Nhật Bản Duy Tân 30 năm

Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương III. TRONG LÚC KHAI QUỐC

❊ ❊ ❊

Trên từ chư hầu dưới khắp quốc dân, bỗng chốc đều sáng trí tỉnh hồn, bao nhiêu cái khí khái “khóa nước cự di” đang sục sục như lửa cháy dầu sôi, nay bắt đầu lần hồi tiêu tan đi hết, mà đổi thay chói rạng bằng cái khí khái “duy tân tự cường”.

Nhật Bản nhìn nhận cái ngày Đề đốc Bá Lý đem tàu binh tới ra oai gõ cửa, bắt họ ký tờ ước ở Thần Nại Xuyên, ấy là ngày mở mối duy tân tự cường cho nước họ. Nghĩa là Nhật Bản có kỷ nguyên lịch sử mới, bắt đầu từ ngày ấy mà đi.

Kể về tinh thần thì phải, nhưng về thiệt sự thì chưa. Thiệt sự đến năm 1868, Minh Trị Thiên hoàng 明治天皇 [Meiji Tennou] đem văn võ bá quan tế cáo trời đất tổ tiên thề nguyền 5 khoản, rồi hạ lệnh nhất thiết cải cách duy tân, bấy giờ mới thiệt là ngày Nhật Bản bước vào kỷ nguyên mới.

Cái thời kỳ 13 năm, từ 1854 đến 1867, nội tình quốc sự của Nhật Bản có lắm việc biến động đổi dời, tức là những việc khơi nguồn đắp móng cho cuộc duy tân tự cường của họ. Bởi vậy, trong thời kỳ này, chính thể, quốc tình Nhật Bản ra sao, cùng là ảnh hưởng trí thức của ngoại nhân đối với những hạng duy tân chí sĩ ở Nhật ra sao, ta cũng nên xét qua cho biết.

BỌN NHÀ NHO OÁN TRÁCH MẠC PHỦ VỀ VIỆC MỞ NƯỚC

Như trong khoản dưới chương I đã nói: về đời cận cổ, Nhật Bản sinh ra chế độ phong kiến mới, là Mạc phủ tướng quân, kéo dài một hơi đến 700 năm. Bắt đầu từ Nguyên Lại Triều dựng lên chế độ ấy (Tây lịch 1986).

Ông đại tướng quân thay mặt Thiên hoàng, nắm lấy thực quyền chính trị nước Nhật, tự lập ra chính phủ riêng có thực lực, gọi là Bá phủ 覇府 [Hafu] hay Mạc phủ 幕府 [Bakufu] rồi phong cho các tướng sĩ thân tín của mình, mỗi người làm chúa một châu quận tức là chư hầu; hết thảy ở dưới quyền thống thuộc của đại tướng quân. Họ Nguyên là ông tổ của chế độ Mạc phủ vậy.

Từ đó về sau, trải qua nhiều cuộc trị loạn hưng vong, có mấy lần Mạc phủ thay dòng đổi họ, theo lẽ mạnh được yếu thua. Trong khi đó, Thiên hoàng vẫn truyền nối một hệ thống từ xưa, nhưng ngài chỉ ở ngôi báu làm vì, chớ quyền hành thì không có.

Hồi Đề đốc Bá Lý đem tàu binh vô gõ cửa Nhật Bản, và ký tờ ước Nhật Mỹ ở Thần Nại Xuyên 神奈川 [Kanagawa], chính là hồi Mạc phủ lập ở Giang Hộ 江戸 [Edo], dòng dõi họ Đức Xuyên 徳川 [Tokugawa] làm tướng quân. Chính Đức Xuyên tướng quân đã thuận ký tờ ước Nhật Mỹ vậy. Lúc này trên tướng quân có đức Thiên hoàng ngồi hư vị ở kinh đô, còn dưới tướng quân thì có 300 chư hầu lớn nhỏ, chia nhau cai trị nước Nhật, tình thế rõ ràng là nước phong kiến như Trung Quốc đời Chu, hay là như Âu châu cổ thời.

Họ Đức Xuyên nối nhau làm tướng quân, cầm chính quyền Nhật Bản luôn 250 năm. Trong hai thế kỷ rưỡi đó, chỉ duy có lúc hạ lệnh khóa nước, đuổi các giáo sĩ Bồ và Y, rồi bọn tín đồ Thiên Chúa ở trong xứ nổi lên làm loạn ít lâu, ấy là lúc có nội loạn khiến cho Mạc phủ phải dùng binh lực đánh dẹp mà thôi, ngoài việc ấy ra, cả nước được yên ổn rất lâu dài, ta có thể nói rằng cổ kim đông tây chưa có nước nào được một lúc thái bình vô sự lâu quá như thế.

Nhưng thái bình lâu lắm cũng có chỗ hại; từ tướng quân chư hầu đến sĩ tốt nhân dân, trên dưới đều thong thả vui chơi, luôn mấy trăm năm, không phải động binh luyện võ, thành ra tướng quân vốn lấy võ lực oai trị thiên hạ mà võ lực ấy lâu ngày không dùng, tự nhiên phải suy yếu đi. Thình lình đến lúc có ngoại nhân đem tàu trận tới gõ cửa ra oai, bắt phải khai cảng thông thương, thì Mạc phủ đành phải vâng theo, chớ không thể chống cự mà giữ riết cái chánh sách khóa nước hơn 200 năm nay được nữa.

