Vào lúc Cornelia lên đường đến đền thờ Isis, Lucilia và Claudia cùng người anh trai đã về đến nhà. Viên tư tế Flamen vẫn đang miệt mài làm việc trong phòng nghiên cứu; gương mặt nghiêm nghị và đăm chiêu của ông hắt qua cánh cửa khép hờ, cúi thấp trên bàn làm việc. Ngay cả tiếng bước chân vang vọng giữa không gian tĩnh mịch của sảnh đường cũng chẳng thể làm gián đoạn công việc bận rộn của ông.
Quintus chần chừ giây lát; cậu rất muốn bước vào ôm lấy cha, nhưng ngẫm lại rồi cậu quyết định không làm phiền những giờ phút miệt mài muộn màng của ông. Cậu chúc các em gái ngủ ngon, trìu mến vẫy tay về phía dáng người bất động đang cúi gục trên bàn viết, rồi rời khỏi nhà. Đám nô lệ và những người được trả tự do đang chờ cậu bên ngoài.
"Tất cả về nhà đi!" Cậu ngắn gọn ra lệnh.
Gia nhân đã quen với tâm trạng thất thường của cậu nên chẳng ai lấy làm ngạc nhiên. Thế nhưng, Blepyrus lại rùng mình nhắc nhở cậu về vụ tập kích ở phố Cyprius.
"Đừng sợ gì cả," Quintus đáp; "Ta có mang theo vũ khí. Hơn nữa, đêm nay làm sao có ai ngờ lại gặp ta trên phố."
Thế là đoàn tùy tùng tiếp tục bước đi qua khu Diễn đàn La Mã vốn vẫn đông đúc người qua lại, trong khi Quintus rẽ về hướng bắc, băng qua rạp xiếc Circus Flaminius và vùng Field of Mars. Chẳng mấy chốc, cậu đã đặt chân vào trái tim của thành phố cẩm thạch ấy—nơi mà Caesar Augustus đã dựng lên tựa như một phép màu. Một sắc xanh u tịch trùm lên chùm mê cung những trụ cột và mái vòm, những bức phù điêu và tượng đài, những lùm cây và khoảng rừng thưa, nơi ban ngày từng nhộn nhịp những đám người đông đúc tạp nham. Chẳng có ánh sáng nào chiếu xuống chốn hỗn độn của những hình thù mập mờ ấy, ngoại trừ ánh sao mờ nhạt—với thứ ánh sáng bị màn sương che khuất đang báo hiệu những cơn mưa mùa thu; vầng trăng vẫn chưa mọc lên. Sự cô tịch tột cùng, sự tĩnh lặng tột cùng bao trùm khắp chốn. Người lắng nghe suýt tưởng như đang nghe tiếng dòng Tiber cuồn cuộn chảy qua những trụ cầu của Aelian Bridge—hay đó chỉ là tiếng nước róc rách từ một trong số rất nhiều hệ thống dẫn nước vốn vào thời điểm ấy từng là nét chấm phá tráng lệ của thành phố? Một tiếng thì thầm mộng mị và huyền bí biết bao!
Chìm đắm trong cảm giác tĩnh lặng tịch mịch ấy, Quintus Claudius cứ bước đi mãi cho đến tận gần bờ sông. Dưới những hàng cây, bóng tối bao trùm đặc quánh, làn gió lạnh lẽo và ẩm ướt thổi lên từ dòng nước khiến Quintus khẽ rùng mình. Rồi cậu rẽ hướng về phía Via Lata—Con đường Lớn, nay là phố Corso. Cậu chẳng rõ thứ thế lực huyền bí nào đã đẩy mình bước ra nơi bóng tối và sự tĩnh lặng ấy. Cậu có cảm giác như thể mình phải trốn chạy khỏi khối đô thị khổng lồ Roma, khỏi vô số khu chợ, những ngôi đền và điện thờ kiêu hãnh của nó—để rồi giờ đây, cậu lại bị cơn hoài hương bủa vây đối với cái tổ kén quen thuộc, vừa yêu vừa hận của hai triệu sinh linh. Cậu tự lắc đầu trấn tĩnh. Tất cả những gì bất mãn và mâu thuẫn nhất trong bản chất của cậu bỗng hiện lên rành mạch trước lương tâm. Chính xác là theo cách này, cậu đã từng lần lượt trải qua tất cả các hệ thống triết học—lúc thì trốn chạy khỏi những điều mà ban đầu cậu từng tha thiết đuổi theo, lúc lại khát khao những thứ vừa mới bị cậu gạt bỏ; hôm nay là một tín đồ nhiệt thành của trường phái Epicurus, ngày mai lại trở thành môn đồ của phái khắc kỷ Stoic. Thế nhưng, chẳng ở thế giới quan nào cậu có thể tìm thấy sự bình yên và thanh thỉnh cho tâm hồn luôn mưu cầu chân lý của mình. Sự khinh miệt của Zeno đối với mọi niềm vui trần thế có vẻ thật gượng gạo trong trí tưởng tượng nồng nhiệt và thi vị của cậu, trong khi phương pháp và cách thực hành của phái Epicurus—với những chiếc vòng hoa khéo léo che đậy miệng hố sâu thẳm bên dưới—lại khơi dậy trong cậu một thôi thúc mãnh liệt muốn dò thấu đáy sâu ấy. Năng lực Nhân sư cổ đại mà ta gọi là Cuộc đời ấy cứ đặt ra trước mặt cậu một câu đố mới qua từng bước chân, đồng thời vĩnh viễn chối bỏ mọi khả năng giải đáp chúng. Cứ thế, dần dần cậu đã lang thang bước vào con đường đạo đức Via Lata ấy—con đường rộng rãi mà hầu như mọi người La Mã có học thức vào thời đại ấy đều từng bước qua, dù hay hay dở; con đường của thái độ hoài nghi dửng dưng, thứ gạt phăng mọi niềm tin siêu hình bằng những nhát dao gọn ghẽ và cứ thế sống một cách trần trụi qua từng ngày. Chỉ có một vài người, như vị tư tế Titus Claudius, là bám lấy tôn giáo La Mã cổ xưa và thực trọn những giới răn của nó theo nghĩa cao cả nhất, nhờ đó dung hòa được với những nhu cầu của thời đại; phần lớn mọi người đều nhìn những huyền thoại của tín ngưỡng dân gian bằng ánh mắt khinh miệt, song lại chẳng thể thay thế chúng bằng bất cứ điều gì tốt đẹp hơn. Thậm chí, ngay cả những người phụ nữ thuộc tầng lớp trí thức cũng chẳng tìm thấy sự thỏa mãn trong những nghi lễ thờ cúng được thừa kế từ tổ tiên; họ lũ lượt kéo nhau quay sang những nghi thức huyền bí của nữ thần Ai Cập cổ đại Isis—nơi mà từ thời những vị hoàng đế đầu tiên, hàng loạt ngôi đền tráng lệ đã được dựng lên để tôn vinh bà. Bản thân Quintus cũng từng nếm trải dòng suối cạn cợt ấy, nhưng chẳng tìm thấy chút an nào trong đó.
