Nhật Bản Duy Tân 30 năm

Lượt đọc: 73 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VII. HIẾN PHÁP NHẬT BẢN

❊ ❊ ❊

Hiến pháp nước Nhật ban hành năm 1889, kể ra thật là đơn giản. Toàn văn chỉ có 76 điều; đầu hết nói về quyền vị của đức Thiên hoàng; thứ đến nghĩa vụ quyền lợi của nhân dân, rồi tới Đế quốc nghị hội, Quốc vụ đại thần, Khu mật viện, Tư pháp, Tài chính…

16

Quang cảnh buổi lễ ban bố Hiến pháp Nhật Bản năm 1889.

Chương trên nói riêng về lai lịch từ khi có phong trào chính trị hoạt động nổi lên cho tới lúc có Hiến pháp ban hành; chương này nói riêng về Hiến pháp, đại khái nội dung và thực tế của nó ra thế nào, chắc hẳn cũng có ích cho những người ưa nghiên cứu chính trị. Nói chi một ngày kia thế nào xứ mình lại chẳng phải có Hiến pháp ra đời.

TINH THẦN HIẾN PHÁP NHẬT BẢN

Đây nên nhắc sơ lại một câu chuyện đã nói ở chương trên, vì nó có ảnh hưởng tới gốc tích của Hiến pháp.

Ấy là câu chuyện xảy ra hồi tháng 7 năm Minh Trị thứ 14, chính phủ bàn tính đem bán những tài sản thuộc về của công ở Bắc Hải Đạo 北海道 [Hokkaidou]. Cách tính xử trí như thế làm cho dư luận nổi lên bất bình dữ dội. Nhất là Đại Ôi Trọng Tín đang làm Tham nghị trong triều, ra sức phản đối kịch liệt hơn hết. Đại Ôi thấy việc này, bèn suy nghĩ rằng nếu muốn cho dứt cái tệ Phiên phiệt làm ngang đi, thì không gì hơn là sớm mở Quốc hội. Tức thời ông thảo ra tờ biểu để dâng lên Thiên hoàng, một hai xướng nghị đến năm Minh Trị thứ 16 phải mở Quốc hội mới được, Minh Trị Thiên hoàng đi tuần du các tỉnh miền đông bắc trở về, nội đêm nhóm các đại thần và tham nghị lại, bỏ việc chánh phủ tính làm kia, rồi qua ngày hôm sau hạ chiếu hẹn kỳ mở Quốc hội vào năm Minh Trị thứ 23 (1890). Nhưng vì cái tội khởi xướng gấp mở Quốc hội, nên họ Đại Ôi cùng anh em đồng chí của ông ở trong triều, đều bị bãi chức về vườn hết.

Cuộc chính biến này có ảnh hưởng tới địa vị chính trị của dân Nhật nhiều lắm, ta nên chú ý ba điều:

1. Nếu không có Đại Ôi đánh bạo hối thúc, thì chắc chính phủ chưa quyết định năm nào mới ban Hiến pháp, e đến năm Minh Trị thứ 23 cũng chưa có Quốc hội mở ra đâu.

2. Cái kế hoạch của Đại Ôi bị thất bại, có ảnh hưởng tới sự khuynh hướng của nước Nhật chẳng nhỏ. Người Nhật nói nếu việc Đại Ôi chủ trương mà thành công, thì chẳng những là Nhật có Quốc hội mở ra sớm hơn, mà ngay chế độ Hiến pháp cũng không giống như chế độ thi hành bấy lâu nay.

Sao vậy?

Chỉ vì Đại Ôi vẫn hâm mộ muốn bắt chước cái lối nghị viện chính trị của nước Anh, vả lại bộ hạ của ông, nhiều hạng thanh niên học thức, cũng ham thích những học thuyết chính trị của Anh tự do hơn. Ví dụ Hiến pháp do tay Đại Ôi thảo ra, chắc là noi theo mẫu mực Hiến pháp Anh quốc, chớ không phải như Hiến pháp do Y Đằng noi theo Đức quốc vậy.

3. Đại Ôi về vườn rồi cùng Bản Viên hoạt động chính trị, làm cho thế lực của dân được nâng cao lên, chính phủ không dám khi thị như lúc trước nữa.

Năm Minh Trị thứ 14, sau khi Đại Ôi về vườn rồi, thì người trọng yếu ở triều là Y Đằng Bác Văn. Qua năm sau, Thiên hoàng sai Y Đằng lo thảo Hiến pháp.

Y Đằng qua Âu châu hai phen để nghiên cứu, rồi về mới thảo ra bản Hiến pháp dâng lên, được triều đình chuẩn y; ấy là bản Hiến pháp ban hành từ năm 1889, còn giữ tới nay.

Giờ muốn biết rõ tinh thần của Hiến pháp Nhật Bản thi hành từ năm 1889 ra thế nào, tưởng ta nên đọc một đoạn tự thuật của Y Đằng là người thảo ra Hiến pháp đó như vầy:

“Nước Nhật có tình hình riêng, không thể nào bốc lột trọn cả Hiến pháp của một nước ngoài nào đem về làm ép cho được. Ví dụ như ngôi vua có gốc nguồn sâu xa ở trong quốc sử, lòng dân bao giờ cũng khắng khít tôn sùng. Xưa kia là đời quốc gia còn lấy thần quyền làm chủ, chớ chưa thành ra cuộc phong kiến, thế mà ngôi vua đã là trụ chốt thể thống của nhà nước rồi.

Nay muốn khảo cứu để lập ra Hiến pháp mới, về chỗ cầm chừng cái đại quyền của vua, tất nhiên phải thận trọng cho lắm, mới được, cốt để ủng hộ cái quyền sẵn có từ xưa, hầu cho ngôi báu không phải là một cách chỉ đặt ra làm vì mà thôi.

Nhưng chính thể Lập hiến, điều cốt nhất là phải làm sao bảo hộ những sinh mạng, tài sản, danh dự, quyền lợi của chúng dân. Nếu muốn bảo hộ những cái đó của dân cho được hẳn hoi, thì quyền lớn của Thiên hoàng, cần phải có cách cầm chừng mới đặng. Ví bằng quyền ấy không có cách cầm chừng thì không kể là muốn làm chính thể Lập hiến ra thế nào đi nữa, nó cũng không đứng vững được.

