1868 – Bret Harte[1]
Câu chuyện cực kì xúc động về một trại khai thác mỏ nhận nuôi cậu bé mang tên May Mắn. Ta đọc nó lần đầu tại Princeton[2] trong buổi hội thảo Nền văn học Tây Mỹ và chẳng có cảm xúc gì. Trong bài thu hoạch (ngày 14 tháng Mười một, 1992), thứ duy nhất ta khen ngợi là tên nhân vật đa màu sắc: Stumpy, Kentuck, French Pete, Cherokee Sal, vân vân. Vài năm sau, ta đọc lại lần nữa và khóc nhiều đến mức khiến bản in rẻ tiền nhòe nhoẹt nước mắt. Có lẽ càng già càng dễ mủi lòng. Nhưng ta cũng nghĩ, điều đó nói lên tầm quan trọng của việc đọc sách đúng thời điểm. Maya à, con hãy nhớ: Cảm xúc khi 20 tuổi chẳng nhất thiết phải giống lúc 40 tuổi hoặc hơn. Điều này đúng với những cuốn sách và với cả cuộc đời.
AJF.
Vài tuần sau vụ trộm, việc kinh doanh của tiệm Hải Đảo dần khởi sắc nhưng khó mà xác định chính xác nguyên nhân. AJ. đoán do chỉ số kinh tế ít được biết đến mang tên “Dân phố Tò mò”.
Một dân phố có ý tốt (DPYT) rụt rè đến bên quầy thanh toán và hỏi, “Có tin gì mới về cuốn Tamerlane chưa?” [Dịch: Liệu tôi có thể cười vào mặt anh vì đã làm mất tài sản quý giá đó không?]
Gã sẽ nhã nhặn đáp, “Chưa ạ.” [Dịch: Đời vẫn đen.]
DPYT: “Chắc chắn sẽ có manh mối sớm thôi.” [Dịch: Dẫu sao cũng chẳng ảnh hưởng đến tôi nên lạc quan một chút thì đâu mất gì.] “Có cuốn sách mới nào không nhỉ?”
AJ.: “Có vài cuốn đấy.” [Dịch: Cả rổ kia kìa. Mấy tháng, cũng có thể là mấy năm rồi ôngbà có mò tới đây đâu.]
DPYT: “Trên Thời báo New York có giới thiệu một cuốn khá hay ho, bìa đỏ thì phải?”
AJ.: “Phải rồi, nghe quen quen”. [Dịch: Tìm được chết liền. Tên sách, tác giả, tóm tắt không có. Bìa hình như màu đỏ và được giới thiệu trên Thời báo New York, ôngbà nghĩ tôi là thiên tài chắc?] “ÔngBà có nhớ thêm gì về quyển đó không?” [Động não tí đi.]
Rồi gã sẽ hướng dẫn vị DPYT đó qua quầy sách mới và kiểu gì cũng bán được cho ôngbà ta một cuốn.
Nghĩ cũng lạ đời, Nic mất khiến việc kinh doanh tụt dốc không phanh. Dẫu gã đã mở cửa và đóng cửa nghiêm cẩn như một tay Sĩ quan SS[3], quý đầu tiên sau cái chết của nàng, tiệm vẫn ghi nhận mức doanh thu thấp kỷ lục. Đương nhiên, mọi người chia buồn cùng gã, nhưng họ lại chia buồn quá mức. Nic là người bản địa, là một phần của cộng đồng. Ai cũng xúc động khi thấy một sinh viên tốt nghiệp đại học Princeton (và Á khoa tốt nghiệp Trung học Đảo Alice) quay về, mở tiệm sách cùng anh chồng lầm lì. Người con trẻ tuổi của đảo quay lại để xây dựng quê hương, thật tốt biết bao. Nic ra đi rồi, mối dây liên kết duy nhất giữa họ và AJ. là nỗi đau thương vì mất Nic. Họ có đổ lỗi cho gã không? Một chút. Sao gã không chở ả tác giả đó về nhà chứ? Họ tự mua vui bằng cách thì thầm to nhỏ với nhau rằng gã thật kì cục. Họ còn thề thốt, không phải do gã là người ngoài mà họ nghĩ thế đâu (gã sinh ra ở New Jersey). Khi đi qua cửa hàng, họ dè dặt nín thở cứ như đang đi qua bãi tha ma.
Giờ đây, mọi người đã dần chấp nhận gã. AJ. nhận ra, trộm cắp là vấn nạn chung của cộng đồng, còn người thân ra đi là việc riêng nhà gã. Đến tháng Mười hai, doanh số lại trở về như trước vụ mất cấp kia.
Hai tuần trước Giáng sinh, còn hai phút nữa thì đến giờ đóng cửa, AJ. dạo một vòng để nhắc nhở những vị khách cuối cùng. Một thằng cha mặc áo phao hắng giọng, chỉ tập Alex Cross[4] mới nhất. “26 đô cơ à, anh có biết mua trên mạng còn rẻ hơn không?” Gã đáp rằng mình biết, và chỉ về phía lối ra. Hắn nói, “Anh phải giảm giá thì mới mong cạnh tranh được chứ.”
“Giảm giá? Giảm. Giá. Trước đây tôi chưa từng nghĩ đến,” gã nhẹ nhàng đáp.
“Anh đang xấc xược với khách hàng đấy hả, anh bạn trẻ?”
“Không hề, tôi rất biết ơn. Trong lần họp đại hội cổ đông tới đây của tiệm Hải Đảo, chắc chắn tôi sẽ đưa kiến nghị này của anh ra. Ai mà không muốn bán được sách chứ. Giờ thời gian không còn nhiều nên đành tạm gác câu chuyện tại đây. Có thể là một sai sót nhưng Hội đồng quản trị lại quyết định rằng, cạnh tranh là việc của mấy vận động viên Olympic, lũ trẻ thi đánh vần hay doanh nghiệp ngũ cốc. Tôi vui mừng được thông báo, gần đây, tiệm sách Hải Đảo đang dần lấy lại sức cạnh tranh vốn có. Dẫu sao thì, tiệm đã đến giờ đóng cửa rồi.” AJ. chỉ thẳng ra cửa.
Tay áo phao vừa càu nhàu bước ra thì một bà già lại chen vào. Bà là khách quen nên gã cố kiềm chế cơn bực bội vì bà tới sau giờ làm việc. Gã nói, “À, bà Cumberbatch. Thật không may, chúng tôi đóng cửa rồi.”
“Anh Fikry, đừng giương đôi mắt Omar Sharif[5] mà nhìn tôi như thế. Tôi đang bực mình đây.” Bà Cumberbatch đẩy gã ra rồi quăng quyển sách rầm một cái lên bàn. “Sống đến 82 tuổi mà tôi chưa từng đọc cuốn nào tệ hại như cuốn hôm qua anh giới thiệu. Trả lại tiền đây.”
AJ. hết nhìn quyển sách lại nhìn bà già kia. “Bà không thích ở điểm nào?”
“Nhiều điểm, anh Fikry ạ. Thứ nhất, nó được kể bởi Thần chết! Anh nghĩ một bà già 82 tuổi thích thú khi đọc cả quyển sách dày cộp 552 trang kể bởi Thần chết lắm à? Quả là một sự lựa chọn ‘tinh tế’ đấy.”
AJ. vội vàng xin lỗi dẫu trong thâm tâm chẳng thấy mình có lỗi gì. Làm gì có chuyện giới thiệu sách mà chắc chắn 100% người kia sẽ thích cơ chứ? Gã đành nhận lại cuốn sách nhưng gáy đã rách và sẽ chẳng còn ai muốn mua nữa. Gã không kiềm chế được bèn hỏi, “Bà Cumberbatch này, hẳn bà đã đọc qua, tôi băn khoăn không biết bà đọc tới đoạn nào rồi vậy?”
“Phải, tôi đã đọc,” bà ta đáp. “Tất nhiên là tôi đã đọc. Gần như thức trắng đêm qua để đọc. Đọc mà điên người. Ở tuổi này rồi, điều đó chẳng tốt đẹp gì. Tôi còn khóc như mưa như gió vì nó nữa. Lần tới có giới thiệu sách, làm ơn tránh mấy đề tài này ra, anh Fikry ạ.”
“Tôi nhớ rồi,” gã nói. “Và tôi thành thật xin lỗi, thưa bà Cumberbatch. Phần lớn khách của chúng tôi đều thích cuốn Kẻ trộm sách[6] này đấy.”
Đóng cửa hàng xong, AJ. lên lầu để thay đồ thể thao. Gã đi vòng ra cửa chính tiệm sách và chẳng buồn khóa cửa như đã thành thói quen.
AJ. từng tham gia đội chạy việt dã hồi trung học và đại học. Gã chọn môn thể thao này đơn giản vì không có kỹ năng đặc biệt nào khác ngoài việc cắm đầu vào mấy cuốn sách. Thực sự, gã chưa bao giờ quan tâm tới chuyện chạy việt dã cũng cần đến tài năng. Huấn luyện viên ở trường trung học còn thân thương gọi AJ. là kẻ trung bình đáng tin bởi lần nào gã cũng đứng hạng chót của tốp trên. Sau khi bỏ chạy một thời gian dài, giờ gã phải thừa nhận rằng, chạy việt dã cũng là một loại tài năng. Với thể chất hiện tại, gã chẳng chạy nổi liên tục quá 3 kilomet mà không dừng lại nghỉ. Hiếm khi gã vượt được mốc 8 kilomet, lưng, chân tay và cả người đều mệt mỏi rã rời. Cũng không tệ lắm. Ngày trước, gã thường vừa chạy vừa nghĩ ngợi vẩn vơ, giờ thì cơn đau sẽ kéo gã khỏi mớ suy nghĩ độc hại đó.