Con đường ngắn nhất để đến nhà Thrax Barbatus đáng lẽ phải đi qua Alta Semita và ngang qua ngôi đền trên đồi Quirinal. Thế nhưng Quintus lại đi đường vòng; sau những trải nghiệm vừa qua, cậu vô cùng e ngại việc tránh né những con phố ít người qua lại; và không chỉ vì định mệnh đã biến cậu thành kẻ tòng phạm trong một hành vi mà theo luật pháp Roma bị trừng phạt bằng những hình phạt khắc nghiệt nhất; giờ đây cậu không thể nghi ngờ gì nữa rằng Eurymachus, Thrax Barbatus và Euterpe đều thuộc giáo phái Nazarene, và chính vào thời điểm này, những biện pháp nghiêm ngặt nhất đang được trù tính để đàn áp các môn đồ của đấng Nazarene. Quả thực, nếu quan điểm của cha cậu được viện nguyên lão chuẩn thuận, thì chẳng gì khác ngoài một cuộc bách hại toàn diện chắc chắn sẽ nổ ra. Trong trường hợp đó, việc cậu nhúng tay vào việc giải cứu và che chở cho một nô lệ theo đạo Cơ Đốc rất có thể sẽ bị khép vào tội phản quốc đe dọa sự an nguy của quốc gia; và dù Quintus chẳng mảy may sợ hãi về cái kết có thể giáng xuống bản thân mình, thì ý nghĩ về nỗi đau buồn của cha lại khiến cậu ngập tràn lo âu.
Cậu quấn chặt tấm áo choàng rộng thêm chút nữa, thận trọng quan sát xung quanh khi rảo bước dọc theo sườn dốc phía tây bắc của ngọn đồi Quirinal. Một đội lính canh thành phố hành quân qua với tiếng bước chân vang dội, khói từ những ngọn đuốc của họ phả hơi nóng vào mặt cậu, thế mà chẳng một ai chú ý hay nhận ra cậu. Những con phố ngày càng trở nên chật hẹp và ngoằn ngoèo hơn, những ngôi nhà càng thêm xập xệ, cả khu phố trông rõ vẻ bình dân. Cuối cùng cậu cũng đến được bức tường thành cổ—theo truyền thuyết là do Servius Tullius xây dựng; vào thời kỳ của các hoàng đế, khu vực này mang tiếng xấu nhất ở toàn Roma. Quintus thận trọng luồn lách dưới chân tường, bởi vẫn còn vài quán rượu mở cửa và buôn bán tấp nập. Những ả đào khốn khổ đến từ Syria và Gades đang hành cái nghề ô nhục của mình dưới ánh sáng đèn đất bập bùng, trong khi những mụ già nhăn nheo mắt kèm nhèm đang múc thứ rượu đục ngầu của vùng Veii từ những chiếc vò đỏ. Những gã đàn ông say khướt nằm ngáy o o dưới gầm bàn, và những khúc hát thô tục gào thét từ những cổ họng khàn đặc, tuy nhiên chúng gần như bị át đi bởi tiếng hò hét náo loạn của hai tên đang chơi trò chẵn lẻ yêu thích bằng những đồng xu đồng.
Bỗng nhiên tiếng ồn ào tăng lên gấp ba lần so với trước; một sự hỗn loạn cuồng loạn diễn ra cùng những tiếng thét xé lòng. Mấy tên cờ bạc đã cãi vã vì khoản tiền cược nhỏ mọn của chúng. Sau một hồi tranh cãi ngắn ngủi, một tên đã rút dao đâm vào mạn sườn tên kia. Kẻ bị thương ngã nhào xuống đất, truên lên đau đớn và kẻ sát nhân liền cắm cổ chạy trốn. Thế nhưng đám vũ nữ, chẳng mảy khựng lại trước thảm kịch vừa rồi, lập tức khua rung nhữngh chiếc xủng xoẻng trong tay một lần nữa, oằn mình uốn éo và quay cuồng trong điệu nhảy nhục nhã của chúng.