Còn điều khác cũng phải lo liệu sắp đặt, là làm cho các chư hầu phong kiến xưa cùng với chế độ mới ngày nay được dung hiệp với nhau. Trong hàng chư hầu, có dòng họ bà con với nhà vua không phải là số ít; thuở xưa mấy ông vốn có thực quyền làm chúa một đất, cai trị một dân; đến nay tuy phong kiến đã bỏ, nhưng dân chúng đối với mấy ông, cũng vẫn có lòng tôn sùng, vả lại mấy ông cũng vẫn truyền nối nhau dùng những danh hiệu vua phong cho đời trước. Vậy nay Hiến pháp mới bày ra, cũng phải sắp đặt làm sao cho mấy ông đó được có nơi có chốn tử tế.

Lại Hiến pháp mới, đem các thứ quyền lợi nọ kia phú cho dân chúng, ấy là tự đấng quân vương sẵn lòng ban cho quốc dân để cho quốc dân được hưởng mọi sự vẻ vang tốt đẹp, chớ không phải có dấu tích gì tỏ ra dân chí ép buộc dành cướp quân quyền; điều đó không bày tỏ ra cho rành rẽ không được”.

Rút ở bài Đế quốc Hiến chính chi do lai 帝国憲政之由来 chính Y Đằng viết trong bộ Nhật Bản khai quốc ngũ thập niên sử của Đại Ôi Trọng Tín.

Ta nghe Y Đằng nói như vậy, thì ra cái chủ ý của Hiến pháp Nhật có bốn điều:

Ủng hộ cái đại quyền của vua sẵn có xưa nay;

Vì quyền lợi của dân mà phải hạn chế bớt cái quyền lực của Thiên hoàng;

Các phong kiến chư hầu thuở trước, nay ở trong Hiến pháp cũng có địa vị;

Nhân dân có quyền lợi nọ kia chiếu theo Hiến pháp, là tự vua sẵn lòng ban cho, chớ không phải tự dân đòi hỏi.

Xem Y Đằng lấy cái tinh thần thận trọng như thế làm gốc để soạn ra Hiến pháp, thì đủ rõ Hiến Pháp Nhật Bản thi hành từ 1889, chủ nghĩa của nó thật khác hẳn với chủ nghĩa Tự do tiến bộ của bọn Bản Viên, Đại Ôi. Vả lại ở trong Hiến pháp Y Đằng vẫn giữ cái màu mè bảo thủ của đám Phiên phiệt, nhắm không lạ gì.

Lấy toàn thể mà nói, thì Hiến pháp Nhật Bản dựa theo chế độ Quân chủ Lập hiến (君主立憲 [Kunshu Rikken], Monarchie constitutionnelle) của Đức quốc hồi trước phần nhiều, rồi châm chế theo lịch sử và quốc tục cùng là cách tổ chức riêng của xã hội Nhật Bản mà định ra. Đức quốc hồi xưa có cái thuyết đế vương thần quyền, với Nhật Bản có sự tín ngưỡng ngôi vua muôn đời một hệ; hai bên lý tưởng có khác gì nhau.

HIẾN PHÁP SẮP ĐẶT QUYỀN HẠN CỦA VUA VỚI DÂN RA THẾ NÀO?

Hiến pháp nước Nhật ban hành năm 1889, kể ra thật là đơn giản. Toàn văn chỉ có 76 điều; đầu hết nói về quyền vị của đức Thiên hoàng; thứ đến nghĩa vụ quyền lợi của nhân dân, rồi tới Đế quốc nghị hội, Quốc vụ đại thần, Khu mật viện, Tư pháp, Tài chính…

Đồng thời tuyên bố mấy đạo mệnh lệnh đặt ra Quý tộc viện, Chúng nghị viện, cùng là phép tắc bầu cử các viện ấy.

Bởi vậy, nay ta muốn biết qua cách thức sắp đặt chính trị ở nước Nhật thì ta phải xét qua mấy đạo mệnh lệnh nói đây mới rõ đặng. Trước xét về hình thức đã định ra theo phép; sau xét về thực tế ở ngoài.

Theo Hiến pháp 1889 đã định, thì cách thức sắp đặt chính trị của nước Nhật, làm theo lối tam quyền phân lập như các quốc gia văn minh gần đây. Tư pháp (pouvoir judiciaire) thì giao trọn cho các quan tòa một cách độc lập lâu dài, không có gì động phạm tới được. Lập pháp (pouvoir légistatif), thì do Đế quốc nghị hội 帝国議会 [Teikokugikai], gồm hai viện Quý tộc 貴族 [Kizoku] và Chúng nghị 衆議 [Shugi] hiệp lại. Còn Hành chính 行政 [Gyousei] (pouvoir excécutif) thì ký thác trong tay Thiên hoàng cùng Quốc vụ đại thần 国務大臣 [Kokumu daijin] là các quan lớn trong triều thân cận phò tá Thiên hoàng.

Song, nội ba quyền, có quyền Hành chính rốt lại cao hơn hai quyền kia. Thiên hoàng làm đầu Hành chính, lại lấy tư cách là đấng quốc gia nguyên thủ tóm thâu cả quyền thống trị, y theo Hiến pháp mà thi hành mọi việc. Như thế là về quốc chính, Thiên hoàng nắm giữ cả hai quyền lớn Lập pháp và Hành chính (Tư pháp nằm ở trong Hành chính, điều đó khỏi nói), một tay ngài thi hành sai khiến nhất thiết. Trong Hiến pháp định rõ rằng: “Nhật Bản do đức Thiên hoàng muôn đời một hệ cầm quyền thống trị” (日本以萬世一系之天皇統治之). Chính Y Đằng có viết một cuốn sách bằng chữ Anh, sau có người dịch ra chữ Hán, trong đó, Y Đằng cắt nghĩa về Hiến pháp Nhật Bản, cũng nói rõ địa vị của Thiên hoàng Nhật, khác hẳn các đấng nguyên thủ bên Âu châu: “Chẳng những ngài làm vua mà thôi, còn thống trị nữa”.

HÀNH CHÍNH

THIÊN HOÀNG - Đầu bộ Hành chính là Thiên hoàng, Thiên hoàng là đấng thống trị tối cao của quốc gia.

