Văn học cũng như quân bị, kinh tế, chính trị, công thương, nếu người Nhật Âu hóa là chỉ muốn cho được giữ y tính cách đặc biệt của mình. Giáo sư Félicien Challaye từng phát biểu rằng: “Ai tưởng về mặt văn chương, người Nhật muốn biến thành Âu hóa, thật là tư tưởng lầm lắm đó”.
Quốc ngữ Nhật Bản với quốc ngữ các nước khác có dính dấp quan hệ ra thế nào, thuở xưa không có ai nghiên cứu. Mãi đến đời Minh Trị, văn hóa phương Tây truyền sang, bấy giờ Nhật mới bắt đầu giảng cứu gốc tích quốc ngữ. Năm Minh Trị thứ 19, trường Đế quốc Đại học đặt ra khoa học bác ngôn 博言学科, để tiện giảng cứu.
Lúc đó, đã từng có mấy nhà ngữ học ngoại quốc xét gốc định loài của quốc ngữ Nhật Bản. Mỗi người chủ trương một khác. Người này nói tiếng Nhật giống tiếng Mãn Châu. Người kia nói có bà con với tiếng Hàn (Cao Ly). Người khác nữa bảo rằng tiếng Nhật với tiếng Mông Cổ có chỗ thân tộc quan hệ. Gần đây, lại có người phát minh ra tiếng Nhật có hệ thống với loài tiếng “Ấn Độ - Nhật nhĩ man” (Indo Aryen), nghĩa là có bà con với tiếng Đức. Có lẽ vì đó mà Hitler nói giống người Nhật có pha máu giống người Đức chăng?
Kỳ thiệt, công việc giảng cứu này đến giờ cũng chưa quyết định được tiếng Nhật thuộc vào hệ thống nào. Mỗi thuyết cho là gốc này gốc kia chỉ là đoán chừng.
Chỉ biết rằng dân tộc Đại Hòa 大和 [Yamato] dựng nước ở Nhật Bản, vốn có một thứ tiếng riêng. Về sau văn hóa bên đại lục tràn qua, người Nhật đón rước Hán văn Nho học, tự nhiên có mượn nhiều tiếng Hán, tiếng Hàn pha trộn vô quốc ngữ. Phật giáo cũng đem nhiều tiếng Phạn tới cho Nhật mượn nữa.
Các nước Âu châu thông thương với Nhật Bản sớm hơn hết, là người Bồ Đào Nha. Kế tới người Y-pha-nho, người Hòa Lan, người Anh, người Pháp, người Đức… Nhật Bản cũng mượn tiếng của mấy nước này hóa làm tiếng mình vô số, nhất là những danh từ về y học, khoa học.
Còn văn tự, có ít nhiều người Nhật do tính tự ái, nói rằng trước khi chưa có chữ Hán truyền sang, Nhật Bản đã có Thần đại văn tự 神代文字 [Jindai Moji], nghĩa là ở đời Thần cũng có chữ riêng rồi. Nhưng, Đằng Cương Thắng Nhị 藤岡勝二 [Fujioka Katsuji] là nhà chuyên môn nghiên cứu nổi tiếng về quốc ngữ văn tự Nhật Bản bác hẳn cái thuyết trên đây, cho rằng những người chủ trương thuyết ấy tưởng dân Nhật Bản cổ thời không có một thứ văn tự riêng là sự đáng lấy làm xấu hổ, cho nên họ dò đoán cầm chừng mà bày vẽ Thần đại văn tự đó thôi. Nếu quả xưa kia đã có văn tự đó chăng nữa, chẳng qua chỉ riêng trong một khu vực nào, chớ dân chúng không dùng, mà nó cũng không đủ tư cách là một thứ văn tự.
Nhật Bản có văn tự, chính là thoát thai ở chữ Hán mà ra. Ấy là:
Bình giả tự 平仮字 [Hiragana], mượn ở lối chữ viết tháu của Tàu mà đặt ra cho được giản tiện, kẻo để nguyên cả Hán văn cho dân học thì phiền phức khó khăn quá. Tương truyền người đặt ra lối chữ này, một vị Thầy tu đạo Phật, là Hoằng Pháp đại sư 弘法大師 [Koubou Daishi] (774-835).
Phiến giả tự 片仮字 [Katakana] chỉ mượn một mảnh chữ Hán mà đặt ra, mà đọc theo âm quốc ngữ Nhật. Đại khái cũng như nhà nho ta xưa mượn gốc chữ Hán mà đặt ra chữ Nôm để đọc theo âm của tiếng mình vậy. Có người nói kiểu chữ này là bản đồ 50 âm, do Cát Bị Đại Thần 吉備大臣 [Kibi no Daijin] (693-775) sáng tạo.
Hai lối chữ mượn này dựng lên một nền văn tự riêng của Nhật, dùng pha trộn với chữ Hán để viết văn làm sách phổ thông. Duy có đám thượng lưu học thức mới chuyên dùng chữ Hán mà thôi. Nhưng họ viết chữ Hán theo như văn pháp riêng của họ, chớ không chịu theo văn pháp Tàu. Sự mượn chữ đặt chữ riêng viết văn theo phép riêng như thế, chứng tỏ ra người Nhật thuở xưa đi học của người, vẫn giữ tính cách độc lập của mình là dường nào.
Đến lúc Âu hóa sang Đông, thời thế cấp bách, trước hồi Minh Trị duy tân, đã có người dâng thư lên Mạc phủ xin bãi hẳn chữ Hán, để dùng chữ Bình giả, Phiến giả của mình thôi.