Bấy giờ cả nước náo động kinh hoàng, nghị luận nổi lên như sấm vang bão dậy; ai cũng xôn xao trách oán Mạc phủ sao có sái phép tổ tiên, bỏ lệ quốc cấm, cho ngoại nhân tới lui buôn bán, để gây điều tai vạ hiểm nghèo cho quốc gia? Dân cho Mạc phủ chuyên quyền làm vậy là bất trung với vua, có tội với nước.

Nhất là đám nhà nho thủ cựu càng quai mỏ già hàm thống trách Mạc phủ hơn hết.

Phải, cùng trong thuở ấy, nước Nhật cũng không khác chi nước Nam mình đây, có đám nhà nho chỉ bo bo thủ cựu, thích rung đùi ngâm thơ, ngoài Nghiêu Thuấn Khổng Mạnh ra họ không biết việc thiên hạ là gì hết. Huống chi Nhật Bản còn có cái tình thế đặc biệt, là trải hai trăm mấy chục năm trời đóng chặt cửa ngõ, cấm tuyệt ngoại nhân, thành ra tình thế bên ngoài ra sao, trong xứ ít có ai hay biết. Lúc ấy quốc dân vẫn đang say mê chuyện đọc sách Tàu, đang sùng bái những Nghiêu Thuấn Khổng Mạnh, mà giữ thói cô lập tự tôn, coi nhỏ thiên hạ, tưởng trên đời không còn có ai và cũng không ai bảnh bao hơn mình. Bỗng chốc có việc ở Phố Hạ phát ra, Mạc phủ nhượng bộ, khác nào một tiếng sét đánh vang lừng, đám nhà nho nghe phải chát tai nhức óc, rồi túa lên bi thương phẫn khích nọ kia, nhưng nhắm lại đó cũng là lý thế tự nhiên, không có chi lạ!

Trái lại, Mạc phủ nắm chính quyền ở trong tay, thường có dịp cùng người Hòa Lan trú ngụ tại Trường Kỳ chuyện trò hỏi han, nhờ vậy mà hơi rõ tình thế Âu Mỹ văn minh ra thế nào, cho nên Mạc phủ tự biết việc khai quốc là nên, là cần, không sao đóng cửa từ khách được nữa.

Song, khốn nỗi lúc này Mạc phủ đã yếu thế đi rồi, chẳng những không đủ sức để cản ngăn làn sóng quốc dân chống chọi oán trách mình, lại cũng không dám công nhiên ra mặt để mở mang cuộc ngoại giao cho thiệt hẳn hoi rộng rãi mới là đúng chỗ cần dùng lợi ích cho nước nhà. Té ra Mạc phủ đã thiếu lòng tự tin, mà cũng không trí dũng đoán, cho nên tiếng rằng mở cửa ngoại giao, chẳng qua chỉ là việc do sự thế bắt buộc vậy thôi, Mạc phủ chập chờn lỡ dở ở giữa khoảng nửa úp nửa mở, nửa làm, nửa không, có hại cho đại cuộc nước Nhật vô số, nếu không thì Nhật có lẽ được duy tân tự cường sớm hơn mươi năm trước rồi.

Ví dụ hồi năm 1854, Mạc phủ đã cùng Đề đốc Bá Lý ký tờ hiệp ước tại Thần Nại Xuyên rồi, trên kia đã nói tờ ước này nội dung rất là giản dị, chỉ nói sơ về khoản ghe tàu đi biển có gặp hoạn nạn trôi dạt vô bờ, thì người hai nước cứu giúp lẫn nhau mà thôi, chớ chưa đả động gì đến việc giao thông mậu dịch. Mới vậy mà nghị luận phản kháng đã nổi lên trong dân gian um sùm, làm cho Mạc phủ lính quýnh. Cách hai năm sau, (1856) viên tổng lãnh sự Mỹ là Cáp Lợi Tư (Harry, theo sách Nhật: 哈利斯) đến tận Giang Hộ yết kiến tướng quân xin đổi lại tờ ước trước kia, mà ký tờ ước hòa thân và mậu dịch cho phân minh; luôn dịp ông ta khuyên Mạc phủ nên mở toang cửa ngõ ngoại giao với tất cả các nước. Rồi đó hai bên ký tờ ước mới, gọi là tờ ước Giang Hộ.

Lúc này, làn sóng phản kháng càng nổi lên cao, Mạc phủ lo sợ quốc luận ồn ào, liền sai sứ đem tờ ước trên đây về kinh đô dâng lên Thiên hoàng ngự lãm và xin Ngài phê chuẩn cho. Song bao nhiêu lâu nay triều đình đã xa cách với thực quyền chính sự, còn các vị công khanh đại thần trong triều cũng không có ông mô hiểu biết sự tình hải ngoại ra thế nào; thành ra triều đình không biết sao mà phê chuẩn tờ ước, để mặc tướng quân nhận lấy trách nhiệm. Vả lại, các ông chư hầu có quyền to thế mạnh, đang muốn dựa oai triều đình để chống phá cái chính sách khai quốc của Mạc phủ, vì họ không chịu thay đổi lệ cũ phép xưa, họ càng tâu bày xúi giục triều đình đừng có phê chuẩn tờ ước.