Quyền lực của Ngài không những coi sóc Hành chính, mà coi sóc cả Lập pháp nữa. Ngài có quyền xem xét, chuẩn y luật pháp để sai thi hành; ngài vời nhóm nghị hội; ngài tuyên bố khai hội, bế hội, đình hội và giải tán Chúng nghị viện khi nào ngài muốn. Trong lúc quốc gia có việc gì khẩn cấp, thì vì sự giữ gìn trị an hay là lo tránh tai họa, dầu trong khi ấy không nhằm kỳ nhóm nghị hội, Thiên hoàng có quyền ra những sắc lệnh cần dùng để thay thế pháp luật. Ngài có quyền định ra ngạch quan, lệ quan, lương quan văn võ và bổ dụng hay bãi chức quan viên văn võ lúc nào tùy ý.

Ngài thống đốc tất cả hải quân, lục quân, không quân trong nước; có quyền tuyên chiến, giảng hòa hay ký điều ước cùng các nước. Ngài ra lệnh giới nghiêm 戒厳 [Kaigen] (état de siège). Ngài phong tước vị cùng các vinh hàm. Ngài có quyền đại xá, ân xá, giảm tội, phục quyền.

Ta xem những chức quyền kể ra trên đây, thì biết Thiên hoàng Nhật Bản, về lập pháp, về hành chính cùng là nội trị ngoại giao, đều có quyền trọng đại độc lập đến thế nào! Nhất là có quyền ra sắc lệnh trong khi quốc gia có việc khẩn cấp, và một mình ngài tự ý quyết định những việc khai chiến, giảng hòa, ký ước như thế, nội hàng nguyên thủ các nước lập hiến đời nay, thật ít có ông nào được rộng quyền tới bực đó.

NỘI CÁC - Dưới Thiên hoàng thì có Quốc vụ đại thần 国務大臣 [Kokumu daijin] hay là Nội các phò tá Thiên hoàng, gánh vác trách nhiệm; nhất thiết giấy tờ gì thuộc về việc nước, phải có một vị đại thần Quốc vụ ký tên với Thiên hoàng mới có hiệu lực.

Kể theo phép nước, thì Quốc vụ đại thần là tay sai thân cận của Thiên hoàng, thay thế Thiên hoàng mà lo trách nhiệm; nhưng kể lẽ công, thì trách nhiệm của Quốc vụ đại thần phải chịu, chỉ là đối riêng với Thiên hoàng thôi. Quốc vụ đại thần tức là Nội các (Cabinet), gồm tất cả các ông tổng trưởng các bộ, ông làm đầu hết gọi là Nội các tổng lý đại thần 内閣総理大臣 [Naikaku Souri Daijin] (premier ministre), quen kêu là thủ tướng.

KHU MẬT VIỆN - Ngoài Nội các, có Khu mật viện 枢密院 [Suumitsuin]. Cơ quan này để khi nhà nước có công việc gì trọng yếu, thì Thiên hoàng hỏi ý kiến. Khu mật viện đại thần cùng Quốc vụ đại thần đều là bực quan lớn thân cận phò tá Thiên hoàng.

Những lúc cần ra mệnh lệnh khẩn cấp, cần ra luật giới nghiêm, hay là phân xử về những việc tài chính quan hệ đặc biệt, Thiên hoàng phải hỏi ý kiến Khu mật viện, nhưng mà ý kiến đó ngài vẫn có quyền tự do nghe theo hay là bác bỏ cũng đặng.

Theo Hiến pháp định, nhất thiết quốc gia đại chính, Thiên hoàng phải hỏi ý kiến Khu mật viện đã đành, mà tự Khu mật viện cũng có quyền bàn soạn và xướng nghị nữa. Xem vậy thì biết Khu mật viện có địa vị lớn lao ở trên đàn chính trị Nhật Bản, nhất là bởi những người được sung vào viện này, nếu không là bậc quốc gia nguyên lão, thì cũng hạng danh vọng hưu quan và mấy tay học vấn uyên bác.

Khu mật viện ở Nhật là một cơ quan ít thấy nước nào có. Tuy Anh quốc có cơ quan hơi giống, gọi là Hội đồng tư mật (Privy Council), nhưng đến địa vị và quyền hạn so sánh với Khu mật viện của Nhật thì khác hẳn nhau.

LẬP PHÁP

ĐẾ QUỐC NGHỊ HỘI - Hiến pháp Nhật Bản đặt ra Đế quốc nghị hội 帝国議会 [Teikokugikai], gồm cả hai viện Quý tộc và Chúng nghị nhập chung lại mà thành lập. Lấy danh nghĩa mà nói, đại khái cũng như ở nước Pháp khi bầu tổng thống hay là khi nhà nước có đại sự, ví dụ như muốn sửa lại Hiến pháp thì cả Thượng nghị viện (Sénat) cùng Hạ nghị viện (Chambre des députés) nhóm chung lại ở đền Versailles thành ra Quốc gia hội nghị (Assemblée Nationale) vậy.

QUÝ TỘC VIỆN - Quý tộc viện 貴族院 [Kizokuin] ban đầu mới lập, định số nghị viên có trên 300 người; đến năm 1925, tăng lên 420 người.

Những người sau được sung vào viện Quý tộc:

Các ông hoàng thân đúng tuổi; Hạng quý tộc được phong tước Công 公 [Kou] và tước Hầu 侯 [Kou]; Hạng quý tộc được phong tước Bá (伯 Haku], tước Tử 子 [Shi], tước Nam 男 [Dan], thì mỗi họ nhóm hội đồng tộc chọn lựa mỗi họ mấy người sung vào Quý tộc viện; Nghị viên sắc tuyển là hạng có công lớn với quốc gia hay là có học thức danh vọng cao, bất cứ ở giai cấp nào, Thiên hoàng hạ sắc kén chọn và phong làm nghị viên trong viện Quý tộc. Hạng người nạp thuế nhiều hơn hết ở các phủ huyện, cũng do Thiên hoàng hạ sắc kén chọn. Gần đây lại chọn thêm bốn người ở trong Học sĩ viện 学士院 [Gakushiin] ra nữa.

Trong năm hạng trên đây, hạng 3 và hạng 5, kỳ hạn làm nghị viên 7 năm, còn ba hạng 1, 2 và 4 thì mãn đời.

