Tây phương lấy võ lực khiêu khích bắt buộc Nhật Bản phải tỉnh giấc mộng xưa mà đi vào con đường mới, hèn chi trong cuộc duy tân, chính phủ Nhật Bản lấy việc sửa sang binh bị, sắp đặt quốc phòng là việc quan hệ cấp bách thứ nhất cũng phải.
Đã nói toàn cuộc “Nhật Bản duy tân” có thể gọi tắt là một cuộc tóm thâu bắt chước hết thảy những cái gì là mới, là hay, là tài, là lạ của Tây phương. Từ chính trị, giáo dục, võ bị, khoa học cho tới kỹ nghệ, công thương, cơ khí, mỹ thuật, không có thứ nào mà Nhật không đạp đổ cái cũ, cái dở của mình, để đổi lấy cái hay, cái mới của người. Trên đường văn minh tiến hóa, họ như người khách lữ hành có việc gấp, mà đi thâu đêm suốt sáng, rảo cẳng rút đường, hầu tới mục đích địa điểm cho mau, kẻo sợ chậm trễ hư việc.
Bởi vậy, bắt đầu từ 1868 trở đi, lối 30 năm sau, Nhật Bản nghiễm nhiên trở nên một nước văn minh phú cường, trừ cái quốc hồn ra thì bao nhiêu dấu cũ vết xưa ba chục năm về trước không còn thấy tăm hơi đâu hết.
Mấy tiếng súng của Tây phương thức tỉnh và thúc hối Nhật Bản mau quá!
Đã đọc một chương ở trên xa kia, độc giả tất đã biết rõ cái cớ khiến cho Nhật Bản văn minh tự cường mau, chính là do mấy tiếng súng của Tây phương hăm he, bắt buộc. Trước là mấy tiếng súng của đoàn tàu Mỹ bắn vào Phố Hạ; sau là mấy tiếng súng của hạm đội 4 nước Anh, Lan, Mỹ, Pháp, hiệp nhau bắn vào Lộc Nhi Đảo và Hạ Quan. Những tiếng súng đó chỉ tỏ cho người Nhật thấy cái mãnh lực của Tây phương cao hơn mình muôn phần; nếu mình muốn sinh tồn, thì phải làm sao cũng bắn được những tiếng súng long trời lở đất như họ vậy mới được.
Thế là Tây phương lấy võ lực khiêu khích bắt buộc Nhật Bản phải tỉnh giấc mộng xưa mà đi vào con đường mới, hèn chi trong cuộc duy tân, chính phủ Nhật Bản lấy việc sửa sang binh bị, sắp đặt quốc phòng là việc quan hệ cấp bách thứ nhất cũng phải.
Phải xem qua cái lịch trình của lục quân và hải quân nước Nhật, mới dễ thấy cuộc duy tân của họ bày tỏ ra sự thành công kết quả đã mau chóng lại tốt đẹp vẻ vang đến thế nào?
CÓ NGƯỜI SỚM BIẾT NGHIÊN CỨU BINH PHÁP THÁI TÂY
Ai cũng biết Lục quân Nhật Bản nổi tiếng khắp thiên hạ là thứ quân có kỷ luật nghiêm minh và dũng mãnh liều chết lạ thường. Họ ngang hàng với lục quân của Pháp và của Đức chớ không phải vừa. Nhiều người Âu châu đi xem trận Nhật Nga chiến tranh 1904-1905, đều phải công nhận.
Có lạ gì dân tộc Nhật Bản sẵn có tính cách thượng võ từ trong trứng đẻ ra, trải qua con đường lịch sử dằng dặc hai ngàn mấy trăm năm, nào là vì lẽ phấn đấu sinh tồn mà phải đánh dẹp những bộ lạc ở xung quanh họ, nào là trong nước có những việc nội loạn chinh chiến luôn luôn, thành ra từ xưa, người Nhật đã từng biết sửa sang võ bị, rèn tập lục quân là thế nào rồi. Một dân tộc có Võ sĩ đạo là quốc túy, quốc hồn, tự nhiên ai cũng biết trọng võ, ai cũng là tên lính được cả. Có thể nói Nhật Bản từ khi có lịch sử cho đến lúc được chừng 2300 năm, không có mấy chương mà không biên chép việc võ.
Chỉ duy đến đời cận kim, họ Đức Xuyên làm tướng quân, ngoài thì đóng cửa tuyệt giao, trong thì thái bình vô sự, ròng rã hai trăm mấy chục năm như thế, việc văn hết sức tấn tới, mà việc võ ra chiều lãng quên đến đỗi hình như dân Nhật không còn có thứ máu hung hăng vũ dũng như tổ tiên thuở trước nữa. Bởi vậy hồi cuối thế kỷ XVIII, năm 1789, người Nga mở mang bờ cõi sang phương Đông, ỷ mạnh xâm lấn mất cù lao Thiên Đảo 千島 [Chishima] của Nhật, mà Nhật cam chịu ngó lơ; rồi từ đó về sau thường có lá buồm tàu Tây ra vô thấp thoáng ở biển gần kề Nhật Bản luôn luôn, nhưng cũng chưa đủ kêu gọi cái hồn thượng võ thủ thân của dân Nhật tỉnh dậy.
Mãi tới năm 1853, một đoàn tàu Mỹ kéo tới Phố Hạ bắn súng rầm rầm, bấy giờ trong nước Nhật, trên dưới mới rúng động hoảng hồn, coi như tiếng sét bể núi nghiêng trời thình lình giáng hạ! Cái hồn Đại Hòa dân tộc là cái hồn thượng võ trọng binh, hai trăm mấy chục năm bị uất kết trầm kha, nay vùng tỉnh dậy, rồi những người mang cái hồn ấy ùn ùn phấn phát giống như cái thế núi lở nước tràn, không có thứ gì ngăn cản được. Bấy giờ, trên thì mấy nhà cầm quyền Mạc phủ, dưới thì hạng chí sĩ thức thời, đều xôn xao nhìn biết sức mạnh ghê gớm của Tây phương, và nhất định làm sao mình cũng phải có quân lính tập rèn như người Tây, súng đạn dữ dằn như người Tây, thì mới sinh tồn đặng.
Song, y như một đoạn trên xa kia tôi đã nói, nước Nhật có phúc, cho nên đối với văn hóa Tây phương, trong dân gian thường sản sinh ra những hạng chí sĩ có cái óc tỉnh ngộ thời thế sớm hơn nhà cầm quyền, sớm hơn cả dân chúng, dầu về phương diện nào cũng thế. Chính hạng ấy tỉnh ngủ dậy trước, rồi đánh thức nhà cầm quyền và dân chúng dậy theo.
Như đời Đức Xuyên cấm dân nghiên cứu Tây học, còn việc mua bán thì chỉ cho phép một mình người Hòa Lan là người Tây phương được ra vô buôn bán ở đất Trường Kỳ mà thôi, nhưng vậy mà trong đám sĩ dân Nhật Bản vẫn có năm mười học giả thầm lén xem xét văn minh Tây phương. Ngay đến quân học Tây phương đời ấy cũng đã truyền qua Nhật Bản chút ít được rồi. Ta coi một chứng cớ này đủ biết.
Năm 1840, tức là trước khi có đoàn tàu Mỹ vô bắn súng thị oai ở cửa Phố Hạ 13 năm, nước Nhật đã có người dân ở Trường Kỳ tên là Cao Đảo Tứ Lang 高島四郎 [Takashima Shirou] lần mò chơi bời với người Lan, xem kiểu súng Lan, tự nhiên trong óc nảy ra kiến thức về thời thế, về sức mạnh của quân lính súng đạn Tây phương. Rồi đó Cao Đảo chuyên tâm giảng cứu binh học Tây phương ngay chẳng dụ dự chút nào! Không bù với sĩ dân nước mình, từ hồi cuối thế kỷ XVIII, có đức thầy Bá Đa Lộc đem mấy chục tay kỹ sư quân gia Pháp qua đóng tàu đúc súng giùm cho vua Gia Long, có khí giới tân kỳ đó ngài mới thắng nổi Tây Sơn, ấy chính là dịp đáng cho ta có một hai Cao Đảo Tứ Lang sớm hơn Nhật Bản 50 năm rồi chớ! Vậy mà chẳng hề có một nho gia hay một võ sĩ nào của mình thấy cái sức mạnh đó mà biết tỉnh ngộ bắt chước!
Cao Đảo học rồi dâng thư lên Mạc phủ, đại khái nói rằng:
“Thanh quốc (青国 tức là nước Tàu lúc đó) bị Âu binh đánh phá tan tành, là vì binh khí của Thanh dùng theo kiểu xưa, quân lính tập rèn lối cũ, không có thế nào chống lại được với binh khí quân sĩ lối mới đời nay. Nếu như nước Nhật ta không mau mau sửa sang binh khí, quân đội và chiến pháp, thì việc quốc phòng của ta không có thế nào khỏi nguy được đâu. Vậy xin tướng quân nên mau thi hành cuộc đại cải cách về việc binh cơ võ bị mới đặng…”
Vừa nói vừa làm, Cao Đảo lại cậy người Hòa Lan mua một ít súng đạn ở nước Hòa Lan đem qua, rồi tự mình rèn tập võ nghệ tân thời cho một số em cháu học trò. Khi tập rèn thành thuộc đâu đó rồi, chính Cao Đảo dẫn toán lính mới, bồng súng mới đó, lên tới Giang Hộ, để phô bày trước mắt, hầu chỉ tỏ cho Mạc phủ thấy việc nghiên cứu Tây học là việc cần kíp dường nào. Tuy nhà cầm quyền chần chừ nghi ngại, chưa chịu nghe lời Cao Đảo mặc lòng, chớ Cao Đảo cũng đã làm cho Mạc phủ hơi tỉnh ngộ về thế lực Tây phương nhiều ít.
Trở về quê hương, Cao Đảo mở trường dạy học luyện binh đúc súng kiểu Tây. Có nhiều chí sĩ thức thời vẫn dốc lòng khâm phục binh pháp Tây phương, giờ kéo tới Trường Kỳ thờ kính Cao Đảo làm thầy càng ngày càng đông. Cao Đảo cùng người học trò giỏi nhất là Giang Xuyên Thái Lang 江川太郎 [Egawa Tarou], mở xưởng đúc súng đạn riêng mà tự thảo ra trận đồ phòng giữ đất nước. Tia sáng “binh pháp duy tân” của Nhật Bản, chính là từ trong nhà Cao Đảo mà bật lên chiếu rọi trước hết vậy.
Tội nghiệp Cao Đảo về sau bị nhà cầm quyền sinh nghi là có chi lạ sao đó, nên chi cuối năm 1842, Cao Đảo bị bắt hạ ngục rồi chết luôn trong ngục.
Tới đây, tôi động lòng vụt nhớ lại cảnh ngộ của ông Nguyễn Trường Tộ mình ở đời Tự Đức cũng dâng thư yêu cầu cải cách về học thuật võ bị, không được triều đình biết nghe, lại còn sinh nghi rồi giam cầm ông ta chết khô trong ngục. Thân thế Trường Tộ giống như Cao Đảo; chỉ khác nhau một chỗ, là Cao Đảo có thực nghiệm ít nhiều, còn Trường Tộ chỉ cao đàm trên giấy. Thành ra, cùng là vì việc quốc gia thời thế mà chết khô như nhau, nhưng mà một người có lưu lại ảnh hưởng với hậu nhân, một người thì vô bổ cho quốc sự!
Mặc lòng Cao Đảo gặp bước chẳng may cho đời mình, nhưng mà công nghiệp khởi sáng của Cao Đảo vẫn sống đời đời. Người Nhật đều nói: “Ông tổ Tây phương binh pháp ở nước Nhật, chính là Cao Đảo!”.
Người nọ mang họa mà chết, tức thời có người kia nối chí mà dấy lên ngay, không sợ gì hết. Nội cái tinh thần vô úy của chí sĩ Nhật như thế, đủ khiến cho Nhật ít năm sau trở nên văn minh hùng cường tới bao nhiêu lần cũng đáng.
Nối chí Cao Đảo, chính là Giang Xuyên; học trò ra tay làm cái việc của thầy học để lại.
Giang Xuyên cứ mở trường dạy học trò tập binh đúc súng và lo việc quốc phòng như Cao Đảo trước. Một mặt Giang Xuyên khéo tỏ bày thời thế, mà được mấy cụ Các lão của Mạc phủ tin dùng. Mạc phủ giao cho Giang Xuyên xây hai pháo đài ở Hạ Điền 下田 [Shimoda] và Phẩm Xuyên 品川 [Shinagawa], làm như hai bức thành đá, hộ vệ Mạc phủ. Đến năm 1855, nghĩa là sau khi đoàn tàu Mỹ qua Phố Hạ 2 năm, thì Giang Xuyên mang bệnh qua đời.
Người Nhật đều nói: “Nhờ nơi Cao Đảo, Giang Xuyên, hai thầy trò sốt sắng gan dạ, mới mở ra đầu mối sửa sang binh pháp tân thời cho Mạc phủ, mà cũng chính là hai ông tổ sư của Lục quân Nhật Bản ngày nay”.
ĐẠI KHÁI LAI LỊCH CỦA LỤC QUÂN NHẬT TỪ MẠC PHỦ ĐẾN ĐỜI MINH TRỊ
Sau đó, cả về hải quân và lục quân, Mạc phủ đều lo sửa sang lại, và mua sắm binh khí tân thời để cho việc quốc phòng được vững vàng. Mạc phủ lại tự mở ra xưởng chế tạo súng đạn nữa. Các phiên bang cũng bắt chước; mỗi phiên đều mở ra xưởng súng đạn riêng của mình. Tự nhiên ban đầu súng đạn ấy chế tạo ra chưa tốt, nhưng mà nhờ có chỗ “lo thân và dè người” nó xui khiến, thúc giục, thành ra chỉ trong ít năm, công cuộc chế tạo binh khí lối mới ở nước Nhật được tấn bộ mau lắm.