AJ. gần về đến nhà thì tuyết bắt đầu rơi. Không muốn để lại vệt bùn nên gã dừng trước cổng để cởi giày rồi cố lết nốt đoạn đường tới cửa chính. Cánh cửa mở toang. Gã không khóa cửa nhưng cũng không thể để toang hoác thế kia. Gã bật điện. Mọi thứ vẫn y nguyên. Quầy thanh toán không có vẻ gì bị xáo trộn. Có lẽ là do gió. Gã tắt điện, định lên gác thì nghe thấy một tiếng khóc ré lên, rồi lại một tiếng khóc nữa, lần này dai dẳng hơn.
AJ. lại bật điện lên, vòng ra cửa rồi đi dọc theo những gian sách. Gã bước tới hàng cuối cùng, khu vực nghèo nàn dành cho sách Thiếu nhi và Độc giả trẻ, thì thấy một đứa bé đang ngồi giữa sàn cùng cuốn Ở nơi quỷ sứ giặc non[7] đặt trên đùi (đây là một trong những sách tranh hiếm hoi ở tiệm Hải Đảo). AJ. thầm nghĩ, đứa bé khá cứng cáp, hẳn không phải mới sinh. Gã chẳng đoán nổi tuổi của nó vì gã rất hiếm khi tiếp xúc với trẻ con. AJ. là con út, gã và Nic lại chưa có em bé. Đứa trẻ mặc áo khoác trượt tuyết màu hồng, tóc nâu nhạt xoăn tít cùng đôi mắt xanh tựa hoa thanh cúc, làn da ngăm ngăm, sáng hơn da AJ. một chút, trông khá xinh xắn đáng yêu.
“Cháu là ai vậy?” AJ. hỏi cô bé.
Chẳng hiểu sao, nó lại nín khóc rồi cười với gã. “Maya,” cô bé đáp.
Dễ mà, AJ. thầm nghĩ. “Cháu mấy tuổi rồi?” Gã hỏi tiếp.
Maya giơ hai ngón tay lên.
“Hai à?”
Cô bé mỉm cười rồi vươn tay về phía gã.
“Mẹ cháu đâu?”
Maya bắt đầu khóc, tiếp tục vươn tay ra. Chẳng còn cách nào khác, gã đành bế nó lên. Con bé phải nặng chừng hai mươi tư quyển sách bìa cứng, đủ khiến lưng gã mỏi nhừ. Nó vòng tay ôm cổ AJ., gã có thể ngửi thấy mùi phấn rôm cùng dầu thơm dìu dịu. Rõ ràng, Maya không hề bị bỏ mặc hay hành hạ. Con bé khá thân thiện, ăn mặc chỉn chu, và chờ đợi, à không, đòi hỏi được yêu thương. Chắc chắn chủ nhân của cái bọc nhỏ này sẽ nhanh chóng quay lại cùng những lý do vô cùng hợp lý, chẳng hạn như xe hỏng hay bà mẹ đột nhiên bị ngộ độc thức ăn. Gã phải suy nghĩ lại về chuyện không khóa cửa mất thôi. Gã chỉ nghĩ đến việc bị trộm chứ không tưởng tượng nổi ai đó sẽ để thứ gì lại đây.
Con bé ôm gã chặt hơn. Nhìn qua vai nó, AJ. thấy một con rối Elmo[8] lăn lóc trên sàn cùng mẩu giấy nhớ ghim chặt nơi phần ngực đỏ thẫm của nó. Gã đành đặt Maya xuống và nhặt con Elmo lên. Gã chẳng ưa con rối này chút nào vì trông nó quá rẻ tiền.
“Elmo!” Maya nói.
“Ờ, Elmo.” Gã đáp, gỡ mẩu giấy rồi đưa con rối cho con bé. Mẩu giấy ghi:
Gửi ông chủ tiệm sách,
Đây là Maya, 25 tháng tuổi. Bé RẤT LANH LỢI, thông minh trước tuổi, ngoan ngoãn và ngọt ngào. Tôi mong cháu có niềm đam mê đọc sách, mong cháu được lớn lên giữa sách vở, bên những người hiểu biết chúng. Tôi rất yêu Maya nhưng không thể chăm sóc cháu được nữa. Cha Maya không muốn nhận con, tôi lại chẳng có họ hàng nào đỡ đần. Tôi tuyệt vọng quá.
Thân,
Mẹ của Maya.
Mẹ kiếp, AJ. lẩm bẩm.
Maya lại khóc.
AJ. bế nó lên, phát hiện tã bị bẩn. Dẫu là tay gói quà cừ khôi bậc nhất nhưng cả đời gã chưa từng thay một cái tã nào. Hồi Nic còn sống, Hải Đảo thường có dịch vụ gói quà miễn phí vào Giáng sinh, gã nghĩ thay tã với gói quà chắc cũng từa tựa nhau. Hy vọng túi đồ đặt cạnh con bé là bịch tã. Tạ ơn Chúa, đúng là vậy. Gã thay tã cho con bé ngay trên sàn, cố gắng không làm bẩn thảm và không nhìn nơi riêng tư của nó. Phải mất hơn hai mươi phút mới xong. Trẻ con ngọ nguậy nhiều hơn sách, hình dáng thì chẳng thuận tiện để thay tã chút nào. Maya ngẩng nhìn gã, mím môi và nhăn nhăn cái mũi.
AJ. nói, “Xin lỗi nhé, Maya, ta cũng chẳng thích thú gì đâu. Cháu mà hợp tác thì chúng ta đã xong lâu rồi.”
“Xin lỗi,” con bé đáp. AJ. liền thấy tội nghiệp nó ghê gớm.
“Không không, người xin lỗi phải là ta mới đúng. Ta chẳng biết gì về thứ này cả. Ta tồi tệ quá.”
“Tồi!” Maya lặp lại rồi cười khúc khích.
AJ. xỏ giày, bế con bé lên và xách theo chiếc túi, không quên cầm tờ giấy rồi hướng thẳng đến đồn cảnh sát.
Đương nhiên, cảnh sát trưởng Lambiase sẽ trực vào tối đó. Dường như anh chàng này luôn có mặt vào những thời điểm quan trọng nhất đời gã. AJ. chìa con bé ra, khẽ thì thào để tránh làm Maya tỉnh giấc, “Ai đó đã để nó lại tiệm của tôi.”
Lambiase bối rối giấu chiếc bánh donut đang ăn dở bằng cách nhét cả vào mồm. Nhai xong, anh xởi lởi đáp lời AJ., “Ôi, nó thích anh kìa.”
“Không phải con tôi đâu,” gã tiếp tục thì thào.
“Vậy của ai?”
“Chắc của vị khách nào đó.” AJ. thọc tay vào túi, lấy mảnh giấy đưa cho Lambiase.
“Ố ồ, mẹ con bé nhờ cậy anh này.” Lambiase nói. Maya mở mắt rồi mỉm cười với anh. “Dễ thương nhỉ?” Anh vươn người về trước để Maya có thể túm lấy râu mình. “Ai tóm râu tôi đấy?” Anh giả giọng mấy đứa con nít. “Ai trộm râu tôi đấy?”
“Cảnh sát trưởng Lambiase, mong anh tập trung vào vấn đề chính cho.”
Lambiase hắng giọng rồi ngồi ngay ngắn lại. “Được rồi, giờ là 9 giờ tối thứ Sáu. Tôi sẽ gọi đến ủy ban Gia đình và Trẻ em, nhưng tuyết đang rơi, rồi cuối tuần và cả vấn đề lịch phà nữa nên sớm nhất cũng phải thứ Hai người chuyên trách mới tới đây được. Chúng tôi sẽ cố gắng tìm bà mẹ và cả ông bố, phòng trường hợp ai đó đang kiếm nhóc tì này.”
“Maya,” Maya nói.
“Tên cháu đó à?” Lambiase lại nhại giọng con nít. “Tên hay quá cơ.” Rồi anh hắng giọng lần nữa, “Phải có người chăm con bé cuối tuần này. Tôi cùng mấy tay trong đồn sẽ thay phiên nhau, hoặc là...”
“Thôi, thôi,” AJ. ngắt lời. “Giữ một đứa bé ở đồn cảnh sát có vẻ không hay ho lắm.”
“Anh biết chăm trẻ con không đấy?” Lambiase hỏi.
“Mấy ngày cuối tuần thôi mà, có gì khó chứ? Tôi sẽ gọi cho bà chị vợ, không được nữa thì hỏi Google.”
“Google,” con bé hô lên.
“Google! Giỏi lắm bé con! E hèm,” Lambiase nói. “Vậy thứ Hai tôi sẽ liên lạc với anh. Mà buồn cười nhỉ? Có người chôm mất quyển sách của anh, giờ lại có người mang cho anh một đứa bé.”