Bởi mấy lẽ đó, sứ thần của tướng quân phải bồi hồi thất ý ở kinh đô, rồi đành trở về Giang Hộ tay không. Mạc phủ càng thêm lúng túng lo sợ, chẳng biết day trở thế nào! Thiệt, hồi này là hồi nội tình Nhật Bản rắc rối khó khăn: Trên thì có cái triều đình không quen thuộc chính sự, dưới thì có đám chư hầu không thông hiểu ngoại tình, còn quốc dân lại hầu hết thủ cựu, chí sĩ đua nhau hô hào nghị luận vang rùm, bao nhiêu mũi tên đều nhắm cả vào Mạc phủ mà bắn. Võ lực của Mạc phủ đã vì sự thái bình lâu đời mà suy yếu rồi, nay muốn đè ép quốc luận để tự quyền làm việc lợi cho nước nhà, cũng là không đủ sức mới khổ!

Bên trong bị có tình thế khó khăn như vậy, còn bên ngoài thì các nước Âu Mỹ hằng ngày tới thúc giục Mạc phủ mau mau ký điều ước với họ và mở hết các hải cảng ra. Trong lúc đó, quan ngoại giao của Mạc phủ gặp gỡ tiếp rước người ngoài càng nhiều, thì càng biết rằng việc khai quốc là việc phải làm, chớ không thể nào chần chờ thối thác được. Chỉ tiếc rằng Mạc phủ không dám công nhiên tỏ bày lợi hại để hiệu triệu quốc nhân, thống nhất quốc luận, thành ra việc làm vẫn cứ phải làm, mà không dám làm mạnh bạo và bị nghị luận xôn xao công kích hoài!

Dầu sao mặc lòng, ta cũng phải nhìn nhận rằng Mạc phủ cam chịu quốc luận xôn xao công kích, nhưng cứ xóa bỏ chính sách khóa nước đã mấy trăm năm, mạnh bạo mở cửa ra cùng Âu Mỹ giao thông mậu dịch, ấy là Mạc phủ có công lao ở trong cái cơ sở khai quốc của Nhật vậy. Cơ sở này có biết bao là hạng danh nhân chí sĩ, hoặc lấy tri thức, hoặc lấy khí khái, đóng góp tài năng tâm lực vào mà xây dựng lên; có lắm người lấy máu thịt mà đóng góp vào nữa là khác.

MẤY ÔNG CÁC LÃO VỚI VIỆC NGOẠI GIAO KHAI QUỐC

Giữa lúc Đề đốc Bá Lý mới đến Phố Hạ yêu cầu Nhật Bản mở cửa thông thương, thì vừa gặp nhằm lúc Mạc phủ Đức Xuyên có tang sự: Tướng quân Gia Khánh 家慶 [Ieyoshi) mang bệnh qua đời (1853), con là Gia Định 家定 [Iesada) lên nối ngôi, chưa quen việc chính, kế vài năm cũng mất (1858). Tới Gia Mậu 家茂 [Iemochi), tuy còn nhỏ tuổi, nhưng vì là dòng chính, nên được lên nối chức tướng quân cho đến năm 1866 tạ thế. Vậy là trước sau 13 năm trời, ngôi tướng quân ba lần đổi chủ, mà hết hai đời chủ là trẻ con, thành ra bao việc chính đều ủy thác quan hệ ở trong tay mấy ông các lão (閣老 [Kakuro], bực đại thần lão quan của Mạc phủ) gánh vác lo liệu hết thảy. Cũng may có mấy ông này là hạng tuấn kiệt, nặng lòng ưu quốc, rõ biết thời cơ; chính tay mấy ông vun đắp lên cơ sở khai quốc buổi đầu, chớ nếu Nhật Bản gặp phải bọn lão thần ngu muội như tình cảnh một vài xứ khác ở phương Đông này cùng trong lúc đó, thì e vận mạng nước Nhật cũng xui xẻo như ai rồi không chừng. Thế mới biết cuộc hưng vong suy thịnh của một nước, khôn nhờ, dại chịu, có quan hệ ở hạng người chấp chính lắm thay!

Các lão của Mạc phủ lúc bấy giờ đương đầu với cuộc ngoại giao khó khăn và tự nhậm công việc quốc gia trọng đại, cả thảy có bốn người là: A Bộ Chánh Hoằng 阿部正弘 [Abe Masahiro], Quật Điền Chánh Mục 堀田正睦 [Hotta Masayoshi], Tỉnh Y Trực Bật 井伊直弼 [Ii Naosuke] và An Đằng Tín Chính 安藤信正 [Andou Nobumasa].