Đến hồi tàu chiến của Anh bắn vào đảo Lộc Nhi 鹿児島 [Kagoshima) (1863) và năm sau hạm đội 4 nước Anh, Pháp, Mỹ, Lan, kéo tới bắn vào Hạ Quan (1864), nước Nhật thêm cơ hội tỉnh ngộ ra rằng chỉ có súng bền đạn tốt cũng chưa đủ cho mình cự ai hay là đánh người được, tất nhiên phải khéo luyện tập binh đội nữa mới xong.
Rồi năm 1862, Mạc phủ theo kiểu Tây mà lập ra được 3 binh đội: Bộ binh 8.306 người; kỵ binh 1.068 người; pháo binh dã chiến (dùng đánh nhau ngoài đồng) 800 người; pháo binh yếu tắc (giữ chỗ hiểm yếu, ví dụ như pháo đài) 2.045 người; tướng sĩ 1.406 người; cộng lại mấy đạo lục quân được 13.625 người. Lại bắt chước Tây phương mà định ra thứ bậc danh hiệu các tướng tá ở lục quân và hải quân, rồi phái người đi Âu châu nghiên cứu binh chế.
Tới năm 1867, Mạc phủ mướn mấy vị võ quan Pháp sắp đặt và thao luyện lục quân cho mình. Các phiên bang cũng đua nhau sửa sang võ bị lối mới; có điều là mỗi phiên tự ý bắt chước cách thức của một nước Âu châu, chớ không nhất định một thứ. Nhưng cũng năm 1867 đó, Mạc phủ đem quyền chính dâng trả Thiên hoàng, rồi sang năm sau là Minh Trị nguyên niên, bắt đầu mở ra lịch sử duy tân cho nước Nhật.
Một hai năm đầu Minh Trị, tuy là chính quyền đã trả lại nhà vua, nhưng mà binh quyền thì chưa, vì còn ở trong tay các phiên, mỗi phiên, có quân đội riêng: phiên theo kiểu Anh, phiên theo lối Đức.
Minh Trị Thiên hoàng sai Sơn Huyện Hữu Bằng (37 năm sau làm đại tướng trong trận đánh Nga) và Tây Hương Tông Đạo cùng đi qua các nước Âu châu, xem xét binh chế. Tháng 8 năm Minh Trị thứ 3, hai ông này về nước, gánh vác công việc sửa sang quân chính.
Bấy giờ Nhật Bản mới nhất định lựa chọn theo kiểu Pháp quốc mà tổ chức lục quân của mình, các phiên cũng lần lần trả lại đất cát cùng binh quyền cho nhà vua thống nhất. Lúc này trở đi, lục quân Nhật Bản mới thiệt là bước vào thời kỳ tổ chức theo lối mới, huấn luyện theo lối mới.
Ta nghĩ coi quân đội một nước trải mấy ngàn năm quen đánh nhau bằng giáo mác gươm đao, vả lại kỷ luật không rành, giáo dục ít có; nay bỗng xóa bỏ hết lớp cũ, để tạo lập ra lớp mới tinh, lẽ tự nhiên công cuộc cải cách này vừa vất vả khó khăn, nhưng thật là công trình vĩ đại lắm vậy. Nhất là luyện tập lục quân kiểu mới mà sau 37 năm nữa đã đem ra thử sức với lục quân của một đại cường quốc lâu đời là nước Nga, rốt cuộc binh Nhật toàn thắng, càng tỏ ra công cuộc cải cách mau lẹ rõ ràng biết sao mà nói cho cùng.
Tôi tiếc không thể nói kỹ về công cuộc cải cách binh pháp của đời Minh Trị từ ly từ chút, là vì giới hạn giấy mực hẹp hòi, mà dầu có nói kỹ chắc cũng là dư, vì giống người chúng ta vốn không thượng võ, không hào binh, tưởng nếu nói nhiều về công cuộc tổ chức này có lẽ lắm người đọc sinh chán!
Chúng ta chỉ nên biết rằng công cuộc cải cách binh bị của Nhật trong hồi duy tân đã làm một cách thấu triệt, hoàn toàn, không có một điều hay nào về binh cơ võ bị của Âu Mỹ mà Nhật Bản không thâu góp bắt chước. Từ việc giáo dục tướng sĩ, chế tạo khí giới, cho đến việc xây dựng pháo đài, sắp đặt binh chế, nhất nhất đều lần hồi sửa sang, kỳ cho tới có lục quân hẳn hoi như Âu Mỹ.
Mười mấy năm đầu, Nhật Bản còn phải mướn võ quan Âu Mỹ qua rèn tập và sở đúc súng đạn cũng mướn các nhà chuyên môn ngoại quốc chỉ vẽ trông nom. Nhưng từ năm Minh Trị thứ 15 trở đi, thì mọi việc luyện binh đúc súng gì, người Nhật cũng tự làm lấy hết, không phải mượn tay người ngoại quốc nào nữa. Là vì có những thanh niên đi du học Âu Mỹ trở về, đã rút nghề của Âu Mỹ mà tự chủ công việc luyện binh đúc súng được rồi. Học như họ vậy mới thiệt là học cứu nước.
Muốn biết hải quân và lục quân đời Minh Trị càng ngày càng tấn tới sửa sang thế nào, ta cứ xem nội số tiền công nho gia tăng cũng biết: mấy năm đầu chi phí 7 triệu yên có, 8 triệu yên có; 20 năm sau lên 13, 14 triệu, cho tới khoảng Minh Trị thứ 35, 36, thì số đó lên từ 50 đến 80 triệu, 100 triệu ngoài. Rõ ràng Nhật Bản chịu tốn hao sắp đặt quân đội khí giới lắm vậy.
Một việc có tổ chức mà không có thực nghiệm, thì cũng còn là việc thiếu sót, và không thực nghiệm thì làm sao biết chỗ dở hay? Hải quân và lục quân nước Nhật được kiêm cả hai cái lợi đó.
Trong khi quân đội hải lục cải cách theo mới, có mấy dịp tốt để cho tướng sĩ Nhật Bản thử sức của họ rất hay.
Trước hết, là hồi ban đầu Mạc phủ mới dâng trả quyền chính nhà vua, còn có số ít chư hầu bất phục, rủ nhau nổi loạn, ép nài Đức Xuyên Khánh Hỉ phải trở về Giang Hộ làm tướng quân lại. Dịp này, quân lính nhà vua trên bộ dưới thủy phải ra tay đánh dẹp hơn một năm mới êm. Tuy là nội loạn, nhưng tướng sĩ có cơ hội thao luyện chiến pháp lối mới của họ bắt đầu học được bấy lâu.
Năm Minh Trị thứ 10, có loạn ở miệt Tây Nam do Tây Hương Long Thịnh xướng lên, lại có dịp cho tướng sĩ nhà vua thử sức mình một lúc nữa.
Tới năm Giáp Ngọ (1894), Nhật Bản khởi sự đem binh ra thử sức ở ngoài, ấy là lúc chiếm cứ Đài Loan, đánh nhau với quân nhà Thanh của Trung Quốc. Trận này cả hai quân hải lục đánh đâu thắng đó, làm binh Thanh ngó thấy bóng cờ của Nhật đã chạy te. Rồi đến năm Canh Tý 1900, Trung Quốc có loạn Quyền phỉ, Nhật Bản đem quân sang cùng 7 nước Âu Mỹ, gọi là Bát quốc liên quân (八国連軍) vào Bắc kinh dẹp loạn ấy; cũng là dịp cho binh Nhật thực nghiệm tài lực của mình, mà cũng là dịp cho Tây phương ngó thấy phải lấy làm sửng sốt ngẩn ngơ: không hiểu sao Nhật Bản luyện quân lối mới quanh quẩn có ba chục năm, mà đã có được những quân đội thật là dũng mãnh thiện chiến và có kỷ luật nghiêm minh, không thua Tây phương chút nào.
Sau mấy kỳ thực nghiệm trên đây, tuy là binh Nhật được Tây phương khen ngợi và đánh ăn Trung Quốc, nhưng tướng sĩ Nhật không hề tự kiêu, cũng không cho là tự mãn tự túc. Trái lại, dầu đánh thắng được khen mặc lòng, họ vẫn xem xét lại mình còn thiếu sót những chỗ nào, rồi cố gắng được cải lương tấn bộ hơn nhiều nữa. Các thanh niên tướng sĩ xét mình chưa đủ học thuật làm lo, cho nên sau lúc chiến sự xong rồi, ai nấy trở về càng gia công luyện tập, vì họ thấy rõ binh sĩ Trung Quốc chỉ vì không có học thuật huấn luyện nên mới chọi ai thua nấy, chớ không chi lạ.
Lúc này những súng đạn cùng các thứ quân khí của Nhật tự chế tạo ra đã tấn tới lắm. Nhất là có kiểu súng bộ binh của một vị thanh niên đoàn trưởng là Thôn Điền (村田 Murata, major Murata Tsuneyoshi) sáng chế ra, đạn bắn đi rất xa. Vậy là vừa mới bắt chước người ta, mà họ đã nảy ra cái óc tự chế binh khí rồi; tôi tưởng thiên hạ không có dân nào đi học người mà mau tự lập mình đến thế.
Quân khí đã tốt, tướng sĩ lại đêm ngày luyện tập; một nước có lục quân như vậy, không mạnh sao được? Lục quân đó, đến sau năm 1904-1905, Nhật Bản đem qua Mãn Châu đánh tan quân lính của đại cường quốc Nga-la-tư, làm cho thế giới kinh hoàng, rồi từ đó Nhật Bản được leo lên ngang hàng với liệt cường Âu Mỹ.
Phàm là dân Nhật, ai cũng phải có nghĩa vụ ra lính. Đến tuổi ra đứng dưới lá cờ nhà binh, thì ai cũng bình đẳng như ai, không phân sang hèn giàu nghèo gì cả. Về niên hạn ra lính, gần đây có sửa đổi thế nào, tôi chưa được biết, chớ theo như binh chế đời Minh Trị hồi mới duy tân cho đến hồi đánh thắng Nga, thì nhất thiết nam tử đúng 20 tuổi đến 40 tuổi, đều có nghĩa vụ binh dịch.
Có 4 hạng lính: Thường bị 常備 [Shoubi), Hậu bị 後備 [Atobi), Bổ sung 補充 [Houju), Quốc dân 国民 [Kokumin).
Hạng lính Thường bị chia ra làm hiện dịch và dự bị 2 kỳ. Lính hiện dịch thì lục quân 3 năm, hải quân 4 năm; lính dự bị thì lục quân 4 năm 4 tháng, hải quân 3 năm.
Ngạch lính Hậu bị, kỳ hạn ra lính định là 5 năm; mãn hạn thì tên mình thoát khỏi sổ lính.
Hễ con trai đến tuổi thành đinh tức là đúng 20 tuổi, buộc phải ra lính hiện dịch ngay, để chịu sự rèn tập nghề binh. Duy có học trò thì được rộng kỳ cho học xong rồi mới phải nhập ngũ. Còn những người đăng lính vào hạng dự bị, thì mỗi năm chỉ bị kêu ra tập rèn có một tháng.
Lính Hậu bị cũng như lính Dự bị nói trên đây, là những người bình thời vẫn có nghề nghiệp làm ăn, không buộc vô ở trong trại, nhưng tên họ có ghi trong sổ quân, khi có chiến sự thì nhà nước kêu ra đi lính.
Những người có vóc dáng kém sút, và sức khỏe không hợp cách quân nhân, thì đăng vào ngạch lính Bổ sung.
Đến như ngạch lính gọi là Quốc dân binh, ấy là những người ra lính đã mãn hạn rồi, nhưng xin đăng lại để phục dịch quốc gia mãi mãi.
Riêng với học sinh, nhà nước cho rộng rãi hơn: học sanh cao đẳng chỉ phải ra lính hiện dịch có 2 năm; học sinh đại học thì 1 năm. Còn trung học trở xuống vẫn phải ra lính hiện dịch 3 năm như thường. Những học trò bậc cao, sau khi làm tròn phận sự đi lính rồi, tình nguyện sung vào quân đội thì gọi là chí nguyện binh 志願兵 [Shiganhei], tức như ngạch lính gọi là les volontaires ở Pháp quốc vậy.
Kể đến hồi đánh Nga, khắp cả nước Nhật, số dân có thể ra làm nghĩa vụ binh dịch, lối chừng trên 700 muôn người.
Hiện thời, Lục quân Nhật Bản có cả thảy 17 sư đoàn 師団 [Shidan], ấy là kể số lính tại ngũ trong nước và trấn thủ ở Mãn Châu, Cao Ly, chớ còn những ngạch lính Hậu bị, Dự bị và Bổ sung có thực số bao nhiêu, không ai biết được. Ví dụ một mai đánh nhau với nước nào, mà chính phủ hạ lệnh động viên 動員令 [Douinrei] (Mobilisation), thực số tất cả ngạch lính bao nhiêu, chính phủ giữ bí mật lắm.
Chiếu theo Hiến pháp Nhật Bản, toàn quốc Hải quân, Lục quân và Không quân, đều ở dưới quyền tiết chế của đức Thiên hoàng. Chính ngài là Hải, Lục, Không quân Đại nguyên soái (海陸空軍大元師). Ngài có quyền độc tài về quân chính, chớ không phải qua tay Nội các ưng không mới được. Lúc có chiến sự, ví dụ như lúc đánh Nga, Đại bản doanh 大本営 (Quartier général) hay là Nguyên soái phủ 元師府 vẫn đặt tại thành Đông Kinh, do Đức Thiên hoàng làm đầu, có Nội các Thủ tướng cùng mấy vị Hải quân, Lục quân đại thần và mấy vị Đại tướng quân làm chức Tham nghị Đại bản doanh. Khi đức Thiên hoàng ngự tới Đại bản doanh bàn tính quân cơ, vẫn mang nhung phục Đại nguyên soái.
