Nhật Bản Duy Tân 30 năm

Lượt đọc: 73 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1. Nối dõi thần quốc

❊ ❊ ❊

Sự tin tưởng của người ta, tuy cùng một tên, nhưng mà khác thể: có sự tin tưởng chỉ là mê hoặc, sinh ra có hại; có sự tin tưởng chính là dấu hiệu của lý tính, của tinh thần, của cái gốc sinh tồn hoạt động ở đời; sự tin tưởng ấy thành ra cần dùng và có lợi.

Phàm người có ôm giữ trong óc một điều tin tưởng gì đúng đắn vững vàng, ta thường thấy họ đi trên đường đời ít khi vương nhằm những nỗi trắc trở sai lầm, mà công việc họ làm cũng dễ thành công kết quả. Một dân tộc cũng thế. Ta xem dân tộc Nhật Bản tin tưởng họ là Thần quốc mà có những ảnh hưởng lợi ích cho quốc gia dân tộc họ ra sao thì biết.

GỐC TÍCH THẦN QUỐC

Thật vậy, người Nhật tin rằng nước họ là Thần quốc 神國, nghĩa là một nước do thần dựng lên.

Tuy là một chuyện viển vông mù mịt, nào có gì làm bằng, nhưng vậy mà trong tâm não người Nhật xưa nay lớn bé trẻ già, ai cũng đều tin tưởng như thế; tin tưởng một cách chắc chắn, vững vàng, lại còn có vẻ tự cao nữa là khác.

Theo quốc sử Nhật Bản, nguyên là 3000 năm về trước, trên trời có ba vị thần hiển linh:

Thiên ngự trung chủ tôn 天御中主尊 Amenominakanushi no mikoto

Cao hoàng sản linh tôn 高皇産霊尊 Takamimusuhi no mikoto

Thần hoàng sản linh tôn 神皇産霊尊 Kamumimusuhi no mikoto

Ba vị thần xuống phàm kinh doanh thống trị ở trên tám cù lao Nhật Bản. Thần “Thiên ngự trung chủ” làm chúa tể, ở ngôi chính thống, là đức nguyên tổ của các Thiên hoàng (Mikado 天皇), nước Nhật về sau. Còn hai vị thần “Cao hoàng sản linh” và “Thần hoàng sản linh” thì là ngoại tổ của Thiên hoàng. Thuở đó ba vị thần kết hôn với nhau, sinh nở ra thần con thần cháu, dòng dõi phồn thịnh. Duy có dòng dõi thần “Thiên ngự trung chủ” là dòng dõi chính thống chân truyền đời đời nắm quyền thống trị nước Nhật; còn dòng dõi hai thần kia thì làm các chức lớn, phò trợ nhà vua, như là tể tướng, chư hầu, tướng quân… Thành ra vua Nhật là con cháu chính tông của thần đã đành, mà đến các quý tộc danh gia trong nước cũng là con cháu của thần nữa.

Cách sau mười mấy đời truyền nối dòng dõi của ba vị thần nói trên đây, tới “Thiên Chiếu đại thần 天照大神 Déesse Amaterasu Omikami, tục gọi là Nữ thần Mặt trời, hay là thần Quốc tổ 國祖, vì chính thần tạo lập ra ngôi vua nước Nhật xưa nay.

“Thiên Chiếu đại thần” sai vị thần cháu ngài hóa sinh hình người, lên ngôi vua thống trị nước Nhật; khi đó ngài ban cho hoàng tôn ba món thần khí, là một cái gương, một thanh kiếm, một hòn ngọc, và có lời dạy rằng: “Ngôi báu này, con cháu của thần chính tông đời đời truyền nối nhau, cùng trời đất trường sinh vô tận”. Từ đó Nhật Bản dựng thành quốc gia và có vua cầm quyền trị dân một cách chính thức. Ba món thần khí là cái dấu tỏ thiêng liêng quý báu của nhà vua, từ xưa đến nay, mỗi đời Thiên hoàng lên nối ngôi trị vì, trước hết có cuộc tế lễ rất tôn nghiêm, để bái lĩnh ba món thần khí này, tức là vật truyền quốc chi bảo vậy. Mỗi món thần khí chỉ tỏ ra một đức tính:

Ngọc Bát bản quỳnh khúc 八 阪 瓊 曲 玉 tỏ ra đức nhân ái từ bi;

Gương Bát chỉ 八 咫 鏡 tỏ ra đức trong sạch sáng suốt;

Kiếm cỏ trĩ 薙 草 劍 tỏ ra sức mạnh bạo cả quyết.