A Bộ Chánh Hoằng vốn là người để tâm xem xét về sự tình của các nước ngoài, biết rằng Nhật Bản đến lúc không khai quốc không xong, cho nên lúc có tàu Mỹ kéo tới ra oai ở Phố Hạ thì chính ông ta chủ trương khai quốc, chính ông ta quyết định việc ký tờ ước Nhật Mỹ ở Thần Nại Xuyên. Bình thời, ông hay khuyên nhủ thúc giục đám thiếu niên anh tuấn nên đọc sách Hòa Lan, xét việc Âu Mỹ. Lại mướn thầy Hòa Lan tới chỉ vẽ cho Nhật Bản rèn tập về lục quân và hải quân lối mới. Vì một phần gánh vác quốc gia đại nhiệm, lo nghĩ nhọc nhằn quá, Chánh Hoằng phát đau, một phần nữa sức yếu tuổi già rồi, gánh vác đại sự không nổi nữa, bèn tấn cử và giao phó cho Quật Điền Chánh Mục nắm giữ then chốt ngoại giao. Lúc ấy ngoại giao là việc quan hệ hơn hết cho quốc gia. Không bao lâu, Chánh Hoằng qua đời thì Chánh Mục lên nối trọng chức. 

Chánh Mục tuy không tự đọc chữ Hòa Lan được, nhưng mà sai bọn gia thần hằng ngày đọc sách Hòa Lan rồi thuật lại cho mình nghe. Nhờ vậy mà Chánh Mục cũng thông hiểu tình thế hải ngoại nhiều lắm, mới dám mạnh bạo cùng quan tổng lãnh sự Mỹ là Cáp Lợi Tư thương thuyết mà ký hai tờ ước khác về việc thông giao và việc thông thương, như đoạn trên kia đã có nói qua.

Hồi đó dưới Chánh Mục, có mấy tay văn quan anh tuấn, như bọn Nham Lại Trung Chấn 岩瀬忠震 [Iwase Tadanari], Tỉnh Thượng Thanh Trực 井上清直 [Inoue Kiyonao], Xuyên Lộ Thánh Mô 川路聖謨 [Kawaji Toshiakira], đều là hạng có tài năng cao rộng, hiểu rõ việc ngoài. Mặc dầu quốc luận sôi nổi công kích về việc khai quốc thế mấy, bọn này cũng cứ đốc thúc tán thành việc đó là cần dùng cấp bách và hết sức biện bạch lợi hại cho mọi người nghe. Họ chính là hạng tiên phong chí sĩ khai quốc vậy.

7

A Bộ Chánh Hoằng 阿部正弘 [Abe Masahiro] (1819 - 1857) Quật Điền Chánh Mục 堀田正睦 [Hotta Masayoshi] (1810 - 1864) An Đằng Tín Chính 安藤信正 [Andou Nobumasa] (1820 - 1871) Tỉnh Y Trực Bật 井伊直弼 [Ii Naosuke] (1815 - 1860)

Nhất là Nham Lại Trung Chấn học rộng văn hay, có tài hùng biện. Tờ ước Nhật Mỹ ở Giang Hộ, chính là do tay Trung Chấn thảo ra.

Ấy tức là tờ ước mà Mạc phủ sai sứ đem về kinh đô tâu xin Thiên hoàng phê chuẩn, nhưng triều đình để mặc Mạc phủ làm sao thì làm, như chuyện ở trên xa đã nói. Lúc đó Chánh Mục bị Tổng lãnh sự Mỹ là Cáp Lợi Tư yêu cầu phải ký tờ ước này, đem về kinh đô tâu xin Thiên hoàng phê chuẩn chưa xong thì vừa đụng có việc kế vị ở trong nhà tướng quân xảy tới, thành ra Chánh Mục và bọn đồng chí bỗng mất quyền hành. Thế là tờ ước Giang Hộ trên đây còn đang lôi thôi chưa biết triều đình nhất quyết lẽ nào, thì trong ngôi các lão ở Mạc phủ đã có chuyện tan rã, thay quyền đổi tay.

Tới đây, Tỉnh Y Trực Bật phò ấu chúa là Gia Mậu và gánh lấy đại sự, làm như thủ tướng của Mạc phủ, có toàn quyền nhiếp chính, gọi là Đại lão 大老 [Tairou]. Lúc này cả kinh đô và toàn quốc, những kẻ không chịu sự mở cửa giao thông, càng sôi nổi xôn xao dữ lắm. Mấy tờ ước đã bàn định ổn thỏa rồi, phần nhiều có cơ đến phải hủy bỏ.

Nhưng Tỉnh Y là người can cường quyết đoán, mỗi việc gì cũng hỏi han các lão là Tùng Bình Trung Ưu 松平忠優 [Matsudaira Tadamasu] rồi tự mình gánh vác trách nhiệm nặng nề một cách rất là mạnh bạo. Tháng 7 năm 1858, Tỉnh Y cứ việc ký tên trong tờ ước mới với Mỹ, ấy chính là tờ ước Giang Hộ đã nói kia vậy. (Tờ ước này qua năm sau hai bên có thêm vô mấy khoản về ngạch thuế nhập cảng, còn đại thể thì cứ giữ mãi tới năm Minh Trị thứ 27 tức là 1894, nghĩa là lúc Nhật Bản duy tân hùng cường rồi, tuy phải sửa lại toàn văn, mà đại ý vẫn để y cũ không đổi; vậy càng tỏ ra thuở tân cựu giao thời, về việc ngoại giao, Nhật Bản đã có tay cứng lắm rồi).

Hồi năm 1858, sau khi tờ ước Nhật Mỹ ở Giang Hộ đã ký rồi, có nhiều nước khác đến xin Nhật Bản ký ước với họ, thì cũng phỏng theo kiểu mẫu của tờ ước Giang hộ này cả. Bởi vậy tờ ước Giang Hộ đối với lịch sử duy tân của Nhật Bản là một việc trọng yếu lắm.