Chính ngài lựa chọn giao phó các tướng tá thay mặt ngài ra trận cầm quân, gọi là Tổng chỉ huy 総指揮 [Soushiki] hay là Tổng tư lệnh 総司令 [Soushirei]. Tức như hồi có chiến sự với Nga, đức Thiên hoàng phong Đại Sơn Nham làm Lục quân Tổng tư lệnh, đánh bộ binh Nga ở Mãn châu, và phong Đông Hương Bình Bát Lang làm Hải quân Tổng tư lệnh, đánh thủy binh chiến hạm Nga ở cửa Lữ Thuận và Nhật Bản hải. Ra trận, hết thảy tướng sĩ ba quân đều phải vâng theo phương lược của quan Tổng tư lệnh, mà chính quan Tổng tư lệnh lại phải vâng theo huấn lệnh từ Đại bản doanh truyền cho. Trận đánh Nga, hai ông Đại Sơn và Đông Hương vốn là Trung tướng mà Thiên hoàng Minh Trị lựa chọn cất nhắc thăng cấp đại tướng, và đem cả vận mệnh Lục quân và Hải quân nước Nhật phú thác cho, là vì ngài biết rõ tài năng thao lược của hai ông, nên mới trọng dụng ủy thác như vậy. Quả thật, vua Minh Trị không lầm chút nào: bộ binh Nga đại bại vì tay Đại Sơn cũng như thủy binh Nga tan nát vì tay Đông Hương, một ông vua tri nhân thiện dụng, có lợi cho quốc gia là thế đó.
NHẬT BẢN VỐN LÀ MỘT NƯỚC HẢI QUÂN LÂU ĐỜI

THẮNG AN PHÒNG 勝安房 [Katsu Awa] (1823-1899) - Người có công sáng tạo ra Hải quân Nhật.
Cứ lấy địa thế mà nói, Nhật Bản cũng như Anh quốc, là nước cù lao rời rạc, biển rộng bao quanh, vậy thì khỏi nói chắc ai cũng đoán biết rằng vì lẽ sinh tồn hộ thân, tự nhiên dân tộc họ từ xưa vốn giỏi nghề đi biển và cũng từng có tư tưởng về hải quân rồi, chớ không phải đợi đến ngày nay.
Thật vậy, ngày xưa vua chúa Nhật Bản thường dùng chiến thuyền kéo đi chinh phục những cù lao kế cận. Dân chúng trong nước phần nhiều ở ven biển phải sinh nhai đánh cá, tự nhiên nghề hàng hải họ đã gan dạ rành rẽ lắm. Lại nhiều thương gia chuyên nghề buôn bán từ biển này qua biển kia, cho nên họ biết đóng ra những chiếc ghe lớn, để đi biển rộng, trương buồm thuận gió, dám vượt đại hải mà qua buôn bán với Nam dương quần đảo và nước Nam mình rất sớm. Ai thuộc sử ta, chắc còn nhớ có một đoạn về đời Hậu Lê chép rằng có một chiếc ghe buôn Nhật Bản bị bão lớn đánh trôi vào địa phận nước ta, người sống mà ghe hư hết, không thể dùng được nữa. Quan ta vì nghĩa bang giao, muốn đóng cho bọn dân Nhật này một chiếc ghe lớn để họ về nước, nhưng đóng cả năm không xong, rồi sau đành thú thật cái dở của mình không đóng ghe đi biển được. Họ phải chờ đợi trút năm nữa mới có ghe khác ghé vào rước đi. Nước Nam ta, mặt ngoài ngó ra biển, bờ biển từ bắc vô nam, dài mấy muôn dặm đường, mà không đóng nổi một chiếc ghe đi biển lớn, thảm chưa?
Ta coi đại khái một vài việc như trên, đủ rõ Nhật Bản cổ thời đã biết dùng chiến thuyền và đã có gan hàng hải ra thế nào rồi.
Trong lịch sử họ thường có nhiều trận hải chiến lớn lao. Hoặc trong nước đánh lẫn nhau, như lúc hai võ gia Nguyên Lại Triều và Bình Thanh Thịnh giao chiến trên biển, họ Nguyên dùng một đội chiến thuyền tới trên 840 chiếc, để quyết thư hùng; ấy là trận hải chiến lớn nhất của Nhật Bản cổ thời. Hoặc hải chiến với ngoài, là hồi cuối thế kỷ XIII, binh Nguyên nước Tàu tức là binh Mông Cổ đã từng gầm thét bao lâu ở đại lục Âu Á, đem trên 10 muôn chiến thuyền qua đánh Nhật Bản, chiếc nào cũng to lớn kềnh càng, thế mà dân Nhật ở các phiên bang phía Tây cũng dám chống cự đáo để. Lúc này, hai đàng mạnh yếu cách xa, thiếu chút nữa Nhật thua to và mất nước về tay giặc Nguyên, nhưng may sao có trận bão tố nổi lên, làm cho chiến thuyền của Nguyên chìm ráo. Người Nhật tin đó là sức thần cứu giúp, cho nên họ càng tin họ là “Thần quốc tử tôn”, và rồi từ đó trở đi, Nhật Bản không bị tai nạn ngoại xâm nào nữa.
Chẳng những họ không bị ngoại xâm, mà chính họ lại có cái chí ngoại xâm người ta. Lúc Phong Thần Tú Cát làm Tướng quân, từng đem chiến thuyền sang đánh Triều Tiên; rồi sau đó có người dũng cảm, bày mưu lập kế, muốn cướp lấy Đài Loan và quần đảo Lữ Tống (tức là Phi Luật Tân) ngay từ bấy giờ.
Đến đời Đức Xuyên làm tướng quân, thi hành chính sách khóa cửa luôn 200 năm ngoài. Trong thời kỳ dằng dặc đó, quốc gia vô sự, thiên hạ thái bình, không ai để ý tới việc hải phòng, lại có một lúc, Tướng quân Đức Xuyên cấm dân trong nước đóng những ghe lớn để đi biển xa, vì sợ người ta giao thông với ngoại quốc.
Mãi sau cuối đời Mạc phủ Đức Xuyên, ghe tàu Âu Mỹ qua Thái Bình Dương nhiều, bọn chí sĩ thức thời ở nước Nhật mới xướng lên vấn đề hải phòng, làm cho trên dưới xao xuyến. Tới năm 1853, có đoàn tàu Mỹ của Đề đốc Bá Lý kéo qua, rồi Mạc phủ được thư của quốc vương Hòa Lan khuyên bảo Nhật Bản thế nào cũng phải mau mau sửa sang hải quân, theo lối Âu Mỹ, bấy giờ Mạc phủ mới tỉnh ngộ, quyết ý mở mang hải quân. Đầu hết (1855), mở ra trường dạy hải quân ở Trường Kỳ, dùng người Lan làm thầy. Rồi sau mở ra xưởng đóng tàu và cơ sở đúc sắt ở Giang Hộ nữa. Việc hải quân giáo dục khởi thủy từ đây.
Ngoài ra hai chiếc tàu chiến của chính phủ Hòa Lan và nữ hoàng Anh quốc gửi qua tặng cho, Mạc phủ lại xuất tiền mướn các nước Tây phương đóng nhiều chiếc tàu, lập thành một hạm đội riêng của mình. Năm 1860, Mạc phủ phái chiếc quân hạm tên là Hàm Lâm chở sứ thần qua Mỹ quốc; ấy là lần trước hết Nhật Bản có quân hạm đi xa.
Trong khoảng có 5 năm mà Mạc phủ tổ chức ra được hải quân hạm đội và mở mang hải quân giáo dục như thế, tuy chưa ra gì, nhưng kể cũng là sốt sắng mau lẹ quá. Bấy giờ các phiên bang cũng bắt chước, hoặc phái người đi cầu học hải quân ở Âu Mỹ, hoặc mua sắm chiến hạm tân thời, phiên thì một vài chiếc, phiên thì mươi lăm chiếc; hiệp cộng lại số chiến hạm của Mạc phủ (44 chiếc) cùng các phiên bang, lúc này Nhật Bản đã có trút trăm chiếc tàu binh chớ không phải ít.
Đến lúc Minh Trị duy tân thì bao nhiêu chiếc tàu trận đó đều thống thuộc về tay trung ương chính phủ hết.
Ta nên biết tàu trận của Mạc phủ và phiên bang, hầu hết là thứ tàu nhỏ; sau Minh Trị Thiên hoàng thu về, mới thiệt là ra sức khuếch trương cho Nhật Bản có hải quân thiệt lớn, chiến hạm thiệt hùng, vì ngài rõ biết rằng: “Việc sắp đặt hải quân là việc rất gấp của nước Nhật, nước Nhật tất phải dựng lên cái cơ sở hải quân cho thiệt đúng mới được”. Hải quân Nhật Bản bước vào con đường phấn khởi từ đó.
Trước hết mở trường Hải quân học hiệu ở Đông Kinh, kén chọn thanh niên tuấn tú trong nước để học tập thủy chiến. Vệ hải quân, Nhật Bản ròng mướn người Anh làm thầy huấn luyện; học sinh tới kỳ thực nghiệm, tàu trận nước mình không chứa hết, thì nhà nước cũng gửi họ sang mấy chiếc tàu trận của Anh mà tập rèn công việc trong tàu và nghiên cứu về cơ khí.
Một mặt tạo lập ra mấy xưởng tự đóng lấy tàu binh; chỉnh đốn nhất là xưởng ở Hoành Tu Hạ (横須賀 Yokosuka). Năm Minh Trị thứ 6 khởi công đóng lấy hai chiếc tàu, 1540 tấn và 897 tấn, đến năm thứ tám hạ thủy. Lúc đầu còn mướn kỹ sư chuyên môn ở bên Tây sang làm đốc công; nhưng từ Minh Trị thứ 9 trở đi, Nhật Bản đã có những tay chuyên môn đóng lấy được rồi, chẳng cần phải người ngoại bang giúp sức.
Tuy vậy vua Minh Trị muốn cho nước mình mau có hạm đội lớn, nên chi mỗi năm đều xuất công nho ra mướn xưởng đóng tàu ở Anh, ở Đức, ở Pháp, ở Mỹ, đóng những chiếc chiến hạm lớn. Chính ngài mỗi năm tự giảm số tiền chi tiêu trong nội cung lấy 30 muôn yên để bỏ vào khoản chế tạo quân hạm. Quốc dân thấy vậy cảm động, nhiều người quyên giúp tiền muôn bạc triệu để cho nhà nước đóng tàu.
Bởi vậy đến năm Minh Trị thứ 16, Nhật Bản đã có một đội chiến hạm đủ các hạng tuần dương, thiết giáp, ngư lôi, thủy lôi… cộng tới một trăm mấy chục chiếc.
Trong những lúc số chiến hạm mỗi ngày một tăng gia, thì các pháo đài và quân cảng trong nước cũng lần lượt hoàn thành. Cho tới súng đạn lớn nhỏ, người Nhật đã tự chế ra rất là tinh xảo. Nhất thiết những việc gì quan hệ về hải quân, giờ cũng có trường giáo dục huấn luyện hết thảy.
Năm Minh Trị thứ 27 (tức năm Giáp Ngọ, 1894), vì việc Triều Tiên mà Nhật Bản đem hải quân khai chiến với Trung Quốc. Bao nhiêu năm Nhật Bản kinh doanh hải quân, trận Trung Nhật giao chiến này có dịp cho Nhật đọ tài thử sức coi hải quân mình kết quả ra thế nào. Nhật chỉ đem ra có 27 chiếc tàu, đánh hạm đội tí hon của nhà Thanh trận nào cũng thua; Nhật bắt được của Thanh 17 chiếc.
Trận này Nhật Bản đại thắng, chẳng những khiến cho thế giới phải kính phục, mà chính Nhật Bản cũng tự biết hải quân mình cần phải mở mang nhiều nữa mới đủ.
Từ đó Nhật lại lo đóng thêm nhiều tàu mới, chế tạo ra những kiểu súng mới, và ngày đêm thao luyện hải quân, cho nên đến đầu năm 1905 mới đánh phá tan tành cả hai hạm đội hùng cường của Nga ở cửa Lữ Thuận và trên Nhật Bản hải, gồm có gần 80 chiếc tàu. Dưới đây có đoạn nói riêng về trận ở Đối Mã, Đông Hương đại tướng phá tan hạm đội Ban-tích (Escadre de la Mer Baltique) tại đây, tỏ ra hải quân Nhật Bản trải qua một thời kỳ huấn luyện chỉ có 30 năm, mà trở nên dũng mãnh đến thế nào?
Luôn dịp, ta nên biết trong khi chính phủ Minh Trị lo khuếch trương hải quân thì nhân dân Nhật Bản đua nhau chế tạo thương thuyền. Cũng trong cái thời gian như hải quân, bóng cờ thương thuyền của Nhật Bản bay phấp phới khắp cả năm châu bốn biển. Cái giống Đại Hòa sẵn có nghề nghiệp tài năng đi biển từ xưa, ngày nay trên mặt biển không chịu thua ai, nghĩ cũng xứng đáng lắm vậy. Chỉ lạ một điều là về hải nghiệp cũng như các phương diện học thuật khác, họ đổi cũ thay mới, mở mang tấn tới quá mau, ai cũng kinh dị bái phục là phải lắm.
KHÍ KHÁI VÀ VÕ CÔNG CỦA TÊN LÍNH NHẬT
Quân đội nước Nhật, hải vậy mà lục cũng vậy, bỏ cũ theo mới trong vòng 30 năm, đã thu được kết quả tốt đẹp rực rỡ, nổi oai danh lẫm liệt vẻ vang, ta nên biết một phần lớn là do nơi tinh thần thượng võ của dân tộc Nhật Bản sẵn có lâu đời mà ra.