Xem cách tổ chức Quý tộc viện thế ấy, hoàn toàn là một cơ quan đại biểu cho những bậc quý tộc, phú hào và quan liêu. Những bậc này đều là phần tử có đặc quyền trong xứ, và có cái tinh thần phong kiến như xưa.

CHÚNG NGHỊ VIỆN - Chúng nghị viện 衆議院 [Shugiin] ban đầu có trên 300 nghị viên, đến năm 1925 tăng lên 464. Tính ra trong 12 muôn người, có một người làm nghị viên.

Cách tổ chức viện này, có thể lệ riêng, chớ trong Hiến pháp không biên định rõ.

Phép tuyển cử đại khái là chia trong nước ra từng khu tuyển cử lớn; mỗi phủ huyện (nên biết phủ huyện bên Nhật tức là tỉnh ở các nước khác) là một khu, mỗi đô thị lớn cũng thành riêng một khu. Mỗi khu cử ra mấy nghị viên tùy theo dân số.

Nước Nhật cũng dùng cách tuyển cử có hạn chế. Mấy hạng người đúng lệ sau đây mới có quyền đầu phiếu:

Con trai đúng 25 tuổi; Phải có chỗ ở luôn trong khu tuyển cử 1 năm trở lên; Từ một năm trước và sau đó cũng thế, có nạp thuế chánh ngạch 15 yên (円 yen) trở lên. Người ra ứng cử, cũng phải là hạng có tư cách và nạp khoản thuế như trên mới được.

Bởi vậy ban đầu cả nước Nhật chỉ có 45 muôn người có quyền tuyển cử mà thôi. Lệ ấy giữ mãi đến năm 1900 mới sửa lại; người ra ứng cử không bị hạn chế về mặt tài sản phải có bao nhiêu; còn người đầu phiếu thì sự hạn chế tài sản cũng giảm xuống, ai đóng thuế ruộng hay thuế khác 10 yên và đóng được một năm rồi, tức thị có quyền đi bỏ thăm.

Nhờ nới rộng ra như thế, nên số dân tuyển cử tăng lên được 150 muôn.

Tới năm 1919, lại nới rộng nữa: Ai nạp thuế 3 yên, đủ tư cách là người cử tri. Số dân tuyển cử tăng lối 300 vạn.

Từ đây trở về trước, chế độ tuyển cử ở Nhật hạn chế ít người như thế, rõ ràng Hiến pháp chỉ cho những người về giai cấp hữu sản nhiều ít mới được quyền bỏ thăm nhất là có ý thiên trọng về hạng địa chủ tài chủ, chớ chưa có tinh thần dân trị bao nhiêu. Mãi đến năm 1925, thì mới thi hành chế độ Phổ thông tuyển cử 普通選挙 [Futsuu Senkyo] (Suffrage universel).

Từ đó tới nay, phàm là đàn ông dân Nhật, 30 tuổi trở lên, chẳng kể có đóng thuế gì hay không, hết thảy đều có quyền tuyển cử Chúng nghị viện. Số dân bỏ thăm bèn lên đến 13 triệu người. Thế là từ năm 1925, dân Nhật mới thiệt là có quyền tham chính và chính trị Nhật mới bắt đầu ngả về con đường dân trị vậy. Ấy là nhờ nơi thế lực dân chúng khoảng 15 năm nay tiến lên mạnh lắm.

Theo lệ, những người làm quan lại trong triều ngoài quận, cùng là thầy tu, học trò, thầy giáo tiểu học, cho đến những người bao thầu công việc tạo tác của chính phủ, đều không được phép cử làm nghị viên.

Quý tộc viện và Chúng nghị viện, mỗi viện đều có chánh nghị trưởng, phó nghị trưởng. Với Quý tộc viện thì chánh phó nghị trưởng do Thiên hoàng chọn người sắc phong. Còn Chúng nghị viện cũng do Thiên hoàng kén chọn 3 người trong viện, để cho viện bỏ thăm cử lên làm nghị trưởng.

Cũng như Hạ nghị viện các nước, sổ dự toán công nho của nước Nhật mỗi năm, chính phủ phải đưa ra Chúng nghị viện xem xét, có công nhận mới được. Duy có nhiều khoản chi tiêu thuộc về đại quyền của Thiên hoàng (như lương quan văn võ, quân phí hải lục và mấy khoản do theo điều ước mà phải chi tiêu) cùng là các khoản phí dụng của chính phủ theo như nghĩa vụ pháp luật đã định, nếu không được chính phủ đồng ý, thì nghị viện không có quyền bác đi hay giảm bớt. Tóm lại, Hiến pháp cho Quốc hội có quyền về tài chính hẹp lắm.

Nhất thiết pháp luật gì cũng phải trải qua Đế quốc Nghị hội, nghĩa là hai viện Quý tộc và Chúng nghị họp chung lại bỏ thăm công nhận thi hành thì mới có hiệu lực. Hai viện Quý, Chúng, đều có thể trình ra những pháp án 法案 [Houan] (Projets de loi) để viện xét định. Lại được xướng nghị cùng chính phủ, tâu bày lên Thiên hoàng. Đánh thuế mới, giảm thuế cũ, cũng phải do Đế quốc Nghị hội đồng ý.

Còn Hiến pháp, khi muốn sửa sang thay đổi điều gì, duy có Thiên hoàng và chính phủ mới được xướng nghị, chớ Nghị hội không được, Nghị hội chỉ có quyền bàn bạc và quyết định thôi. Không như bên Pháp, chính Hạ nghị viện có quyền xướng nghị sửa sang Hiến pháp, rồi đưa ra Quốc gia hội nghị (Assemblée Nationale) quyết định. Té ra bộ Lập pháp ở các nước khác cao, mà ở nước Nhật lại có địa vị thấp kém.

CÁC CỤ NGUYÊN LÃO

Hiến pháp Nhật Bản, trên đây là xét về hình thức, giờ ta thử xem qua thiệt tế, thấy có một đôi chỗ lạ lắm.