Lúc ấy theo chân và bắt chước Mỹ quốc mà được cùng Nhật Bản ký kết giao ước, có Anh, Nga, Pháp và Hòa Lan; người Nhật gọi chung là “Ngũ quốc đính ước” (五国訂約).

Tuy các nước lấy sự tử tế mà yêu cầu Nhật Bản mở cửa nước ra cùng họ ký tờ giao hảo thông thương, chớ trong đó họ vẫn giữ lấy phần hơn và không đãi Nhật Bản bằng cách bình đẳng. Liệt cường đãi Nhật hồi đó cũng như kiểu đãi Trung Quốc mấy lâu nay vậy. Nghĩa là ở trong những cửa biển Nhật Bản mở ra làm chỗ ngoại quốc thông thương, có vạch riêng từng khu vực cho ngoại nhân ở tự do, gọi là “cư lưu địa” 居留地 [Kyoryuuchi], tức là tô giới (concession). Thuế ở đất cư lưu, về phần ngoại nhân thu, cho tới ngoại nhân có kiện thưa hay phạm tội gì, hoặc riêng họ với nhau, hoặc dính với người Nhật, cũng đều do quan lãnh sự của họ xử phân, gọi là “lãnh sự tài phán quyền 領事裁判権 [Ryoujisaibanken]”, (droit d’exterritorialité), chớ họ không chịu quyền xử phân của quan tòa Nhật, vì họ cho pháp luật của Nhật còn non nớt thấp thỏi, không đáng xử người văn minh.

Ngay lúc bấy giờ, người Nhật cũng biết thế là mất quyền, là nhục quốc, nhưng ban đầu đành phải cam chịu, không biết làm sao. Đến sau khai quốc rồi, không ngày nào mà chính phủ và quốc dân Nhật không phấn phát lo toan để xé những điều ước bất bình đẳng ấy đi. Có cách lo toan nào khác hơn là mình tỏ ra mình mạnh; hễ mình mạnh thì tự nhiên người ta phải nhường bước và coi mình ngang vai bằng bậc ngay. Trải mấy chục năm Minh Trị duy tân, Nhật Bản đã tỏ ra họ mạnh, nên chi đến năm Minh Trị thứ 27 (Tây lịch 1893), đầu hết là Anh quốc cùng Nhật sửa tờ ước cũ, ký tờ ước mới, không còn có tô giới và quyền lãnh sự tài phán nữa.

Kế tới trận Trung Nhật chiến tranh, là đám vật lộn giữa “cậu tý hon” với “ông khổng lồ”, mà cả lục quân, hải quân Nhật Bản bá chiến bá thắng, làm cho binh mã nhà Thanh chạy thối bán chết, manh giáp không còn. Liệt cường thấy vậy phải nảy ra tấm lòng kiêng nể Nhật Bản. Bấy giờ các nước Mỹ, Nga, Ý, Đức, Pháp, Áo, Hung… hết thảy đều nối chân Anh quốc, cùng Nhật sửa lại điều ước khác hẳn. Tóm lại, đến cuối năm Minh Trị thứ 30, tức là năm 1897, tất cả các nước Âu Mỹ đều cùng Nhật xé bỏ ước cũ, ký lại ước mới, lấy tinh thần rất bình đẳng mà đãi Nhật; thế là bao nhiêu cái dấu vết táng quyền nhục quốc ở trong những điều ước ký với ngoại bang bắt đầu từ năm 1854 trở đi, tới nay Nhật Bản tỏ sức mạnh của mình ra mà bôi trơn rửa sạch vậy.

Nhân nói chuyện “Ngũ quốc đính ước” trong lúc Mạc phủ mới khai quốc mà cây viết kéo thẳng tới chuyện 40 năm về sau, giờ ta lại nên trở về gốc cũ mà nói tiếp theo cho biết những tay lão thần chí sĩ của Nhật lo toan công cuộc khai quốc lúc ban đầu hết sức khổ tâm và đến đỗi lưu huyết ra thế nào?

MÁU CỦA CÁC TƯỚNG TIÊN PHONG KHAI QUỐC

Trên kia đã nói hồi đó người Nhật hầu hết vẫn đang mê man Nho học, có thói tự đại tự tôn, rất mờ mịt tối tăm về tình thế Âu Mỹ. Trừ ra có đôi ba chục người được đọc sách Hòa Lan và năm bảy ông lão thần phò tá Mạc phủ, hơi biết sự thế ngoại quốc, là hiểu cái chỗ nước nhà cần kíp khai quốc mà thôi. Thiệt nhờ có hạng cầm quyền và hạng có học ngoài như thế, nước Nhật mới được mở mặt mở mày, chớ nếu họ cũng tối tăm cố chấp như nhất ban dân chúng thì dòng giống non sông Đại Hòa đâu có vẻ vang rực rỡ như ngày hôm nay.

Nhưng lúc ban đầu, mấy người đi tiền đạo tiên phong mạnh bạo khai quốc, mà bị dân chúng xôn xao công kích, thiệt họ mang lấy khổ tâm ở vào khổ cảnh, không biết sao mà nói cho cùng.