Quintus vội vã rảo bước, dạ dày cuộn lên vì ghê tởm. Chưa bao giờ sự hỗn độn vô cảm của thủ đô lớn lao lại hiện lên gớm ghiếc đến thế như vào khoảnh khắc này, trong cái ổ nhơ nhớp của loài người. Chẳng phải thảm kịch nhếch nhác này chính là tấm gương phản chiếu toàn bộ Roma—của đô thị vĩ đại và hùng mạnh với tất cả tội ác, sự khinh miệt đối với nỗi thống khổ của kẻ khác, và ham muốn khoái lạc điên cuồng của nó đó sao? Chỉ mới cách đây ít lâu thôi, cậu cũng từng chứng kiến chính kịch bản ấy, với khung cảnh lộng lẫy hơn và những diễn viên hào nhoáng hơn. Bởi lẽ, những sự kiện trong khu vườn của Lycoris có chút nào kém phần rùng rợn đâu? Chẳng phải ở đó cũng từng nằm một người đang chảy máu và hấp hối, trong khi một ả kỹ nữ—phải! vì ả đàn bà xứ Gaul rực rỡ và kiều diễm ấy chẳng là gì khác ngoài kỹ nữ—đã làm mê hoặc đám đông vô cảm bằng sự quyến rũ của mình đó sao? Ở đó, dĩ nhiên có đủ sự lộng lẫy và xa hoa của sự giàu sang—còn ở đây là sự tàn bạo nhơ nhuốc của nghèo đói; nhưng suy cho cùng, chúng hoàn toàn là một thứ giống hệt nhau, suy cho cùng mỗi bên đều là dấu hiệu rành mành, dễ đọc của sự suy đồi, cằn cỗi và mục nát.
Và đột nhiên Quintus cảm thấy như thể mình được đưa khỏi cuộc sống đang vây quanh, bước vào một bầu không khí và thứ ánh sáng hoàn toàn mới mẻ, lạ lẫm; và điều kỳ lạ nhất là, thứ ánh sáng ấy dường như tỏa ra từ một khuôn mặt nhợt nhạt mà cậu chỉ mới thấy hai lần trong đời; từ khuôn mặt của người nô lệ hèn mỉm và bị khinh rẻ, kẻ từng mỉm cười đầy cao ngạo nhìn xuống những kẻ hành hạ và đao phủ của mình. Liệu có tồn tại một thứ gọi là phép thuật siêu nhiên nào đó chăng? Hay đó chỉ là sự ngưỡng mộ dành cho sự kiên cường của một bản tính anh hùng?
Đã khoảng nửa đêm khi Quintus tìm đến ngôi nhà mà người thổi sáo đã miêu tả cho cậu. Đó là một trong những tòa nhà cao tầng, được xây cẩu thả bởi những kẻ đầu cơ để cho thuê theo từng tầng, vốn mọc lên nhan nhản ở những khu nghèo đói trong thành phố và mang lại hiểm họa khôn lường cho công chúng. Tương đối kiên cố ở tầng trệt, các tầng lầu cứ chồng chất lên nhau cho đến tận tầng cao nhất chỉ là một căn phòng độc nhất, chẳng khá hơn mấy so với cái chòi ván dựng lên ở hội chợ. Những bức tường rạn nứt và bật gốc ở nhiều nơi, và đây đó, nơi cấu trúc khốn khổ ấy đe dọa sụp đổ, cư dân đã cố dùng nhữngh thanh xà để chống đỡ, qua đó càng làm tăng thêm vẻ chênh vênh không an toàn của chúng.
Người nhạc công đón tiếp chàng thanh niên ở lối vào; chín mươi bậc thang—nếu không nhờ ngọn đèn nhỏ của Euterpe thì cậu đã chẳng bao giờ leo lên nổi mà không gặp tai nạn—đã dẫn cậu đến nơi ở của cô.
"Hãy dừng lại đây!" Euterpe lên tiếng khi Quintus định bước lên tầng trên cùng. "Thrax Barbatus không sống hẳn ở dưới những mái ngói đâu;"[270] và vừa nói, cô vừa gõ cửa. Thrax Barbatus mở cửa ra, gương mặt điềm tĩnh, suýt như vui vẻ.
Quintus bước vào một căn phòng mà vẻ ngăn nắp và thoải mái của nó khiến cậu vô cùng thích thú. Một chiếc đèn ba nhánh treo lơ lửng từ trần nhà thấp; những bức tường được sơn màu nâu đỏ một cách gọn gàng; những bức tranh nhỏ vẽ hoa quả nhưng được thực hiện vô cùng tinh xảo nổi bật lên đầy rực rỡ và xinh xắn trên nền tường ấy. Sàn nhà được trải một tấm thảm, dẫu có hơi sờn rách nhưng trông vẫn rất đẹp, gợi nhắc về những ngày tháng sung túc trong quá khứ. Một chiếc bàn, một cái ghế dựa, vài chiếc ghế thấp và một chiếc rương nhỏ làm bằng gỗ sồi sẫm màu cấu thành nên đồ đạc trong phòng—dĩ nhiên là rất đỗi khiêm tốn trong mắt một người La Mã quyền quý, nhưng vẫn vượt xa những gì Quintus từng mong đợi sau khi leo lên một độ cao nhường ấy.
"Chào mừng ngài đã đến ngôi nhà của người tôi tớ," cụ già nói, và Quintus đưa tay ra bắt lấy tay ông. "Chúng tôi đã ngóng chờ ngài trong mỏi mòn. Ta cứ sợ rằng ngài đã đổi ý..."
"Tôi đã hứa là sẽ đến mà," Quintus đáp.
Cậu ngồi xuống một chiếc ghế gỗ, còn Thrax Barbatus tiến đến một cánh cửa ở đầu bên kia căn phòng, mở ra và gọi lớn: "Glauce."
Chỉ trong vài phút, một thiếu nữ bước vào phòng. Khuôn mặt cô dịu dàng và dễ thương, nhưng vẫn vương vết tích của những giọt nước mắt; mái tóc nâu xõa tự nhiên trên đôi vai, chiếc áo tunic buông lơi không thắt đai. Kiệt sức vì lo âu và đau buồn trong những ngày qua, cô đã gục xuống giường và chìm vào giấc ngủ, và giờ đây, khi đang đứng ở ngưỡng cửa, lóa mắt vì ánh sáng và bối rối trước sự hiện diện của vị khách quý phái, cô hiện lên tựa như bức tranh xinh xắn về sự e thẹn và rụt rè của thiếu nữ.
"Lại đây, con gái ngọt ngào của ta, và chào mừng vị ân nhân của Eurymachus nào," Thrax cất lời bằng giọng đầy âu yếm; "chàng trai cao quý này là Quintus Claudius, người bạn của những kẻ khốn cùng. Cậu ấy sẽ cứu vớt nạn nhân đang bị bách hại, giành lại tự do cho anh ấy từ tay Stephanus, và xin hoàng đếân xá."
