Nhật Bản Duy Tân 30 năm

Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3. Phong kiến mài dũa tài trí của nhân dân

❊ ❊ ❊

Không ai không bảo chế độ phong kiến của xã hội loài người khi xưa là chế độ độc hại. Nó bóc lột, đè nén, ức hiếp, hành hà người ta đủ cách; bao nhiêu kẻ làm dân phải tháo mồ hôi, đổ máu mắt ra để cung phụng một giai cấp ở trên, đến đỗi họ làm mọi trọn đời không lúc nào cất đầu yên xác được. Bây giờ người ta nhắc lại chuyện cũ, nhớ tới dấu xưa, ai cũng lắc đầu trề môi, cho là gớm ghiếc.

Xã hội Nhật Bản từ thuở có lịch sử mà đi, chính là một xã hội phong kiến, y như Âu châu cổ thời và nhiều xã hội khác. Song, ngày nay người Âu châu hay là ai đâu nhắc lại dấu tích phong kiến của xã hội mình ngày xưa thì giận hờn và lên án nọ kia, chứ người Nhật thì khác hẳn: Họ cảm ơn mến đức của chế độ Phong kiến ở xứ họ trải mấy ngàn năm mới kỳ!

Thật vậy, họ nói:

“Phong kiến có công mài dũa tài trí của dân tộc chúng tôi, trau dồi tính cách của dân tộc chúng tôi, trở nên khôn ngoan, mạnh bạo lâu đời, đến khi tiếp xúc với phong trào mới mà chúng tôi lấn lướt theo kịp ngay, là nhờ vậy đó”.

Thế thì lai lịch phong kiến của Nhật Bản ra sao, ta nên xét qua; nhất là xem thử chế độ Phong kiến đã nảy nở, dùi mài cho dân tộc họ có những tài trí và năng lực gì?

Chế độ Phong kiến Nhật Bản chia ra hai thời đại trước sau nối tiếp:

1. Cổ phong kiến (古封建), bắt đầu từ lúc có lịch sử cho đến đời ĐiểuVũ (鳥羽) Thiên hoàng, nhằm cuối thế kỷ XII của Tây lịch. Thời đại này trải qua một ngàn mấy trăm năm.

2. Tân phong kiến (新封建), khởi từ hồi võ tướng Nguyên Lại Triều 源頼朝 [Minamoto no Yoritomo], dựng lên Mạc Phủ, xưng chức tướng quân, nắm trọn đại quyền nhà nước, lấy tiếng thiên tử để sai khiến chư hầu. Từ lúc có Mạc Phủ thì Thiên hoàng chỉ là hư vị thôi, không có quyền hành gì hết. Họ này làm tướng quân ít lâu thất bại, tới họ khác lên kế, mãi đến đời MinhTrị 明治 [Meiji] Thiên hoàng thì Mạc Phủ mới dứt. Thời đại này có dư 700 năm.

Trải hai thời đại, cộng lại trên 2000 năm, tức là gần trọn cả lịch sử Nhật Bản, có nhiều cuộc trị loạn hưng vong, có nhiều việc chính trị giáo hóa, có khi vương quyền suy mà chư hầu thịnh, có khi vương quyền thịnh mà chư hầu suy, kể cả lai lịch thì rất là rắc rối dài dòng, vả lại không phải là chủ ý của đoạn này. Ngó theo đề mục, đoạn này chỉ cốt trưng bày ít nhiều cái đặc sắc do những thời đại phong kiến đã sản sinh ra cho dân tộc Nhật Bản thôi.

THỜI ĐẠI CỔ PHONG KIẾN

Địa thế Nhật Bản, do nhiều cù lao góp lại thành nước, tự nhiên có chỗ thích hiệp sẵn sàng cho những cuộc chia xé chiếm cứ nho nhỏ. Nhứt là lúc ban đầu, có những ngoại tộc mới tới thực dân và khai thác. Nền phong kiến ở Nhật Bản xây đắp lên ngay từ đó.

Mỗi miền, mỗi ấp, đều có người làm đầu, xưng là quân trưởng (君長) hay tù trưởng (酋長). Hạng trên là dòng dõi của Thần, đàn ông gọi là Ngạn (彦) giữ việc cai trị, đàn bà gọi là Viên (媛) làm tế chủ, lo việc kỉnh thần. Còn hạng dưới là giống người thường, gọi là Khôi Soái (魁師), hay Hộ Bạn (戸畔), đều rèn tập cung tên gươm giáo, hay ganh đua việc vũ dũng để tranh giành quyền lực với nhau.

Thế là gốc gác dân tộc từ hồi Thượng cổ, đã có tinh thần chuộng võ. Tinh thần ấy, do sự dùi mài, tranh cạnh, về sau càng ngày càng mở mang ham chuộng, cho đến thành ra một cái đạo về việc võ, gọi là võ sĩ đạo (武士道 Bushidou).