Từ xưa, họ có tinh thần thượng võ, đến đỗi kết tụ thành như một tín ngưỡng, một luân lý, một quốc hồn, ai nấy đua nhau gìn giữ trau dồi, lấy đó làm mực thước xử thế lập thân, và tự nhận cái nghĩa vụ “cứu dân báo quốc” là nghĩa vụ mình, làm được nghĩa vụ ấy là sự vinh diệu đệ nhất.
Chính là “Võ sĩ đạo”.
Ở chương đầu hết, tôi đã có một đoạn nói về lai lịch và tôn chỉ của Võ sĩ đạo rồi, khỏi cần nhắc lại nữa. Đây, nhân dịp nói về cuộc cải cách quân đội Nhật trong hồi duy tân, nên tôi muốn tóm góp lược thuật một vài chuyện khí khái cương dũng của nhà võ sĩ Nhật, tên lính Nhật, hay nói chung là người dân nước Nhật. Ta sẽ thấy rằng võ sự của Nhật ngày nay tuy là đổi cách khác hình, chớ cái thể chất của nó là tính khí khái cương dũng thì vẫn là từ cái nguồn Võ sĩ đạo đời xưa dồi dào lai láng mà phát ra vậy.
Võ sĩ Nhật có cái đặc biệt, là nhiều người có phong thể nho nhã ung dung, mà trong cái phong thể đó vẫn không mất khí khái cương dũng.
Thật, võ sĩ họ xưa nay không phải chỉ ròng chuộng sự giỏi nghề mạnh sức mà thôi, hầu hết kiêm học cả văn, cho nên có hạng võ gia mà giỏi văn học, hay thơ ca, không phải là ít. Ai nấy đều có lòng nhân ái nghĩa hiệp, tính ý một mực khiêm nhường, rất trọng danh dự. Ngày xưa võ sĩ ra trận gặp kẻ đối địch với mình, hai bên cùng đem tên họ và quê hương ra tỏ cho nhau biết, rồi bấy giờ mới nghiêm chỉnh oai dung, lấy nghề võ ra tranh cao hạ với nhau. Khi đã phân cao hạ thì kẻ thắng không bao giờ làm nhục bên thua, hành xác kẻ chết. Họ cho là cái lễ giao chiến phải vậy mới đúng. Đến sự đánh trùng giết lén, thì võ sĩ lấy làm xấu hổ, không thèm làm, dầu được thắng trận thành công gì đi nữa cũng vậy.
Đã có một câu chuyện hồi giữa thế kỷ XI, đến nay người Nhật còn truyền làm giai thoại.
Nguyên Nghĩa Gia 源義家 [Minamoto no Yoshiie] cầm binh đi đánh Áo châu [Oshu], thình lình giữa đường bắt gặp tướng giặc là An Bồi Trịnh Nhiệm 安部貞任 [Abe no Sadatou] liền phóng ngựa rượt theo, toan bắn một mũi tên cho tướng giặc chết tốt. Song trước khi bắn, họ Nguyên nghĩ ra một bài ca, rồi hát lớn tiếng để ngỏ ý cho tướng giặc biết rằng mình sắp bắn đây. An Bồi Trịnh Nhiệm nghe ca, kiềm ngựa quay đầu ngó lại, rồi ứng khẩu đọc một bài ca để đối đáp, trong bài ca bày tỏ nông nỗi của mình giữ thành cực khổ bấy lâu.
Nghĩa Gia nghe bắt mủi lòng, lập tức thu cây tên cất vào trong bao, không nỡ nào bắn cho đành, để mặc cho Trịnh Nhiệm chạy trốn.
Một võ sĩ chân chính, chẳng thèm đánh trùng giết lén người ta, và có phong thể nho nhã tới như vậy đó.
Đời Thượng cổ, Thần Công hoàng hậu 神功皇后 [Jinguu Kougou] đem binh đánh Hàn, có lệnh truyền cho tướng sĩ: “Kẻ đã đầu hàng chớ có giết; kẻ đã bị vít, chớ làm nặng thêm 降勿殺, 傷勿使重”. Chắc câu cổ huấn đó, võ sĩ Nhật vâng giữ đời đời, nên chi ta thấy trong trận Nhật Nga chiến tranh; bữa nọ trước cửa Lữ Thuận, một chiếc chiến hạm Nga bị bắn chìm, tướng sĩ Nga trôi nổi lúp ngúp trên mặt biển, quan tư lệnh ở chiến hạm Nhật là Trung tướng Thượng Thôn ngó thấy, liền hô binh sĩ của mình mà nói: “Giờ họ là người bị nạn chết trôi, chớ không phải là kẻ thù nữa, ta phải hết lòng cứu vớt cho mau!” Tức thời binh Nhật thả xuồng bơi lại cứu vớt, được tướng sĩ Nga trên 300 người khỏi chết. Tướng sĩ Nga cảm động quá, khen phục binh Nhật có lượng bác ái, chớ kẻ khác thì mặc kệ chết chìm, dễ chịu cứu vớt chưa!
Một đặc tính của võ sĩ Nhật là có máu công phẫn lạ lùng. Trời ơi! Hễ khi họ thấy một chuyện gì thiệt thòi nhục nhã cho quốc gia chủng tộc họ, thì máu công phẫn của họ sôi lên sục sục, không có cái sức mạnh nào làm cho nguội lạnh đi được. Nhất là họ tự nghĩ mình đây là võ sĩ vẫn có nghĩa vụ xông pha khói lửa, da ngựa bọc thây, để hộ vệ nòi giống nước non, mà nay có chuyện tổn hại bất bình cho nòi giống nước non, thì mình làm sao chịu nổi! Bộ mình đây là giá áo túi cơm, vô tâm vô dụng sao? Nếu mình không lo báo phục, không rửa sạch chỗ bất bình ấy đi, chẳng hóa ra mình thư sinh vô dụng lắm; vậy dầu sống hay chết, mất hay còn, tất nhiên mình phải có một phen quyết đấu mới được. Lòng công phẫn đó chẳng phải riêng của một vài cá nhân, mà thiệt là chung cả hạng người vác súng mang gươm sẵn có tinh thần chuộng võ, có nghĩa vụ giúp nước. Tôi muốn thuật ra một chuyện rất gần để làm chứng.
Hồi năm 1894 (tức năm Minh Trị thứ 27), vì vụ can thiệp nội chính nước Cao Ly, mà Nhật cử binh đánh nhau với Tàu. Chỉ giao phong có mấy trận, cả binh lục và binh thủy của nhà Thanh đều đại bại; nhà Thanh phải lật đật xin đình chiến giảng hòa. Qua năm sau (1895), Lý Hồng Chương 李鴻章 [Ri Koushou] phụng mệnh vua Thanh (lúc này là vua Quang Tự 光緒 [Kousho]) phong làm toàn quyền đại sứ, sang tới đất Mã Quan 馬関 [Bakan] nước Nhật, để cùng toàn quyền Nhật là Y Đằng Bác Văn ký tờ hòa ước.
Phàm nước thua trận, bao giờ chẳng phải chịu thiệt thòi, cũng như nước thắng trận bao giờ lại không đòi ăn miếng sướng? Theo hòa ước Mã Quan 6 khoản, có một khoản Tàu phải nhường đất bán đảo Liêu Đông 遼東 [Ryoutou] lại cho Nhật, cùng 2 đảo Đài Loan 台湾 [Taiwan], Bành Hồ 澎湖 [Houko] nữa.
Hòa ước này vừa mới ký tên đóng dấu được 6 ngày, thì Nga lấy oai thế mình khuyên Nhật trả Liêu Đông cho Tàu, đừng lấy. Hoàng đế Ni-cô-la thứ nhì (Tsar Nicolas II) nước Nga gửi điện văn qua Minh Trị Thiên hoàng; đại ý nói Nga thấy trong hòa ước Mã Quan có khoản Nhật đòi nhượng Liêu Đông, cốt để có chỗ dòm ngó uy hiếp Bắc Kinh rất tiện, như vậy e có hại cho cuộc hòa bình lâu dài ở Đông phương, nên Nga lấy tình thân ái, xin khuyên Nhật chớ lấy Liêu Đông…
Tiếng nói là khuyên, chớ kỳ thiệt là Nga ép Nhật không được lấy, vì lúc bấy giờ Nga là nước lớn, oai to thế mạnh lắm, Nhật phải xét mình mà kiêng nể ngay. Huống chi ở trong vụ đó lại có nước Đức nước Pháp, tán thành đồng ý với Nga nữa, thành ra thế lực ba nước dồn ép Nhật ta phải nhả Liêu Đông trả Tàu.
Vụ này làm cho nhân tâm ở Nhật sôi nổi tức tối lạ thường. Bọn võ nhân đều nghiến răng trợn mắt, đấm ngực giậm chân, tỏ lòng phẫn khích đối với danh dự quốc gia và hết sức oán hận anh Nga lấy cường oai can thiệp, làm cho Nhật Bản hụt mất một cái lợi quyền chính bởi bọn họ là võ nhân đã xông pha khói lửa mới có. Lòng phẫn khích bày tỏ ra ở ngôn ngữ hành động hằng ngày: nào là nhiếc Nga ngang tàng, chê bai chính phủ mình nhút nhát, cái giọng đó thấy đầy trên báo chương, chẳng bữa nào không; nào là rình đón kiều dân Nga mà ẩu đả hay ám sát, cốt làm sao cho sinh cuộc chiến tranh hai nước mới thôi.
Tuy những chuyện ngôn ngữ bạo động này không phải “tác giả” đều là võ nhân, nhưng mà chính là ảnh hưởng của võ nhân và chính võ nhân xúi ngầm. Chính phủ Nhật e khiêu khích sinh biến với Nga, nên phải ra tay đàn áp, vì chân tình lúc này Nhật chưa có đủ cái thực lực để chống chọi với Nga đâu được. Nhiều võ nhân phẫn khích mặc lòng, chớ cũng tự lượng sức mình như thế. Song, họ coi mối thù lớn như trời biển, trước sau thế nào cũng có một phen đánh Nga rửa thù mới xong.
Một vị lão tướng ở Nhật bây giờ là Đại Đảo Kiện Nhất 大島健一 [Ooshima Kenichi] mới đây thuật chuyện lại rằng cùng lớp mang gươm vác súng với ông ta hồi đó, nghe cái tin tổ quốc bị ba nước kia can thiệp mà phải trả Liêu Đông, thì ai nấy tức giận dầy gan ói mật. Chính ông ta cũng vì tức giận quá mà phát ra thơ cảm khái, có câu:
遺恨十年磨一剣
流星光底逸長蛇
Di hận thập niên ma nhứt kiếm,
Lưu tinh quang để dật trường xà.
Hai câu thơ của Đại Đảo Kiện Nhất có thể đại biểu chung cả tấm lòng công phẫn báo cừu của tướng sĩ Nhật Bản ở đời bấy giờ. Từ tướng soái đến sĩ tốt, ai nấy cùng một cách nồng nàn, hăm hở, lo dùi mài binh thư, tập rèn võ thuật, để một ngày kia có thể tuốt gươm xách súng ra thử tài rửa hận với Nga cho được thì mới hả lòng. Cái chí báo Nga như đinh đóng chặt trong tâm não của mỗi con nhà võ, giúp cho sự thao luyện kỹ thuật của họ càng được mau thành công phu kết quả. Họ thề với cây gươm đeo ở bên mình rằng sống chết thế nào cũng có một ngày họ cho nó tắm máu người Nga; không 5 năm thì 10 năm, không 10 năm thì 20 năm, cái ngày đó sao cũng phải có!
Mà quả nhiên như câu thơ sấm của Đại Đảo Kiện Nhất ở trên đây: tướng sĩ Nhật Bản luyện nghề tập trận, nếm mật nằm gai trong vòng 10 năm, từ 1895 đến 1905 là họ đủ thực lực và có cơ hội đánh mọp binh Nga ở đồng bằng cũng như ở trên mặt biển, trả được cái thù thị oai bắt trả Liêu Đông năm xưa. Chính Đại Đảo Kiện Nhất cũng là một viên tướng đánh Nga hồi 1905; mà ông ta quyết mài một lưỡi gươm ròng rã 10 năm cho thiệt bén, để nửa chém đầu người Nga cho đã nguôi giận, thế là đúng kỳ và như nguyện đó vậy. Không ngờ cái khẩu khí anh hùng linh đến như thế.
Ta coi võ sĩ Nhật giàu lòng công phẫn đồng cừu, có cái kết quả vẻ vang là đem tổ quốc họ đặt lên ngang hàng liệt cường thế giới, vì sự thật Nhật Bản chiếm được địa vị ấy, chính là sau trận thắng Nga mà đi.
Có trận Nhật Nga, Tây phương mới bừng mắt ngó thấy tướng sĩ Nhật Bản có sức chiến đấu lạ thường, không sợ hiểm nguy, không kể tính mạng, không nài đau đớn. Tấm lòng họ ái quốc nồng nàn, mà không bộc lộ ra bên ngoài có một vẻ gì là hầm hừ, nóng nảy; trái lại, họ ái quốc một cách bình tĩnh, thâm trầm, đã đem thân hứa cho nhà nước thì họ thái nhiên sấn sổ vào mọi cảnh nguy hiểm, gian nan; trái tim họ đối với nước cứng như sắt đá, không có sức nào làm tan rã đổi dời đi được.
Đầu năm 1904, hồi Nhật Nga rục rịch khai chiến, dư luận Âu châu đều tin chắc thế nào Nhật cũng phải thua, bất quá Nhật chỉ giao phong với Nga một vài trận, là đủ thấy nhức nhối mềm xương, không chịu nổi đâu. Trừ ra có mấy vị quân quan Âu châu dự vào (Bát quốc liên quân) đánh giặc Quyền phỉ ở nước Tàu hồi năm 1900, nhân đó mà được chứng kiến cách hành quân của Nhật Bản, thì mới tin rằng chưa chắc Nga thắng nổi Nhật mà có thắng cũng là trần ai khổ sở, chớ không dễ gì.