Glauce đứng sững người trong giây lát; một vệt hồng nhạt thoáng qua đôi má. Rồi, vừa khóc nức nở, cô lao vào vòng tay cha và giấu mặt vào vai ông. Trong khi đó, Euterpe đã dọn sẵn một vò rượu và một đĩa hoa quả lên bàn.
"Chỉ là chút ít lòng thành thôi," cô mỉm cười nói, "và sau quãng đường dài đi bộ vừa rồi, hẳn ngài sẽ không từ chối chút refreshment nhẹ nhàng này."
Rồi, cầm một khúc gỗ thông từ lò sưởi, cô gõ xuống sàn ba nhịp ngắn cách đều nhau.
Cô lắng nghe—mọi thứ tĩnh mịch.
"Anh ấy đang ngủ," cô nói với Thrax, người vừa dỗ dành những tiếng nấc của con gái và giờ đang ngồi xuống chiếc bàn sáng rực ánh đèn.
"Anh ấy xứng đáng được thế!" Glauce lên tiếng.
Euterpe lặp lại tiếng gõ, và lần này đã đạt kết quả tốt hơn. Có tiếng người đang di chuyển ở phía dưới. Chỉ trong vòng hai phút, cầu thang phát ra tiếng cóót kít, và một dáng người rám nắng vóc dáng trung bình thận trọng bước vào phòng. Euterpe bước ra đón và trân trọng giới thiệu anh với Quintus. "Thưa ngài, đây là chồng tôi," cô khiêm tốn nói. "Anh ấy cũng từng góp sức trong vụ mưu sự táo bạo ở công viên, bởi anh ấy vô cùng kính trọng Eurymachus."
"Chắc chắn rồi—ta nhận ra ngươi! Ngươi chính là kẻ đã chìa tay giúp kẻ trốn chạy leo lên con đường mòn hẹp dẫn lên đỉnh sườn núi."
Diphilus kinh ngạc nhìn vào khuôn mặt chàng thanh niên.
"Thưa ngài, đúng là vậy," anh ta ngập ngừng đáp. "Nhưng sao ngài lại biết điều đó?"
"Ồ! Tôi ở ngay gần đó. Giá như tôi tiến lên trước, tôi đã có thể dễ dàng chặn đường rồi."
Diphilus sụp xuống chiếc ghế cạnh Thrax với vẻ ngạc nhiên không giấu giếm, dán chặt mắt vào khuôn mặt chàng thanh niên, như thể muốn khắc sâu những nét mặt của vị đồng minh bí ẩn này vào trí nhớ.
Thrax Barbatus lúc này trang nghiêm giơ bàn tay gầy guộc của mình lên phía trên bàn, tựa như một diễn giả sắp bắt đầu bài thuyết trình. Rồi ông cất giọng trầm trầm:
"Trên hết, các bạn của tôi ạ, hãy ghi nhớ rằng ở Roma này từng hòn đá cũng có mắt và tai,[271] và những bức tường mỏng manh của một khu nhà trọ chẳng khác nào tấm mạng nhện đối với bọn chỉ điểm."
Nữ nghệ sĩ thổi sáo xích lại gần chồng hơn.
"Đúng là sự thật phũ phàng," cô thở dài nói, "tôi suýt chút nữa đã thề rằng..."
"Rằng sao?" Diphilus hỏi.
"Rằng kẻ truy đuổi đã bám sát gót chúng ta rồi."[272]
"Sao cơ?"
"Không, đó chỉ là cảm giác của tôi thôi. Lúc nào tôi cũng chìm trong nỗi sợ hãi tột cùng."
Thrax Barbatus lắc đầu đầy hoài nghi. "Nỗi sợ của con là vô căn cứ," ông quả quyết nói. "Chẳng một ai ở Roma biết về mối thâm tình giữa chúng ta với Eurymachus. Đứa con trai bất hạnh của ta, kẻ đã rời bỏ gia đình khi còn chưa dứt sữa và mãi hai mươi năm sau mới trở về, lúc mà chính ta cũng suýt không nhận ra nó—không đâu, hỡi Euterpe, gương mặt tĩnh lặng của người đã khuất sẽ chẳng hé lộ điều gì cả." Ông đưa tay vuốt mắt.
"Tôi biết," người thổi sáo đáp. "Thế nhưng..."
"Có chuyện gì thế?" cụ già vừa hỏi vừa liếc nhanh xung quanh.
"Khổ thân tôi!" Euterpe thốt lên, "Tôi sợ mình đã quá liều lĩnh. Ngài cứ mắng tôi đi, nhưng tôi không sao kiềm chế được; khi nghe tin Philippus đã được chôn cất ở khu dành cho tội phạm và kẻ bị hắt hủi,[273] trái tim tôi như tan nát, và tôi đã thề rằng ngôi mộ của anh ấy sẽ không bị bỏ trống không có lấy một vật tế lễ thiêng liêng nào. Thế nên tối nay, khi canh gác đầu tiên vừa dứt, tôi đã lén lút đến đồi Esquiline, mang theo một nhành cọ được làm phép giấu trong tà áo để đặt lên mộ anh ấy. Sau một hồi tìm kiếm, tôi đã tìm thấy ngôi mộ, đặt nhành cọ lên đó, thì thầm vài lời cầu nguyện rồi rời đi. Bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng bước chân và tiếng người nói; tôi vội vã cất bước, nhưng chúng đuổi theo tôi, và tình cờ thế nào tôi lại chạm mặt một chiếc kiệu có người cầm đuốc đi kèm. Ánh sáng chiếu thẳng vào mặt tôi dẫu tôi đã quay mặt đi. Cùng lúc đó, tôi nghe thấy một tên trong nhóm kẻ bám theo bắt đầu cất bước chạy. Lúc ấy tôi bấy bời sợ hãi; ngang qua đền thờ Isis ở phố Via Moneta[274] tôi rẽ trái, cắm cổ chạy vào con phố tiếp theo nhanh đến mức suýt va phải hai người phụ nữ vừa bước ra vào lúc ấy. Bóng tối đã che chở cho tôi; tôi thoát thân và tìm đường về nhà bằng một ngả đường vòng. Nếu những kẻ bám theo tôi chỉ là lính canh thành phố thì chẳng có gì đáng nói. Nhưng nhỡ chúng là người của Stephanus thì sao; tất cả bọn chúng đều biết mặt tôi ở Baiae, nơi tôi từng thường xuyên biểu diễn trước mặt chủ nhân chúng. Ồ! Xin hãy nói cho tôi biết, vị mạnh thường quân kính mến nhất, chúng ta phải làm sao nếu nỗi sợ của tôi trở thành hiện thực?"
