nhà tôi. Không yêu vẫn có thể làm bạn. Tôi là vậy đó.”

Gã thấy mình bắt đầu hơi tọc mạch nhưng không kiềm chế nổi, “Sao lại chia tay thế?”

“Brett rất tốt nhưng sự thật phũ phàng là chúng tôi không có nhiều điểm chung.”

“Đồng cảm quan trọng lắm.”

Đột nhiên điện thoại của Amelia réo vang. “Mẹ tôi đấy. Tôi phải nghe máy đây. Hẹn gặp lại anh sau vài tháng nữa nhé.”

Gã gật đầu. Skype tắt ngấm và trạng thái của Amelia chuyển thành Vắng mặt.

Gã mở trình duyệt lên và Google câu, “Địa điểm hấp dẫn dành cho các gia đình gần Providence, Rhode Island.” Kết quả chẳng có gì đặc biệt lắm: Bảo tàng Thiếu nhi, Bảo tàng Búp bê, hải đăng và mấy thứ mà gã có thể dễ dàng tìm thấy ở Boston. Gã đành chuyển sang Vườn cây cảnh hình động vật ở Portsmouth. Ngày trước, gã và Maya từng đọc một cuốn sách về cây cảnh và con bé có vẻ khá thích thú. Hơn nữa, hai người họ cũng nên đi du lịch đâu đó ngoài đảo chứ nhỉ? Gã sẽ dẫn Maya đến xem mấy con thú rồi tiện đường ghé qua Providence thăm một người bạn ốm đau.

Bữa tối hôm đó, gã nói, “Maya này, con muốn đi xem cái cây hình con voi khổng lồ không?”

Con bé nhìn gã, đầy nghi ngại, “Giọng ba kì cục thế.”

“Hay lắm đấy, Maya. Con nhớ cuốn sách ta đọc về cây cảnh không?”

“Từ hồi con bé ấy ạ?”

“Ừ. Ta tìm thấy một nơi có cây cảnh hình động vật. Đằng nào ta cũng phải qua Providence thăm bạn ốm nên hai chúng ta tranh thủ đi ngắm luôn.” Gã lôi máy tính ra và chỉ cho Maya xem mấy con thú trên trang web.

“Được rồi,” Maya nghiêm nghị đáp. “Con rất muốn xem.” Nó chỉ vào trang web, nhắc gã vườn cây cảnh ở Portsmouth chứ không phải Providence.

“Portsmouth rất gần Providence, Rhode Island là bang bé nhất nước mà.”

Nhưng sự thật thì Portsmouth không gần Providence cho lắm. Có một xe buýt, nhưng đi ô tô thì chủ động hơn nhiều. Buồn thay, AJ. lại chẳng có bằng lái. Thế là gã gọi điện cho Lambiase rủ anh đi cùng.

“Maya thích cây cảnh à?” Lambiase hỏi.

“Nó cuồng ấy chứ.”

“Có điều, trẻ con mà thích mấy thứ đó thì hơi kì quặc.”

“Con bé vốn kì quặc mà.”

“Nhưng đi thăm vườn tược giữa mùa đông sao?”

“Gần sang xuân rồi. Với lại, giờ con bé đang phát cuồng. Ai mà biết đến mùa hè thì nó còn thích không.”

“Đúng vậy, tụi trẻ con thay đổi nhanh lắm.” Lambiase nói.

“Thôi được rồi, anh không đi cũng được.”

“Ồ, đi mà. Ai lại không muốn xem mấy con voi xanh khổng lồ chứ? Nhưng đôi khi, người ta nói đi một nơi còn thực tế lại hướng đến một nơi khác, anh hiểu ý tôi chứ? Tôi chỉ muốn biết bản chất của chuyến du lịch này thôi. Ngắm cây cảnh hay thăm gì khác? Cô bạn của anh chẳng hạn?”

AJ. khụt khịt, “Ừ thì tôi cũng định ghé thăm Amelia nữa.”

Hôm sau, gã gửi tin nhắn cho cô, Quên không bảo cô, cuối tuần sau, tôi và Maya sẽ đến Rhode Island. Tôi có thể ghé qua lấy bản thảo luôn, cô đỡ phải gửi mail.

Amelia, Tôi không có bản thảo ở đây. Chúng được gửi từ New York mà.

Thế là kế hoạch đi tong, gã nghĩ.

Vài phút sau, Amelia lại gửi thêm một tin nhắn, Mà anh định làm gì ở Rhode Island thế?

AJ., Qua thăm vườn cây cảnh ở Portsmouth. Maya thích chúng lắm! (Gã thoáng xấu hổ vì dấu chấm than cuối câu.)

Amelia, Tôi không biết là có đấy. Cũng muốn đi cùng anh lắm mà giờ chỉ nằm bẹp một chỗ được thôi.