Hơn 250 năm khóa chặt hải cảng, cấm tuyệt ngoại nhân, nay Mạc phủ tự biết là sự cần dùng lợi ích cho nước nhà, mà mở cửa giao thông với ngoại bang, không thế không được. Song, dân chúng cho là việc trái nghịch với phép nước lệ xưa, nổi lên la ó rầm rầm: Mạc phủ chuyên quyền làm xằng! Mạc phủ phá hoại quốc pháp! Lúc trước, một vị các lão phò tá tướng quân, cầm quyền Mạc phủ là Quật Điền Chánh Mục, sai sứ đem tờ ước Giang hộ (tờ ước Nhật Mỹ thông thương) về kinh đô xin Thiên hoàng phê chuẩn mà không xong, kế tới Tỉnh Y Trực Bật lên nối chức thế quyền, nghĩ mình là bậc đại lão Mạc phủ, thôi thì cứ việc quyết định ký tờ ước với Mỹ cho xong, rồi sau tâu lên cho Thiên hoàng hay cũng được, vì đó là việc ở trong chức quyền của mình được tự tiện mà.

Song, bọn chí sĩ tôn quân không chịu như thế; họ cho đại lão Tỉnh Y làm chuyện tự chuyên thế ấy là thất kính với đức Thiên hoàng ở trên, và lại làm cho ấu chúa (chỉ vào tướng quân Gia Mậu đang còn nhỏ tuổi) mang tiếng bất nghĩa. Thành ra dư luận nổi dậy như núi đổ sấm vang, trách tội Mạc phủ đáo để, cái khí phẫn uất của dân lúc này ồn ào nóng nảy quá, không thể nào cản được. Tuy vậy, Tỉnh Y cũng ra sức đè nén cái làn sóng phản đối và cứ việc hô hào chủ trương khai quốc. Khốn nỗi, phe tán thành thì hiếm hoi, còn phe phản đối thì đầy tràn trong nước. Bọn oán trách Mạc phủ và phản đối chính sách khai quốc, đến đỗi kết phe lập hội, dùng tới võ lực, ai tán thành khai quốc thì họ “làm thịt”. Lúc này mặc dầu có bọn chí sĩ vì phạm tội quốc sự mà bị hạ ngục rất nhiều, nhưng phong trào phản đối vẫn cứ nồng nàn sôi nổi.

Chính mình Tỉnh Y, giữa ngày 24 tháng 3 năm 1860, từ nhà riêng đi vô trong thành bái yết tướng quân, bị mười mấy người tử sĩ đón đường đâm chết. Tỉnh Y là người thứ nhất bị thiệt mạng vì chính sách khai quốc vậy.

Nghĩ lại, bước đầu duy tân cải cách của một quốc gia nào cũng phải có những sự rối loạn hy sinh như thế. Người Nhật nhìn nhận rằng máu của Tỉnh Y và những kẻ tiếp theo Tỉnh Y, chính là những tài liệu để xây dựng lên đài văn minh cường thịnh của Nhật Bản ngày nay.

Tỉnh Y là người sáng suốt dũng cảm, chỉ vì yêu nước, lo sự lợi ích cho nước mà bị chết oan mạng, chừng đó oai quyền Mạc phủ càng suy, quốc luận xôn xao càng gắt. Đã vậy rồi các nước bắt chước Mỹ quốc mà tới yêu cầu kết giao với Nhật mỗi ngày mỗi đông, làm cho Mạc phủ ở trong cái cảnh ngộ càng thêm khó khăn bối rối hơn nữa. Nhưng đến đây, việc nước đã làm thì đành phải làm tới, chớ không sao thụt lui được nữa. Bởi vậy Mạc phủ thây kệ quốc luận công kích xôn xao, lại nghe lời thỉnh cầu thông thương của nước Bồ Đào Nha, rồi cùng nước này ký một tờ ước, y như kiểu đã ký với năm nước trước kia.

Người đứng giữa con sóng ngoại giao, trước mũi tên quốc luận hồi này là An Đằng Tín mục. Trong nước chê bai chính sách khai quốc của Mạc phủ càng ngày càng hồng hộc như trận bão cơn giông, nhất là sau khi Tỉnh Y Trực Bật bị đâm chết, rồi, bọn phản đối lại hay dùng võ lực đánh đập xâm phạm tới ngoại nhân nữa.

An Đằng ở cảnh khó khăn như thế mà điều đình được êm thấm và không thất tín với liệt cường, thật là có công ngoại giao nhiều lắm. 

Rồi sau, An Đằng cũng bị bọn phản đối đón đường chém cho một dao, nhưng may khỏi chết.

Bọn phản đối chính sách ngoại giao khai quốc đây, có cái danh hiệu là Nhương Di đảng 攘夷党 [Jouitou], mục đích của họ hết sức chống ghét ngoại nhân; nói rõ, là người Âu Mỹ, mà họ cho là hạng man di nhung địch.