Đàn bà cũng có địa vị tôn trọng rất sớm; bởi vậy, trong đời “Tiểu phong kiến” nói đây có chỗ do đàn bà làm quân trưởng, và cũng ưa việc vũ dũng, mặc dầu giống họ vốn có cái thiên tính nhu mì hiền hậu. Đàn bà Nhật Bản từ cổ thời đã vậy, hèn chi về sau ở trong lịch sử họ, có mấy đời Thiên hoàng là đàn bà và có tay nữ anh hùng như bà Thần Công hoàng hậu (神功皇后 - Jinguu Kougou) tự đem binh vượt biển, đánh bắc dẹp đông, nghĩ không nên lấy gì làm lạ.

Đời “Tiểu phong kiến”, từng huyện nhỏ ấp con, có người xưng hùng làm chúa, lấy võ lực để tranh giành lẫn nhau thì có, nhưng không ai thống thuộc ai. Đến lúc đức Thần Võ là chánh tông của thần, lãnh ba món thần khí, lên ngôi Thiên hoàng, dựng quốc đô ở đất Đại Nụy[1], nghĩa là lúc Nhật Bản lập thành quốc gia quân chủ và lịch sử bắt đầu từ đây, thì các ông chúa nhỏ kia đều phải tòng phục về Thiên hoàng. Ai không chịu phục thì Thiên hoàng ra oai đi đánh. Bởi vậy các tù trưởng phải đem dân mình mà quy hóa hết thảy, trừ ra có mấy giống dân ở miệt đông bắc và miệt tây là cứng cỏi chống cự lại. Nhất là giống người Ái Nô. Thành ra trải mấy thế kỷ, người Nhật phải tranh cạnh và chinh phục mấy giống thổ dân cứng đầu cho kỳ được mới thôi. Ví dụ đuổi tuốt giống Ái Nô phải dồn mãi về cù lao ở tận phía bắc, đến nay giống ấy đã lần mòn tiêu diệt, chỉ còn lại có vài muôn người.

Nhờ có các cuộc chinh phục như thế, mà từ xưa người Nhật đã dùi mài được cái tinh thần chiến đấu tranh hùng, có thể nói họ là giống người cứng cỏi, hăng hái từ trong trứng đẻ ra.

Theo tục từ xưa, dân tộc Nhật Bản chia ra làm ba bực: Một là quý tộc, hai là sĩ tộc, ba là bình dân.

Quý tộc là con cháu của các vị quân trưởng đời Thượng cổ; dòng dõi của thần cũng là quý tộc. Mỗi nhà quý tộc đều có họ riêng. Sĩ tộc là hạng dân có chức nghiệp, phần nhiều làm nghề nông. Còn hạng lao công điền tốt cùng là bọn người làm việc khó nhọc nặng nề, thì đều thuộc về bình dân.

Tuy có sự chia rẽ giai cấp như thế, nhưng mà tính cách dân tộc và phong tục xã hội có chỗ rất tốt, là mấy giai cấp không khinh khi bức sách lẫn nhau. Trái lại họ nương dựa lấy nhau, một đằng có quyền, một đằng có sức, để lo việc khai thác sinh tồn. Mỗi giai cấp có sự cạnh tranh thứ nhất, là cạnh tranh nhau về danh dự. Vì danh dự mà ai nấy đều gắng gổ về mọi việc công tác kinh doanh, thành ra sự phân biệt giai cấp đã không hại gì, lại còn có cái sức thúc giục quốc dân, khiến cho ruộng đất mở mang, chức nghiệp mở mang, và xây dựng lên cái văn hóa của mỗi giai cấp, cùng ngày càng phát đạt thêm mãi.

Thì chính vì chỗ cạnh tranh danh dự của hạng quý tộc và sĩ tộc, đua nhau làm nhà cửa cho sang trọng, bận y phục cho tốt đẹp, bày ra yến hội luôn luôn, thành ra từ văn nghệ, ca nhạc, cho đến nghề dệt và nghề kiến trúc, đều được mở mang, tấn tới.

Sĩ tộc và bình dân, ngoài công việc chức nghiệp của họ, lại ganh đua nhau luyện tập võ nghệ, đến đỗi hương thôn nhiều nơi hóa ra trường giảng võ, và nông phu cũng có lắm người rành giỏi nghề võ, gây nên cái phong trào thượng võ, ở khắp xã hội, rồi có phái mới là phái võ sĩ nổi lên.