Cứ lấy hình thức của Hiến pháp mà nói, như đã bày tỏ ở trên, thì chính trị đại quyền nước Nhật, phó thác ở tay đức Thiên hoàng là đấng quốc gia nguyên thủ. Song, xem đến thực tế, thì chính quyền lại không ở Thiên hoàng mới kỳ. Thiên hoàng Nhật Bản tôn nghiêm vậy chớ, mà không có quyền được như Mỹ quốc Tổng thống hay Đức quốc Hoàng đế lúc nọ đâu. Đến đỗi chính một nhà học giả chính trị ở Nhật đã nói:

“Kể về quyền lực, Thiên hoàng Nhật Bản là bậc nhỏ nhất trong hàng quân chủ ở thế giới. Quân chủ một nước chân chính Lập hiến là Anh hoàng kia, có quyền lớn hơn Nhật hoàng nhiều. Ở nước Nhật, đức Thiên hoàng tôn nghiêm, là theo hình thức về địa vị xã hội mà tôn nghiêm đó thôi, chớ không phải là ngài chiếm được địa vị trọng yếu bực nhất về chính trị đâu”.

Chiếu theo điều khoản trong Hiến pháp thì Thiên hoàng Nhật Bản vừa làm vua vừa thống trị; nhưng xem đến thực trạng chính trị nước Nhật, thì Thiên hoàng là đấng nguyên thủ chỉ ở ngôi vua mà không thống trị.

Mà chính trị đại quyền, lại cũng không ở Nội các. Ai nấy đều biết vua nước Anh có cái danh thống trị, rứa mà chính trị Anh quốc thực ở trong tay Nội các có hoàn toàn trách nhiệm. Nội các Nhật Bản không được như thế. Tiếng là Quốc vụ đại thần hay Nội các lấy danh nghĩa Thiên hoàng và thay mặt vâng mệnh Thiên hoàng, nắm giữ hết thảy quyền hành, song mấy ông đó không phải hoàn toàn được độc lập hành động bao giờ. Kỳ thực, sự hành động của Nội các hay Nội các có chính sách gì, thường phải chịu một cái thế lực đặc biệt khác hoặc sai khiến hoặc cầm chừng; cho tới vận mệnh của Nội các cũng phải nằm ở trong cái thế lực đó mà còn, mất, nên, hư.

Thế lực gì vậy?

Ấy là thế lực các cụ nguyên lão.

Ta nên biết chính trị Nhật Bản có Nguyên lão viện là một cơ quan đặc biệt, không thấy nước nào có.

Nguyên lão viện là một cơ quan ở ngoài pháp luật và Hiến pháp, chỉ do thói quen mà có đó thôi. Thiên hoàng lựa mấy ông lão thần sung vô viện đó, vừa để thưởng tặng công lao, vừa để hỏi han quốc kế. Bình thường, các cụ nguyên lão không có chức vụ gì nhất định. Trừ ra khi nào quốc gia có việc phi thường, thì bấy giờ nguyên lão có chia nhau gánh vác những chức vụ quan hệ. Như hồi Nhật Nga chiến tranh, nguyên lão Y Đằng Bác Văn chuyên lo ngoại giao; nguyên lão Tỉnh Thượng Hinh, Tùng Phương Chính Nghĩa 松方正義 [Matsukata Masayoshi] chuyên lo lý tài, nguyên lão Sơn Huyện Hữu Bằng [山県有朋 Yamagata Aritomo], Đại Sơn Nham 大山巖 [Ooyama Iwao] chuyên lo quân sự. Nguyên lão không nhất định số người là bao nhiêu ông, bởi vậy có lúc nhiều, có lúc ít. Hiện nay hình như càng ít lắm, mà có thực lực và oai quyền nhất hạng, là ông nguyên lão Tây Viên Tự 西園寺 [Saionji]; ta thấy mỗi khi Nhật Bản có chính cuộc biến động đổi thay, Thiên hoàng đều triệu ông Tây Viên về triều vấn kế. Chỗ bày tỏ ra quyền lực Nguyên lão rất lớn, là lúc có việc thay đổi Nội các. Thiên hoàng hay hỏi nguyên lão để nhất định người nào có thể đứng ra tổ chức Nội các mới. Bởi vậy thiệt sự Nguyên lão có quyền quyết định tối hậu, là vì khi nào Thiên hoàng cũng y theo ý kiến của nguyên lão mà quyết định giao phó Nội các cho ai. Tức như ba bốn năm nay, Nội các Nhật Bản thay đổi từ Khuyển Dưỡng Nghị đến Trai Đằng 斉藤 [Saitou], tới Cương Điền 岡田 [Okada] bây giờ, mỗi lần ta đều thấy báo đăng tin Chiêu Hòa Thiên hoàng 昭和 [Shouwa] triệu ông nguyên lão Tây Viên Tự chống gậy lọm khọm về kinh hỏi han chính sự; mỗi lần Thiên hoàng giao phó việc tổ chức Nội các cho người nào cũng do ông Tây Viên Tự tấn cử.

17

KHUYỂN DƯỠNG NGHỊ 犬養毅 [Inukai Tsuyoshi] (1855-1932) - Một người có công to trong hồi duy tân năm 1932, khi đang làm Thủ tướng, bị bọn võ quan quá khích vô tận trong dinh bắn chết.

Bởi có sự vấn chính và sự tiến cử đó, nên chi vận mệnh Nội các và đến cả chính cuộc Nhật Bản nữa cũng thường quan hệ ở thế lực của nguyên lão. Tiếng rằng nguyên lão tấn cử người lập Nội các rồi thôi, sau không có quyền gì trực tiếp can thiệp vào chính sách của Nội các, nhưng kỳ thực vẫn là có quyền can thiệp gián tiếp. Tuy mấy ông nguyên lão ở xa một nơi, mà thế lực oai quyền của mấy ông vẫn quan hệ tới chính sách và sinh mạng của Nội các luôn luôn. Thuở nay thấy hiếm gì Nội các bị nguyên lão can thiệp mà vướng phải cơ nguy? Hiếm gì Nội các làm mấy cái chính sách bị phái Nguyên lão không dung mà đến phải từ chức? Thế lực Nguyên lão là thế lực ngầm, nhưng mà lớn lắm.

Sở dĩ phái Nguyên lão ở trong chỗ vô hình mà có ảnh hưởng oai quyền đến chính cuộc Nhật Bản như thế, là bởi các cụ già đó đều là người đại biểu của cái thực lực chính trị nước Nhựt: Phiên phiệt.