“Ờ,” AJ. đáp.
Về đến nhà, Maya chợt òa khóc, lanh lảnh như tiếng kèn đêm Giao thừa hòa lẫn tiếng còi cứu hỏa. AJ. đoán nó đang đói nhưng gã chẳng biết phải cho một đứa bé 25 tháng tuổi ăn gì. Gã kéo môi nó ra xem có cái răng nào chưa. Con bé mọc răng rồi và còn đang cố cắn gã. Gã tra Google, “Cho trẻ con 25 tháng tuổi ăn gì?” và nhận ngay câu trả lời là phần lớn chúng đều ăn những thứ bố mẹ chúng ăn. Nhưng Google đâu có biết, hầu hết những thứ gã ăn đều vô cùng kinh khủng. Tủ toàn đồ đông lạnh, cay xé lưỡi. Gã đành gọi cho chị vợ Ismay để xin vài lời khuyên.
“Xin lỗi vì quấy rầy chị,” gã nói, “nhưng em không biết nên cho một đứa bé 25 tháng tuổi ăn gì.”
“Chú hỏi làm gì vậy?” Ismay căng thẳng đáp.
Gã giải thích rằng có người bỏ rơi một đứa bé ở tiệm sách. Sau một thoáng suy nghĩ, Ismay nói chị sẽ tới ngay.
“Chị chắc chứ?” AJ. hỏi. Ismay đang mang bầu tháng thứ sáu và gã không muốn làm phiền chị.
“Chắc. May mà chú gọi chị. Vị tiểu thuyết gia người Mỹ Vĩ đại có việc đi khỏi thị trấn rồi, vả lại, mấy tuần gần đây chị hay bị mất ngủ nữa.”
Chưa đầy nửa tiếng sau, Ismay đã tới cùng một túi đầy đồ ăn lấy từ gian bếp của chị, gồm nguyên liệu làm salad, lasagna chay và nửa cái bánh táo. “Chị vơ vội được mấy thứ này thôi,” chị nói.
“Thế là tốt lắm rồi,” gã nói. “Bếp nhà em còn chẳng có gì.”
“Nom nó hệt như hiện trường vụ án ấy,” chị đáp.
Thấy Ismay, con bé hét váng lên. “Chắc nó nhớ mẹ,” Ismay nói. “Nhìn chị giống mẹ nó chăng?” AJ. gật gù dẫu gã nghĩ lý do thực sự là chị đã dọa con bé sợ chết khiếp. Mái tóc đỏ của Ismay được cắt kiểu bông xù thời thượng, làn da trắng xanh và đôi mắt cũng màu xanh. Các nét trên mặt chị đều hơi to, điệu bộ thì sôi nổi thái quá. Tóm lại, trông chị hệt như Gollum[9] phiên bản xinh đẹp với cái bụng bầu kia. Đến cả chất giọng của chị cũng khiến trẻ con khó chịu, nó sang sảng, vang dội khắp cả căn phòng. Trong suốt mười lăm năm quen biết Ismay, gã nghĩ chị cũng già dần như cuộc đời một nữ diễn viên: Đóng từ nàng Juliet đến Ophelia[10] rồi hoàng hậu Gertrude[11], cuối cùng là nữ thần Hecate[12].
Ismay hâm lại đồ ăn rồi hỏi, “Chú muốn chị cho con bé ăn giúp không?”
Maya nhìn Ismay, ánh mắt như ngờ vực.
“Thôi, để em.” AJ. nói rồi quay sang hỏi Maya, “Cháu có muốn ăn bằng thìa nĩa không?”
Con bé không đáp lại.
“Chú còn chẳng có ghế cho trẻ con nữa. Mau kiếm đại cái gì thay đi, để nó ngồi ăn khỏi ngã.” Ismay nói.
Gã liền đặt con bé xuống sàn, dựng ba chồng bản thảo về ba phía rồi chèn gối ngủ vào trong.
Thìa lasagna đầu tiên được đút một cách dễ dàng. “Quá đơn giản,” gã lẩm bẩm.
Rồi đến thìa thứ hai, Maya ngúng nguẩy khiến nước xốt bắn tung tóe lên người gã, gối ngủ và cả mấy chồng bản thảo. Con bé quay lại nhìn gã và cười khanh khách như thể trò đùa này hay ho lắm.
“Hy vọng chú không định đọc chúng nữa,” Ismay nói.
Sau bữa tối, họ đặt Maya ngủ trên chiếc nệm futon[13] trong phòng ngủ phụ.
“Sao chú không để con bé lại đồn cảnh sát?” Ismay hỏi.
“Em thấy không ổn lắm,” AJ. đáp.
“Chú không tính nuôi nó luôn đấy chứ?” Ismay xoa xoa bụng mình.
“Đương nhiên là không rồi, em chỉ trông nó đến thứ Hai thôi.”
“Chị nghĩ rồi bà mẹ sẽ đổi ý và quay lại đón nó.”
AJ. đưa Ismay xem mảnh giấy.
“Tội nghiệp quá,” Ismay nói.
“Em biết, nhưng cá nhân em không thể hành động như vậy, bỏ rơi con mình trong một tiệm sách.”
Ismay nhún vai, “Có lẽ cô gái ấy có nỗi khổ riêng.”
“Sao chị biết là cô gái?” AJ. hỏi. “Biết đâu là một bà cô trung niên nào đó rơi vào đường cùng thì sao.”
“Giọng điệu trong thư khá trẻ con, cả nét chữ nữa, chị đoán vậy,” Ismay nói, luồn tay qua mớ tóc ngắn ngủn. “Mà dạo này chú thế nào rồi?”
“Em ổn,” AJ. đáp. Gã nhận thấy mình không còn nghĩ ngợi về cuốn Tamerlane hay Nic hàng giờ liền nữa.
Ismay rửa đống bát đĩa dù AJ. đã nói chị cứ để đó. “Em sẽ không nuôi con bé đâu,” AJ. nhắc lại. “Em sống một mình, không có nhiều tiền tiết kiệm, việc kinh doanh lại chẳng thuận lợi gì.”
“Tất nhiên rồi,” Ismay đáp, “cách sống của chú không thành vấn đề.” Chị lau khô bát đĩa rồi cất lên giá. “Tuy nhiên, thi thoảng ăn chút rau quả tươi cũng chẳng chết đâu.”
Ismay thơm lên má gã. AJ. thầm nghĩ, chị thật giống Nic nhưng cũng khác xa nàng. Thi thoảng, nhìn những nét giống nhau giữa hai người như khuôn mặt, dáng dấp, trái tim gã nhói lên. Cũng có đôi khi, những khác biệt về suy nghĩ, tình cảm lại khiến gã đau lòng. “Chừng nào cần thì cứ gọi chị nhé,” chị nói.
Dẫu là em gái, Nic vẫn thường lo lắng cho Ismay.
Nàng luôn nghĩ chị gái mình sẽ xếp nhất môn Tùy hứng. Ismay chọn một trường Đại học chỉ vì thích mấy bức hình in trên tạp chí giới thiệu trường, cưới tay nào đó bởi anh ta bảnh bao trong bộ cánh tuxedo và đi dạy sau khi xem bộ phim về một giáo viên đầy cảm hứng. Nic từng nói, “Ismay tội nghiệp. Rốt cuộc, lần nào chị cũng phải thất vọng vì lựa chọn của mình.”
Gã thầm nghĩ, hẳn Nic sẽ muốn mình đối xử tốt hơn với Ismay. “Vở kịch thế nào rồi chị?”
Ismay mỉm cười như một nàng thiếu nữ. “AJ., thật tình chị không nghĩ là chú biết đấy.”
“Thử thách gắt gao[14],” gã nói. “Tụi nhóc đến tiệm để mua nhiều lắm.”
“Ờ, hẳn là vậy. Nhưng thực ra vở đó rất tệ. Đám con gái phần lớn chỉ gào với thét nhưng có vẻ thích thú lắm. Chị thì không. Hôm nào đến tập cũng phải mang theo thuốc giảm đau Tylenol. Hy vọng trong lúc gào thét, chúng vô tình học được chút gì đó về lịch sử Mỹ. Tất nhiên, lý do chị chọn vở đó là bởi có nhiều vai nữ, tụi nhỏ sẽ đỡ khóc lóc hơn khi chị dán danh sách phân vai. Nhưng giờ chị đang mang bầu, dường như có cả đống kịch hay đang chờ đón phía trước.”
AJ. hơi áy náy vì khiến chị Ismay phải mang đồ ăn sang nên tỏ ý muốn giúp, “Để em qua sơn tường, in lời thoại hay làm gì đó cho chị nhé?”
Ismay muốn thốt lên “Chẳng giống chú tẹo nào” nhưng đã kìm lại được. Ngoài chồng mình ra, chị luôn tin chú em rể là kẻ ích kỷ nhất trần đời. Chỉ một chiều ở cùng đứa bé này mà AJ. đã thay đổi đến thế, thử tưởng tượng xem Daniel sẽ thay đổi đến nhường nào nếu con họ chào đời. Một hành động nhỏ của AJ. thôi đã khiến chị ngập tràn hy vọng. Chị xoa bụng. Đó là con trai, hai vợ chồng đã chọn được tên cho em bé và chọn thêm cả một cái tên dự phòng nữa.