Nghĩ cũng thú vị ly kỳ cho cái thuyết Nhương Di của người Nhật hồi đó, ban đầu có một ý nghĩa, rồi sau có một ý nghĩa khác. Ban đầu, họ khi rẻ Âu Mỹ, cho là di địch, cho nên nhất thiết họ cự tuyệt bài trừ, không chịu cùng Âu Mỹ giao thông, không muốn cho Âu Mỹ vào trong nước họ. Rồi một lúc sau, có dịp cho họ hoảng hồn sáng mắt, ngó thấy Âu Mỹ rõ ràng tài, mạnh, khôn, giỏi, mình phải học theo bắt chước mới được, thì bấy giờ mau mau họ tỉnh ngộ tự tân, cố học lấy những tài hay sức mạnh của Âu Mỹ sinh tồn cạnh tranh, một ngày kia lấy ngay gậy ông đập vào lưng ông cho sướng!

Ấy, nhờ họ có cái tinh thần mau tỉnh ngộ tự tân và tỉnh ngộ rồi thì rất hăm hở mạnh bạo về sự tấn hóa cho nên cuộc duy tân tự cường của họ được mau thành công kết quả đó.

MẤY TIẾNG SÚNG LÀM TAN MẤT KHÔNG KHÍ NHƯƠNG DI

Kể ra người Nhật coi Âu Mỹ như di địch và có óc cự tuyệt ngoại nhân trải đã lâu đời rồi, chớ không phải đến hồi bắt đầu khai quốc này mới có đâu. Căn do phát ra thiệt từ 300 năm trước, bọn giáo sĩ Bồ, Y cậy thế lộng hành, gây nên một phen rối loạn trong nước, thành ra Mạc phủ phải hạ lệnh khóa cửa, xua đuổi ngoại nhân. Ban đầu Mạc phủ lại truyền lệnh Nhương Di khắp nước, dạy dân cư xung quanh mé biển hễ thấy ghe tàu ngoại nhân kéo tới thì phải đánh đuổi đi. Người Nhật có lòng ngờ ghét ngoại nhân, phần nhiều bởi đó mà ra.

Về sau Mạc phủ tuy có bớt phép nghiêm cấm đi, nhưng mà chuyện xưa còn in sâu trong óc dân, và lại lòng dân ngờ ghét ngoại nhân lâu ngày đã thành thói quen, chôn chặt vào trong trái tim khối óc rồi. Bởi vậy đến lúc khai quốc lòng người nổi lên phản đối mới dữ.

Bao nhiêu đời nay nước nhà vẫn nghiêm cấm ngoại giao, đến giờ bỗng chốc bị ngoại nhân kéo tới nài ép phải ký điều ước nọ kia, tuy là Mạc phủ cùng ít nhiều chí sĩ thức thời tự biết chính sách “khóa cửa cự di” là không thể ôm giữ được nữa, nhưng mà chư hầu và quốc nhân hầu hết không hiểu tình thế ngoại bang liệt cường ra sao, thành ra họ thấy Mạc phủ khai quốc thì túa lên, phản đối dữ dội.

Lúc này trong hai trăm sáu chục chư hầu nước Nhật, có hai chư hầu đất lớn thế to, vào bậc cường phiên 強藩, là Tát Ma 薩摩 [Satsuma] và Trường Châu 長洲 [Choushuu] chống chọi chính sách khai quốc gắt gao hơn hết. Bao nhiêu kẻ chí sĩ bất bình kéo đến đất nước của hai cường phiên mà âm mưu hoạt động, rồi phong trào phản đối dữ tợn tràn lan khắp nước.

Họ nhao nhao lên cầu khẩn đức Thiên hoàng xuống chiếu khu trừ ngoại nhân; hoặc muốn lấy thế dân tâm dân khí mà ép buộc Mạc phủ không khai chiến với ngoại nhân không được. Nhưng Mạc phủ và hạng chí sĩ thức thời đã dư hiểu sức mạnh của Âu Mỹ và cũng dư hiểu sự khai quốc là sự cần dùng lợi ích cho Nhật Bản, thế thì Mạc phủ có khờ dại gì sinh sự khai chiến với Âu Mỹ mà mang hại cho quốc gia, vả lại chống cự liệu được mấy hơi?

Nhất là đám sĩ phu đã chịu giáo dục Hán văn, tức là bọn nhà nho, thuở nay vẫn tự tôn tự đại, khinh rẻ người Tây phương, cho người Tây phương là di địch, bây giờ thấy Mạc phủ chủ trương khai quốc, tiếp rước ngoại nhân, thì họ phùng mang trợn mắt, la ó nhiều hơn ai hết.

Họ bất bình cùng trong một lúc kêu gào toan tính cả hai chủ nghĩa: Một là tôn vương, nghĩa là phá đổ Mạc phủ đi, khôi phục quyền chính Thiên hoàng như 700 năm về trước; Hai là nhương di, tức là xua đuổi nhất thiết ngoại nhân, chẳng giao hảo thông thương gì ráo.

Năm 1861, dân tâm quốc luận đang phực phực như lửa nóng nước sôi thế ấy, lại nhè xảy ra một việc ngoại giao rắc rối, làm như lửa cháy còn đổ dầu thêm. Ấy là việc Nga quốc bỗng dưng đem binh chiếm giữ lấy cù lao Đối Mã 対馬 [Tsushima], định làm một nơi đồn lũy cho đội chiến thuyền của họ đóng tại Thái Bình Dương. Mạc phủ hết sức năn nỉ mà Nga không chịu rút binh đi, trả đất lại cho Nhật. Sau Mạc phủ phải cậy ông công sứ Anh can thiệp gần nửa năm trời, bấy giờ Nga mới chịu lui. Nhưng Mạc phủ cậy mượn ngoại bang cứu giúp mình như thế, làm cho dân tâm càng thêm tức giận, và từ đó lại càng thù ghét ngoại nhân.