Gã đợi một lúc rồi mới nhắn lại, Cô có cần người tới thăm không? Nếu được thì chúng tôi sẽ ghé qua.

Cô không trả lời ngay. AJ. hiểu sự im lặng đó đồng nghĩa với lời từ chối.

Ngày hôm sau, Amelia nhắn lại, Được chứ. Tôi mong lắm. Đừng ăn gì nhé. Tôi sẽ nấu gì đó cho anh và Maya.

“Con có thể thấy chúng nếu nhón chân lên và nhìn qua tường,” AJ. nói. Họ rời đảo Alice vào lúc 7 giờ sáng, bắt phà tới Hyannis rồi lái xe hai tiếng đồng hồ tới Portsmouth chỉ để nhận ra rằng Vườn cây cảnh hình động vật đóng cửa từ tháng Mười một đến tháng Năm.

AJ. không dám nhìn thẳng vào con gái và anh chàng Lambiase. Trời âm hai độ mà gã thấy nóng rực cả người.

Maya nhón chân nhưng vẫn chẳng thấy gì, con bé thử nhảy lên, “Con chẳng thấy gì cả.”

“Đây đây, để ba giúp con,” Lambiase nói và nhấc bổng Maya lên vai.

“Hình như con có thấy gì đó,” Maya ngần ngừ. “Không, con chẳng thấy gì cả. Họ che hết lại rồi.” Môi dưới của con bé bắt đầu run run, nó ai oán nhìn gã. AJ. không nghĩ mình có thể chịu đựng thêm.

Đột nhiên, con bé bật cười với gã. “Nhưng ba biết không, con có thể tưởng tượng ra con voi dưới lớp phủ ấy đấy. Và hổ, cả kỳ lân nữa!” Maya gật đầu với AJ. như thể muốn nói, Rõ ràng ba muốn đưa con đến đây vào giữa mùa đông để phát triển trí tưởng tượng mà.

“Đúng rồi, Maya.” Gã thấy mình là bậc phụ huynh tệ nhất trần đời, nhưng niềm tin Maya dành cho gã dường như đã được khôi phục lại.

“Nhìn kìa, ba Lambiase! Cô kỳ lân đang run kìa. May mà cô ấy đã được che lại rồi. Ba có thấy không?”

AJ. bước tới cabin bảo vệ và nhận được ánh nhìn đầy cảm thông. “Nhiều người nhầm lắm rồi.”

“Anh nghĩ tôi có khiến con bé ám ảnh cả đời không?” Gã hỏi.

“Đương nhiên không. Chẳng có gì to tát đâu. Làm gì có đứa bé nào trở nên hư hỏng chỉ vì không được xem cây cảnh hình thú chứ.”

“Dù mục đích chính của ba nó là đến gặp một cô nàng hấp dẫn ở Providence?”

Tay bảo vệ dường như không nghe rõ. “Sao anh không thử đi thăm mấy lâu đài thuộc Thời kỳ vàng son[21] ở vùng này đi. Tụi nhóc thích chúng lắm.”

“Thật à?”

“Có vài đứa thích. Mà thật đấy. Sao lại không chứ? Biết đâu cô nhóc nhà anh lại thích.”

Ở lâu đài, Maya nói đài phun nước làm nó nhớ tới cuốn Từ đống hồ sơ lộn xộn của bà Basil E. Frankweiler[22], một cuốn sách mà Lambiase không biết.

“Thế thì ba phải đọc đi, ba Lambiase à. Nhất định ba sẽ thích nó. Truyện kể về một cô bé và anh trai, hai người bỏ trốn...”

“Bỏ trốn chẳng hay ho gì đâu con,” Lambiase cau mày. “Là một cảnh sát, ba có thể khẳng định với con, trẻ nhỏ lang thang trên đường thì không tốt chút nào hết.”

Maya nói tiếp, “Họ tới một bảo tàng lớn ở thành phố New York và trốn ở đấy. Đó...”

“Đó là phạm tội con ạ. Chính xác là đột nhập trái phép, phá khóa rồi lẻn vào nữa.”

“Ba Lambiase, ba chẳng hiểu gì cả.”

Sau bữa ăn trưa đắt đỏ ở lâu đài, họ lái xe đến Providence để nhận phòng khách sạn.

“Anh đi thăm Amelia đi,” Lambiase nói với AJ. “Tôi tính dắt Maya đến Bảo tàng Thiếu nhi trong thị trấn. Tôi muốn chỉ cho con bé thấy trốn ở viện bảo tàng chẳng thực tế chút nào. Chí ít là sau vụ 11 tháng Chín.”

“Anh không cần phải làm thế đâu.” Thực ra gã muốn đưa Maya theo cùng để tự nhiên hơn. (Đúng vậy, gã tính lấy cô con gái bé bỏng của mình làm tấm lá chắn.)