Chiều hôm sau, tuyết ngừng rơi, thậm chí bắt đầu tan chảy, một cái xác theo sóng đánh dạt lên dải cát cạnh ngọn hải đăng. Chứng minh thư trong túi có tên Marian Wallace và cảnh sát trưởng Lambiase chẳng mất nhiều thời gian để nhận ra mối liên hệ giữa cái xác và đứa bé.
Marian Wallace không có người quen trên đảo Alice, không ai biết cô đến đây làm gì, gặp ai hay vì sao cô lại quyết định tự tử bằng cách nhảy xuống làn nước băng giá giữa tháng Mười hai ở hòn đảo này. Tóm lại, chẳng ai biết nguyên nhân. Toàn bộ thông tin còn lại chỉ là Marian Wallace da đen, 21 tuổi, có một em bé mới 25 tháng tuổi. Với mẩu giấy cô viết gửi AJ., bức tranh dần sáng tỏ. Nhà chức trách chỉ đơn thuần kết luận Marian Wallace đã tự tử.
Đến cuối tuần thì có thêm vài thông tin về Marian Wallace. Cô đang học Harvard, vô địch bơi lội bang Massachusetts đồng thời là một nhà văn đầy đam mê và sáng tạo. Cô đến từ Roxbury. Năm cô 13 tuổi, mẹ cô mất vì ung thư. Một năm sau, bà ngoại cũng qua đời do căn bệnh quái ác này. Cha cô là một gã nghiện ngập nên suốt quãng đời trung học, cô chuyển hết gia đình nuôi này đến gia đình nuôi khác. Một trong những bà mẹ nuôi của cô kể lại, khi còn nhỏ, lúc nào Marian cũng cắm mặt vào sách vở. Không ai biết gì về bố đứa trẻ, thậm chí còn chẳng ai biết cô đang có bạn trai. Cô bị đuổi khỏi trường vì trượt toàn bộ các môn học kỳ trước, có lẽ gánh nặng của một bà mẹ cùng lịch học dày đặc là quá sức với cô. Marian xinh xắn, thông minh khiến câu chuyện này trở thành bi kịch. Cô là người da đen, lại nghèo túng nên kết cục như vậy đến như một lẽ dĩ nhiên.
Tối Chủ nhật, Lambiase ghé qua tiệm sách để thăm Maya và cập nhật tình hình với AJ. Vị cảnh sát trưởng cũng có vài đứa em nhỏ nên anh nhiệt tình nhận trông Maya trong lúc AJ. coi sóc cửa hàng. “Được không đấy?” Gã hỏi. “Anh không phải đi đâu sao?”
Lambiase vừa ly dị. Anh đã cưới cô bạn thân thương thời trung học, nên phải mất rất nhiều thời gian mới nhận ra rằng cô ta chẳng thân với thương gì hết. Lúc cãi nhau, cô ta trìu mến gọi anh là tên béo đần độn. Anh đâu có đần, dù ít đọc sách và đi đây đi đó. Anh cũng không hề béo, dẫu cơ thể hệt như loài chó bun, cổ đầy cơ bắp, chân ngắn, mũi tẹt và rộng. Một chú bun Mỹ cường tráng chứ không phải loại bun Anh ục ịch.
Lambiase chẳng nhớ nhung gì vợ cũ, nhưng anh nhớ cảm giác có nơi nào đó để về sau giờ làm việc.
Anh ngồi xuống sàn, ôm Maya vào lòng. Cô bé ngủ rồi, Lambiase mới kể cho AJ. nghe chuyện về người mẹ.
AJ. nói, “Thật kì lạ, sao cô ấy lại nhọc công nhọc sức tới tận đảo Alice cơ chứ? Bao năm qua, mẹ tôi cũng chỉ tới thăm tôi có một lần. Anh thực sự tin rằng cô ấy không đến đây để gặp ai đó sao?”
Lambiase khẽ đu đưa bé Maya, “Tôi cũng nghĩ tới chuyện đó. Có thể cô ấy không có kế hoạch gì cụ thể, chỉ đơn giản bắt chuyến tàu đầu tiên, chuyến xe buýt đầu tiên rồi chuyến phà đầu tiên, cuối cùng thì tới đây.”
AJ. lịch sự gật đầu, nhưng gã không nghĩ vậy. Gã đọc sách và tin rằng mọi chuyện đều có lý do. Nếu một khẩu súng xuất hiện ở cảnh đầu thì tốt hơn nên biến mất ở cảnh ba. Gã tin vào tính logic của câu chuyện.
“Có thể cô ấy muốn ra đi ở nơi nào đó có phong cảnh đẹp.” Lambiase nói thêm. “Người bên DCF[15] sẽ đến đón bọc nhỏ đáng yêu này vào thứ Hai. Bé không có họ hàng thân thích nên họ sẽ gửi cho một gia đình nhận nuôi nào đó.”
AJ. kiểm tiền hàng ở quầy, “Thật nghiệt ngã với một đứa trẻ nhỉ?”
“Có thể,” Lambiase nói. “Nhưng con bé còn nhỏ nên chắc sẽ ổn thôi.”
AJ. kiểm lại tiền lần nữa, “Anh bảo rằng mẹ nó cũng từng được nhận nuôi đúng không?”
Lambiase gật đầu.
“Chắc cô ấy nghĩ đứa trẻ sẽ có cơ hội tốt hơn khi lớn lên ở một tiệm sách.”
“Ai mà biết được chứ?”
“Cảnh sát trưởng Lambiase à, tôi chẳng phải người sùng đạo. Tôi không tin vào số phận. Nhưng vợ tôi, cô ấy lại tin.”
Đúng lúc đó, Maya thức dậy và chìa tay về phía AJ. Gã đóng ngăn kéo đựng tiền rồi đón lấy cô bé. Lambiase nghe thấy nó gọi, “Ba ơi.”
“Hừ, đã bảo đừng gọi thế rồi mà nó không chịu.” AJ. nói.
“Lũ trẻ có nhiều ý tưởng lắm,” Lambiase đáp.
“Anh muốn uống gì không?”
“Chắc chắn rồi, sao lại không chứ?”
AJ. khóa cửa tiệm sách rồi đi lên lầu. Gã đặt Maya xuống chiếc nệm futon và bước ra phòng chính.
“Tôi không nuôi nó được,” gã khẳng định. “Hai ngày rồi tôi không ngủ nổi. Con bé đúng là khủng bố. Nó thức dậy vào những lúc, ờ, kinh khủng. 3 giờ 45 phút sáng là bắt đầu ngày mới. Tôi sống một mình, nghèo rách. Tôi không thể chỉ dựa vào sách mà nuôi nó.”
“Đúng vậy,” Lambiase nói.
“Đến thân tôi, tôi còn chẳng lo được,” gã tiếp tục than vãn. “Con bé khó nuôi hơn cả con cún, mà người như tôi thậm chí còn chẳng nên nuôi cún nữa. Con bé chưa được dạy cách sử dụng nhà vệ sinh, tôi thì chịu chết không biết gì về mấy thứ đó. Hơn nữa, thực lòng tôi không ưa trẻ con. Tôi thích Maya, nhưng... không thể nói chuyện nổi với nó. Chúng tôi trao đổi về Elmo, nhưng tôi ghét con Elmo. Mà nguyên nhân chủ yếu là do con bé, nó toàn tự coi mình là trung tâm vũ trụ.”
“Đứa nhỏ nào chả thế,” Lambiase đáp. “Đến khi nó học nói được nhiều hơn thì sẽ ổn cả thôi.”
“Nó còn thích đọc đi đọc lại một quyển sách nữa chứ. Cái quyển dở kinh khủng. Ở nơi quỷ sứ giặc non thì phải.”
Lambiase đáp anh chưa từng nghe nói đến cuốn sách đó.
“Ồ, tin tôi đi. Con bé có gu đọc sách tệ hại.” AJ. cười vang.
Lambiase gật đầu và uống ly rượu của mình, “Có ai bảo anh phải nuôi nó đâu.”
“Phải, phải, tất nhiên rồi. Nhưng liệu tôi có thể can thiệp vào chuyện chọn nơi ở cho con bé không nhỉ? Maya thông minh khủng khiếp ấy. Dường như nó đã nhận được mặt chữ rồi, biết thứ tự chữ cái nữa cơ. Cứ nghĩ đến việc nó bị quẳng cho mấy kẻ trì độn không biết trân trọng điều đó là tôi lại khó chịu. Như tôi đã nói đấy, tôi chẳng tin vào số phận, nhưng tôi thấy có trách nhiệm gì đó với con bé. Cô gái ấy đã giao nó cho tôi.”
“Cô ấy mất trí mà,” Lambiase nói. “Một tiếng trước khi tự tử.”
“Ờ,” AJ. cau mày tư lự. “Anh nói cũng phải.” Có tiếng khóc từ phòng bên, gã vội vàng cáo lỗi, “Tôi phải qua xem con bé chút đây.”