Vị hoàng tôn vâng mệnh “Thiên Chiếu đại thần” lên ngôi trị vì, khai sáng nền quân chủ Nhật Bản là Thần Võ thiên hoàng 神武天皇 [Jimmu Tennou]. So sánh với Tây lịch, thì ngài tức vị vào khoảng trước Thiên Chúa giáng sinh 660 năm; so sánh với Hoa lịch, thì ngang vào năm thứ 17 của Châu Huệ vương; còn so sánh với nước Nam ta, thì phỏng chừng vào lúc cuối đời Hùng Vương 16 hay là Hùng Vương 17, lối đó.

Vậy là Thần Võ thiên hoàng chính là thủy tổ của Chiêu Hòa thiên hoàng, đức vua đang tại vị của Nhật Bản ngày nay. Tính cộng triều vua từ Thần Võ tới Chiêu Hòa, 124 đời, tính năm thì tới nay (1936) được 2.596 năm. Thế là từ khi Nhật Bản dựng nước có vua đến giờ, chỉ có một dòng họ truyền nối làm vua, chứ không có sự thay triều đổi họ như các nước khác.

Trên kia đã nói Nhật là nước của Thần tạo lập ra, và vua Nhật là dòng dõi chính truyền của thần, cho nên phàm là người Nhật, ai cũng tin tưởng, kính thờ, tôn trọng, không được xâm phạm hay là nghi hoặc bao giờ. Sự tin đó chôn chặt vào trong tim óc người Nhật cứng như đinh đóng vậy.

Ai có ý bất kính hay là hoài nghi, kẻ ấy phạm tội rất lớn. Còn nhớ cách nay 30 năm, một nhà bác học đại danh là ông Koumei, giáo sư ở trường Đế Quốc đại học tại Đông Kinh ngỏ ý nghi hoặc về gốc tích Thần Võ khi xưa không phải là Thần, tức thời ông bị cách chức. Lại năm 1926, cũng vì câu chuyện đó, mà ông bác sĩ Tetsu Onjiro bị cách chức nghị viên trong viện Quý tộc. Một vài chứng cớ như thế đủ chỉ tỏ cho ta thấy người Nhật tin tưởng về cội rễ quốc gia quân chủ của họ một cách thành kính vững vàng ra sao vậy.

Giờ ta thử xét sơ coi sự tin tưởng đó có những ảnh hưởng hay cho lịch sử quốc gia Nhật thế nào?

KHÔNG CÓ CÁCH MẠNG

Thuở xưa, kẻ làm quân chủ hay lấy thần quyền làm khí cụ, nghĩa là bày đặt nương dựa vào sức quyền thiêng liêng của thần thánh để cho dễ cai trị sai khiến muôn dân. Ta coi không mấy nước ban đầu mới có quốc gia lịch sử mà không ỷ thị thần quyền làm gốc. Song về sau ngôi vua nước nào cũng có những sự tranh giành mà thay triều đổi họ luôn luôn, chứ không hề thấy nước nào có một dòng họ giữ lấy ngôi vua mãi được.

Chỉ duy có Nhật Bản, từ khi lập quốc đến nay, gần 2600 năm, và trải 124 triều vua, đều là con cháu của Thần Võ thiên hoàng một dòng truyền nối mà thôi. Vì lòng dân xưa nay tin chắc rằng nước họ là Thần quốc, vua họ là Thần tôn (con cháu của thần), vậy cái ngôi chí tôn chỉ có dòng dõi của thần mới là xứng đáng và muôn đời không thể đổi thay, cũng không ai được xâm phạm tới; trái lại, ai cũng phải kính thờ ủng hộ.

Bởi vậy, thuở nay Nhật Bản không có cách mạng bao giờ; thực là một sự lạ lùng đặc biệt của họ.

Cách mạng nói đây, nghĩa là một cuộc mưu toan đánh cướp hay đổi thay ngôi quyền thống trị. Ấy là việc thay triều đổi họ làm vua; nước nào trong thiên hạ cũng có trải qua cảnh đó năm lượt bảy phen; chỉ có nước Nhật là không.