Lúc này, chế độ Phong kiến kiểu xưa đã biến đổi rồi, không phải mỗi huyện ấp nhỏ có người làm chủ như trước nữa. Giờ trong xứ đã đông dân, đất nước đã mở rộng, mà quyền nhà vua cũng mạnh lên, triều đình bèn đổi cách xưa tổ chức quốc huyện (國縣) ra làm quốc quận (国郡); họp nhiều huyện nhỏ thành một quận lớn, hết thảy đều thống thuộc về triều đình. Việc sửa đổi này nhằm đời Thiên Trí Thiên hoàng 天智天皇 [Tenji Tennou], giữa năm 671 của Tây lịch.

Tuy chế độ phong kiến xưa đã bãi đi, nhưng lại có chế độ phong kiến mới bắt đầu nẩy chồi đâm gốc ra.

Tân phong kiến dựng lên bởi quý tộc yếu mà sĩ tộc mạnh.

THỜI ĐẠI TÂN PHONG KIẾN

5

NGUYÊN LẠI TRIỀU 源頼朝 [Minamoto no Yoritomo] (1147-1199) - Người dựng lên chế độ Mạc Phủ, thế kỷ XII.

Thời đại này là thời đại các võ gia tranh hùng, kế tiếp nhau xưng là tướng quân, mở ra Mạc Phủ, giành hết quyền chính của Thiên hoàng mà thống trị mấy trăm chư hầu trong nước. Chư hầu cũng đều là võ gia nổi lên, mỗi người chiếm cứ một nơi xưng hầu xưng bá, lắm lúc tranh quyền ỷ mạnh, đánh nhau lung tung. Có lúc Nhật Bản chia ra thành hai chính phủ, gọi là Nam triều, Bắc triều; có lúc chư hầu phân ra làm hai phe đảng, gọi là Đông quốc, Tây quốc. Thời đại nầy nước Nhật có những cuộc binh tranh nội loạn luôn luôn, xem y như đời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu vậy. Chính người Nhật cũng đặt tên cho cái chặng lịch sử này của họ là “Chiến Quốc thời đại”.

Trên kia đã nói bởi quý tộc yếu, sĩ tộc mạnh, mà dựng lên chế độ Tân phong kiến.

Quý tộc yếu là vì dòng dõi họ hay vui chơi yến ẩm, rất mực xa hoa, sau phải mang nghèo, phần nhiều không còn giữ được nghiệp nhà nữa. Trò đời, dòng sang trọng thế mấy, hễ đã mang nghèo thất thế, thì tự nhiên phải suy yếu đi có lạ gì.

Trong khi phần nhiều quý tộc ham vui xài sướng, thì sĩ tộc cặm cụi khai phá ruộng đất và chịu khó tìm tòi bươi móc ra đủ mọi nguồn giàu mạch lợi. Họ lại chăm chỉ tập rèn những thuật bắn cung cưỡi ngựa, đấu kiếm múa dao để cho được ra làm quan ở triều đình, phục dịch với quý tộc; nhân vậy mà họ xây dựng được nghiệp nhà của họ cũng truyền nối vẻ vang. Họ tự xưng là võ sĩ, dựng lên gia nghiệp gọi là võ gia (武家 Buke), đối với dòng dõi quan quyền quý tộc tức là công gia (公家 Kuge).

Võ gia ban đầu ở trong xã hội có phần thấp hèn sánh với công gia, song về sau công gia tuy sang trọng mà hơi nghèo, còn võ gia thì giàu có lớn, thành ra võ gia có thế lực mạnh, tranh hàng với công gia, lấn lướt cả công gia. Huống chi tinh thần thượng võ trong nước lúc này nồng nàn sôi nổi, ai cũng tập võ, ai cũng kính mến võ sĩ, làm cho võ gia càng được vẻ vang lừng lẫy hơn nữa.

Người Nhật thuở xưa chuộng võ, mà có sự tin tưởng, sự tu luyện một cách cao xa, coi việc võ gần như nhà tôn giáo coi Trời Phật, và dựng lên cái đạo gọi là “Võ sĩ đạo” (武士道 Bushido).

Ta nên xét sơ cho biết cái tinh hoa của Võ sĩ đạo, vì nó chẳng những là đặc sắc và căn cơ của thời đại tân phong kiến đang nói chuyện đây mà thôi. Chính nó là hương thơm, là vẻ đẹp thứ nhất của tinh thần dân tộc Nhật Bản xưa nay. Ta thấy họ hùng cường tấn hóa như bây giờ, và có những cử chỉ yêu nước khác thường, dũng cảm khác thường, ấy là do nơi tinh thần Võ sĩ đạo từ xưa đã cảm hóa un đúc mà ra vậy.

Cả dân tộc Nhật Bản có cái hồn chung hồn nước là Đại Hòa hồn 大和魂 [Yamato Damashii]; hồn ấy, mỗi người làm dân nước Nhật phải tâm niệm, kính thờ, giữ gìn, thao luyện. Nước Nhật đời cổ, có một cái danh hiệu là Đại Hòa; bởi vậy, lối chữ riêng của Nhật, ta thấy ở sách vở báo chí của họ xen lộn chữ Hán vào đó, người ta thường gọi là Hòa văn 和文 [Wabun], Đại Hòa hồn tức là quốc túy tinh thần của dân tộc Đại Hòa, chính dân Nhật Bản. Hồn này ở trong tâm não người Nhật cũng thiêng liêng cao quý như Thượng đế ở trong tâm não nhà tôn giáo.