Hôm nay cần phải tắm cho Maya rồi. Gã sẵn lòng nhường việc này cho nhà chức trách bang Massachusetts, nhưng lại chẳng muốn giao con bé vào tay mấy bà cô Havisham[16] thu nhỏ của bên dịch vụ xã hội kia. Gã phải tìm trên Google đủ thứ về cách tắm: Nhiệt độ nước thích hợp cho bé hai tuổi, bé hai tuổi dùng dầu gội người lớn được không, bố phải tắm cho con gái hai tuổi thế nào để không bị coi là lạm dụng, lượng nước cao đến đâu thì đủ, cách đề phòng đuối nước cho bé hai tuổi trong bồn tắm, những quy tắc cơ bản để tắm cho bé an toàn, vân vân.
Gã gội đầu cho Maya bằng loại dầu chiết xuất từ cây gai dầu của Nic. Rất lâu sau khi đã đem hết thảy đồ đạc của nàng đi vứt bỏ hoặc quyên góp, gã vẫn không đủ can đảm để ném mấy thứ dầu gội sữa tắm này vào thùng rác.
AJ. giội nước lên tóc Maya. Con bé bắt đầu hát.
“Cháu đang hát gì thế?”
“Bài hát,” nó đáp.
“Bài hát gì?”
“La la. Booya. La la.”
Gã cười lớn, “Cháu chỉ đang bi bô thôi, Maya à.”
Con bé té nước vào người gã.
“Mẹ?” Lúc sau, nó chợt hỏi.
“Ta không phải mẹ cháu đâu.”
“Đi rồi,” Maya nói tiếp.
“Ừ,” gã đáp, “chắc cô ấy cũng không quay về nữa.”
Maya ngẫm nghĩ một chút rồi gật đầu, “Ba hát.”
“Ta không biết hát.”
“Hát,” nó nằn nì.
Con nhóc vừa mất mẹ. Có lẽ đây là điều tối thiểu gã có thể làm cho nó.
Gã chẳng có thời gian lên Google tìm mấy bài hát thiếu nhi nữa. Hồi chưa quen Nic, AJ. từng là giọng nam cao cho The Footnotes, một nhóm hát chay rặt mấy tên đực rựa của trường Princeton. Lúc gã phải lòng nàng thì chỉ tội cho The Footnotes, rốt cuộc, sau một kỳ trốn tập, gã bị đá khỏi nhóm. AJ. nhớ lại buổi biểu diễn cuối cùng của gã ở The Footnotes, chủ đề âm nhạc thập niên 1980 thì phải. Dựa theo chương trình hôm ấy, gã lại lần lượt hát từ “99 Luftballons” rồi chuyển qua “Get out of My Dreams, Get into My Car”, cuối cùng là “Love in an Elevator”. Gã thấy mình hơi hơi ngớ ngẩn.
Gã kết thúc và Maya nồng nhiệt vỗ tay, “Lại đi ạ. Lại đi ạ.”
“Buổi biểu diễn hôm nay chỉ đến đây thôi.” Gã nhấc con bé ra khỏi bồn tắm rồi lau người cho nó, cẩn thận từ đầu tới chân.
“Bóng bay,” Maya nói. “Biêu ba.”
“Gì cơ?”
“Yêu ba.”
“Cháu đang nhại theo lời bài hát vừa nãy à?”
Nó gật đầu, “Yêu ba.”
“Yêu ta? Cháu thậm chí còn chẳng quen ta,” AJ. đáp. “Cô gái bé nhỏ, đừng dễ dàng trao gửi tình yêu đi như thế.” Gã kéo nó lại gần. “Chúng ta đã có một khoảng thời gian thú vị bên nhau. Ít nhất với ta, đó là bảy mươi hai giờ đáng nhớ. Nhưng có những người không thể mãi mãi ở bên cháu được, cô bé ạ.”
Maya ngước đôi mắt lam to tròn băn khoăn nhìn gã. “Yêu ba,” nó lặp lại.
AJ. lau khô đầu rồi hít hà mái tóc của con bé, “Thế này không được đâu Maya à. Nếu ai cháu cũng yêu thì chỉ thiệt thân thôi. Có lẽ, 25 tháng tuổi ngắn ngủi khiến cháu có cảm giác đã quen ta từ lâu lắm. Khái niệm thời gian của cháu đã bị bẻ cong nhiều. Nhưng ta già rồi, cháu sẽ quên ta nhanh thôi.”
Molly Klock gõ cửa căn hộ, “Người của Ủy ban đang ở dưới nhà ạ. Cháu bảo cô ấy lên được không?”
AJ. gật đầu.
Gã ôm Maya vào lòng, cả hai cùng chờ đợi từng tiếng cót két theo bước chân lên cầu thang của cô nhân viên xã hội.
“Maya đừng sợ. Cô ấy sẽ tìm cho cháu một gia đình tử tế. Tốt hơn ở đây. Cháu đâu thể ngủ cả đời trên chiếc nệm futon. Một người sống như thế cũng không phải kiểu người cháu mong quen biết.”
Cô nhân viên xã hội tên Jenny. AJ. chẳng thể nhớ nổi mình đã gặp người phụ nữ nào tên Jenny chưa. Nếu là sách, cô sẽ là một quyển bìa mềm vừa bỏ ra khỏi thùng, không quăn, không bẩn, không nếp gấp ở gáy. Gã muốn gặp một người chuyên nghiệp hơn thế. Chỉ nhìn qua thôi gã đã có thể tóm tắt cuộc đời cô: Một Jenny gan dạ chuyển từ thị trấn Fairfield, Connecticut đến thành phố lớn để trở thành nhân viên xã hội, cô nàng không hề hay biết những gì đang chờ mình phía trước.
“Ngày đầu tiên đi làm của cô à?” Gã hỏi.
“Không, tôi làm được một thời gian rồi.” Jenny đáp rồi mỉm cười với Maya. “Cháu mới xinh đẹp làm sao.”
Maya giấu mặt vào chiếc áo hoodie của gã.
“Hai người có vẻ rất thân thiết.” Cô hí hoáy viết ghi chú vào cuốn sổ tay. “Giờ thế này, tôi sẽ đưa Maya quay lại Boston, xử lý mấy thứ giấy tờ cho cô bé, rõ ràng nó chưa tự làm được việc đó, ha ha. Rồi Maya sẽ được kiểm tra sức khỏe và tâm lý.”
“Tôi thấy nó hoàn toàn khỏe mạnh và thích nghi rất tốt,” AJ. nói.
“Mừng là anh thấy vậy. Bác sĩ sẽ khám xem cô bé có bị chậm phát triển, mắc bệnh hiểm nghèo hay gặp vấn đề gì khác mà mắt thường không nhận ra được hay không. Sau đó, Maya sẽ được gửi tới một trong những gia đình muốn nhận con nuôi trong danh sách, và...”
Gã ngắt lời cô, “Làm sao để có tên trong danh sách nhận nuôi? Nó có dễ như là, ờ, lấy thẻ thành viên của cửa hàng bách hóa không?”
“Ha ha, tất nhiên là không rồi. Phải tiến hành nhiều bước. Nộp đơn, thăm nhà...”
AJ. lại ngắt lời cô lần nữa, “Cô Jenny, ý tôi là, sao cô dám đảm bảo sẽ không đẩy một đứa trẻ vô tội vào tay mấy kẻ tâm thần?”
“Anh Fikry, chúng tôi không nhìn nhận và đánh giá dưới góc độ những người muốn nhận con nuôi đều mắc bệnh tâm thần, nhưng gia đình nào cũng được kiểm tra vô cùng cẩn trọng.”
“Tôi thấy lo lắng vì... ờ, Maya sáng dạ lắm, nhưng con bé cũng rất cả tin.”
“Sáng dạ nhưng cả tin. Một điểm tích cực đấy. Tôi sẽ viết vào đây.” Jenny hí hoáy ghi lại rồi cười với gã. “Sau khi gửi cô bé đến một gia đình nuôi tạm thời không mắc bệnh tâm thần, tôi lại tiếp tục xem xem họ hàng Maya có ai muốn nhận nuôi không. Nếu không, tôi sẽ tìm một nơi ổn định lâu dài cho cô bé.”
“Ý cô là việc nhận bố mẹ nuôi.”
“Vâng, chính xác là như vậy, anh Fikry ạ.” Thực ra, Jenny không bắt buộc phải giải thích tất cả những điều trên, nhưng cô muốn khiến một người Samari nhân hậu[17] như AJ. cảm thấy được trân trọng. “Nhân đây, tôi xin được cảm ơn anh. Chúng tôi cần nhiều hơn nữa những tấm lòng như anh, nhiệt thành quan tâm người khác.” Cô vươn tay đón Maya. “Sẵn sàng chưa bé con?”
AJ. ôm Maya chặt hơn. Gã hít một hơi sâu. Gã thực sự sẽ làm vậy sao? Phải rồi. Lạy Chúa. “Cô nói Maya sẽ được đưa đến một gia đình nhận nuôi tạm thời phải không? Tôi không thể là gia đình đó luôn ư?”
Cô nhân viên xã hội mím môi rồi đáp, “Tất cả các gia đình đó đều phải trải qua quy trình nộp đơn xét duyệt, anh Fikry ạ.”