Tuy là xưa kia Nhật Bản cũng có một vài kẻ gian thần giết vua, và chính trong hoàng tộc cũng từng xảy ra cái nạn tranh ngôi hại lẫn nhau chứ chẳng phải không, nhưng vậy mà trong nước không hề vì đó mà đến đỗi có những cuộc rối loạn nổi lên. Có lúc dòng vua hầu tuyệt rồi cũng trở lại phồn vinh như cũ. Có lúc họ Đằng Nguyên 藤原 [Fujiwara] cũng là một dòng dõi của thần lập ấu chúa, cầm đại quyền, nếu như ở nước khác thì dễ sinh ra việc đoạt quyền thoán vị như chơi, song họ Đằng Nguyên thì vẫn thờ vua một cách cung kính. Cho tới về sau, luôn mấy trăm năm, Thiên hoàng ở ngôi chỉ như phỗng đá, làm vua hư danh vậy thôi, bao nhiêu đại quyền trong nước đều về tay tướng quân nọ tướng quân kia kế tiếp nhau nắm giữ, gọi là Mạc Phủ tướng quân 幕府将軍 [Bakufu Shogun] giống như kiểu “vua Lê chúa Trịnh” ở lịch sử nước Nam ta. Song đời họ nào làm tướng quân cũng vẫn dốc lòng tôn kính hộ vệ Thiên hoàng, chứ không một ông nào dám có ý dòm ngó ngôi báu. Những lúc như thế, ở nước khác có thể đổ bể ra bao phen cách mạng rồi, nhưng ở nước Nhật thì yên ổn như thường.

Đến lúc ban đầu Minh Trị duy tân, nhà nước sửa sang thay đổi mọi việc, tuy có một vài hào kiệt chí sĩ nóng nảy dấy binh làm dữ, có người cho đó là việc cách mạng, nhưng kỳ thực chỉ là việc hối thúc nhà nước cải cách cho mau, và đối phó với ngoại bang cho cứng cáp mà thôi, chứ kẻ dấy binh đó bản tâm không có chỗ nào phản nghịch Thiên hoàng hay làm hại quốc gia. Bởi vậy đời Minh Trị sửa mới luật pháp, không cần để khoản trị tội phản nghịch vào, mà những tội trái lệnh vua hay quốc sự phạm cũng coi như tội cách mạng ở các nước khác.

KHÔNG BỊ NGOẠI XÂM

Dân Nhật do nơi sự tin tưởng mình là Thần quốc mà sinh ra lòng tự tôn; do nơi lòng tự tôn mà sinh ra sức tự vệ rất mạnh, không chịu để cho ai xâm phạm tới Thiên hoàng và không chịu ai ở ngoài tới lấn hiếp đất nước non sông của họ được.

Lịch sử quốc gia của họ trải hai ngàn mấy trăm năm, bị giặc ngoài tới đánh trước sau bốn lần:

Đời vua Khoan Nhân [寛仁 Kannin] (Tây lịch năm 1019) bị giặc Khiết Đan. Đời Văn Vĩnh [文永 Bunei] (1274) bị giặc Nguyên. Đời Hoằng An [弘安 Kouan] (1284) cũng bị giặc Nguyên nữa. Đời Ứng Vĩnh [応永 Ouei] (1418) thì bị Mông Cổ kéo binh qua đánh. Thế mà lần nào họ cũng đánh giặc phải lui.

Thuở đó có dân nào hùng cường cho bằng Mông Cổ, dòng dõi của Thành Cát Tư Hãn 成吉思汗 là người anh hùng oanh liệt, đã quét sạch Á châu, lại đem binh qua đánh tới Âu châu, khiến cho Âu châu bây giờ nhắc tới vẫn đang lo sợ cái vạ “da vàng”. Dòng đó đã chinh phục Trung Quốc, làm vua Trung Quốc rồi (tức là nhà Nguyên 元), bèn thừa thế đem chiến thuyền qua đánh Nhật Bản, nhưng bị thủy quân Nhật nhân được sức gió mà đánh lại binh Nguyên thua chạy không kịp[1].

Thế là xưa nay không có người khác nước nào tới xâm lăng đất nước Nhật Bản đặng, vì họ cho đất nước họ là Thần quốc, dòng giống họ là Thần tôn, nên họ ra sức tự vệ, không chịu ai ăn hiếp được họ. Nói gì 70 năm nay, duy tân hùng cường rồi, họ chỉ đánh người ăn người thì có, chứ không biết chữ “thua” là nghĩa thế nào?!