Đến khi tuyên chiến rồi, ngay mấy phát súng đầu tiên mà đi, binh Nga thấy cái sức chiến đấu của binh Nhật mà kinh hoàng sửng sốt. Thứ binh gì mà đánh đâu cũng lăn nhào vô trong vòng khói lửa, coi cái chết như không. Trên bộ đã vậy, dưới thủy cũng chẳng khác gì: hễ gặp tàu trận bên giặc là họ sấn tới mà đánh, còn có một tên quân một viên đạn là còn đánh, chớ không chịu lui trước bao giờ. Rất đỗi là cửa biển Lữ Thuận (Port Arthur) mà họ muốn lấy sức người để bít lại, thật võ sĩ họ kiên dũng đến thế là cùng!
Làm cách nào mà bít được cửa biển?
Nguyên là hạm đội Thái Bình Dương của Nga đóng ở Lữ Thuận, sau mấy trận thò ra đánh nhau với hải quân Nhật bị thất lợi, bèn trốn núp ở trong cửa biển không dám ló ra nữa. Hải quân Tổng tư lệnh Nhật là Đông Hương đại tướng liền nghĩ ra cách “bít cửa” Lữ Thuận, nếu thành công thì nhốt cả hạm đội Nga nằm cứng trong cửa, không có ngõ ra; bằng không vậy thì cũng là cách chọc cho tàu Nga phải ra ngoài biển khơi để mà đánh.
Hải quân Nhật mua rất nhiều tàu đò cũ, để dùng vào việc bít cửa. Mỗi chiếc tàu đều chở cốt mìn và năm bảy viên tướng sĩ để chỉ huy chiếc tàu, rồi thì cả đoàn cùng nhắm cửa Lữ Thuận mà chạy thẳng vào. Nếu pháo đài của Nga ngó thấy mà bắn chìm càng tốt, không thì mỗi chiếc tàu cũng tự châm lửa vào cốt mìn cho phát nổ lên, để tàu chìm xuống nằm ngổn ngang một đống ở ngay cửa biển, làm mắc nghẹt đường lối ra vào của hạm đội Nga.
Cuộc bít cửa như thế, Nhật Bản làm tới năm bảy lần, chớ không phải một. Mỗi lần bảy tám chiếc tàu đi tự tử cách này, Hải quân Tư lệnh bộ phải cần mấy chục viên tướng sĩ dẫn đi; mà tướng sĩ dẫn đi như thế cũng là đi tự tử, chớ trăm phần không có lấy một phần may sống sót, lội về bản trận được. Thế mà lần nào cũng vậy, vừa có một tiếng hô của Tư lệnh bộ, tức thời có cả ngàn người trong hải quân giành nhau biên tên vào sổ ứng nghĩa liều mình, đến đỗi Tư lệnh bộ phải dùng cách bắt thăm, ai trúng thì đi. Những người bắt thăm trật, rầu buồn tức tối lắm.
Nói chuyện bít cửa, không thể nào không nhắc tới Quảng Lại Võ Phu.
Quảng Lại Võ Phu, chức Hải quân trung tá, làm trưởng quan chiếc tàu thủy lôi (torpilleur) hiệu là Triều Nhật (朝日 Asahi) đã mấy phen có công đánh thắng hạm đội Nga ở trước Lữ Thuận rồi. Sau đó trút tháng, hạm đội Nga nằm lỳ trong cửa không thấy thò ra. Quảng Lại hăm hở đánh giặc mà không được đánh, tức quá, bèn cùng 70 tử sĩ, dẫn năm chiếc tàu cũ, xông pha vào mũi đạn của pháo đài Nga, để toan lấp cửa Lữ Thuận. Song lần này không thành công.
Cách một tháng sau, Quảng Lại dẫn bốn chiếc tàu đò cũ khác, đi bít cửa nữa.
Trong bốn chiếc tàu, Quảng Lại tự cầm đầu chiếc tên là Phước Tỉnh; và một người bạn là Sam Dã Tôn Thất 杉野孫七 [Sugino Magoshichi] làm phó. Khi đoàn tàu chạy gần tới cửa Lữ Thuận, Quảng Lại bảo Sam Dã xuống dưới bụng tàu sắp đặt cốt mìn, sửa soạn việc tự bắn cho tàu chìm, còn mình thì ở trên coi chỉ huy chiếc tàu chạy phăng phăng vô trong cửa. Thình lình bị một viên đạn thần công của Nga bắn tới, trúng giữa bụng tàu, thành ra cốt mìn chưa đốt đã nổ, Sam Dã chết tươi. Tàu gần chìm, Quảng Lại cùng bọn lính xuống thuyền nhỏ bơi đi. Chừng ngó lại không thấy bạn Sam Dã ở đâu, Quảng Lại biểu tốp lính bơi về trước, rồi mình tự quay lại leo lên chiếc tàu đang chìm kia mà tìm kiếm Sam Dã. Lúc bấy giờ trong chiếc tàu đã bị nước ngập tới từng trên rồi, mà Quảng Lại chạy từ mũi xuống lái ba lần, cũng không tìm thấy bạn, lúc ấy mới chịu xuống thuyền bơi về. Bơi chưa được bao xa, bỗng một viên đạn Nga bay tới, trúng ngay giữa đầu Quảng Lại, làm cho tan nát thân thể.
Tin buồn đưa về Đông Kinh, trong triều ngoài quận, trên vua dưới dân, ai cũng thương tiếc kính phục; bởi Quảng Lại vì nước quyên sinh, nặng tình với bạn mà chết như thế, nên cả nước Nhật đều tôn là “Quân thần”, lại làm lễ chiêu hồn rất lớn.
Lúc sắp đi bít cửa lần thứ hai, Quảng Lại cầm bút đề một bài thơ ở trên tàu Triều Nhật như vầy:
七生報国
一死心堅
再期成效
含笑上船
Thất sinh báo quốc,
Nhất tử tâm kiên.
Tái kỳ thành hiệu,
Hàm tiếu thượng thuyền.
Ý nói mình là đời thằng nam tử, thân hình bảy thước, đã hứa đem ra báo bổ quốc gia, thì một cái chết đã nhất định trong lòng rồi; lần này là lần thứ hai mình đi làm việc bít cửa, mong sao được thành công, thì mình chết cũng vui. Bây giờ ta tươi cười bước lên tàu để đi.
Ta xem mấy câu thơ trên đó, đủ thấy một người võ sĩ Nhật khảng khái quyết tử hết sức!
Cái gương quyết tử của Quảng Lại Võ Phu, có vô số người sau noi theo.
Chắc ai cũng nhớ đầu năm 1932, binh Nhật đánh Thượng hải, gặp nhằm tay cường địch là đạo binh 19 của Tàu chống cự lại hẳn hoi, binh Nhật đánh rất hăng, thế mà dây dưa trút tháng, vẫn chưa phá nổi mặt trận binh Tàu. Bấy giờ trong binh đội Nhật, có ba tên lính dũng được nhảy ra hiến mình để phá tan hầm lũy của bên nghịch. Ba người cùng ôm một viên đạn cốt mìn dài, xăm xăm xông thẳng vào trận địa Tàu; cốt mìn nổ tứ tung; cố nhiên thân thể ba người lính đều nát như tương, nhưng mà hầm lũy phía trước mặt trận của binh Tàu bị phá tan tành, nhờ đó Nhật mới tấn binh được, rốt lại đạo binh của Thái Đình Giai phải lui.
Ba người lính liều chết kiểu đó, người Nhật gọi là “nhục đạn” 肉弾 [Nikudan] (viên đạn thịt). Hiện nay ở Đông Kinh có đài kỷ niệm ba người liệt sĩ này; nhà nước đúc tượng đồng tả chân như lúc ở Thượng Hải vậy.
Còn câu chuyện này, cũng tỏ ra tính khí cương dũng khinh sinh của võ sĩ Nhật, thấy trong sách Le Japon dans le Monde của Antoine Zischka tả một cách đối chiếu ngộ lắm: Hồi năm 1933, hạm đội Mỹ tập trận ở Thái Bình Dương, có thả một viên đạn thủy lôi xuống biển để thử, nhưng viên đạn ấy chưa nổ, nên bộ hải quân muốn lấy lên, bèn rao hơi có cậu lính nào tình nguyện làm việc đó, nhưng chẳng có một cậu nào dám lãnh mệnh hết. Họ nghĩ viên đạn của nhà nước đáng giá 300.000 quan, tuy là nhiều tiền thật, nhưng mà giá trị tấm thân họ còn quý hơn, mắc hơn số tiền ấy nhiều, dại gì họ xuống biển lặn mò rủi chết oan mạng. Trái lại, đồng thời bộ hải quân Nhật Bản mới chế ra được một kiểu ngư lôi (torpille) có máy riêng, cho người ngồi vô trong đó rồi phóng ra, để người ngắm đúng tàu nghịch mà vặn máy cho ngư lôi đánh ngay mục đích, thì tàu nghịch thế nào cũng phải bị bắn chìm, không thoát đâu khỏi. Có điều muốn thí nghiệm sức mạnh của ngư lôi mới chế, bộ hải quân rao hỏi mấy người tình nguyện cảm tử, trong vài ba ngày tiếp được đơn tình nguyện của bốn năm ngàn người liều mình chịu chết. Nghĩ coi, một đàng là viên đạn chưa nổ, mà lặn đem lên, không chắc có rủi ro gì, thế mà chẳng có một người dám chịu; còn một đàng là mạng chết nắm chắc cả trăm phần trăm, thì có mấy ngàn người hiến thân cảm tử; vậy ai khí khái cương dũng hơn, ta cứ xét cũng rõ. Thế mới biết sự ái quốc khinh sinh, người Nhật cho là cái danh dự đệ nhất trên đời, nên ai cũng nô nức nhau để cầu lấy.
Sau nữa, võ sĩ Nhật Bản xưa nay còn có cái tập tục lạ lùng này, càng tỏ ra họ khí khái cương dũng đến cực điểm; ấy là tập tục mổ bụng tự tử, tiếng Nhật gọi là Harakiri hay seppuku.
Từ khi Nhật Bản có Võ sĩ đạo dựng lên, liền có tập tục này, do ở quan niệm danh dự mà ra. Bởi võ sĩ Nhật thờ chuộng danh dự thứ nhất. Một võ sĩ đã cầm gươm ra trận thì chỉ có nước một là thắng hai là chết, chớ bại trận là điều nhục nhã cho võ sĩ, hay là để cho giặc bắt sống được mình, danh dự võ sĩ cũng cấm ngặt lắm. Lâm vào cảnh đó, võ sĩ phải có gan tự giết mình đi, để bảo toàn danh dự.
Song nếu tự giết mình bằng chén thuốc độc, bằng sợi dây thắt cổ, hay là nhào xuống sông xuống hồ, võ sĩ đều cho là những cách hèn nhát, không xứng đáng với hạng người có can đảm anh hùng. Lấy dao cắt cổ, họ cũng cho là cách chết theo đàn bà. Người võ sĩ anh hùng tất phải tự chết một cách thung dung, chậm rãi, thong thả, tự nhiên, không mất vẻ tươi cười mà cũng không rên la đau đớn. Đã vậy mà phải chết trước mặt người ta và phải giữ lễ nghĩa hẳn hoi cho tới khi tắt hơi ngã xuống mới thôi. Nhà võ sĩ Nhật bèn lựa cách mổ bụng, chỉ có vậy mới là chết có gan, chết sang trọng, hợp với tư cách của con nhà võ.
Người định harakiri ngồi trước bàn thờ ông bà, làm lễ cúng bái hẳn hoi, chung quanh có mấy người bạn hữu hay họ hàng đứng chứng kiến, trong đó có một người cầm sẵn thanh kiếm nơi tay. Rồi đó người tự tử rút lấy con dao đựng trong hộp để trước mặt, một tay cầm dao tự mổ bụng mình, một tay kéo lấy ruột ra ngoài, nét mặt cứ tự nhiên, nụ cười cứ hiện ra luôn luôn ở cửa miệng, không được rên la nhúc nhích chút nào. Trước khi người mổ bụng sắp xỉu xuống thì người cầm thanh kiếm đứng bên chém giùm một kiếm cho ngã chết hẳn. Thế là xong lễ mổ bụng.
Bởi có tập tục và thành lễ như thế, nên chi mỗi người võ sĩ nào ban đầu cũng học cách dùng thanh kiếm cho đúng phép lịch sự, phòng mai sau có lúc cần phải mổ bụng mình không biết chừng. Thuở xưa, võ sĩ Nhật tập rèn kiếm thuật hết sức trang trọng, tinh vi, không khác gì nhà thi sĩ cặm cụi về nghề đẽo chữ gọt vần, hay là những chốn ngoại giao, triều đình, người ta gò gẫm về lối y phục giao tế vậy.
Cái tục tự tử anh hùng can đảm này xưa nay ở nước Nhật thấy có rất thường; ngoài võ sĩ ra, hạng người khác cũng có nữa. Mỗi khi một vị Thiên hoàng qua đời, thế nào cũng có ít nhiều người mổ bụng để chết theo, vì là thương vua quá. Ví dụ Nãi Mộc đại tướng mổ bụng tự tử liền sau khi vua Minh Trị thăng hà. Năm 1924, có một người thường dân, ngồi ngay trước cửa dinh công sứ Mỹ quốc tại Đông Kinh mà mổ bụng tự tử, là cốt để tỏ ý phản đối cái chính sách của Mỹ quốc bạc đãi dân Nhật kiều ngụ ở hạt Californie. Từ đó tới nay, còn thiếu gì đám harakiri khác. Trận Nhật Hoa giao chiến ở Thượng Hải, cũng có một vị tiểu tướng mổ bụng, vì đã lỡ để binh Tàu bắt sống rồi thả về. Sau cuộc thao diễn hải quân ở Thái Bình Dương năm kia, có một viên đội trưởng cùng mổ bụng xử mình, vì tự xét mình hơi lỗi phận sự chút đỉnh.