Chỗ tốt đẹp của Đại Hòa hồn là ở những tính cách này: trung trực, bác ái, chuộng võ, giữ mình trong sạch, có lòng nghĩa hiệp và biết sỉ nhục, có khí tượng rộng rãi hào phóng, hăng hái quả quyết, ở đời sấn bước đi tới, gặp việc nguy hiểm không từ… Từ xưa, về đạo xử thế lập thân, người Nhật lấy Đại Hòa hồn làm mực thước mà tự tu tỉnh và khuyên răn nhau, tức là gìn giữ trau dồi những đức tính tốt đẹp như thế.

Võ sĩ ở trong xã hội Nhật Bản, chính là hạng “nêu cao gương sáng” của Đại Hòa hồn hơn hết.

Không phải hễ là kẻ sức mạnh bắn tài, liều mình dám chết thì đủ gọi là võ sĩ đâu. Võ sĩ có riêng đạo của võ sĩ tôn nghiêm cao thượng; trước hết phải trau dồi đầy đủ những đức tính của Đại Hòa hồn, rồi lại có những sự giữ gìn thao luyện riêng nữa mới thiệt là võ sĩ.

Cần nhất võ sĩ phải giữ tròn danh dự nhiều phía: Danh dự thân mình, danh dự nước mình, danh dự của gia môn mình bây giờ, danh dự của con cháu mình mai sau. Mỗi cái cử chỉ ở đời, võ sĩ phải suy nghĩ sao bảo tồn danh dự trước hết, chớ không nên tiếc gì cái sinh mạng có chừng có hạn, mà để nhơ danh xấu tiếng về muôn đời. Song, sinh mạng mình chỉ có một, không có hai, bởi vậy phải đắn đo cân nhắc cái chết cho nhằm thời lợi việc thì mới hữu danh; nếu để mất sinh mạng mình vào lúc không đáng chết, thì cũng không đủ làm cho rỡ ràng danh dự được. Thành ra, phàm là võ sĩ, tất phải giữ gìn tâm chí mình thẳng ngay sốt sắng luôn luôn, không thể sơ sót chậm trễ được bao giờ. 

Sự tranh cạnh phấn đấu của võ sĩ, không những là lựa chọn chỗ chết mà thôi, lại phải làm sao cho chết thật trong sạch xứng đáng, có vậy mới làm vẻ vang được tiếng tăm nhà mình.

Võ sĩ làm việc rất quang minh chính đại; lúc bình thường đối với kẻ thù, không hề tỏ ra vẻ gì giận hờn ganh ghét; lúc chiến đấu thì dũng cảm, đánh ngay trước mặt người ta, chứ không chịu dùng những ngón hèn nhát là đánh ngầm giết lén. Ra chiến trường bao giờ cũng ung dung vui vẻ; thắng trận thì bảnh bao hớn hở, nổi tiếng anh hùng dũng sĩ đã đành, còn rủi có bị thua mang nhục mà chết, thì cũng chết một cách thái nhiên, gọi là “chết có vẻ anh đào” 死有櫻色, nghĩa là chết mà nét mặt vẫn tươi tắn hồng hào như bông anh đào khi rụng xuống cũng giữ cái sắc thiên nhiên của nó vậy.

Người võ sĩ Nhật Bản phải có tinh thần phong thể đại khái như vậy đó.

Sự thiệt, võ sĩ đạo là tinh anh luân lý của Nhật Bản, chính nó un đúc ra cái nguyên khí quốc dân. Vận nước nhờ đó mà rỡ ràng, thói dân nhờ đó mà cứng cỏi; nội những dấu tích gì sáng tỏ vẻ vang ở trong lịch sử Nhật Bản, đều do từ gốc nguồn võ sĩ đạo mà phát ra tất cả. Bởi vậy sẵn dịp tôi muốn nói qua về lai lịch võ sĩ đạo, tưởng không phải là chuyện dư. Phải, chỉ nói qua mà thôi, nếu muốn nói kỹ về vấn đề này thì mấy cuốn sách e cũng chưa đủ.

Nói cho đúng, thì gốc tích võ sĩ đạo thật là phát nguyên từ “đời thần” 神代 [Kamiyo], nghĩa là đời còn thần làm chủ) mà đi. Nào sùng bái tổ tiên, nào kính sợ vua chúa, nào vũ dũng, nào thành tín, nào giản dị chất phác, ấy đều là tính riêng của giống người Nhật ở đời Thượng cổ. Ngay đời đó người ta đã ưa mang gươm dao bên mình và lấy việc vũ dũng làm danh dự.