ẢNH HƯỞNG VỀ TÂM TÍNH

Dân Nhật là một giống dân chuộng sự sạch sẽ nhất trong thiên hạ, không ai không biết.

Sở dĩ họ có cái đặc tính đó, hoặc do địa lý phú tính tự nhiên cho họ, song xét đến cội rễ cũng bởi nơi dân tâm rất mực tin thần kính thần mà ra. Họ nói thần rất ghét sự dơ dáy, tránh sự ồn ào, bởi vậy mình kính thần tất phải giữ sao cho tấm thân mình tinh khiết thanh tịnh luôn luôn mới được. Đó là một cái gốc giáo hóa của Thần quốc ngay từ thuở xưa, rồi sau thành ra phong tục của xã hội, thiên tính của quốc dân, coi sự tinh khiết thanh tịnh, như một nền đạo thiêng liêng, ai nấy phải tu phải giữ vậy.

Ta nên biết thần ở trong tâm não người Nhật tin tưởng, khác hẳn ý nghĩa với thần của nhà tôn giáo; mà cách họ kính thần cũng không giống cách dân Tàu hay dân Nam mình kính thờ vậy đâu. Người Nhật đối với thần, thờ kính thần, nhưng không hề có ý khấn vái lạy lục để thần làm cho mình thỏa sự dục vọng gì, hay là cầu lấy sự phúc lợi riêng cho mình; nghĩa là họ không thờ thần hầu trông có những sự lợi thân ích kỷ; trái lại họ chỉ sợ mình không được thanh khiết, đến đỗi bị thần ghét bỏ mà thôi. Tóm lại cái thâm ý của họ kính thần là lo tu thân, chứ không phải cầu lợi.

Đạo kính thần của họ cần nhất là mỗi người lo giữ sáu căn cho được trong sạch 六根清浄. Sáu căn là: tai, mắt, mũi, miệng, thân và tâm. Họ nói rằng nếu như giữ được sáu căn trong sạch, không có một điểm nhơ bẩn nào dính vào, và sáu căn bao giờ cũng sáng suốt như thủy tinh, vậy thì mình có thể ở yên giữa trời đất thanh tịnh, rồi tự nhiên được thần ban phúc cho, chứ tự mình không phải khấn vái cầu cạnh chi hết.

Coi một chút vậy đủ biết Nhật Bản từ xưa đã có một nền văn minh tinh thần khá lắm rồi. Vả lại họ sẵn có tục kính thần, cho nên trải mấy ngàn năm trong lịch sử, dễ hấp thụ lấy những văn hóa ngoại bang đưa tới. Đạo giáo, Nho giáo và Phật giáo của Trung Quốc và Ấn Độ truyền sang, người Nhật đều đón rước dung hòa, lựa chọn lấy những cái sở trường của người ta để làm ra cái đặc sắc của họ. Cho tới lúc họ gặp văn minh Thái Tây truyền qua cũng thế.

Ông Đại Ôi Trọng Tín phán đoán cuộc duy tân tấn hóa của đồng bào ông bằng câu sau này, tôi tưởng đúng lắm:

“Phàm vật gì trắng tinh sạch sẽ thì chất của nó dễ cảm hóa chịu đựng. Người Nhật nhờ có tinh thần thanh tịnh sẵn sàng, cho nên đến lúc tiếp rước đặng văn minh ngoại bang đem lại, là có thể xem thấy chỗ tốt đẹp mà lựa chọn bắt chước liền, chứ không nghi nan do dự chút nào. Tâm não người Nhật không chứa cái tính cố chấp của nhà tôn giáo, thành ra như nước trong suốt, đựng trong cái bình bằng pha lê cũng trong suốt, nay lấy màu sắc mà rót vào, tự nhiên thấy vẻ hồng hào tốt đẹp lộ ra được ngay. Sở dĩ người Nhật dễ tấn tới về vật chất và tinh thần là tại vậy đó”.

❀ ❀ ❀

[1] . Quân Nguyên thời ấy hùng cường vậy đó mà xâm lăng Nhật bị Nhật đánh thua, kéo qua đánh nước Nam ta cũng bị ta đuổi chạy. Hai phen vị anh hùng Trần Hưng Đạo ta đại thắng binh Nguyên, ấy là một việc võ công vẻ vang nhất cho lịch sử và nòi giống ta, chắc đồng bào đều ghi nhớ, mà cũng nên có chỗ cảm thán vô cùng.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.