Độc giả đã rõ công nghiệp duy tân xây dựng lên phần lớn nhờ nơi hai cường phiên là Tát phiên và Trường phiên, cho nên tự nhiên họ lũng đoạn cả chính quyền, bao nhiêu chức trọng quốc gia, đều là người vây cánh của hai cường phiên chia nhau nắm giữ hết. Ngoài chính trị ra, tới quyền hải quân và lục quân, cũng là ở trong tay của nhân sĩ hai phiên chia nhau nữa. Hồi vua Minh Trị đặt riêng hai bộ Lục quân và Hải quân, nhân sĩ Tát phiên giữ hải quân, nhân sĩ Trường phiên giữ lục quân. Một nước chỉ có chính trị và võ lực là hai cái sức mạnh nhất, mà nhân sĩ hai phiên Tát, Trường nắm cả, thì lẽ đương nhiên họ là phái thực lực trong nước, có thanh thế oai quyền đến cả toàn cuộc chính trị vậy.

Những ông khai quốc công thần hay là chính trị tiền bối, phần nhiều là nhân sĩ của phiên này hay phiên kia tin dùng cất nhắc ban đầu, đến sau già cả hưu quan, được lựa chọn lên bậc nguyên lão; cố nhiên các ông là đại biểu Phiên phiệt và dựa vô đó mà có quyền lực ngấm ngầm to lớn nhất nước, nhắm không lạ gì.

Nói tóm lại, thiệt tình chính trị Nhật Bản: Quân nhân cầm cốt chính trị, Phiên phiệt cầm cốt binh quyền, mà Nguyên lão là đại biểu của Phiên phiệt, vì các ông nguyên là bậc tiền bối, thế lực trong Phiên phiệt mà ra, cho nên trên đàn chính trị, nguyên lão có địa vị đặc biệt, có thế lực đặc biệt, không ai qua đặng.

Xưa kia gọi là Phiên phiệt, tức nay gọi là Quân phiệt 軍閥 [Gunbatsu]; tuy danh hiệu có đổi dời, chớ đến thực lực oai quyền ở trong nước thì vẫn thế. Ta xem việc chinh phục Mãn Châu mấy năm nay đủ biết. Từ năm 1931 tới giờ, mấy lần thay đổi Nội các, Chiêu Hòa Thiên hoàng vời ông nguyên lão Tây Viên Tự Công Vọng 西園寺公望 [Saionji Kinmochi] về kinh đô hỏi ý kiến, lần nào ta cũng thấy ông tiến cử một người đồng tình với quân giới và ông tán thành cái chính sách võ lực của phe Quân phiệt luôn luôn. Đến bậc khai quốc công thần, chính đảng lãnh tụ, như Khuyển Dưỡng Nghị, ra cầm chính quyền trong năm 1932, chỉ vì không chịu thế lực Quân phiệt sai khiến mà bị mấy viên tiểu tướng xông vào tận dinh bắn chết!

CÓ NĂM VIỆC LÀM DẤU TỎ RA CHÍNH TRỊ NHẬT BẢN CÓ THẾ BIẾN HÓA

Tuy chủ não và giới hạn của cuốn sách này chỉ hạn định trong cái vòng 30 năm Nhật Bản duy tân, nhưng tôi thiết tưởng về vấn đề chính trị, sẵn dịp đang nói, nên nói cho luôn: ta có thể tạm thoát xa vòng hạn định mà nói rộng ra một chút cũng không sao.

Tính chất và thực trạng của chính trị Nhật Bản, như mấy đoạn trên đây đã nói, bắt đầu từ Minh Trị sơ niên, cho đến năm 1914 có Âu châu đại chiến phát sinh ra, đại thế trước sao sau vậy, không có biến động lớn lao mấy.

18

GIA ĐẰNG CAO MINH 加藤高明[Katou Kataaki] (1860-1926) - Người làm cho số dân có quyền tuyển cử được tăng lên nhiều.

Nhưng ta dòm xem sự tình nước Nhật từ lúc Âu chiến trở lại đây, hình như chính trị của họ đang ở trong hồi thay đổi. Cứ lấy mấy việc sau này mà xét, người ta có thể nói rằng chính trị Nhật Bản nay mai chắc có cái thế biến hóa lớn lắm, chẳng phải giữ y nguyên trạng được mãi đâu.

Một là thế lực của nguyên lão có vẻ lần hồi điêu tàn. Nguyên lão trải bao nhiêu năm cầm cốt chính trị nước Nhật, tới lúc qua đời Minh trị trở đi, thì oai thế nguyên lão kém đi lần lần. Nhất là hồi có một Nội các nhân vụ Hải quân hối lộ mà bị đổ nhào, rồi họ Đại Ôi (Độc giả đã biết ông này cùng Bản Viên là phe độc lập và giữ chủ nghĩa Tiến bộ Tự do, chớ không thuộc về Phiên phiệt) lại dấy lên cầm quyền, thì oai thế các cụ nguyên lão hình như phải chịu ảnh hưởng mà kém sút đi nhiều.

Vả lại, sự thực trong khoảng mấy năm gần đây, nguyên lão kế tiếp nhau qua đời hết bộn, chẳng những đám già tiền bối là Tỉnh Thượng, Đại Sơn, Sơn Huyện rủ nhau thành ma, ngay đến mấy cụ hậu bối như Tự Nội 寺内 [Terauchi], cũng trước sau từ giã cõi đời nữa. Ngày nay, chẳng qua chỉ còn sót lại có Tây Viên Tự cùng một hai ông hậu tiến nữa thôi. Đã vậy mà danh vọng và thế lực của các ông già hậu bối kém thua các ông già tiền bối rất xa. Vì thế mà nguyên lão lần hồi sút mất cái thế lực cầm cốt ở trên đàn chính trị Nhật Bản đi. Tuy rằng hiện nay mỗi khi có quốc gia đại sự, nhất là lúc thay đổi Nội các, Thiên hoàng vẫn chiếu theo lệ xưa, vời mấy cụ già về kinh để hỏi ý kiến, nhưng đến thực sự, mấy cụ ít có cơ hội can thiệp vào chính sách của Nội các như là hồi trước, và lại lực lượng của mấy cụ cũng nhỏ bớt đi rồi.

Hai là thế lực dân chúng nổi dậy.