Những lời này được hướng đến Quintus, bởi cô nhận ra Thrax Barbatus đang vô cùng xúc động trước tấm lòng trân quý của cô dành cho người đã khuất, và cô muốn tránh phải nhận lời cảm ơn.
Quintus Claudius, dẫu vô cùng đồng cảm với Thrax và Eurymachus, vẫn chẳng thể cảm thấy hoàn toàn thoải mái trong hoàn cảnh mới mẻ và kỳ lạ này. Ý nghĩ rằng cậu—một thành viên trong gia đình thuộc viện nguyên lão, con trai của một trong những dòng dõi cao quý nhất đế quốc—lại đi chung chiến tuyến với những người thợ thủ công, những kẻ được trả tự do và đám nô lệ, vốn là điều vô cùng kỳ quặc trong trật tự xã hội đương thời, đến mức ngay cả một tâm hồn cao cả và hào phóng cũng cần có thời gian để dẹp bỏ cảm giác xa lạ và thậm chí là chán ghét ấy. Sau một hồi chần chừ, cậu cất lời hướng về phía Thrax, hỏi ông—như thể nửa như muốn biện minh cho chính mình trong thâm tâm:
"Và ông có dám lấy danh dự và lời thề trang trọng của mình ra để bảo đảm cho sự vô tội tuyệt đối của Eurymachus không?"
"Thưa ngài," Barbatus đáp, "cậu ấy trong sạch và vô tội tựa như mặt trời trên bầu trời kia. Tôi xin lấy linh hồn đứa con trai đã khuất của mình ra để thề! A, ngài chưa biết kẻ bức hại cậu ấy, gã Stephanus tàn độc đến nhường nào—nếu ngài biết, ngài sẽ chẳng mảy may nghi ngờ điều gì nữa. Những tội ác mà gã đàn ông đó đã gây ra trong suốt mười năm qua đang kêu gào thét thấu trời xanh đòi trả thù hệt như máu của chú cừu non bị tàn sát ở Bethlehem! Bản thân tôi đây, như ngài thấy đấy, cũng từng là nạn nhân của con quái vật đó!"
"Cả ông nữa ư? Chuyện đó xảy ra thế nào vậy?"
"Theo cách mà người ta có thể gọi là ‘con đường của Stephanus.’[275] Tôi được thừa kế một gia tài nhỏ từ cha mình và đem ra cho vay lấy lãi; tôi định tích góp thêm chút ít cho con bé Glauce, vì tôi có thể tự kiếm sống bằng nghề thợ rèn. Thưa ngài, hẳn ngài rõ sức lao động tự do ở Roma bị trả rẻ mạt đến mức nào; thế nhưng, dù túng quẫn đến đâu tôi cũng chưa bao giờ đụng đến số hồi môn nhỏ bé ấy. Tôi chỉ tiêu tiền lãi trong suốt năm hoặc sáu năm để dựng lên một mái ấm thoải mái cho Glauce và cho con bé được học hành. Chà, rồi một ngày nọ Stephanus đưa ra một di chúc giả, theo đó số tiền ấy được để lại cho gã dưới một cái cớ vụn vặt nào đó. Hắn ta khi ấy mới chỉ là kẻ tập sự và chỉ dám thử sức với những món nhỏ nhặt, nhưng từ đó đến nay hắn ngày càng tham lam và nuốt chửng cả gia tài của những người có địa vị cao hơn. Thế nhưng, mọi chuyện diễn ra đúng như điều đáng sợ nhất—những nhân chứng giả, những tên luật sư xảo quyệt và những vị thẩm phán bị mua chuộc—tôi đã mất sạch mọi thứ mình có."
"Thật tàn bạo!" chàng quý tộc trẻ thốt lên. "Và không một ai đứng lên bênh vực ông sao? Không có một vị luật sư trẻ tuổi nào đứng ra bảo vệ chân lý vì chính nghĩa sao?"
"Không một ai. Ồ! Stephanus hành động tinh vi hơn ngài tưởng. Hắn mua chuộc những kẻ lẽ ra có thể chống lại hắn bằng những khoản di sản tưởng tượng từ người testator—một số thì hắn dọa dẫm bằng những lời đe dọa bí ẩn—nói tóm lại, hắn đã trở nên giàu có, giàu như Croesus, và tất cả đều nhờ những bản di chúc giả. Hàng trăm nạn nhân của hắn đã ngã xuống trong tuyệt vọng và khốn cùng. Hắn chẳng từ thủ đoạn bạo lực hay phản bội nào; và hắn phạm tội mà chẳng hề bị trừng phạt, bởi hắn có những kẻ chống lưng quyền lực. Người ta đồn rằng Parthenius, viên thị vệ..."
"Đủ rồi!" Quintus ngắt lời. "Thời của hắn rồi cũng sẽ đến; chắc chắn rằng nếu ngày đó đến sớm thì sẽ an toàn hơn cho các vị biết bao."