“Đi vui vẻ nhé,” Lambiase nói. “Cha đỡ đầu là để dự phòng những lúc như thế này mà.”

AJ. đến nhà Amelia vào lúc 5 giờ kém, mang cho cô một túi đầy sách của Charlaine Harris[23], chai Malbec thượng hạng và một bó hoa hướng dương. Sau khi bấm chuông, gã thấy hoa có vẻ lộ liễu quá nên đã giấu chúng dưới đệm chiếc ghế xích đu.

Amelia chống nạng bước ra. Chân cô được bó bột màu hồng, chi chít hình vẽ như con nít. Cô mặc váy ngắn màu xanh thủy thủ, quàng chiếc khăn hoa văn đỏ thắm, trông như một nữ tiếp viên hàng không.

“Maya đâu rồi?” Amelia hỏi.

“Anh bạn Lambiase của tôi dẫn con bé đi xem Bảo tàng Thiếu nhi của Providence rồi.”

Amelia ngẩng lên, “Đây không phải hẹn hò đấy chứ?”

AJ. lắp bắp giải thích về việc vườn cây đóng cửa. Câu chuyện nghe khó tin đến mức, nói được một nửa, gã suýt định bỏ của chạy lấy người.

“Tôi chỉ đùa thôi, anh vào nhà đi,” cô cười đáp.

Căn nhà khá lộn xộn nhưng rất sạch sẽ. Amelia có một chiếc đi văng bọc nhung màu tía, đàn dương cầm xinh xắn, một bộ bàn ăn mười hai ghế, rất nhiều ảnh bạn bè và người thân, vài cây cảnh cả tươi xanh lẫn héo rũ, một con mèo vằn chột mắt tên Puddleglum và đương nhiên là sách nằm la liệt khắp nơi. Nhà tràn ngập mùi thức ăn như thể cô đang nấu dở. Đó là món lasagna cùng bánh mì tỏi. Gã cởi giày để khỏi bẩn nhà. “Đúng là chủ nào nhà nấy,” gã kết luận.

“Lộn xộn, khập khiễng,” cô nói.

“Phong cách, quyến rũ.” Gã hắng giọng, cố gắng để không cảm thấy quá sến sẩm.

Hai người kết thúc bữa tối, mở tới chai rượu thứ hai thì AJ. mới đủ can đảm hỏi về Brett Brewer.

Amelia cười khẽ, “Tôi không muốn bị anh hiểu lầm khi kể ra chuyện này.”

“Tôi hứa sẽ không nghĩ linh tinh.”

Cô uống cạn ly rượu. “Mùa thu trước, hai chúng ta thường xuyên liên lạc với nhau... Nghe này, tôi không muốn anh nghĩ rằng, tại anh nên tôi chia tay anh ấy. Tôi chia tay vì nói chuyện với anh khiến tôi nhận ra việc cảm thông, chia sẻ quan điểm sống quan trọng đến nhường nào. Nghe thật ngốc nghếch.”

“Không đâu,” AJ. nói.

Amelia nheo nheo đôi mắt nâu xinh đẹp. “Lần đầu tiên gặp mặt, anh thật thô lỗ với tôi. Tôi vẫn chưa tha thứ cho anh đâu đấy.”

“Tôi cứ hy vọng là cô đã quên rồi.”

“Còn lâu nhé, tôi thù dai lắm.”

“Tôi tệ quá, đó thực sự là khoảng thời gian khó khăn.” Gã vươn người qua bàn, gạt lọn tóc xoăn khỏi má cô. “Lần đầu gặp cô, tôi đã nghĩ ngay đến loài bồ công anh.”

Amelia bối rối vuốt lại mái tóc, “Nó cứ rối bù lên.”

“Đó là loài hoa tôi yêu thích.”

“Chứ không phải cỏ dại à?” Cô hỏi.

“Trông cô ấn tượng lắm.”

“Hồi đi học, mọi người toàn gọi tôi là Big Bird[24].”

“Buồn nhỉ.”

“Còn có những biệt danh tệ hơn cơ,” cô nói. “Tôi kể với mẹ tôi về anh. Bà bảo, anh không phải mẫu bạn trai có điều kiện tốt, AJ. ạ.”

“Tôi biết. Thực lòng xin lỗi. Bởi tôi đã rất thích cô.”

Amelia thở dài, định dọn dẹp bàn ăn.

AJ. vội đứng dậy. “Đừng, để tôi. Cô ngồi xuống đi.” Gã xếp chén đĩa và cho vào máy rửa bát.

“Anh có muốn xem quyển sách đó không?”

“Quyển nào cơ?” AJ. vừa hỏi, vừa ngâm đĩa đựng lasagna vào nước.