Xuống đến “đời người” 人代 [Hitoyo], nghĩa là đời do người làm chủ, kể từ Thần Võ Thiên hoàng 神武天皇 [Jinmu Tennou] là vua khai sáng nước Nhật, chủ nghĩa chuộng võ càng thịnh. Trong triều ngoài quận, trên vua dưới dân, ai cũng chuộng võ, cả nước là binh. Đấng thiên tử làm nguyên soái, các quan đại thần làm phó tướng. Chính Thần Võ Thiên hoàng mới lên làm vua, dựng ra nước Nhật, đã đem quân đi đánh đông dẹp tây, mở mang bờ cõi, rồi từ đó về sau không mấy triều vua mà không dùng binh chuộng võ, rất đỗi đàn bà là Thần Công hoàng hậu 神功皇后 [Jingu Kougou] cũng đem quân vượt biển đánh tới Tam Hàn (三韓), làm cho Nhật thêm rộng bản đồ, vang danh oai võ. Từ xưa, giống người Nhật chinh phục được những bộ lạc man di và nổi tiếng tới đại lục, chính là nhờ có cái tinh thần thượng võ vậy.

Lúc Nho giáo truyền sang, càng giúp cho tinh thần thượng võ được phấn chấn thêm, vì nghĩa lý đạo nho cùng với tinh thần thượng võ của người Nhật rất là thích hợp.

Lần lần đến đời hai họ Nguyên (Lại Triều), Bình (Thanh Thịnh) giành nhau cái ngôi bá chủ, lấy võ lực đua tài, dùng binh đao đấu sức; họ nào cũng có đảng phe, tử đệ, chăm lo rèn tập việc võ, bấy giờ trong xứ mới thành ra có giai cấp gọi là võ gia (武家 Buke), có danh hiệu gọi là võ sĩ (武士 Bushi). Vẫn biết dân tộc Nhật Bản sẵn có tinh thần tư tưởng chuộng võ từ xưa, nhưng mà thiệt đến đời này thì việc võ mới dựng ra có cách giáo dục huấn luyện riêng, có luân lý đạo đức riêng. Nhất là đời này, bọn quan văn hủ bại đáo để, mà nhà võ sĩ thì có căn bản giáo dục gọi là sự đạo đức, cho nên giữa lúc thiên hạ loạn lạc đảo điên, gọi là hạng người trung dũng, nhân từ, thẳng ngay, lẫm liệt, có thể vãn hồi thế đạo nhân tâm, chỉ duy có võ gia mà thôi, võ sĩ đạo bởi đó mà dựng lên vậy.

Sau Nguyên Lại Triều 源頼朝 [Minamoto no Yoritomo] đánh thắng Bình Thanh Thịnh 平清盛 [Taira no Kiyomori], mở ra Bá Phủ ở đất Kiêm Xương (Mạc Phủ 幕府 [Bakufu] bắt đầu tạo lập ra từ lúc này, nhằm cuối thế kỷ 12 của Tây lịch), rồi thi hành lối chính trị võ gia, bày đặt ra chế độ riêng của võ sĩ, bây giờ võ sĩ đạo xây dựng lên một cách hoàn thành.

Các đức tốt là: trung, dũng, tiết, nghĩa, hiếu hạnh, quả cảm, liêm sỉ, cương trực, khoan nhân, bác ái, kiệm cần, chăm chỉ, ngay thẳng, thật thà…, đều là những đạo đức mà nhà võ phải trau dồi dạy dỗ con cháu từ hồi còn thơ. Chính nhà võ sĩ, cả đời cũng phải giữ gìn những mỹ đức ấy.

Ta nên biết rằng gọi là Võ sĩ đạo (武士道 Bushidou), chữ “đạo” 道 có nghĩa là một nền giáo dục, lại cũng có nghĩa là một nền tôn giáo, một con đường đi nữa.

Do theo họ Nguyên xướng xuất, phàm là con nhà võ thì phải thờ vị thần Bát Phan (八幡神 Hachiman no Kami) hết sức cung kính. Họ Nguyên dựng đền thờ thần ấy ở tại Kiêm Xương là kinh đô của mình, để làm vị thần thủ hộ cho toàn thể võ gia trong nước. Ngày nay di tích vẫn còn.