"Chúng tôi không ngồi yên đâu," Glauce lên tiếng. "Cha tôi giờ đây đã tìm được điều mà ông hằng mỏi mòn hy vọng bấy lâu; một vị mạnh thường quân công chính và uyên bác, người có lòng hào phóng không chùn bước trước bất kỳ sự hy sinh nào. Chắc hẳn ngài đã từng nghe danh Cneius Afranius?"
"Cneius Afranius? Tôi biết rất rõ về ông ấy, và từng gặp ông ấy nhiều lần tại dinh thự của Cornelius Cinna. Ông ấy đang làm râm ran cả lên..."
"Ông ấy đã phát biểu trước Diễn đàn năm hay sáu lần rồi," Thrax háo hức ngắt lời. "Thành công của ông ấy thật rực rỡ.—Ôi! Và thật là một tâm hồn nhạy cảm làm sao! Một trái tim tràn ngập lòng vị tha cao cả. Chỉ vì lẽ phải và sự nhiệt thành dành cho chân lý, ông ấy không quản ngại mệt mỏi trong các cuộc công kích chống lại Stephanus, dẫu cho con cáo xảo quyệt ấy đã nhiều lần né tránh được đòn chí mạng. Đã có hai lần, khi Afranius tưởng chừng sắp sửa đưa vụ kiện ra ánh sáng theo đúng thủ tục, thì một thế lực bí ẩn nào đó lại nhúng tay vào ngăn cản ông ấy.—Tuy nhiên, nếu câu nói 'nước chảy đá mòn' là thật, thì ngay cả Stephanus rồi cũng sẽ có ngày gặp họa."
Quintus ngồi lặng thinh trong giây lát; cậu có vẻ muốn suy ngẫm thật kỹ lưỡng về tất cả những gì vừa nghe, và chẳng ai quấy rầy cậu.
"Bạn của tôi ơi," cuối cùng cậu cất lời: "tôi cũng sẵn lòng giúp đỡ các vị theo cách của mình, trung thực hệt như Cneius Afranius—nhưng trước tiên hãy trả lời tôi một điều. Eurymachus vẫn còn ở Roma chứ?"
"Ở vùng lân cận thôi ạ."
"Và các vị không định tống khứ anh ta đi xa hơn càng sớm càng tốt sao?"
"Thưa ngài, điều đó là bất khả thi," cụ già buồn rầu đáp. "Stephanus đã huy động mọi phương cách. Hàng trăm lính gác và đám lùng bắt nô lệ đang sục sạo khắp nơi; những tấm bảng dán trên tường treo thưởng những khoản tiền lớn cho ai bắt được kẻ trốn chạy; thậm chí người ta còn thỉnh cầu cả các trinh nữ Vestal[276] đưa ra lời nguyền rủa để y bị kẹt cứng trong Roma này. Tóm lại, việc bị phát hiện là điều chắc chắn..."
"Quả thực là vậy, thưa ngài," Diphilus nói thêm. "Và ngài có biết tại sao Stephanus lại làmùm beng lên thế không? Eurymachus nắm giữ một bí mật trong cuộc đời hắn, một tội ác gớm ghiếc, tồi tệ hơn tất cả những gì hắn từng gây ra. Và chính vì lý do đó, ngay tại pháp trường hành quyết, Eurymachus đã bị bị miệng lại."
"Và hơn thế nữa," cụ già tiếp lời, "trong đêm trốn chạy đó, bàn chân cậu ấy bị thương nặng. Hiện tại cậu ấy không thể rời khỏi nơi ẩn náu, ngay cả khi cậu ấy muốn."
"Và rốt cuộc tôi có thể làm được gì cho các vị trong hoàn cảnh này?"
"Xin hãy xin ơn xá cho anh ấy, thưa ngài!" Glauce khẩn khoản kêu lên, hai tay chắp lại van nài.
"Hoặc một hình phạt nhẹ nhàng thôi cũng được," Diphilus nói thêm.
"Có lẽ," Thrax tiếp tục, "ngài thậm chí có thể giúp đỡ Afranius bằng cách gỡ bỏ một số chướng ngại vật đang cản trở tiến trình công lý. Vị phụ thân quyền quý của ngài—chẳng phải ngài ấy có thể làm bất cứ điều gì mình muốn trong những việc thế này sao? Và chẳng phải sự hào phóng của ngài ấy sẽ tha thứ cho tội trốn chạy của Eurymachus nếu có ngài đứng ra biện hộ hay sao? Dĩ nhiên tôi biết Titus Claudius là kẻ thù của đám dân đen; thực tế ông ấy thường xuyên tỏ ra vô cùng nghiêm khắc với những tên nô lệ phạm tội; tuy nhiên, ông ấy là người khôn ngoan và có tầm nhìn xa—vào những lúc thích hợp, ông ấy cũng có thể rộng lượng..."
"Tôi sẽ xem mình có thể làm gì."
“Xin Chúa ban phước lành trên đầu ngài!”
Quintus đăm đăm nhìn người vừa nói.
"Hãy nghe đây," cậu nói sau một khoảng lặng ngắn; "tôi nhầm, hay các vị thực sự thuộc về—như những gì bề ngoài thể hiện—giáo phái Nazarene?"
"Thưa ngài," Barbatus đáp, "khi nói chuyện với vị ân nhân hào phóng của Eurymachus chúng tôi, tôi hoàn toàn có thể quên đi sự thận trọng vốn buộc chúng tôi phải giữ kín tôn giáo của mình. Phải—tôi xin thừa nhận một cách cởi mở, tôi là một trong số những kẻ được sủng ái mà dân chúng gọi là Nazarene. Chúng tôi là những tín đồ Cơ Đốc—tôi và gia đình—chúng tôi tự gọi mình như vậy theo tên vị tổ phụ của tôn giáo linh thiêng, người đã chịu chết dưới thời Pontius Pilate. Cả Diphilus và Euterpe cũng đã chịu lễ rửa tội, nghi thức dâng hiến đóng dấu sự gia nhập của chúng tôi vào giao ước đức tin. Chúng tôi là những người theo đạo Cơ Đốc, thưa ngài, và không một thế lực nào trên trái đất này có thể lôi kéo chúng tôi quay trở lại với những bàn thờ thờ phụng thần tượng của các ngài. Hoàng đế có thể hồi sinh thời kỳ của Nero, ngài ấy có thể gán nhãn tội phạm cho những sinh linh hèn mri và vô tội, những kẻ chỉ có hoài bão duy nhất là sự công chính; nhưng ngài ấy chẳng bao giờ có thể chặn đứng sự bành trướng của Vương quốc Thiên đàng. Thật vậy, thưa chàng trai vô cùng cao quý, tôi xin nói với ngài rằng từng giọt máu đổ xuống lại khơi mào cho những nhân chứng mới về chân lý vĩnh hằng và thần thánh của đức tin chúng tôi."