Chuyện Nãi Mộc Hy Điển 乃木希典 [Nogi Maresuke] mổ bụng chết theo vua Minh Trị, nên thuật sơ lại cho độc giả nghe.

Nãi Mộc Đại Tướng 乃木大将 [Nogi Taishou] (1849 - 1912) - Có võ công nổi tiếng hoàn cầu năm 1905 vì trận đại thắng quân Nga ở Lữ Thuận (Port Arthur).
Hồi Nhật Nga chiến tranh, Nãi Mộc làm Lục quân đại tướng, cầm mấy đạo binh vây đánh Lữ Thuận dữ quá, mấy ngàn binh Nga đành phải đầu hàng. Chiến công và oai võ của Nãi Mộc nổi vang thế giới, có nhà thế tộc ở Âu châu, lấy một thanh bửu kiếm của hoàng đế Nã-phá-luân ngày xưa gửi qua tặng Nãi Mộc. Sau trận phá Lữ Thuận rồi, Nãi Mộc có câu danh ngôn này: “Phàm cách dùng binh, bao giờ cũng quyết thắng bại ở 15 phút đồng hồ sau cùng, hễ bên nào cứ quyết chiến và giữ vững trận thế trong 15 phút chót, đó là bên ấy thắng trận”. Bởi vậy bên Âu châu người ta gọi là “un quart d’heure de Nogi” (một khắc đồng hồ của Nãi Mộc). Nhà viết tiểu thuyết đại danh ở Paris, được cử vô Pháp quốc Hàn lâm viện cách nay mấy tháng, là Claude Farrère tiên sinh, viết sách thường lấy võ sĩ Nhật Bản làm đề mục và năm trước có bài diễn văn nói về Nhật Bản, khen ngợi Nãi Mộc dữ lắm.
Theo như tiên sinh, sở dĩ Nãi Mộc mổ bụng chết theo Minh Trị Thiên hoàng, là vì có một chuyện hồi nhỏ, cũng là danh dự võ sĩ làm nguyên nhân. Lúc vua tôi đều còn nhỏ tuổi, cùng học một trường; bữa kia Nãi Mộc vì việc học lỗi lầm mà bị ông thầy quở trách sao đó, Nãi Mộc nghĩ sự danh dự, nhất định tự tử. Song vua Minh trị (lúc đó còn là Đông Cung thái tử) can ngăn, ngài nói:
“Ta là vua của ngươi: sự lỗi lầm đó ta gánh vác giùm cho, ta biểu ngươi cứ việc sống”.
Vì bấy giờ vua Minh Trị đã biết tài của Nãi Mộc sau này có thể làm rường cột cho quốc gia, nên chi ngài gánh lỗi, để cho Nãi Mộc đừng chết vậy.
Quả thiệt về sau Nãi Mộc cầm binh đối nghịch với Nga ở Mãn Châu, đánh đâu thắng đó, nổi tiếng anh hùng. Vua Minh Trị có đức sáng tri nhân thiện dụng như thế, gọi là minh quân anh chúa phải lắm.
Một chuyện từ hồi còn nhỏ, ai cũng tưởng Nãi Mộc quên rồi. Nhất là Nãi Mộc lập đại công với quốc gia thế đó, mấy cái lầm lỗi lúc trước cũng đền bù có dư. Nhưng mà không; việc phạm danh dự thuở nhỏ Nãi Mộc chẳng quên; nay vua Minh Trị thăng hà, Nãi Mộc mổ bụng chết theo, là vì Nãi Mộc nghĩ vua mình đã qua đời rồi, không còn người nhận giùm sự lỗi xưa kia cho mình nữa, vậy thì mình phải chết để bảo toàn danh dự mới được.
Một bậc người phú quý hiển vinh, anh hùng oanh liệt như Nãi Mộc, không chịu hưởng sự vẻ vang sung sướng, mà còn nhớ lại việc danh dự từ năm bảy chục năm trước, cam bỏ hết một đời phú quý hiển vinh để cứu lấy danh dự; thật võ sĩ Nhật Bản có cái tinh thần quý trọng danh dự đến thế là tuyệt phẩm vậy.
TRẬN Ở ĐỐI MÃ HẢI GIÁP, ĐÔNG HƯƠNG NGUYÊN SOÁI PHÁ TAN HẠM ĐỘI CỦA NGA
Muốn biết cuộc duy tân của Nhật Bản khởi sự từ năm 1868 trở đi cho tới ngoài 30 năm sau, có cái thành hiệu đến đâu rồi, thì cứ xem cái thành hiệu về binh lực võ bị của họ là thấy rõ ràng hơn hết.

ĐÔNG HƯƠNG BÌNH BÁT LANG 東郷平八郎 [Tougou Heihachirou] (1848 - 1934) - Hải quân Nguyên soái đã phá tan cả đoàn tàu của Nga ở eo biển Đối Mã năm 1905.
Tôi muốn nói cái thành hiệu đó là trận Nhật thắng Nga năm 1905, thắng cả trên bộ lẫn dưới thủy. Một nước, hồi nào muôn việc cũ mèm, bỗng chốc muôn việc đổi mới, mà thấm thoát có 37 năm, hải quân và lục quân của họ đem ra chiến thắng một đại cường quốc phương Tây, bảo đó không phải là cái thành hiệu duy tân thì là gì?
Vì sao có trận Nhật Nga chiến tranh 1904-1905?
Tóm tắt là vì Nga mở mang thế lực sang phương Đông lớn quá, làm ngăn trở con đường tấn phát của Nhật, cho nên Nhật phải sinh tử tương tranh để tìm lấy mạch sống. Bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII, Nga ỷ mạnh xí mất một miếng đất tổ truyền của Nhật làm của mình, ấy là cù lao Hoa Thái 樺太島[1] [Karafutotou]. Nhật vẫn căm tức nhưng vì thế yếu, không làm sao được. Lần lần về sau Nga mở mang thế lực, trên bộ thì khắp Mãn Châu tới Triều Tiên, dưới nước thì có hạm đội đóng ở Hải Sâm Uy 海參威 (Vladivostok) và ở Lữ Thuận 旅順 (Port Arthur), nắm giữ cái hải quyền ở trên Nhật Bản hải 日本海 [Nihonkai] (Mer du Japon), làm trở ngăn khó chịu cho con đường tấn phát của Nhật Bản qua đại lục, tức là cái ngõ sống cho Nhật tất nhiên phải đi. Đại khái cái nguyên nhân cốt yếu của trận Nhật Nga chiến tranh 1904-1905 là ở đó, chớ việc nội chính của nước Triều Tiên làm cớ cho hai bên khai chiến, chỉ là một cái nút chỉ nhỏ ở trong nùi tơ rối lớn mà thôi.
Vì chuyện thâm thù là một, vì lẽ sinh tồn là hai, cho nên tướng sĩ Nhật cùng Nga giao chiến có cái tráng khí hùng tâm, không viết mực nào tả ra cho hết. Trên bộ dưới thủy cũng vậy, con muỗi Nhật tấn lên đến đâu là con cọp Nga thối lui đến đó, làm cho dư luận thế giới sửng sốt không ngờ, và bày tỏ ra việc cải cách võ bị của Nhật Bản chỉ có ba chục năm thành hiệu lớn quá. Song, đây không phải có ý viết Nhật Nga chiến sử, mà chỉ riêng nói về trận Đối Mã hải giáp 対馬海峡 (Détroit de Tsushima), là vì trận này có nhiều ý nghĩa:
Một là nó kết thúc Nhật Nga chiến tranh, bởi đến lúc Nga đem hạm đội Ban-tích (Escadre de la Mer Baltique) sang cứu viện mà bị phá tan, thì Nga phải ngã cờ cuốn giáp ngay, không dám đánh với Nhật nữa; đành bỏ quyền lợi ở Nam Mãn, ở Tiều Tiên, cho tới hải quyền của Nga ở Nhật Bản bấy lâu cũng tiêu nữa. Nhật bắt đầu tiến phát qua đại lục từ đây.
Hai là trận này làm cho Nhật từ bữa nay qua bữa mai nhảy lên ngang hàng liệt cường thế giới và có thanh thế, có địa vị trọng yếu, trên Thái Bình Dương.
Ba là trận này Nhật Bản lấy số ít đánh với số nhiều mà thắng, tỏ ra nhân tài hải quân nước Nhật mới tập rèn đổi mới không bao lâu mà có thao lược lạ lùng. Người Tây phương ngợi khen so sánh Đông Hương nguyên soái với Đề đốc Nen-sôn (Amiral Nelson) của Anh quốc khi xưa, vì Nhật thắng trận này là trận rất to mà tự mình hao tốn rất nhỏ mới kỳ.
Vào hồi tháng 8 tháng 9 năm 1904, Nga hoàng Ni-cô-la II (Tsar Nicolas II) được tin cấp báo của quân mình ở phương Đông: dưới nước thì hạm đội Thái Bình Dương[2] bị đánh gần tiêu, trên bộ thì Lữ Thuận sắp mất mà Liêu Dương và Phụng Thiên cũng nguy. Thấy binh tình nguy cấp như thế, Nga hoàng liền mở quân sự hội nghị, quyết định lựa chọn những chiếc tàu chiến tốt nhất ở trong hạm đội Ban-tích mà lập ra hạm đội Thái Bình Dương thứ hai, giao cho Thủy sư Đề đốc Rô-dê-văng-ky (Amiral Zinovi Petrovitch Rojestvenski) làm tổng tư lệnh, để qua Đông phương cứu viện.
Ngày 4 tháng 10 năm đó, cả đoàn tàu trận lớn nhỏ gần 40 chiếc đậu dài ở cửa biển, khói lên nghi ngút, che bóng mặt trời, ngó oai phong thật là lẫm liệt đường hoàng, ai cũng phải sợ. Khi đoàn tàu sắp nhổ neo đi, Nga hoàng cùng hoàng hậu, thái tử, ngự giá xuống coi rồi phán rằng:
“Đem đoàn tàu như vầy đi đánh giặc, giặc nào không tan; hãm trận, trận nào không phá! Trẫm phái hạm đội này sang Đông, trong ý chẳng phải là cốt mong vào cửa biển Hải Sâm Uy của ta bên đó mà thôi, ý trẫm còn trông tướng sĩ các ngươi phen này cùng giặc Nhật quyết chiến, để rửa thù cho hạm đội Thái Bình Dương và làm rỡ ràng cho nước nhà; vậy tướng sĩ các ngươi nên cố gắng!”
Rồi đó hạm đội Ban-tích lục đục khởi hành.
Đề đốc Rô-dê-văng-ky chia ra làm hai toán: một toán do ngả Địa Trung Hải qua kênh đào Suy-ê (Canal de Suez) mà sang Ấn Độ Dương; còn một toán tự mình thống lãnh thì bao vòng châu Phi, rồi qua mũi biển Hảo Vọng (Cap de Bonne Expérance) rồi cũng băng qua Ấn Độ Dương mà sang Đông.
Sau khi hạm đội này đi được ít ngày, kế có tin rằng hạm đội Thái Bình Dương ở Lữ Thuận bị Nhật Bản đánh chìm hết rồi, Nga hoàng lo sợ quá, vội vàng sai thêm một đoàn tàu nữa đi, gọi là hạm đội Thái Bình Dương thứ ba.
Hạm đội trước đang đi nửa đường hay tin Lữ Thuận đã bị binh Nhật hãm mất rồi, mà binh Nga đánh nhau ở Phụng Thiên cũng thua, thành ra tướng sĩ trên hạm đội lo buồn, nay đi mai nghỉ, rất là chần chừ chậm chạp. Mãi đến ngày 12 tháng 4 năm sau 1905 mới đi qua Sài Gòn, ghé vào đậu ở vịnh Cam Ranh nước ta để chờ hạm đội Thái Bình Dương thứ ba tới nơi rồi cùng đi.
Song lúc đó nước Pháp trung lập, theo phép không được cho tàu trận của bên nào đậu nhờ trong đường nước của mình. Nhật hay tin có tàu Nga đậu ở vịnh Cam Ranh, liền đánh điện văn trách hỏi nước Pháp, và xin chiểu theo điều ước trung lập mà tống cổ tàu Nga đi. Bởi vậy hạm đội Nga phải nhổ neo ra khơi, chớ không được đậu ở Cam Ranh nữa. Ra biển chạy được ít lâu thì gặp hạm đội Thái Bình Dương thứ ba cũng vừa qua tới, nhập lại với nhau, cả thảy trên 40 chiếc. Hôm nay là ngày 5 tháng 5 năm 1905. Tính ra hai hạm đội Nga khởi hành ở biển Ban-tích bên Nga từ đầu tháng 10 năm ngoái, thế là hết 7 tháng mới đến phía ngoài hải phận Trung kỳ ta.
Nói về hải quân Nhật Bản, từ tháng Chạp năm trước (1904), đánh phá tan nát hạm đội Nga ở cửa Lữ Thuận rồi, thì hạm đội Nhật đều rút về quân cảng Tá Thế Bảo 佐世保 [Sasebo], sửa máy sơn tàu, lau chùi súng ống lại, và cho tướng sĩ nghỉ ngơi trên 60 ngày. Trong dịp đó, xưởng đóng chiến hạm của Nhật cũng vừa đóng xong 38 chiếc tàu trận mới.