Sau trận Âu chiến, cuộc sinh hoạt của dân Nhật, vì tình thế thiên hạ nguy biến đổi dời mà phải chịu ảnh hưởng khá lớn. Hồi Âu chiến, Nhật Bản thừa cơ bán được hàng hóa vật liệu ra ngoài rất nhiều, công nghệ bỗng chốc mở mang rộng lớn, trong nước bày ra cảnh tượng phồn thịnh khác hồi trước xa, mà hạng “tân phú ông” một lúc phát lên giàu có đông lắm. Xã hội thình lình có vẻ thịnh vượng phong phú; vật sản trong nước lên giá cao hơn bội phần, nhưng được hưởng lợi, chẳng qua chỉ có một số ít người, còn sinh kế của phần đông nhân dân thì trở lại hóa ra khó khăn khốn khổ.

Chừng đó vì sự kinh tế ép bức, dân chúng ra mặt bất bình; tức như hồi tháng 8 năm 1918, khắp các đô thị lớn trong nước, giá gạo bỗng dưng vọt lên cao quá, dân chúng nhân dịp này nổi lên thị oai phản kháng một cách dữ dội xôn xao.

Cuộc xôn xao này từ ý nghĩa kinh tế mà tấn lên ý nghĩa chính trị; dân chúng phản kháng thị oai, hết sức công kích những thói xa xỉ của bọn quyền quý tư bản. Phong trào lúc đó, bắt đầu đã có pha trộn ít nhiều màu mè xã hội chủ nghĩa ở trong rồi.

Sau vụ bạo động lớn đó rồi thì kế tới chỗ này chỗ kia, có cuộc đình công xảy ra lung tung. Giữa năm 1919, Nội các Tự Nội là nội các thay mặt Phiên phiệt bị đánh đổ nhào, nhà bình dân chính trị là Nguyên Kính 原敬 [Hara Takashi] nghiễm nhiên đứng ra vâng mệnh tổ chức Nội các mới, thay mặt cho chính đảng Chính hữu hội. Ấy là lần thứ nhất có một nhà chính trị bình dân ra cầm quyền chính.

Việc biến động này có ý nghĩa và phạm vi rộng lớn, mà tính chất của nó rõ ràng là chống chọi với cái trật tự đã thành nền nếp bấy lâu. Ta xem việc đó đủ thấy dân chúng Nhật Bản gần đây đã tự giác nhiều; họ đối với chính phủ đã nhẹ bớt cái thói quen sợ sệt tôn trọng đi, vô số lại còn ra mặt bất bình với chế độ đang thi hành đó nữa. Vả chăng giữa lúc dân chúng rộn rực vận động thị oai, mà bỗng chốc có nhà lãnh tụ một chính đảng ròng là bình dân được Thiên hoàng vời ra giao phó quyền chính quốc gia cho như thế, chính là một việc phá lệ ở trong lịch sử Hiến pháp nước Nhật, vì cái trách nhiệm đó, địa vị đó, thuở nay thường chuyền tay nối gót nhau trong đám Phiên phiệt và quý tộc mà thôi. Như vậy chẳng phải chứng tỏ ra rằng chính trị Nhật Bản rục rịch có cơ thay đổi màu mè, chẳng phải thế lực dân chúng đã lần hồi trở nên to lớn là gì!

Thứ ba là oai thế của phe quân nhân cũng đã giảm bớt. Nước Nhật sau cuộc duy tân, lấy chủ nghĩa quân quốc 軍国主義 [Gunkoku Shugi] (militarisme) như kiểu người Đức, làm cơ sở lập quốc. Người trong nước tôn trọng sùng bái quân nhân không khác nào đối với thần thánh. Bởi vậy đám Quân phiệt được trớn mà chuyên chế ngang tàng, là sự thường thấy.

Song gần đây xem ra dân Nhật có một bộ phận quan hệ, không có vẻ quá trọng quân nhân như trước, thế lực của quân nhân cũng hết lừng lẫy quá như lúc xưa. Nhất là thời thế dồn dập, kinh tế nguy nan như mấy năm nay, chỉ riêng có phe quân nhân hay phùng mang trợn mắt, lăm le chiến tranh, chớ dân chúng thiệt tình không muốn.

Cũng vì quân nhân đã hơi kém thế, nên chi mấy năm trước ta mới được thấy có một Nội các dám đưa ra cái nghị án rút bớt niên hạn đi lính cho dân; vả lại, mấy chức trọng ở hải ngoại, như chức Tổng đốc thuộc địa Đài Loan, Cao Ly, cũng có thế đổi dùng quan văn nhiều khi, chớ trước kia chức ấy luôn luôn về tay quan võ.

Mặc dầu có việc chiếm đoạt Mãn Châu mới rồi chính là thủ đoạn quân nhân, mặc dầu hiện nay đám quân nhân đang hăm he dự bị chiến tranh dữ lắm, nhưng sự thực thế lực quân nhân đối với dân chúng kém sút nhiều rồi, không quá lớn lao như trong đời Minh Trị nữa. Ta có thể nói rằng chính trị nước Nhật có cơ thoát ly cái thế lực quân nhân đi lần lần, cuộc dân trị chỉ trong nay mai chắc thực hiện được.

Thứ tư là quyền tuyển cử của dân được mở rộng.

Độc giả biết ban đầu Hiến pháp mới ban hành, số dân có quyền bỏ thăm ít lắm, duy có giai cấp tư sản mới được hưởng quyền ấy thôi. Các nhà chính trị hô hào dân quyền tự do, lớp trước như Đại Ôi, Bản Viên, lớp sau là Nguyên Kính, Gia Đằng, rất là hăng hái với chủ nghĩa dân trị. Sau cuộc Âu chiến rồi, phong trào dân chúng nổi lên tưng bừng, khiến cho vấn đề mở mang quyền lợi công dân càng thấy nao nức.

19

NGUYÊN KÍNH 原敬 [Hara Takashi] (1856-1921) - Người đầu tiên tổ chức một nội các bình dân.

Hồi năm 1919, nhà chính trị bình dân là Nguyên Kính vâng mạng tổ chức Nội các xong rồi, liền đưa ra cái pháp án mở rộng quyền tuyển cử. Từ ấy trở đi, dư luận sẵn trớn nổi lên xôn xao một hai đòi nhà nước phải sửa sang chế độ tuyển cử cho thật có tinh thần dân chủ mới nghe. Lúc trước, trong 60 triệu dân Nhật, chỉ có 160 vạn người được quyền tuyển cử; nhờ có Nguyên Kính yêu cầu cải cách, số người đó mới tăng lên tới 300 vạn.