Cụ già im bặt. Gò má nhăn nheo của ông đỏ bừng.
"Được rồi," Quintus cúi nhìn xuống và nói. "Nhưng hãy trả lời tôi một điều; chẳng phải tín điều của các vị chứa đựng học thuyết nguy hiểm về sự bình đẳng sao? Chẳng phải nó xóa nhòa những ranh giới cổ xưa giữa kẻ quyền quý và kẻ hèn mọn, giữa người tự do và kẻ làm nô lệ đó sao? Chẳng phải nó nhắm tới việc lật đổ trật tự xã hội và hủy diệt hiện trạng đương thời hay sao?"
"Vâng, thưa ngài; chúng tôi thực sự hướng tới việc hủy diệt tất cả những gì tất yếu phải sụp đổ, nếu Vương quốc của Chúa hiển hiện. Chúng tôi giảng dạy về sự bình đẳng, tự do và tình huynh đệ của mọi con người sinh ra từ người mẹ. Nhưng điều này là gì nếu không phải là sự trở về với chân lý nguyên thuỷ, với tự nhiên nguyên bản? Chẳng có gì có thể cản trở chúng ta, ngoại trừ sức mạnh của thói quen hay tư lợi; chính Chúa, và mọi thứ tốt đẹp nhất trong con người, đứng về phía chúng ta. Nơi nào và khi nào một thế lực cao hơn từng trao cho các ngài—những kẻ được chọn—quyền xiềng xích các anh em mình? Nó được viết ở đâu rằng: ‘Ngươi là chủ nhân, còn kẻ khác, kẻ cũng cảm nhận niềm vui và nỗi đau hệt như ngươi, chính là nô lệ của ngươi và phải cúi rạp trước ngươi?’ Nghe có vẻ táo bạo đấy, tôi biết rõ điều đó, hỡi Quintus; nhưng tôi xin hỏi ngài: Có sự khác biệt bản chất nào giữa người con của dòng tộc Claudia và kẻ bất hạnh Eurymachus? Điều đặt ngài lên trên anh ta hoàn toàn chỉ là sự ngẫu nhiên của số phận; còn điều cấu thành nên sự bình đẳng giữa ngài và anh ta chính là ý chí thần thánh và hành động của Chúa. Hay ngài thực sự tin rằng một kẻ nô lệ không bao giờ có thể khôn ngoan, thông minh, đức hạnh, dũng cảm và hào hiệp hơn dòng dõi của một gia đình nguyên lão? Giả sử ngài bị tráo đổi trong nôi, ngài có tưởng tượng rằng tất cả thiên hạ sẽ đọc được dòng chữ ghi nguồn gốc hèn mim của kẻ nô lệ in hằn trên trán y không? Không đâu, hỡi chàng trai cao quý! Khoảng cách giữa các ngài, thứ trông giống như một vực thẳm, thực chất chỉ là một sự phân chia nhân tạo, một hiệu ứng ảo tưởng của trí tưởng tượng, thứ chắc chắn sẽ tan biến trước ánh sáng của sự mặc khải mới. Chúng ta, thậm chí cả chúng ta, những người con của nhân dân—thậm chí cả những kẻ mang xiềng xích và nô lệ, những kẻ đang lao động vất vả và chịu đựng trong các nhà xưởng và ngục tối của các ngài[277]—tất cả, tất cả đều được kêu gọi trở thành con cái của Chúa. ‘Hãy đến với ta, hỡi tất cả những ai mệt mỏi và gánh nặng,’ Đấng Cứu Thế phán, ‘và ta sẽ cho các ngươi sự nghỉ ngơi.’ Phải, và lời kêu gọi của Ngài sẽ chẳng hoài công. Hàng ngàn hàng vạn con người hưởng ứng lời kêu gọi đó[278]—Tại vùng đất xa xôi nhất của Châu Á, ở Ai Cập, ở Hy Lạp, thậm chí ở Hispania và Lusitania, cả những đạo quân tử đạo đang chịu đựng vì cây thánh giá—biểu tượng và dấu hiệu của chúng tôi, đối với người La Mã các ngài là một công cụ tử hình nhục nhã, nhưng với chúng tôi lại là biểu tượng của hy vọng và lời hứa!
"Và cả các ngài nữa—những kẻ giàu sang, quyền quý, những bậc đế vương trên thế giới—chẳng lẽ các ngài không cần sự an ủi, sự chữa lành, không cần ánh sáng cứu rỗi sao? Phải chăng các ngài thực sự hạnh phúc trong sự lộng lẫy đó? Chẳng lẽ các ngài không có khát khao thầm kín về một điều gì đó vĩnh hằng sao? Sẽ đến ngày, khi chính các ngài cũng phải cúi đầu trước cây gỗ ô nhục và tử đạo, khi chính các ngài cũng thấu hiểu con trai người thợ mộc ở Nazareth đã giải quyết tuyệt vời nhường nào câu đố tăm tối của sự tồn tại con người đối với chúng ta. Các ngài sẽ bay cao vượt qua sự hỗn loạn mập mờ của hiện tại phù du, hướng tới những thánh địa của niềm tin, lòng thành kính và ân sủng thiêng liêng."