Đông Hương nguyên soái cùng các viên bộ tướng là Thượng Thôn, Xuất Vũ, Qua Sinh… thắng trận khải hoàn, về Đông Kinh bái yết Thiên hoàng, rồi đến ngày 6 tháng 2 năm 1905, lại vâng mệnh xuất chinh, sửa soạn đâu đó, chờ hạm đội Ban-tích của Nga sang tới nơi là đánh. Nguyên soái Đông Hương bài binh bố trận, chia hải quân ra làm 7 đội, mỗi đội tuần phòng một ngả ở trong Nhật Bản hải và Trung Quốc hải, còn chính ngài thì thống suất đội chiến hạm thứ 7, phòng bị quanh miệt quần đảo Lưu Cầu (琉球 Iles Ryuukyuu) và eo biển Đối Mã, vì ngài đã định trước thế nào hạm đội Nga cũng phải đi qua ngả này mà lên Hải Sâm Uy của họ.
Lúc này là ngày 14 tháng 5, hạm đội Nga đang còn lênh đênh trên mặt biển ở phía ngoài hải phận Trung kỳ ta, mà vẫn chưa biết hạm đội của Đông Hương bố trí thế nào, trấn thủ ở đâu. Bấy giờ, Đề đốc Rô-dê-văng-ky bèn hội tất cả các bộ tướng và hạm trưởng các tàu tề tựu ở tàu kỳ hạm[3] để bàn tính phương lược, coi giờ nên đi ngả nào. Các tướng bàn bạc phân vân chia rẽ. Một viên bộ tướng nói:
“Bên giặc thế nào cũng giữ chặt lấy ngả Nhật Bản hải, hạm đội ta chớ nên đi lên ngả đó mà nguy. Chi bằng ta vòng ra Thái Bình Dương, dựa theo mé biển phía ngoài Nhật Bản mà dông cho mau, rồi băng qua eo biển Tông Cốc 宗谷 [Souya] của Nhật mà lên Hải Sâm Uy thì mới toàn vẹn được”.
Một viên hạm trưởng vùng vằng tức tối, đứng phắt dậy nói lớn:
“Chúng ta đây, cả đoàn tàu hùng tráng trên 40 chiếc, che mây rẽ nước từ Tây sang Đông, phí ngày giờ trải 8 tháng nay, đi băng ngang một nửa trái đất, là cốt để tìm lấy giặc mà đánh cho hả lòng, hầu lập nên đại công như Đề đốc Nen-sôn (Nelson) thuở trước. Nay lại định trốn tránh quân giặc mà bao vòng ngả Thái Bình Dương, thật là vô lý. Theo ý tiểu tướng định kế bây giờ, không có gì hơn là trước hết chúng ta đánh lấy Đài Loan làm nơi căn cứ cho hạm đội Ban-tích của ta, ấy là thượng sách, rồi thì thừa cơ đánh giặc sau”.
Các tướng thanh niên cường tráng, đều khen kế đó là phải. Đề đốc Rô-dê-văng-ky suy nghĩ lẳng lặng một lát rồi đứng dậy bảo chư tướng:
“Ta quyết định đưa cả hạm đội do ngả Đối Mã hải giáp mà lên Hải Sâm Uy”.
Chư tướng vỗ tay, tung hô vạn tuế.
Đoạn, Đề đốc lại ra hiệu lệnh cho tất cả đoàn tàu như vầy:
“Quân giặc sắp gần kề trước mắt ta rồi. Hạm đội chúng ta ăn thua vinh nhục, chỉ ở trong khoảng ít ngày nữa đây, vậy tướng sĩ các ngươi phải nỗ lực để báo đền tổ quốc”.
Đến ngày 25, hạm đội Nga do phía đông Đài Loan mà ra Trung Quốc hải, chỉ sai vài chiếc tàu vận tải ghé vào Thượng Hải lấy thêm than dầu vật thực, còn thì toàn đội nhắm ngay eo biển Đối Mã mà phăng phăng thẳng tới.
Phía bên quân Nhật, nguyên soái Đông Hương hay tin hạm đội Ban-tích đã chạy ngang qua quần đảo Lưu Cầu, thì định chắc sớm tối ngày 26 hay 27, thế nào cũng đi qua hải giáp Đối Mã, cho nên hạm đội Nhật hờm sẵn ở đấy chờ đánh.
Nói cho ngay, Đông Hương nguyên soái dư biết rằng đề đốc Nga, tay cừu địch với mình, là một vị sĩ quan hải quân cao cấp, đã nổi tiếng thông minh, can đảm và có tài thao lược ghê gớm lắm. Đông Hương lại cũng dư biết rằng lấy số tàu binh mà kể, thì hạm đội Nga nhiều hơn hạm đội mình. Vậy thì Nhật khó làm sao thắng Nga cho nổi. Tuy nhiên, Đông Hương đã suy tính hư thiệt kỹ lưỡng, biết rõ hạm đội của Đề đốc Rô-dê-văng-ky thiếu thốn về binh lực và thuốc đạn; nhất là cả đoàn tàu đi từ Âu sang Á, ròng rã 8 tháng nay, tự nhiên máy móc phải tròng trành, tướng sĩ phải mỏi mệt, mà tàu lại không chở đủ số than để lên tới Hải Sâm Uy mà qua mắt Nhật Bản cho được; thế nào giữa đường tránh khỏi đánh nhau? Nga yếu thế e thua là ở chỗ đó. Trái lại, tàu Nhật thì vừa mới sơn phết, sửa sang máy móc và tích trữ đạn dược rất sung, còn tướng sĩ ai nấy đều tỉnh táo hăng hái, chỉ đợi có giặc lại mà đánh.
Lấy tình trạng hai bên về binh lực và sĩ khí như thế mà suy xét so đo, cho nên Đông Hương nguyên soái vững lòng chờ đợi hạm đội Nga tới chỗ eo biển chỉ rộng có 122 hải lý là eo biển Đối Mã để cùng giao chiến một phen sống mái, chớ không vì thấy tàu Nga đông, tướng Nga giỏi, mà kiêng sợ chút nào!
Ngày 26, Đông Hương nguyên soái ra lệnh cho chiếc tàu do thám, hiệu là Tín Nùng 信濃 [Shinano] phải cẩn thận tuần phòng ở quanh biển Đối Mã, hễ thấy bóng tàu Nga, phải đánh điện tín cấp báo cho đại đội hay. Chiếc tàu này đi tuần biển đến 2 giờ khuya thì thấy đoàn tàu Nga, liền phi báo cho hạm đội Nhật hay. Các nhà quân sự chuyên môn của Âu Mỹ nói rằng chớ chi chiếc tàu Tín Nùng của Nhật đi tuần chậm trễ 5 phút đồng hồ sau, thì hạm đội Nga vượt khỏi Đối Mã rồi, không đến đỗi phải chôn thây ở đó.
Tảng sáng 27, mặc dầu biển dậy sóng to, trời có sa mù bịt bùng, hạm đội tiên phong của Nhật được tin hạm đội Nga sắp tới, tướng sĩ Nhật hăm hở nghênh chiến. Xuất Vũ trung tướng truyền bảo bộ hạ như vầy:
“Anh em ta đêm ngày chờ đợi hạm đội Ban-tích tới để đánh; ngày nay may mắn làm sao tàu giặc đã tới trước mắt, cái giờ sinh tử quyết chiến của anh em ta đến rồi. Song binh gia thắng bại, không biết đâu trước mà lường; nói ví dụ như tàu chúng ta bị bắn nặng lắm, thì anh em ta cũng thề đánh tới chết chớ không thèm lui. Còn một viên đạn, cứ đánh; còn một tên quân, cứ đánh. Ai nấy đều nên nỗ lực tận tâm mà đánh giặc, rủi như tàu chúng ta chìm thì trước khi chun vô bụng cá, chúng ta đem hết thảy vật dụng quân cơ trong tàu mà tự hủy đi ráo, chớ để lọt qua tay bên giặc nghe”.
Rồi đó Xuất Vũ trung tướng dàn trận, xông vào giao chiến với hạm đội Nga. Trong lúc sa mù tối tăm, tàu Nga không biết tàu Nhật nhiều ít thế nào, chỉ thấy bên Nhật bắn mình thì mình bắn lại, rồi thì phân hạm đội ra làm hai hàng tả hữu, kéo dài trên 20 dặm, phăng phăng chạy vào eo biển Đối Mã. Lúc này mà đề đốc Nga còn chưa thấy rõ thiệt tình bên Nhật, trong trí vẫn tưởng rằng mấy chiếc tàu Nhật mà mình ngó thấy đây là thứ tàu hư cũ không thể chiến đấu gì được; còn đại đội hải quân Nhật thì đang đón hạm đội mình ở eo biển Tôn Cốc là phía trên kia, thế là Nhật mắc mưu mình rồi, thôi mình có thể thừa hư mà thắng lên Hải Sâm Uy dễ dàng như chơi. Than ôi! Đề đốc Nga không biết có hạm đội của Đông Hương đang hờm sẵn ở Đối Mã hải giáp, lát nữa coi mà!
Quả thiệt Đông Hương nguyên soái được tin hạm đội Nga sắp qua Đối Mã hải giáp liền ra lệnh cho cả hạm đội bộ hạ mình gồm 20 chiếc tàu, dàn trận như hình tràng xà, xông ra nghênh địch. Cờ hiệu giao chiến kéo lên bay phấp phới ở trên kỳ hạm Tam Lạp 三笠 [Mikasa] Đông Hương nguyên soái truyền lệnh cho toàn đội rằng: “Tổ quốc vinh nhục ở một trận này, tướng sĩ các ngươi đều phải gắng sức”. Lệnh này làm cho hùng tâm tráng khí của chư tướng sĩ thêm phấn chấn trăm phần.
Hạm đội Nhật phân hai, một nửa đánh vào sau lưng hạm đội Nga, một nửa thì chạy hàng dài ở phía tả, chận ở mặt trước. Lúc hai bên còn cách xa nhau 10 ngàn thước, tàu Nga bắn trước, nhưng tàu Nhật làm thinh, chờ khi còn cách chừng 5 ngàn thước, thì tàu Nhật mới thử bắn 6 phát. Súng Nhật bắn hay quá, trong 6 phát mới bắn đó, có 3 phát trúng ngay vào một chiếc tàu Nga, mà một phát trúng giữa tướng đài, viên đề đốc chiếc tàu ấy bể sọ chết tốt.
Nga muốn biến thế trận để đối địch cho dễ, nhưng bị Nhật xông vào đánh riết quá, nên biến thế trận không kịp. Đã vậy mà súng Nhật bắn 10 phát trúng đến 6, 7; còn súng Nga bắn trả thì xuống nước gần hết. Hồi 2 giờ chiều, hai bên đánh nhau càng hăng, súng nổ vang trời, khói lên mù mịt. Tuy binh Nga chống cự hăng hái can đảm cũng dữ, nhưng mà tàu nào tàu nấy bị đạn Nhật bắn phá nhừ tử, thành ra lòng quân đã hơi rúng động.
Đến 2 giờ rưỡi, hạm đội Nga bị khốn trong vòng vây, trận thế rối loạn tứ tung, muốn phá vây chạy trốn, nhưng mà tàu Nhật áp tới bao phủ như bức tường dày, không có ngả nào cho tàu Nga thoát ra được. Lúc này tàu Nga có mấy chiếc bị bắn chìm rồi, tàu Nhật lại nhắm vào kỳ hạm của Đề đốc Rô-dê-văng-ky mà bắn dữ dội. Đề đốc đứng trơ trên tướng đài, tay cầm thanh gươm ra hiệu cho tướng sĩ; bỗng chốc tàu cháy ngùn ngụt, cháy tới tướng đài, làm cho Đề đốc Nga bị thương nặng lắm, vội vàng cùng bộ tướng sang qua tàu khác vừa xong, thì chiếc kỳ hạm chìm nghỉm.
Bây giờ chiếc tàu Nga hiệu Nicolas 1er thay làm kỳ hạm, cùng chiếc Alexandre III đánh lại tàu Nhật rất là dũng mãnh, vì tướng sĩ ở hai tàu này đều là hạng tinh nhuệ trong hải quân Nga.
Song, rủi cho Nga, hết tàu này tới tàu khác, bị trúng đạn Nhật mà nổ chìm liền. Thét tàu Nga phải đành liều, phá vòng vây mà chạy; tàu Nhật rượt theo bén gót.
Tối lại, trên biển u ám, không sao ngó thấy rõ đường mà đánh, nên chi Đông Hương nguyên soái truyền hiệu lệnh cho hạm đội mình đều tụ ở phía ngoài cù lao Uất Lăng 鬱陵島 [Ururundo], chỉ sai một đoàn tàu ngư lôi và tàu khu trục theo đánh tàu Nga. Hồi 8 giờ tối, biển nổi sóng ầm ầm mà trời đen như mực, tàu Nga lênh đênh trên biển không biết lối nào mà đi, vì sợ đi bậy, gặp tàu Nhật thì khốn. Nhờ vậy mà tàu ngư lôi và tàu khu trục của Nhật theo dõi tới nơi, lại xông vào đánh tàu Nga, chiếc thì bị chìm, chiếc thì hư máy, không cử động gì được nữa.
Chính một chiếc tàu có Đề đốc Rô-dê-văng-ky và tham mưu bộ tướng cũng bị hết than hư máy, đứng sững trên biển, nên phải kéo cờ hàng, để cho binh Nhật bắt sống cả mấy thầy trò; còn chiếc tàu Nga thì Nhật dắt về Tá Thế Bảo quân cảng.
Có 5 chiếc khác thừa lúc đêm tối, định dông thẳng lên Hải Sâm Uy, không dè tới sáng, bị một hạm đội Nhật lù lù chặn ngang trước mặt. Chính là hạm đội của Đông Hương, Đông Hương ra hiệu khuyên hàng; 5 chiếc tàu Nga biết thế chống cự không nổi, kéo cờ trắng lên hàng ngay.