“Vấn đề là... tôi biết việc này không theo quy trình, nhưng mẹ con bé có gửi lại một lời nhắn cho tôi.” Gã đưa mẩu giấy cho Jenny. “Nguyện vọng cuối cùng của cô ấy là muốn tôi chăm sóc Maya. Tôi nghĩ mình nên nuôi nó. Con bé có một mái ấm tuyệt vời ở ngay đây, tôi không muốn nó phải chuyển đến bất cứ gia đình xa lạ nào khác. Tôi đã Google chuyện đó tối qua.”
“Google,” Maya nói theo.
“Con bé có vẻ thích từ đó, tôi cũng chẳng hiểu sao.”
‘“Chuyện đó’ là chuyện gì vậy?” Jenny hỏi.
“Tôi không bắt buộc phải rời xa Maya nếu mẹ con bé muốn tôi nuôi nó,” AJ. giải thích.
“Ba ba,” Maya liền tiếp lời.
Jenny nhìn vào mắt AJ. rồi cả Maya. Cả hai đều vô cùng kiên định. Cô thở dài. Vốn nghĩ việc chiều nay sẽ rất đơn giản, nhưng giờ mọi thứ bắt đầu phức tạp rồi đây.
Jenny lại thở dài. Dẫu mới tốt nghiệp thạc sĩ ngành Xã hội học mười tám tháng trước nhưng đây đâu phải ngày đầu tiên cô làm việc. Hoặc quá lạc quan, hoặc quá ngây thơ thì cô mới muốn giúp họ. Người đàn ông này độc thân, lại sống trên một cửa tiệm. Giấy tờ rồi sẽ lằng nhằng lắm đây, cô thầm nghĩ. “Giờ thế này, anh Fikry. Hãy nói cho tôi vài điểm về trình độ học vấn, kinh nghiệm chăm sóc trẻ và cuộc sống của anh.”
“Ờm... tôi đang làm luận văn tiến sĩ về Văn học Mỹ thì bỏ ngang và mở hiệu sách này. Đề tài là Edgar Allan Poe. ‘Sự sụp đổ của dòng họ Usher[18]’ là một truyện khá hay về những điều không được làm với trẻ nhỏ.”
“Cũng hay đấy,” và hay ở đây tức là vô dụng. “Anh thực sự chắc chắn muốn nhận nuôi Maya chứ? Điều đó đồng nghĩa với việc cam kết bỏ ra rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc đấy.”
“Không. Tôi không chắc lắm. Nhưng tôi nghĩ, Maya ở với tôi cũng sẽ tốt như bất kỳ ai khác. Tôi có thể vừa làm vừa trông con bé. Với lại, tôi nghĩ chúng tôi hợp nhau.”
“Yêu ba,” Maya nói.
“Con bé cứ nói vậy suốt. Tôi đã cảnh báo nó đừng có tùy tiện yêu thương mà không chắc được đáp lại, nhưng thật tình, tôi nghĩ Maya bị ảnh hưởng bởi tên Elmo xảo quyệt. Con rối đó yêu tất cả mọi người, cô biết chứ?”
“Vâng, biết rất rõ,” Jenny nói. Cô muốn khóc quá đi mất. Riêng chuyện nhận nuôi tạm thời đã là cả núi giấy tờ chứ chưa nói đến nhận nuôi hẳn. Mỗi khi DCF cần tới thăm Maya và AJ. thì còn ai ngoài cô là người lết hai tiếng đồng hồ đến đảo Alice chứ? “Được rồi, hai người chờ tôi gọi cho cấp trên đã.” Hồi nhỏ, cô bé Jenny Bernstein, kết quả tình yêu dưới một mái ấm yên bình đến từ thành phố Medford, bang Massachusetts, luôn mê mẩn những câu chuyện về lũ trẻ mồ côi như Anne tóc đỏ dưới chái nhà xanh[19] và Công chúa nhỏ[20]. Gần đây, Jenny bắt đầu ngờ rằng, chính hệ quả của những lần đọc đi đọc lại mấy câu chuyện đó đã khiến cô gắn bó đời mình với công tác xã hội. Nhìn chung, thực tế thì phũ phàng hơn tiểu thuyết. Hôm qua, bạn học cũ của cô phát hiện ra một bà mẹ bỏ đói cậu con nuôi 16 tuổi khiến nó chỉ còn 19 cân. Hàng xóm ai cũng nghĩ thằng bé mới 6 tuổi. “Mình vẫn tin vào những cái kết có hậu, nhưng khó quá bạn ạ.” Cô bạn đó đã nói vậy. Jenny mỉm cười với Maya. Cô bé thật may mắn.
Giáng sinh năm đó cùng những tuần tiếp theo, đảo Alice xôn xao khi hay tin gã AJFikry, chủ tiệm sách góa vợ nhận nuôi một đứa trẻ bị bỏ rơi. Quả là câu chuyện đáng bàn tán nhất trên đảo Alice kể từ sau vụ trộm cuốn Tamerlane. Thú vị thay, nhân vật chính vẫn là AJFikry. Cả thị trấn vốn luôn nghĩ gã là kẻ hợm hĩnh lạnh lùng, sao người như vậy lại có thể nhận nuôi một đứa nhỏ chỉ vì nó bị bỏ rơi trong tiệm của mình được chứ? Người bán hoa kể lại chuyện bỏ quên cặp kính mát ở tiệm Hải Đảo, chưa đầy một ngày sau liền quay lại tìm mà thằng cha AJ. đó đã kịp quăng đi mất tiêu rồi. “Gã nói tiệm gã không có chỗ chứa đồ thất lạc. Tội nghiệp cặp kính Rayban vintage xinh đẹp của tôi!” Người bán hoa nói. “Đồ vật gã còn làm thế, người thì gã sẽ đối xử thế nào đây?” Hơn nữa, sau chừng đó năm, đã nhiều lần AJ. được kêu gọi tham gia các hoạt động của thị trấn như bảo trợ cho đội bóng, ủng hộ hoạt động bán bánh ngọt gây quỹ vì cộng đồng, mua trang quảng cáo trong cuốn kỷ yếu trung học... Lần nào gã cũng chối phắt với thái độ chẳng hay ho gì. Họ chỉ có thể kết luận rằng việc mất cuốn Tamerlane đã khiến gã chín chắn hơn một chút.
Những bà mẹ trên đảo Alice lo rằng đứa bé sẽ bị bỏ bê. Một tay độc thân thì biết gì về chăm bẵm trẻ con chứ? Vì lý do đó, họ thường tranh thủ ghé qua tiệm sách để cho gã vài lời khuyên và mấy món quà nhỏ như đồ dùng cho trẻ, quần áo, chăn màn và cả đồ chơi nữa. Thấy Maya luôn sạch sẽ, vui vẻ và ngoan ngoãn, các bà mẹ rất kinh ngạc. Rời cửa tiệm xong, họ mới lại bàn tán về hoàn cảnh đáng thương của bé.
Về phần mình, AJ. chẳng ngại những cuộc viếng thăm này. Gã bỏ qua hầu hết mấy lời khuyên. Quà cáp thì gã nhận, dù không phải thứ gì cũng dùng đến và gã luôn phải tẩy trùng một lượt. Gã biết mấy chuyện họ bàn tán sau lưng, nhưng không muốn quan tâm. Gã cũng đặt một lọ Purell[21] trên bàn thanh toán, cạnh tờ chú thích XIN RỬA TAY TRƯỚC KHI BẾ BÉ. Thành thực mà nói, các bà mẹ cũng hiểu rõ vài thứ mà gã không hề biết, chẳng hạn như dạy đi bô (dùng đồ chơi dụ), chuyện mọc răng (xài đá là xong) và tiêm vắc xin (bỏ tiêm phòng thủy đậu cũng được). Hóa ra, Google có nhiều thông tin về cách nuôi dạy trẻ thật đấy, nhưng than ôi, lại chẳng đủ sâu.
Rất nhiều người tới thăm Maya, nhân tiện mua cả sách và tạp chí. AJ. bắt đầu đặt những cuốn sách mà gã nghĩ họ sẽ thích. Gần đây, xu hướng là truyện đương đại về kiểu phụ nữ thừa năng lực vướng vào những cuộc hôn nhân rắc rối, họ thích thú nếu cô ả ngoại tình dù bản thân sẽ không làm thế (hoặc không thừa nhận đang làm thế). Niềm vui của họ là đánh giá ả nữ chính kia. Chủ đề mẹ bỏ con thì không bán chạy lắm, nhưng chuyện mấy ông chồng gặp tai nạn khủng khiếp thường được đón nhận nồng nhiệt (thêm điểm cộng nếu ông ta chết và người vợ tìm được tình yêu mới). Sách của Maeve Binchy[22] khá đắt hàng, cho đến khi bà Margene, vốn là giám đốc một ngân hàng đầu tư, phàn nàn rằng những tác phẩm ấy quá rập khuôn. “Một cô nàng trẻ măng lấy anh chồng điển trai nhưng tệ bạc trên hòn đảo Ireland nhỏ bé. Liệu tôi có thể đọc đi đọc lại mô tip cũ rích ấy bao nhiêu lần chứ?” AJ. cố gắng lắng nghe nốt. “Nếu tính lập nhóm đọc sách thì chúng ta phải có thêm vài thể loại nữa,” bà Margene nói.