Quintus ngước nhìn gương mặt của người đang cất lời—gương mặt rực rỡ một thứ bình yên trang nghiêm nhưng đầy đắc thắng—với một cảm giác kinh ngạc đến mức bị thôi miên lạ lùng. Glauce nhẹ nhàng tựa đầu vào vai cha, tựa như chính trong ông, cô tìm thấy và nắm giữ điểm tựa trong cuộc chiến đấu với cuộc đời; và bất chấp nỗi buồn vẫn vương vấn nơi khóe môi, một sự mãn nguyện tĩnh lặng bao trùm lên vương miện trẻ trung tinh khôi. Cô ngồi cúi gằm mắt, hai bàn tay đan vào nhau trong sự kiệt sức nhẹ nhàng. Euterpe và Diphilus đắm chìm trong sự tôn kính say sưa theo từng lời nói của cụ già, người mà trong mắt họ, dường như đang đứng trong ánh hào quang tỏa ra từ thiên đàng.
Quintus vô cùng chấn động trước cá tính của tín đồ kiên định, quyết đoán và đắc thắng trong niềm hạnh phúc này. Sự ác cảm của cậu đối với học thuyết vũ trụ mới mẻ này bắt đầu tan chảy tựa như tuyết trên núi Soracte trong làn gió xuân. Dù lòng tự ái có kịch liệt phản kháng đến đâu, thì sự thật hiển nhiên vẫn chứng tỏ mạnh mẽ hơn. Trong những giờ phút cô độc, những suy ngẫm tương tự cũng từng xuất hiện trong tâm trí cậu, và tự thuyết phục cảm xúc của cậu, thế nhưng sự cáo buộc trật tự xã hội hiện hành chưa bao giờ lại được trình bày một cách táo bạo đến thế trước mặt cậu trước đây. Phải là một trái tim kiên cường và một trí tuệ mạnh mẽ lắm mới có thể phủ nhận tính chính đáng nội tại của một trật tự xã hội hoàn chỉnh như của đế chế La Mã, và cất tiếng gọi trước một dân tộc quý tộc và nô lệ rằng: "Tất cả mọi người đều là anh em!" Sẽ rất đáng giá nếu được tận mắt chứng kiến và lắng nghe thêm về vị Gracchus theo đạo Nazarene này,[279] và dò thấu chiều sâu của nguồn sức mạnh huyền bí đã mang lại sức sống mãnh liệt đến thế cho học thuyết mới, ngay cả sau những cuộc bách hại kinh hoàng của thời Nero.
Tất cả những dòng suy ngẫm ấy ào ạt tuôn trào qua tâm hồn chàng quý tộc trẻ. Cậu không thể tiếp tục chịu đựng sự chật chội của căn phòng nhỏ bé, ngột ngạt ấy nữa. Cậu đứng phắt dậy, cố giấu đi đằng sau nụ cười lịch thiệp vô tâm sự quan tâm và đắm chìm sâu sắc của mình; cậu bước qua bước lại căn phòng nhỏ chật hẹp vài bận, rồi cất lời với một vẻ trịch thượng nhất định:
"Tôi sẽ rất biết ơn nếu trong một cơ hội sớm nhất, các vị có thể kể cho tôi nghe nhiều hơn về học thuyết của các vị; tôi luôn sẵn lòng tiếp thu kiến thức từ nguồn cội. Tạm thời tôi xin phép cáo từ. Sáng sớm mai tôi sẽ dốc hết sức vì Eurymachus; xin hãy cầu nguyện với vị Chúa của các vị, cầu mong Ngài vương miện cho những nỗ lực của chúng ta bằng thành công."
Euterpe tiễn vị khách xuống tận cầu thang, rồi vội vã quay trở lại căn phòng nhỏ nơi Glauce và Diphilus đã dọn dịch chiếc bàn và sắp xếp một bàn thờ nhỏ để dâng lễ tế người đã khuất, cầu nguyện cho kẻ bất hạnh Philippus.
Trong khi những tâm hồn lương thiện ấy đang quỳ gối trong nỗi buồn tĩnh lặng trước cây thánh giá, Quintus rảo bước trở về nhà qua màn đêm với một lồng ngực đập dồn dập; đầu cậu đau như búa bổ và một cuộc đấu tranh dữ dội, thứ chưa từng trải qua trước đây, dường như đang xé nát trái tim cậu. Lên đến đỉnh đồi Esquiline, cậu khựng lại, và khi tựa lưng vào bồn nước của đài phun nước được trang trí những bức điêu khắc các vị thần biển tritons, cậu phóng tầm mắt nhìn về phía tây hướng về thành phố chìm trong màn đêm, thứ đang trải rộng dưới chân cậu tựa như một bức tượng khổng lồ nằm rũ liệt trong giấc ngủ. Cậu hầu như không thể phân biệt nổi những công trình kiến trúc khổng lồ—Amphitheatre Flavian, các cung điện và đồi Capitol. Ngọn đồi Mons Janiculus[280] nổi bật tựa như một đám mây giông sẫm màu hơn chống lại bầu trời đen thẳm, và một tiếng rên rỉ trầm đục cùng tiếng thì thầm vang lên trong không gian hệt như nhịp thở của người khổng lồ đang ngủ say. Một cảm giác cô độc vô tận, nỗi khao khát không thể diễn tả và nỗi sợ hãi kỳ lạ bỗng ập xuống tâm trí cậu.
"Phải, hỡi những tâm hồn cao quý!" cậu rên rỉ, hai tay che lấy khuôn mặt. "Ta sẽ quay lại—ta sẽ sớm gia nhập lại vòng tròn bình yên và hạnh phúc của các vị! Xin thề bởi mọi thống khổ ta từng gánh chịu, bởi mọi nỗi dằn vặt đang gặm nhấm trái tim ta, ta thề sẽ quay lại!"
Và với một tiếng thở phào nhẹ nhõm tựa như một kẻ vừa hồi phục sau cơn trọng bệnh, cậu bước xuống thung lũng.