Nguyên là trước đó có vị cao tăng đắc đạo thành Phật, lúc sinh bình ông là người cao khiết, giản dị, thường dạy người đời đừng thèm sợ chết. Cách tu tâm dưỡng tính của vị cao tăng này rất hợp với sở nguyện sở hành của con nhà võ, cho nên họ Nguyên tôn lên làm thần của võ gia. Giữa đời đó nước Nhật có chuyện loạn ly chiến đấu luôn luôn, nếu như người ta không giác ngộ về lẽ sống chết cho hẳn hoi, thì không lấy gì làm gốc cho sự can đảm hùng cường được. Bởi thần Bát Phan khuyên dạy thế nhân đừng thèm sợ chết, thật là trúng vào trái tim khối óc của võ gia, cho nên võ gia càng hoan nghênh thờ phụng rất mực. Ngoài đền thờ chính ở Kiêm Xương, khắp nơi trong nước, nơi nào cũng dựng đền nguy nga đồ sộ để thờ thần ấy. Nhờ vậy mà võ sĩ đạo thêm vững gốc nguồn, nâng cao tôn chỉ.

Về sau, tới hồi nước Nhật chia hai: Nam triều, Bắc triều, có vị anh hùng là Nam Mộc Chính Thành 楠木正成 [Kusunoki Masashige], trung quân ái quốc một cách tuyệt đối; người Nhật cho Nam Mộc chính là người đại biểu rất cao của võ sĩ đạo, có chi tiết sự nghiệp ghi chép sử xanh, đến nay ai nhắc tới cũng tỏ lòng cung kính. Sinh thời, Nam Mộc đủ hết mọi đức tính nhân từ dũng cảm và có gan to chí lớn, thấy triều đình có kẻ gian thần hại nước hiếp vua, Nam Mộc không thể nào dương mắt ngồi ngó được, bèn đem cả con cháu họ hàng mình lập thành một đạo quân, thề trừ quốc tặc cho đến chết mới thôi. Người Nhật cho Nam Mộc là bậc trung dũng nghĩa liệt, chính đại quang minh, trong thiên hạ không ai sánh kịp và chính Nam Mộc treo gương vũ dũng đạo đức cho muôn đời soi chung.

Kế đó, có những người như Tân Điền 新田 [Nitta], Cúc Trì 菊池 [Kikuchi], Danh Hòa 名和 [Nawa]… đều là hạng liệt sĩ kế tiếp nhau nổi lên, tỏ ra cái tư cách của nhà võ sĩ chân chính, có ảnh hưởng tới dân tâm sĩ khí của Nhật Bản xưa nay. Hồi Nhật Nga chiến tranh (1904-1905), có những kẻ liều mình cự giặc như hạng Quảng Lại Võ Phu 広瀬武夫 [Hirose Takeo], tử trận ở cửa Lữ Thuận 旅順 [Ryojun], hay là hồi Nhật Hoa chiến tranh ở Thượng Hải, đạo binh 19 của Tàu chống cự mạnh quá, binh Nhật không thể nào phá được trận địa của họ ở Miếu Hàng trấn, lúc ấy có ba tên lính Nhật liều chết ôm lấy viên đạn cốt mìn mà xông đại vào, mới bắn phá được trận địa ấy và đuổi được đạo binh 19 phải lui, đại khái những tay anh hùng vì nước quyên sinh như thế, người Nhật bảo là noi dấu võ sĩ đạo của hạng Nam Mộc hồi xưa cả đó.

Từ đời Nguyên Lại Triều xướng lập võ sĩ đạo cho tới ngày nay trên 800 năm, trong lịch sử Nhật Bản có những vị anh hùng lẫm liệt, thương nước bỏ mình, tỏ ra tinh thần võ sĩ đạo, nhiều thật là nhiều, không thể kể hết được.

Trên kia đã nói Đại Hòa hồn 大和魂 [Yamato Damashii] cái hồn thiêng của dân tộc Nhật Bản, phàm là người Nhật đều phải gìn giữ kính thờ. Hồn ấy ký thác ở Võ sĩ đạo, hiển linh ở Võ sĩ đạo. Bởi vậy có người cho Đại Hòa hồn và Võ sĩ đạo là một mà thôi.

Đàn bà con gái, cũng là tín đồ Võ sĩ đạo vô số. Phụ nữ Nhật đời Thượng cổ, chính họ cũng thượng võ, và khuyến khích yêu mến hạng con trai vũ dũng. Ví dụ như bà Thần Công hoàng hậu 神功皇后 [Jinguu Kougou] tự đem binh đi đánh giặc, đủ tỏ ra đàn bà có khí phách anh hùng ra làm sao! Sau có Võ sĩ đạo nổi lên thịnh hành, bọn phụ nữ nhà võ cũng lo trau dồi huấn luyện những đức tính dũng cảm, kiên trinh, hòa nhã, tiết nghĩa, không thua gì đàn ông. Bởi vậy hạng liệt phụ hiền nữ ở trong lịch sử Nhật Bản có số nhiều, chẳng thua gì nước nào khác, có lẽ còn nhiều hơn nữa. Rất đỗi vợ con võ gia đều ganh đua tập võ, đeo gươm giữ mình, và khi con gái xuất giá, lấy con dao thanh kiếm, là đồ cưới quý trọng hơn hết. Tục này đến lúc đầu duy tân cũng còn.