Tóm lại bọn thủ cựu bất bình, trước hết còn lấy ngôn luận kêu gào, kế sau dùng tới thủ đoạn tàn sát. Hoặc chém những người chủ trương tán thành việc khai quốc; hoặc đâm giết mấy tay lão thần mưu quốc trong phủ tướng quân, tức như chuyện Tỉnh Y Trực Bật bị giết chết và An Đằng Tín Mục thọ thương đó. Muốn làm cho Mạc phủ phải khai chiến mà nguy, và muốn khiêu khích cho thành cuộc đại biến, nên họ lại tới mấy nơi hải cảng thông thương, kiếm chuyện gây gổ với ngoại nhân rồi đập phá cửa nhà và chém giết người ta nữa. Lúc này có nhiều ngoại nhân bị hại; đến đỗi một quan Thông ngôn của công sứ Mỹ quốc cũng bị bọn thủ cựu bất bình đón đường đâm chết, làm cho công sứ các nước đều phát giận, rủ nhau hạ cờ xuống, bỏ Giang Hộ mà đi Hoành Tân.

Người các nước ở Nhật Bản hồi này đều lấy làm nguy; hai nước Anh Pháp phải đem binh ở dưới tàu lên thành Giang Hộ để bảo hộ dinh công sứ của họ tại đó. Vậy cũng chưa đủ, các nước suy nghĩ tất phải ra oai trừng trị để cho bọn thủ cựu bất bình ở trong nước Nhật khiếp vía một phen, có vậy thì sau ngoại nhân mới ở yên ổn được. Ấy là họ tính thế ra oai giữ mình vậy thôi, chớ hẳn không dè đâu rằng mấy phát súng thần công của họ sắp bắn ra, chính là tiếng chuông đồng hồ báo thức, làm cho người Nhật tỉnh ngủ vùng dậy, đổi ngay đầu óc, rồi thì ba chân bốn cẳng, chạy rượt theo kịp Âu Mỹ trên đường tấn hóa văn minh!

Các nước chủ tâm nhè mấy cái đầu nào cứng nhất mà gõ vào ít hèo, tự nhiên toàn thân phải rúng, họ biết lúc bấy giờ hai chư hầu Tát, Trường là hai cường phiên đứng đầu phản đối khai quốc và thù ghét ngoại nhân hơn cả, cho nên họ quyết tới giữa nhà hai cậu này mà trừng trị một phen cho biết mặt nhau chơi.

Năm 1863, mấy chiếc tàu Anh kéo tới bắn phá thành trì Lộc Nhi đảo 鹿児島 [Kagoshima], là đất phong của chư hầu Tát Ma 薩摩.

Qua năm 1864, bận này lớn chuyện hơn bốn nước Anh, Pháp, Mỹ, Hòa Lan hợp tàu binh lại thành một đại đội, rầm rộ kéo tới Hạ Quan 下関 [Shimonoseki], là đất thuộc về chư hầu Trường Châu mà chĩa súng vào bắn phá rầm rầm.

Hai hiệp súng này chẳng có ý nghĩa chi là cách cừu thù đối chiến; chẳng qua chỉ như câu chuyện “trò” Nhật mới định tựu học nhà trường văn minh mà lại có ý khinh thầy, ghét thầy, cho nên “thầy” Âu Mỹ muốn gõ sơ một vài cây thước dằn mặt vậy thôi!

Nhưng, thiệt là hai hiệp súng tỉnh hồn duy tân, hai hiệp súng cứu tinh độ mạng cho người Nhật được trở nên vẻ vang tốt đẹp.

Thiệt vậy, lúc bấy giờ hai cường phiên Tát Ma, Trường Châu và tất cả bọn nhà nho tự phụ, bọn thủ cựu bất bình, nghe hai hiệp súng tan thành bể núi này rồi, ai nấy đều mở mắt giật mình biết rằng ngoại nhân có súng lớn tàu to thế nọ, tài cao sức mạnh thế kia, mình đây dễ gì đuổi xua chống cự họ được. Chống cự họ mãi sẽ đến nguy hại quốc gia trước mắt cho coi. Trời ơi! Họ không phải là di địch đâu, ta “nhương” gì nổi? Vả lại có muốn “nhương” họ thì ta cũng phải làm sao có những súng lớn tàu to, tài cao sức mạnh như họ, hay là hơn họ mới được chớ. Thôi bây giờ mình phải khai quốc, phải cùng họ giao hảo hòa thân, không còn có thể nào đừng được nữa.

Vậy rồi trên từ chư hầu dưới khắp quốc dân, bỗng chốc đều sáng trí tỉnh hồn, bao nhiêu cái tâm não, cái khí khái “khóa nước cự di” hôm đang sục sục như lửa cháy dầu sôi, thì nay bắt đầu lần hồi tiêu tan đi hết, mà đổi thay chói rạng bằng cái tâm não, cái khí khái “duy tân tự cường”, đầu dây mối nhợ thật là mở ra từ đây.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.