“Đây là một nhóm đọc sách sao?” Gã hỏi.
“Không phải hả? Anh không nghĩ mấy lời khuyên nuôi dạy trẻ là miễn phí đấy chứ?”
Tháng Tư có Người vợ Paris[23], tháng Sáu có Cô vợ đáng tin[24], tháng Tám có Cô vợ Mỹ[25], tháng Chín có Vợ người du hành thời gian[26], đến tháng Mười hai thì gã hết sạch mấy quyển có nhan đề về vợ, thế là mọi người đành đọc Bel Canto[27].
“Anh mở rộng mảng truyện tranh thì có hại gì đâu chứ,” Penelope, người phụ nữ trông lúc nào cũng uể oải gợi ý. “Lũ trẻ cần có thứ gì đó để đọc ở đây mà.” Các bà mẹ vẫn thường dẫn con theo cùng để chơi với Maya nên điều đó khá hợp lý, chưa kể đến việc AJ. đã chán ngấy việc đọc đi đọc lại Lũ quỷ ở cuối quyển sách này[28] rồi, nên gã quyết định phải trở thành chuyên gia thể loại sách tranh, dẫu trước đó chẳng hề có chút hứng thú nào. Gã muốn Maya đọc sách tranh văn học (nếu thứ đó có tồn tại), thể loại hiện đại càng tốt, chủ đề nữ quyền thì càng tuyệt vời hơn. Nói không với công chúa hoàng tử. Và ngạc nhiên thay, hóa ra chúng tồn tại thật. Gã đặc biệt thích Amy Krouse Rosenthal, Emily Jenkins, Peter Sis và Lane Smith[29]. Một tối, gã nhận ra mình đang lảm nhảm với Maya, “Thật sự là, sách tranh cũng có những điểm tuyệt vời tương tự như điều ta luôn đánh giá cao ở truyện ngắn. Con hiểu ý ta chứ, Maya?”
Maya nghiêm túc gật đầu và lật giở trang sách.
“Tài năng của những người này thực đáng kinh ngạc,” AJ. nói. “Ta chẳng lý giải nổi.”
Maya vỗ vỗ lên cuốn sách. Họ đang đọc Hạt đậu nhỏ[30], câu chuyện về một hạt đậu phải ăn hết kẹo rồi mới được tráng miệng bằng rau.
“Đó gọi là châm biếm, Maya ạ.”
“Châm,” con bé vừa nói, vừa làm động tác chọc chọc.
“Châm biếm,” gã nhắc lại.
Maya ngước mắt nhìn gã. Thôi được rồi, một ngày nào đó, gã sẽ dạy cho con bé về châm biếm.
Cảnh sát trưởng Lambiase thường lấy cớ mua sách và tới thăm cửa hàng. Để không lãng phí tiền, anh thực sự cũng đọc những cuốn sách đó. Ban đầu, anh chỉ mua sách bỏ túi của Jeffery Deaver và James Patterson (hay là ai đó viết tặng James Patterson nhỉ?), rồi AJ. gợi ý cho anh sách bìa mềm của Jo Nesbo và Elmore Leonard. Lambiase ngay lập tức thích thú với cả hai nên AJ. tiếp tục giới thiệu Walter Mosley rồi đến Cormac McCarthy[31]. Cuốn gần đây nhất là Case Histories của Kate Atkinson.
Bước vào tiệm một cái là Lambiase lập tức hớn hở tuôn một tràng về cuốn sách. “Cứ tưởng tôi chẳng nuốt nổi sách nữa cơ, giờ lại nghiện mất tiêu rồi.” Anh tựa vào quầy thanh toán và nói tiếp, “Bởi vì, anh biết đấy, đó là trinh thám. Có điều tình tiết hơi chậm và phần lớn chưa có lời giải đáp. Nhưng rồi tôi nghĩ, cuộc đời là thế, bản chất công việc vốn như vậy.”
“Có tập tiếp theo rồi đấy,” AJ. thông báo.
Lambiase gật gù, “Chưa chắc tôi đã đọc ngay được. Thỉnh thoảng, tôi cũng muốn chính nghĩa sẽ chiến thắng, kẻ ác phải đền tội, người tốt được hạnh phúc, kiểu kiểu vậy. Một cuốn khác của Elmore Leonard chẳng hạn. Này AJ., tôi đang nghĩ, hay anh với tôi thành lập câu lạc bộ sách cho cán bộ thi hành pháp luật nhỉ. Mấy tay cảnh sát khác có thể cũng thích đọc thể loại này, tôi là sếp, sẽ bắt tất cả mua sách ở đây luôn. Không chỉ cảnh sát đâu, có thể lôi cả mấy tay say mê súng ống vào nữa.” Lambiase lấy chút nước Purell ra tay rồi cúi xuống bế Maya.
“Này, bé xinh. Cháu thế nào rồi?”
“Được nhận nuôi,” con bé đáp.
“Ái chà, tin quan trọng đấy.” Lambiase quay sang AJ. “Này, có đi đường tắt không vậy? Được thật hả?”
Quá trình nhận nuôi tốn khá nhiều thời gian, mới kết thúc vào tháng Chín, ngay trước sinh nhật ba tuổi của Maya. Điểm bất lợi lớn nhất là AJ. không có bằng lái xe (và gã sẽ chẳng bao giờ có nổi vì mấy cơn thần kinh bất chợt), đương nhiên cộng thêm việc gã độc thân lại chưa từng có con, chưa từng chăm sóc vật nuôi hay cây cảnh. May mà cuối cùng, trình độ học vấn của AJ., những đóng góp cho cộng đồng (tức mở tiệm sách) và việc mẹ Maya muốn gã nuôi bé đã giúp được gã.
“Hoan hô!” Lambiase nói, tung Maya lên, đỡ lấy con bé rồi đặt nó xuống sàn. Anh vươn người qua quầy thanh toán và bắt tay AJ. “ Này, tôi phải ôm anh mới được. Quà là một tin đáng ăn mừng đây.” Viên cảnh sát bước ra sau quầy ôm lấy gã.
“Uống một ly nhé,” AJ. nói.
Gã bế Maya lên và cùng Lambiase đi lên tầng. Gã đặt nó xuống nệm nhưng mãi mới ra được (vì phải cho con bé đi vệ sinh, đọc hết hai cuốn sách tranh nữa). Lambiase thì đã mở sẵn rượu.
“Anh sẽ làm lễ rửa tội cho con bé chứ?” Viên cảnh sát hỏi.
“Tôi chẳng theo đạo Cơ đốc hay tôn giáo nào cả nên chắc không đâu,” AJ. đáp.
Lambiase ngần ngừ rồi hớp thêm một ngụm rượu. “Chẳng sao cả, nhưng tôi nghĩ chí ít anh nên tổ chức một bữa tiệc để giới thiệu con bé với mọi người. Giờ nó là Maya Fikry nhỉ?”
Gã gật đầu.
“Mọi người nên được biết chuyện này. Anh cũng cần đặt tên đệm cho con bé nữa. Còn tôi sẽ là cha đỡ đầu của nó,” Lambiase nói.
“Nhận anh thì được gì?”
“Xem nào, tới lúc con bé 12 tuổi và bị bắt vì ăn trộm tại CVS[32] thì tôi có thể can thiệp giúp đỡ đấy.”
“Maya sẽ không đời nào làm thế.”
“Cha mẹ nào chẳng nghĩ vậy,” Lambiase nói. “Về cơ bản, AJ. ạ, tôi sẽ là người dự phòng cho anh. Ai chẳng cần dự phòng chứ.” Anh uống cạn ly rượu. “Tôi sẽ giúp anh tổ chức tiệc.”
“Tiệc của người không theo đạo thì làm kiểu gì đây?” Gã hỏi.
“Chẳng sao đâu. Cứ tổ chức ngay ở tiệm. Sắm cho Maya bộ váy mới ở Filene’s Basement. Tôi cá là Ismay có thể giúp việc này. Qua Costco mua đồ ăn, mấy cái bánh muffin cỡ bự chẳng hạn? Em gái tôi nói một miếng cũng chứa cả đống calo. Thêm vài thứ đồ đông lạnh nữa. Món gì ngon ngon ấy. Tôm chiên dừa hay phô mai Stilton. Vì không phải Công giáo...”
“Và cũng không phản Công giáo nhé.” Gã ngắt lời.
“Ờ ờ, ý tôi là anh có thể mua thêm ít rượu. Ta sẽ mời họ hàng bên vợ của anh, mấy bà anh hay nói chuyện, cả những người quan tâm đến bé Maya nữa. Tức là tất cả mọi người quanh đây ấy. Nếu anh cho phép, tôi sẽ nhân danh cha đỡ đầu đứng lên nói đôi lời. Không phải cầu nguyện, tôi biết anh chẳng thích thú gì, chỉ là mấy lời chúc tốt lành cho con bé thôi. Sau cùng, anh cảm ơn mọi người đã đến, cùng nâng cốc vì Maya. Mọi người vui vẻ dắt tay nhau về nhà.”
“Vậy, về cơ bản là như tiệc sách.”