Ta coi lai lịch và tinh thần Võ sĩ đạo như thế, bảo Võ sĩ đạo là nguyên khí của quốc gia, luân lý của dân tộc Nhật Bản chính là sự thiệt vậy.

* * *

Nãy giờ, mê man theo bóng Võ sĩ đạo mà chúng ta đi xa đường quá: giờ ta nên quay về mục đích, là câu chuyện tân phong kiến.

Dân tộc Nhật Bản, ngay từ khi hỗn hợp thành giống riêng, tạo lập ra một nước, đã có sự sinh tồn phấn đấu, khiến họ có tinh thần thượng võ tự nhiên rồi. Về sau, cuộc sinh tồn phấn đấu càng ngày càng phải dồn dập cần dùng, thì tinh thần thượng võ lại càng ngày càng mở mang rộng lớn. Đến đời tân phong kiến, chính do tay võ sĩ dựng ra, Võ sĩ đạo rất là thịnh hành, đào tạo cho lịch sử Nhật Bản có một kỷ nguyên mới, một đặc sắc mới, chẳng những có ảnh hưởng lợi ích ở đương thời mà thôi, lại có ảnh hưởng lợi ích cho cuộc duy tân tấn hóa về sau nữa. Thiệt vậy, đến đời Minh trị, từ Đức Xuyên Khánh Hỉ 徳川慶喜 [Tokugawa Yoshinobu] từ bỏ Mạc Phủ mà đem quốc gia đại quyền dâng trả lại Thiên hoàng, cho đến những anh hùng hào kiệt, chí sĩ cao nhân, ai nấy ra sức hô hào thúc giục mà giúp vào cuộc duy tân mau làm mau xong, nhất thiết đều có dũng khí và di phong của Võ sĩ đạo khi xưa truyền lại cả.

Tân phong kiến là thế nào?

Tóm tắt chế độ ấy như vầy: Lúc võ gia nổi lên chống với công gia tức là sĩ tộc tranh quyền quý tộc – mà được thắng thế rồi, một người trong đám võ gia, có binh dũng tướng mạnh sức lớn oai to hơn hết, bèn lấy thế lực ấy mà tự xưng là tướng quân, mở ra Mạc Phủ, đoạt quyền Thiên hoàng, và sai khiến cai trị tất cả mấy trăm chư hầu lớn nhỏ trong nước. Nói về quyền bính, gần giống như cách “vua Lê chúa Trịnh” ở nước ta thuở xưa; nói về danh nghĩa, thì không khác gì tình thế của đời Xuân Thu Chiến Quốc nước Tàu; bọn Tề Hoàn, Tấn Văn lấy sức mạnh tự xưng là bá chủ, làm bộ nâng đỡ thiên tử nhà Chu để sai khiến hiếp đáp chư hầu cho dễ.

Thiệt vậy, lúc nước Nhật có Mạc Phủ dựng lên, chính là lúc Thiên hoàng mất quyền, chỉ còn ở ngôi vua cho có vị vậy thôi, bao nhiêu quốc gia đại chính đều do ông tướng quân nắm giữ hết; chư hầu tuy vẫn chiếu lệ triều cống Thiên hoàng, nhưng họ phụ thuộc về Mạc Phủ và kiêng sợ Mạc phủ hơn.

Đó là chế độ tân phong kiến.

Chế độ này bắt đầu dựng lên hồi cuối thế kỷ XII theo Tây lịch, hai võ gia thế lực là Nguyên Lại Triều 源頼朝 [Minamoto no Yoritomo] và Bình Thanh Thịnh 平清盛 [Taira no Kiyomori] cùng nhau giành giật Thiên hoàng, tranh cướp chính phủ; rốt cuộc họ Bình bị bại diệt, họ Nguyên thắng trận rồi mở ra Mạc phủ ở đất Kiêm Thương, xưng là tướng quân, thâu trọn quyền binh mã cả nước vào trong tay, và bắt chư hầu phải tòng phục mình. Mạc phủ dựng lên từ đó, nhằm giữa năm Tây lịch 1186.

Mỗi vị tướng quân làm chúa như thế, truyền được ít đời con cháu, rồi có họ võ gia khác mạnh thế thừa cơ nổi lên đánh bại họ võ gia trước mà giành ngôi tướng quân. Khởi từ họ Nguyên, trải qua mấy họ Bắc Điều 北條 [Houjou], Túc Lợi 足利 [Ashikaga], Thượng Sam 上杉 [Uesugi], truyền nối mãi cho đến họ Đức Xuyên 徳川 [Tokugawa], là dòng Mạc phủ chót hết, nước Nhật ở trong thời kỳ chế độ tân phong kiến này có trên 700 năm. Riêng họ Đức Xuyên làm chúa được lâu bền hơn cả, cha truyền con nối, có dư 250 năm, tới giữa thế kỷ 19 vừa rồi, tướng quân chót hết của họ Đức Xuyên là Khánh Hỉ nạp trả đại chính cho Thiên hoàng, thế là Mạc phủ dứt, tức là chế độ Tân phong kiến dứt. Rồi đó Minh Trị Thiên hoàng ra tay duy tân cải cách, đưa nước Nhật vào cõi văn minh hùng cường tới ngày nay.