“Quyển trong phòng làm việc của tôi ấy. Không phải anh muốn đến để xem sao?” Cô với chiếc nạng và đứng dậy. “Qua phòng ngủ là tới phòng làm việc đấy.”

AJ. gật đầu, bước nhanh qua phòng ngủ để tránh thô lỗ. Gã gần tới cửa phòng làm việc của Amelia thì cô chợt ngồi xuống giường, “Mà thôi, mai tôi sẽ chỉ cho anh.” Cô vỗ nhẹ vào chỗ bên cạnh, “Mắt cá chân tôi đau quá, xin lỗi vì cách tôi quyến rũ anh không được tinh tế cho lắm.”

AJ. cố gắng điềm tĩnh quay người bước tới giường Amelia, nhưng có bao giờ gã điềm tĩnh được đâu cơ chứ.

Amelia ngủ rồi, AJ. mới rón rén tới phòng làm việc của cô.

Cuốn sách vẫn dựa vào chiếc đèn, hệt như hôm họ trò chuyện qua Skype. Dầu đã tận mắt thấy, gã vẫn không đọc được dòng chữ quá mờ trên bìa. Gã mở trang nhan đề: Thật khó để kiếm được một anh chàng tử tế và những câu chuyện khác của Flannery O’Connor.

Cuốn sách có ghi, “Amy yêu dấu, mẹ kể đây là tác giả con yêu thích. Hy vọng con không phiền vì ba đã đọc trước truyện Thật khó để kiếm được một anh chàng tử tế. Nó hơi u ám nhưng rất thú vị. Chúc mừng con đã tốt nghiệp! Ba tự hào về con lắm. Yêu con, ba của con.”

AJ. đóng quyển sách và đặt nó dựa trở lại chiếc đèn.

Gã để lại một tờ giấy, “Amelia thân mến, anh thật sự không thể chịu nổi nếu đến tận lúc Dực Long ra danh sách mùa thu thì em mới quay lại đảo Alice. Thân, AJF.”

❀ ❀ ❀

[1] Flannery O’Connor (1925-1964): Nhà văn người Mỹ.

[2] Pequod cũng là tên con tàu đánh cá voi trong tiểu thuyết Moby Dick (Tạm dịch: Cá voi trắng) của Herman Melville.

[3] Phong cách sống của một bộ phận thanh niên, lấy hòa bình và tình yêu làm giá trị cốt lõi, cách ăn mặc thường bị coi là lập dị.

[4] Tên gốc: The Gulag Archipelago của Aleksandr Solzhenitsyn.

[5] Loại kẹo được mệnh danh “Quốc hồn quốc túy” của Thổ Nhĩ Kỳ.

[6] Tên gốc: The Chronicles of Narnia của C. S. Lewis.

[7] Tên gốc: The Lion, the Witch and the Wardrobe, tên tập đầu tiên trong Biên niên sử Narnia.

[8] Blood Diamond: loại đá quý khai thác dựa trên sự bóc lột sức lao động của những tổ chức phạm pháp hoặc không được chính phủ bảo hộ, gây nên cái chết của hàng nghìn người vô tội ở châu Phi.

[9] Tên gốc: True Blood, một chương trình truyền hình Mỹ.

[10] Một nhân vật trong Thuần huyết, nữ nhân viên phục vụ ở quán bar có khả năng ngoại cảm.

[11] Tên gốc: LA. Confidential, tiểu thuyết trinh thám hình sự của James Ellroy.

[12] Philip Roth (1933): Tiểu thuyết gia người Mỹ gốc Do Thái.

[13] Con phố ở New York được mệnh danh là “Miền đất hứa cho nhạc kịch”.

[14] Tên một loạt vodka của Nga.

[15] Dòng văn học pha trộn giữa kinh dị và lãng mạn, lấy bối cảnh là miền Nam nước Mỹ.

[16] Flannery O’Connor (1925-1964): Nhà văn người Mỹ.

[17] Một bộ phim về Hoàng đế La Mã Caligula.

[18] Một câu trong Thuần huyết.

[19] Nhân vật trong truyện Harry Potter của J. K. Rowling.

[20] Keith Haring (1958-1990): Họa sĩ, nhà hoạt động xã hội người Mỹ.

[21] The Gilded Age (1878-1889): Thời kỳ nền công nghiệp phát triển nhảy vọt cùng làn sóng nhập cư vào nước Mỹ.

[22] Tên gốc: From the Mixed-Up Files of Mrs. Basil E. Frankweiler, một cuốn sách thiếu nhi của E. L. Konigsburg.

[23] Charlaine Harris (1951): Tiểu thuyết gia người Mỹ.

[24] Nhân vật trong chương trình truyền hình thiếu nhi Sesame sweet, một chú chim khổng lồ có bộ lông vàng và khá ngây ngô.

The Stories Life of AJFikry - Người dịch: Hồng Ly
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.