Nội buổi sáng 28 tàu Nhật còn lùng kiếm tàu Nga, hoặc bắn chìm, hoặc bắt sống. Thế là cả hạm đội Ban-tích của Nga trên 40 chiếc, đến đây không còn sót lại chiếc nào toàn vẹn. Tính ra Nhật bắn chìm của Nga 21 chiếc; bắt sống 5 chiếc; 3 chiếc mắc cạn bị hư; 8 chiếc trốn thoát; 1 chiếc chạy mất tung tích nơi nào không biết. Có lẽ nó là chiếc chạy lạc vào cửa Ô Cấp ta rồi chìm ở khoảng trên Nhà Bè mà mấy chục năm nay còn thấy cột buồm trồi lên mặt nước đó chăng?
Phía Nga, hạm đội Ban-tích tan nát như đã kể trên đây, còn tướng sĩ thì 4.000 người bị hoặc bị đạn mà tử trận, hoặc đắm tàu mà chết chìm; 7.000 người bị Nhật bắt sống, trong số đó có Đề đốc Rô-dê-văng-ky và nhiều danh tướng khác nữa. Thế mà phía Nhật, thì chỉ mất ba chiếc tàu ngư lôi, chết 116 người và bị thương tích 350 người thôi.
Trận hải chiến ở eo biển Đối Mã này kết thúc cuộc thắng bại giữa hai nước Nhật Nga, từ đó Nga bị đuổi ra khỏi phía đông Thái Bình Dương để nhường cho Nhật trở nên hải thượng bá chủ. Vả lại trận Đối Mã đánh xong hôm nay, thì ngày mai oai danh Nhật Bản lừng lẫy toàn cầu, nhảy vọt lên ngang hàng với liệt cường Âu Mỹ. Ai cũng nói rằng thiên hạ cổ kim, không tiền tuyệt hậu, chẳng thấy có một trận hải quân chiến thắng nào mà cái giá nó ít tốn hao quá như là trận Nhật chiến thắng Nga ở Đối Mã hải giáp vậy.
Thắng trận khải hoàn, Đông Hương nguyên soái trở nên một bậc dân tộc anh hùng, thế giới vĩ nhân. Người thắng trận đã nâng cao địa vị của quốc gia dân tộc Nhật Bản đó, thọ gần 80 tuổi, mới mất ở Đông Kinh hồi tháng 6 năm 1934, Nhật Bản làm lễ quốc táng hết sức long trọng. Nhân dịp đó, ta thấy vô số báo chí Âu Mỹ tự thuật lai lịch và ca tụng chiến công của Đông Hương.
Đông Hương, hồi đầu duy tân, là một chàng thanh niên do vua Minh Trị lựa chọn phái đi qua học hải quân ở Anh quốc giữa năm 1868. Đông hương lưu học tại Anh quốc luôn 7 năm, đã nghiên cứu về binh pháp hải quân lại tinh thông cả về cơ khí hải quân nữa. Lúc bấy giờ Âu châu gọi Đông Hương là “cậu học trò Nhật Bản” (écolier Japonais). Cách sau vừa đúng 30 năm, tảng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1905, cậu học trò Nhật Bản làm Hải quân nguyên soái. Phá tan hạm đội của một cường quốc Âu châu ở Đối Mã hải giáp đó.
Giữa lúc đánh trận, Đông Hương cầm thanh bửu kiếm đứng trên tướng đài của chiếc kỳ hạm Tam Lạp, chỉ huy quân sĩ từ sáng sớm đến tối mịt, bỏ cả ăn uống, quên hết hiểm nguy. Đạn Nga bay ngang trước mặt vù vù, mà Đông Hương không hề nhúc nhích, cái thái độ dũng cảm tự nhiên của Đông Hương như thế, càng làm cho mạnh khí nức lòng tướng sĩ Nhật Bản bội phần. Ai nấy reo hò hăng hái, quyết chiến cho đến lúc toàn thắng mới thôi. Có tướng ấy, tất nhiên có quân ấy là phải lắm.
Tuy thắng đại trận, lập đại công thế ấy, mà Đông Hương chẳng lấy làm đắc chí tự kiêu chút nào. Ai khen công trận thì Đông Hương chỉ nói đó là nhờ có oai linh của Thiên hoàng, dũng khí của ba quân, hồng phúc của tổ quốc. Ngày khải hoàn về Đông Kinh, cái cử chỉ trước hết của Đông Hương là vô nhà thương thăm viếng Đề đốc Rô-dê-văng-ky, nắm tay đề đốc mà nói:
“Tôi rất lấy làm vinh hạnh được gặp một tay đối địch hết sức dũng cảm như ông.”
Cái cử chỉ này càng tỏ ra võ sĩ Nhật Bản có tính nho nhã di truyền từ xưa, như một đoạn trên kia đã nói vậy.
CHÚNG TÔI HỌC THEO TÂY PHƯƠNG CÁC ÔNG MÀ
Xét qua công cuộc cải cách võ bị của Nhật đã thành công mau lẹ và có kết quả rỡ ràng như thế rồi, luôn dịp ta nên nhìn biết một điều này nữa. Điều này, chẳng phải ý tôi muốn nói ra đặng ngợi khen gì Nhật Bản, nhưng mà nó chính là một sự thật, không nên bỏ qua.
Hồi duy tân, Nhật Bản hối hả sửa sang võ bị theo như Tây phương, chẳng phải chỉ cốt lo “giữ mình” mà thôi đâu, kỳ thiệt họ đã lập chí “ăn người” rồi. Đã không muốn tiến hóa tự tân thì thôi, chớ nếu tiến hóa tự tân, thì tất nhiên phải có những vấn đề công nghệ phát đạt, vấn đề nhân khẩu gia tăng, bắt buộc họ có cái tình thế riêng phải lấy võ lực để tìm lấy hơi thở, mưu lấy đường sống.
Bởi vậy, ông tướng tên quân nọ mới ngày hôm nào hãy còn mang giáp múa đao, cầm cung ra trận, không khác gì tướng sĩ Trung Quốc thuở xưa, thế mà bỗng chốc duy tân, bao nhiêu thói xưa lối cũ xóa đi hết, nhất thiết đổi dùng từ binh cơ đồ trận cho tới nhung trang khí giới của Tây phương, sự biến hóa ấy thấm thoát chưa được bao lâu, thì họ đã đem ra thực nghiệm “ăn người” rồi. Nào đánh Trung Quốc chiếm lấy Đài Loan, Bành Hồ, nào mượn tiếng sửa sang nội chính giùm cho Cao Ly rồi sau bảo hộ luôn, lại nào là cố đánh thắng Nga để nắm lấy hải quyền ở miệt đông Thái Bình Dương và đuổi Nga ra khỏi Mãn Châu để khuếch trương thế lực mình sang đại lục, ấy đều là những sự hiển nhiên Nhật Bản đã dùng võ lực sửa đổi theo Tây phương mà thiệt hành “ăn người” cả đó.
Sau lúc thắng Nga trở đi, võ bị của Nhật ngày càng thêm mở mang tấn tới. Đến giờ, thôi thì quá rồi: hải quân và lục quân của họ đã đứng ngang hàng với mấy nước đệ nhất hùng cường trong thế giới; võ nhân họ, ở bên trong có thế lực lớn lao bên đàn chính trị, ngó ra ngoài muốn hầm hừ nhai nuốt cả những Úc châu của Anh, Phi Luật Tân của Mỹ, Nam Dương quần đảo của Hòa Lan, chớ không phải muốn vừa. Mãn Châu chưa đủ no bụng họ đâu, họ còn đang dòm qua dĩa thịt liền một bên, muốn nhai luôn cả Tây-bá-lợi-á (Xibia) của Nga luôn một miếng cho gọn!
Tuy ngoài miệng hay nói hòa bình ngọt xớt, nhưng kỳ thực Nhật Bản chính là một nước “quân quốc chủ nghĩa” (Nation militariste) rõ ràng không còn phải nghi gì nữa.
Có người Âu Mỹ nào trách thiện Nhật về chỗ đó thì Nhật cười và nói:
“Ủa! Chúng tôi học theo Tây phương các ông chớ ai!”
Thì chính là lời nói thật.
Như trên xa kia đã nói, thiệt là trước nhờ mấy tiếng súng của Đề đốc Bá Lý, sau nhờ có những hiệp súng của 4 nước Âu Mỹ hiệp nhau bắn nổ rầm rầm ở Lộc Nhi đảo và Hạ Quan, làm cho người Nhật vùng tỉnh giấc mê mộng mấy ngàn năm mà vội vàng cải cách duy tân. Việc thứ nhất là họ đã ngó thấy Tây phương mạnh ở súng gang tàu sắt, thì trước hết họ phải lo sao cho họ cũng có những vật cần kíp đó. Antoine Zischka[4] viết câu này thực là đúng với tư tưởng tâm lý người Nhật hồi năm 1868: “Nếu người ta sống theo cách Âu châu thì cũng phải biết bắn giết theo cách Âu châu mới được”, (Si on vivait à l’européenne, il fallait aussi tuez à l’européenne).
Võ bị nước Nhật hồi duy tân sửa sang tấn tới quá mau, cho đến đỗi cách sau 37 năm đem ra thực nghiệm chiến thắng được Nga, tóm lại chỉ gốc ở một chỗ giác ngộ và định kiến có bấy nhiêu đó!
Lại cũng vì chỗ giác ngộ định kiến đó mà Nhật Bản phải trở nên một nước quân quốc chủ nghĩa, soi gương nối gót thầy học Tây phương. Thử hỏi xưa nay trong thiên hạ có một nước nào, hoặc mở thêm đất cát, hoặc mưu lấy lợi quyền, mà khỏi dùng đến võ lực? Nước mạnh nào lại không là nước quân quốc chủ nghĩa? Tây phương bắt đầu từ thế kỷ XVII sang mở mang đất cát, kinh doanh quyền lợi ở Đông phương, chẳng nhờ có binh ròng tướng mạnh, tàu sắt súng gang, thì nhờ ở sức nào khác hơn? Chính Tây phương qua bắn súng vào Phù Tang tam đảo rầm rầm, mới đánh thức Nhật Bản tỉnh ngộ tự cường đó chớ ai! Cũng chính Tây phương chỉ tỏ cho Nhật biết sức mạnh của súng đạn tân thời và biết mối lợi của võ lực sung túc, cho nên Nhật phải bắt chước đó. Ngày nay họ trở nên quân quốc chủ nghĩa mà thú thật rằng học bài chung sách của ông thầy Tây phương là phải lắm.
Danh sĩ Pháp là Maurice Dekobra năm ngoái qua chơi Nhật Bản trở về viết cuốn sách Samourai huit cylindres rất ngộ, có nhắc lại câu nói của ông giáo sư Nitobe Inazou ở trường Đông Kinh Đế quốc đại học như vầy:
“Hồi Nhật Bản tự bỏ cái thú tịch mịch phong lưu của mình từ xưa mà để mắt dòm ra thiên hạ, ngó thấy trên biển Trung Quốc phấp phới nhiều lá cờ lạ, thuở nay mình không biết, thì ai nấy đều sửng sốt lạ lùng: nào cờ tam tài, nào cờ có băng đỏ của Hồng Mao, nào cờ điểm sao lốm đốm của Mỹ quốc.
Chớ chi lúc nọ ở dưới những lá cờ đó, có một đạo binh toàn là thi gia và mỹ thuật gia kéo tới bờ biển chúng tôi, thì không chừng chúng tôi đã cao hứng vì lẽ cạnh tranh tinh thần, mà cùng họ phấn đấu ở trong vòng nghệ thuật văn chương một cách rất là ôn tồn thân ái. Song cơ khổ thay! Lúc chúng tôi dòm thấy dưới những bóng cờ đó tua tủa lên vô số là đầu gươm mũi súng chói mắt sáng lòa, thì chúng tôi hiểu ngay rằng chúng tôi đây phải đúc súng rèn binh để giữ lấy thân chúng tôi mới được. Bởi vậy, ngay từ khi chúng tôi bắt đầu tiếp xúc với Tây phương, thì chủ nghĩa quân quốc đưa tới cho chúng tôi bắt chước đầu hết mọi sự. Thiệt, công cuộc tổ chức hải quân và lục quân của Nhật ngày nay, có phải là Nhật phát minh ra đâu; Nhật chỉ chép y kiểu cách của Âu châu thôi mà”.
❀ ❀ ❀
[1] . Có tên khác là Khố Hiệt đảo 庫頁島 hay Tát cáp liên 薩哈蓮 cũng thế, tức là cái cù lao ta thấy trên địa đồ đề tên là Sakhalin, nửa phần về Nga, nửa phần về Nhật. Nhật lấy lại được nửa phần sau trận thắng Nga 1905; còn nửa phần nữa bây giờ họ tính mua lại của Nga, cũng như là mua con đường xe lửa Đông Mãn kia.
[2] . Lúc đó hải quân nước Nga chia làm 4 hạm đội hay là 4 đoàn tàu chiến, đóng ở 4 nơi: một là hạm đội Ban tích (Escadre de la Mer Baltique); hai là hạm đội Hắc Hải (Escadre de la Mer Noire); ba là hạm đội Lý Hải (Escadre de la Mer Intérieuse); bốn là hạm đội Thái Bình Dương (Escadre du Pacifique). Hạm đội này đóng ở cửa Lữ Thuận, bị hạm đội Nhật phá tan, sau đem hạm đội Ban-tích sang cứu viện cũng bị phá tan nữa.
[3] . Đoàn tàu chiến khi ra trận, chiếc tàu có ông Hải quân nguyên soái ở trên, treo cờ hiệu lệnh nguyên soái, thì gọi là kỳ hạm 旗艦 [kikan], tiếng Tây kêu là Navire Amiral.
[4] . Tác giả cuốn Le Japon dans le Monde, 326 trang, nhà xuất bản Payot ở Paris.