“Ờ, đúng vậy.” Mà Lambiase đã tham gia buổi tiệc sách nào đâu.
“Tôi ghét tiệc sách,” gã cau có.
“Nhưng anh lại quản lý tiệm sách này,” Lambiase nói.
“Vậy mới khó hiểu,” AJ. thừa nhận.
Bữa tiệc không theo đạo của Maya được tổ chức một tuần trước Halloween. Cảnh sát trưởng Lambiase đã mô tả, ngoại trừ mấy đứa trẻ tham gia mặc đồ hóa trang Halloween thì chẳng thể phân biệt nổi đây là lễ rửa tội của Cơ đốc giáo hay tiệc sách nữa. AJ. nhìn Maya trong bộ váy hồng và cảm thấy thứ gì đó như tình thân đang dần nảy nở. Gã muốn phá lên cười hay đấm thùm thụp vào tường. Gã thấy mình say khướt hay ít nhất đầu óc cũng quay cuồng. Thật điên rồ. Đầu tiên, gã tưởng đó là hạnh phúc, nhưng rồi gã hiểu đó là tình yêu. Thứ tình yêu chết tiệt, gã nghĩ. Thật phiền phức. Nó dám chen vào kế hoạch uống say đến chết và ngăn cản dự định phá hủy việc kinh doanh của gã. Khốn kiếp ở chỗ, khi đã quan tâm đến một thứ gì đó, gã sẽ bắt đầu quan tâm đến mọi thứ xung quanh.
Không, bực mình nhất là gã thậm chí còn dần thích Elmo. Những chiếc đĩa giấy hình Elmo đựng món tôm chiên dừa trên bàn gập. Ở khu vực Sách bán chạy nhất, Lambiase đang hùng hồn phát biểu mấy lời khách sáo mà thực ra rất chân thành về chuyện AJ. đã pha ly nước chanh từ trái chanh như thế nào[33], rồi Maya là cầu vồng sau mưa ra sao, một cánh cửa đóng lại, cánh cửa mới sẽ mở ra... Anh chàng mỉm cười với gã, gã nâng ly đáp lại. Và rồi, dẫu không tin vào Chúa, gã vẫn nhắm mắt lại, thầm cảm ơn bất cứ ai, bất cứ đấng tối cao nào đó, bằng cả trái tim mình.
Chị Ismay, mẹ đỡ đầu của bé, bấu chặt tay gã và nói, “Xin lỗi nhé, chị phải về sớm rồi, chị thấy không khỏe lắm.”
“Vì mấy lời của tay Lambiase à?” AJ. hỏi.
“Có thể là cảm lạnh, chị về trước đây.”
Gã gật đầu, “Có gì thì gọi em nhé.”
Rồi Daniel mới là người gọi tới.
“Ismay vào viện rồi,” hắn thẳng thừng nói. “Lại sẩy thai.”
Hai lần vào năm ngoái, vậy cả thảy là năm lần. “Chị ấy thế nào?” Gã hỏi.
“Mất máu và mệt mỏi. Nhưng cô ấy vẫn luôn mạnh mẽ.”
“Chị ấy là vậy mà.”
“Tệ thật đấy. Nhưng mà, tôi phải bắt chuyến bay sớm nhất đến Los Angeles. Mấy tay làm phim cứ réo suốt.” Họ thường xôn xao trước những câu chuyện của Daniel, dù không ai cuồng nhiệt thực sự cả. “Chú qua bệnh viện xem cô ấy thế nào nhé, chăm sóc đến lúc cô ấy xuất viện giúp tôi.”
Lambiase lái xe chở AJ. và Maya đến bệnh viện. AJ. để Maya lại trong phòng chờ với Lambiase rồi vào thăm Ismay.
“Tại chị cả,” nhìn thấy gã, chị nói ngay. Mắt chị đỏ hoe, làn da tái nhợt.
“Tại gì chứ, chị Ismay?”
“Chị đáng bị thế lắm.”
“Không, chị đừng nói thế.”
“Daniel là một gã tồi, bắt chú phải tới đây.”
“Em rất vui mà.”
“Anh ta lừa dối chị. Chú biết chứ? Lừa dối chị suốt chừng đó năm.”
AJ. không đáp, nhưng gã có biết. Chuyện Daniel gái gú lăng nhăng không phải là bí mật.
“Đương nhiên chú biết rồi,” giọng Ismay khàn khàn. “Ai cũng biết hết.”
Gã chẳng nói gì.
“Chú biết mà không nói. Chị đoán là luật ngầm của cánh đàn ông.”
AJ. nhìn chị, nhìn đôi vai gầy gầy xương xương dưới lớp áo bệnh viện. Bụng chị vẫn hơi tròn.
“Chắc giờ chú đang nghĩ, nom chị thật tàn tạ.”
“Không, em thấy chị đang nuôi tóc dài. Trông hợp lắm.”
“Chú thật tử tế,” Ismay ngồi dậy và cố hôn vào môi gã.
AJ. vội quay đi, “Bác sĩ nói chị có thể xuất viện luôn nếu muốn.”
“Chị từng nghĩ em mình thật ngốc khi cưới chú, nhưng hóa ra không phải. Cách chú chăm Maya, rồi xuất hiện vào lúc này. Chú có mặt ở đây thôi đã là điều đáng quý, AJ. ạ.”
Chị nói và quay lưng về phía gã.
“Chị nghĩ tốt hơn nên ở lại viện qua đêm nay đã. Về nhà cũng chẳng có ai, mà chị thì không muốn ở một mình. Điều chị nói ban nãy là thật đấy. Nic là cô gái tốt. Còn chị thì tồi. Chị cũng cưới phải một kẻ tồi. Nồi nào úp vung nấy, chị biết chứ, nhưng than ôi, chị ghét đơn độc biết mấy.”
❀ ❀ ❀
[1] Bret Harte (1836 -1902): Nhà văn hiện thực nổi tiếng của Mỹ.
[2] Trường đại học của Princeton, bang New Jersey. Đây là đại học lâu đời thứ tư của Mỹ và là một trong tám trường thuộc Liên đoàn Ivy.
[3] Schutzstaffel (có nghĩa “đội cận vệ”): Tổ chức vũ trang của Đức Quốc xã.
[4] Xê ri tiểu thuyết trinh thám của James Patterson.
[5] Omar Sharif (1932-2015): Diễn viên người Ai Cập. Ông có đôi mắt sâu cùng lông mày rậm nên lúc nào trông cũng như đang giận dữ.
[6] Tên gốc: The Book Thief của Markus Zusak.
[7] Tên gốc: Where the Wild Things Are, sách tranh dành cho thiếu nhi được viết và minh họa bởi Maurice Sendak.
[8] Con rối trong chương trình truyền hình Sesame Street ,có giọng the thé và lông xù màu đỏ.
[9] Một nhân vật trong phim Chúa tể của những chiếc nhẫn.
[10] Người yêu của Hamlet, nhân vật trong vở kịch Hamlet của William Shakespeare.
[11] Mẹ của Hamlet, nhân vật trong vở kịch Hamlet của William Shakespeare.
[12] Nữ thần trong vở kịch Macbeth của William Shakespeare.
[13] Một loại nệm của Nhật, có thể xếp mở được.
[14] Tên gốc: The Crucible, một vở kịch của Arthur Miller.
[15] Department of Children and Families (Ủy ban Gia đình và Trẻ em).
[16] Nhân vật trong Những kỳ vọng lớn lao của Charles Dickens (Tên gốc: Great Expectations’), giàu có nhưng khó tính và tàn nhẫn.
[17] Được nhắc tới trong Kinh Thánh, chỉ người rộng lòng nhân ái, sẵn sàng ra tay giúp đỡ người hoạn nạn.
[18] Tên gốc: The Fall of the House of Usher, một truyện ngắn của Edgar Allan Poe, xuất bản lần đầu năm 1839.
[19] Tên gốc: Anne of Green Gables của L. M. Montgomery.
[20] Tên gốc: A Little Princess của Frances Hodgson Burnett.
[21] Dung dịch rửa tay khô.
[22] Maeve Binchy (1940-2012): Tiểu thuyết gia người Ireland.
[23] Tên gốc: The Paris Wife của Paula McLain.
[24] Tên gốc: A Reliable Wife của Robert Goolrick.
[25] Tên gốc: American Wife của Curtis Sittenfeld.
[26] Tên gốc: The Time Traveler’s Wife của Audrey Niffenegger.
[27] Tiểu thuyết của Ann Patchett.
[28] Tên gốc: The Monster at the End of This Book của Jon Stone, sách tranh thiếu nhi dựa theo chương trình truyền hình Sesame Street, có nhân vật Elmo mà Maya yêu thích.
[29] Một số tác giả sách tranh cho thiếu nhi.
[30] Tên gốc: Little Pea của Amy Krouse Rosenthal, minh họa bởi Jen Corace.
[31] Các tác giả tiểu thuyết trinh thám hình sự nổi tiếng.
[32] Chuỗi cửa hàng dược mỹ phẩm ở Mỹ.
[33] Xuất phát từ câu: “When life gives you lemons, make lemonade” (Tạm địch: Nếu đời cho ta những quả chanh, hãy pha thành ly nước chanh).