Thế mà sự cải cách ấy dân còn chê là ít; họ trách nhà nước chỉ làm nửa chừng; họ bất bình ra mặt, gây nên náo động khắp cả trong ngoài nghị viện, đến đỗi qua tháng 2 năm sau (1920), Chúng nghị viện bị giải tán.

Sau lúc bầu cử Chúng nghị viện mới, tuy là phe của chính phủ chiếm được nhiều ghế hơn, nhưng mà dân chúng vẫn cứ hoạt động ồn ào dữ dội, một hai đòi cho được chế độ phổ thông đầu phiếu, mới thỏa lòng dân.

Rốt lại đến năm 1925, hồi Gia Đằng làm Nội các tổng lý, bấy giờ cái án phổ thông tuyển cử mới làm xong. Từ đây trở đi, phàm là dân đàn ông nước Nhật, hễ đúng 30 tuổi, tức thị có quyền bỏ thăm bầu cử Chúng nghị viện, chớ không hạn là có nạp thuế gì hay không. Nhân đó số dân đầu phiếu tăng lên 13 triệu.

Dân chúng Nhật Bản vận động kèo nài cho được cái quyền tham dự chính trị một cách rộng rãi như thế, lấy ngày giờ mà nói thật là tấn tới đáo để. Nhất là từ lúc khai quốc duy tân tới ban hành Hiến pháp cho đến lúc đang nói đây, ngày giờ chưa có bao nhiêu lâu. Ta xem đường đi nước bước của dân chúng Nhật Bản tấn tới mau lẹ thế ấy, chỉ tỏ cho ta thấy rằng hễ nào nay mai chính trị Nhật Bản cũng xoay về con đường dân trị hẳn hoi; bao nhiêu dấu vết phong kiến quý tộc, sẽ thành ra một cổ vật, cỏ dậy rêu phong!

Thứ năm là có cơ chính đảng nối gót nhau tổ chức Nội các.

Từ năm 1898, hai đảng của Đại Ôi và Bản Viên hợp nhau lại tổ chức Nội các mà bị thất bại trở đi, trong chính giới Nhật lâu lắm không có Nội các chính đảng nào dựng lên được, về sau tuy có nhiều phen, đảng Chính hữu hội ghé vai vào Nội các này kia nhưng đó chẳng qua là chính đảng phải chịu đầu hàng ở trước oai thế của Phiên phiệt, để chia hưởng một vài cái ghế “cụ thượng” vậy thôi, chớ không phải là chính đảng được đứng lên tổ chức Nội các một mình.

Mãi tới năm 1918, Nội các Tự Nội là vây cánh bộ hạ Phiên phiệt, gặp phải lúc giá gạo mắc mỏ, dân chúng làm dữ, mà bị đổ nhào; bấy giờ mới có một Nội các của chính đảng lập ra được lần thứ nhất. Ấy chính là Nội các Nguyên Kính. Ông này là lãnh tụ đảng Chính hữu hội lúc đó. Kế sau lại có những Nội các Phiên phiệt đắp đổi nhau. Cho tới năm 1924, Nội các Gia Đằng là Nội các chính đảng lần thứ hai. Tới khoảng năm sáu năm vừa qua, có lúc lãnh tụ đảng Hiến chính là Nhược Quy 若槻 [Wakatsuki] mấy phen làm đầu Nội các, cũng là Nội các chính đảng. Năm 1932, Thủ tướng Khuyển Dưỡng Nghị bị đảng viên bạo động xông vô trong dinh bắn chết đó, nguyên là lãnh tụ đảng Chính hữu hội đứng ra tổ chức Nội các, ấy cũng là chính đảng Nội các. Mấy kẻ giết ông nào phải ai lạ: chính là quân nhân, quân nhân tức là Phiên phiệt mà!

Tuy hai năm nay, không thấy lãnh tụ chính đảng nào ra tổ chức Nội các, nhưng mà chính đảng vẫn có can dự vô phần nhiều và có quan hệ đến vận mệnh Nội các rất lớn. Chính đảng ở Nhật gần đây, đối với chính phủ và chính trị trong nước, càng ngày càng có thanh thế, ai muốn cầm quyền, không thể nào rời bỏ hay khinh thường chính đảng như mấy lúc xưa đặng.

Chúng ta cứ xét năm cái hiện tượng biến hóa kể ra trên đây, thì biết chính cuộc Nhật Bản từ hồi Âu chiến trở đi, rõ ràng có vẻ xoay về dân trị lần lần, không phải ròng rã một màu quý tộc phong kiến như 20 năm về trước nữa. Huống chi lâu nay các phe thuộc về giai cấp vô sản trong xã hội, đã lần lượt dựng ra chính đảng, hiệp thành đoàn thể hẳn hoi; mỗi việc gì họ cũng phấn đấu cạnh tranh với các phe có sản nghiệp to, có thế lực lớn, không chịu mềm mỏng nhường nhịn chút nào.

Vậy càng tỏ ra dân chúng Nhật Bản bị đè nén ở dưới oai quyền thế lực của chính phủ Phiên phiệt bao nhiêu lâu, bây giờ họ đã lần lần tự giác về địa vị chính trị của họ, cùng nhau kết phe hợp sức lại, sắp sửa trở nên một thế lực mạnh lớn ở giữa xã hội Nhật Bản. Chính trị nước Nhật sẽ bị cái thế lực đó xô đẩy, mà sẽ trải qua một cuộc biến hóa quan hệ, chớ không sao khỏi được. Hiến pháp năm 1889 tất phải thay hồn đổi xác, chắc không giữ hoài như cũ được đâu.

Nếu nay mai có cuộc chiến tranh với một liệt cường nào, thì nội tình chính trị Nhật Bản càng phải biến hóa mau lắm. Tôi nhớ hình như có một nhà chính trị nào ở Âu châu nói rằng “một mai Nhật Bản khai chiến với ai, tất nhiên trong nước họ có một cuộc cách mạng rất lớn”; lời nói ấy có lẽ là lời nói tiên tri về chính cuộc nước Nhật đó.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.