Thời kỳ tân phong kiến hơn 700 năm, do sự Mạc phủ thay quyền đổi họ, tướng quân mạnh được yếu thua, khiến cho nước Nhật trải lắm phen nội loạn lung tung. Có mấy lần trong nước đánh nhau thê thảm đến hàng đôi ba chục năm mới dứt; nào là triều Nam triều Bắc, nào là nước Đông nước Tây, chia rẽ tranh giành, hợp rồi tan, tan rồi hợp, trị kế loạn, loạn kế trị. Có phen rối loạn, tưởng là ngôi Thiên hoàng đến phải rung rinh, đổ ngã, nhưng rồi lại khôi phục tôn nghiêm như xưa, bởi vậy dân Nhật càng tin rằng vua là con cháu chính tông của Thần, không thể nào suy vi hay thay đổi được.

Dầu sao mặc lòng, thời kỳ này dân Nhật mở mang tấn hóa dữ lắm. Chính nhờ sự tương tranh tương đấu không ngơi, mà dân tộc họ từ trên xuống dưới, dùi mài được tinh thần năng lực thêm hay thêm giỏi ra không biết bao nhiêu. Lạ nhất là khi loạn cứ loạn mà đám bình dân vẫn yên tâm về mọi việc kinh doanh khai thác của họ. Văn học, nghệ thuật, công nghiệp, nông tang... nhất thiết đều được tấn tới thịnh vượng, chứ không vì sụ nội loạn mà phải suy sút ngưng trệ gì; đó là nhờ dân họ mạnh chí tấn thủ lắm mới được như vậy.

Các triều Mạc phủ cũng có công lao khai hóa với quốc dân nhiều lắm. Nhất là triều Đức Xuyên lo sắp đặt giáo dục, mở mang văn hóa, rất dày công phu. Nhờ họ Đức Xuyên mà cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, nước Nhật đã biết cái lợi giao thiệp buôn bán với Âu châu, nhất là với Hòa Lan, và đã biết thâu thái ít nhiều học thức của Thái Tây, nhất là y học. Xem đại khái như vậy, thì nói rằng chế độ Phong kiến có cái lợi un đúc tinh thần, có cái công dùi mài trí hóa cho dân tộc Nhật Bản, chẳng phải là đúng với sự thật lắm sao?

Tóm lại, dân tộc Nhật Bản trước hết nhờ sự tin tưởng mình là Thần quốc mà được bền bỉ lâu dài, ai nấy có óc tự tôn, xưa nay không bị ngoại hoạn; lại nhờ có địa lý nung nấu cho dân tộc có nhiều tính chất tốt; sau hết nhờ chế độ phong kiến đắp đổi đã thao luyện tinh thần trí hóa cho họ; ấy là ba cái đặc sắc của họ có đã lâu đời, làm căn bản sẵn sàng, cho nên đến khi gặp thời thế, phong trào mới thúc giục, tự nhiên họ tấn hóa tự tân được mau lẹ tốt đẹp vậy.

Chúng ta đã xét biết ba cái nguyên do lớn này rồi, ta phải nghĩ rằng người Nhật rong ruổi có 30 năm mà theo kịp Âu Mỹ trên đường văn minh tân thời, vẫn biết là họ anh hùng dũng cảm đã đành, nhưng cũng là lẽ đương nhiên, không lạ. Thấy một người có gia phong, có tài đức, nay được phú quý hiển vinh mà ta cho là đáng lắm, thì ngó thấy cuộc duy tân hùng cường của Nhật Bản, ta có thể nào suy nghĩ khác hơn, là vì họ có một cái dĩ vãng rỡ ràng đặc biệt từ trong trứng nở ra kia mà!

❀ ❀ ❀

[1] . 大倭, bây giờ tức là thôn Bạch Cương 白橿, quận Cao Thị (高市), xưa gọi là Cương Nguyên 橿原. Đời xưa giống người Nhật có cái tên của Tàu đặt cho, gọi là giống người Nụy. Bởi vậy sử đời Nguyên nước Tàu chép về Nhật Bản, kêu là Nụy Nô quốc (倭奴國), nghĩa là nước người lùn thấp, do cái gốc của dân Ái nô (Ainos) mà ra. Chính người Nhật tự xưng là Đại Hòa (大和 Yamato).

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.