Kế đó, bước vào thời kỳ Minh Trị duy tân có nhiều thuyết kế nhau nổi lên. Năm Minh Trị thứ 16, có Giả danh hội 仮名会 [Kanakai] lập ra cũng xướng khởi ý kiến chuyên dùng chữ mượn, tức là chữ Bình giả và Phiến giả. Qua năm sau lại có La mã tự hội 羅馬字会 [Romajikai] chủ trương dùng chữ La tinh như các nước Âu Mỹ. Cả hai hội đều xướng bỏ chữ Hán. Có một phái Âu hóa cấp tiến, muốn dùng hẳn Anh văn làm quốc văn.
Nhưng, Hán văn đối với người Nhật tiếng Nhật có lịch sử lâu đời, có quan hệ thâm thiết, không thế nào bỏ hẳn đi được. Muốn cho việc học của dân được giản tiện, mau lẹ, nhà nước bèn lựa lọc chữ Hán lấy một số cần dùng còn lại vài ba ngàn chữ thôi. Sự trí thức về chữ Hán văn Hán của sĩ dân Nhật suy đi từ đó.
Trong đời Minh Trị, quan báo và công văn đều viết bằng chữ Hán xen vô chữ Phiến giả cho dân dễ hiểu, ấy là giữ thói quen từ đời trước.
Có một hồi tân văn tạp chí cũng dùng trộn cả chữ Phiến giả vô, nhưng được ít lâu rồi thôi, chỉ dùng chữ Bình giả xen lộn chữ Hán như ta thấy ở báo chí Nhật ngày nay, chữ Phiến giả chỉ dùng để dịch các danh từ của Âu Mỹ, cho được đọc theo như âm tiếng Âu Mỹ vậy.
Chữ Bình giả xưa kia viết ra lộn xộn bất nhất, ai muốn viết sao thì viết, cũng như nhà nho nước Nam ta viết chữ Nôm vậy. Nhưng đến năm Minh Trị thứ 33, Văn bộ (tức là bộ Giáo dục) định ra thể lệ hẳn hoi, mẹo luật rành rẽ.
Trước khi muốn xét về văn học và sách báo của Nhật Bản lúc mới duy tân, chúng ta nên biết qua quốc ngữ văn tự nước Nhật như thế.
VĂN HỌC ĐỜI MINH TRỊ
Đời xưa, Nhật Bản đã có một nền văn học phát đạt và có đặc sắc lắm; họ tự phụ rằng không thua gì Âu châu. Tiểu thuyết, thi ca, hí kịch, đoản thiên, sử ký, phong dao… môn loại nào cũng có những áng văn hay truyền tụng. Nhất là đời Đức Xuyên làm tướng quân, luôn mấy trăm năm, thái bình vô sự, người ta chỉ có việc chăm lo trau dồi văn học, thành ra văn hay sản sinh rất nhiều. Văn học Nhật Bản đến đời Đức Xuyên là đời toàn thịnh.
Người Nhật bắt đầu nếm mùi văn học Âu châu, là những truyện ngụ ngôn của Ésope, dịch ra tiếng Nhật từ thế kỷ XVI, chắc là do tay dịch thuật của một ông giáo sĩ nào đó. Đến phần dưới của thế kỷ XVIII, thêm có bản dịch Voyages de Gulliver (Tạm dịch: Những cuộc phiêu lưu của Gulliver). Lúc này có những người Hòa Lan, Bồ Đào Nha và Y Pha Nho sang Nhật mua bán, trong đám nhà nho Nhật, nhiều người nghiên cứu Hán văn tinh thông rồi, lại có hứng thú nghiên cứu văn tự ngoại quốc nữa, nhất là học chữ Hòa Lan để xem xét y khoa và sự tình Âu châu. Tuy là Mạc phủ có lệnh nghiêm cấm và có nhiều người vì học chữ ngoại bang mà bị chết chém, những hạng sĩ phu óc lớn nghĩ xa vẫn cứ mạo hiểm mà học. Nhờ vậy mà Nhật Bản đã sớm có những người hiểu biết qua loa về vật lý học và bác vật học của Thái Tây, chớ không riêng văn học mà thôi.
Sự học tiếng Hòa Lan đến cuối đời Đức Xuyên đã thịnh hành, lần hồi người ta học tới Anh văn, Pháp văn, Đức văn nữa. Mạc phủ lại đặt ra một sở chuyên dịch sách vở của Tây dương, gọi là “Phiên thư thủ điều xứ (番書取調處). Sở này về sau biến thành ra trường Đông Kinh Đại học lấy Anh văn làm gốc để giảng dạy các khoa.
Thế là trước khi chưa khai quốc duy tân, nước Nhật đã biết chú ý đến ngôn ngữ văn học phương Tây rồi. Họ không phải quá ư cố chấp như mình đây, đến đời Tự Đức mà sĩ phu ta không biết văn học nào khác hơn văn học Trung Quốc.
Tới lúc mở cuộc duy tân rồi, các nhà học vấn tiên giác từng học qua một thứ ngôn ngữ văn tự châu Âu, bây giờ ganh đua nhau làm sách, dịch sách, truyền bá tứ tung, để cho quốc dân mau biết những phong tục, tập quán, lễ nghĩa, chính trị, học vấn của Thái Tây. Người có công này lớn nhất là Phúc Trạch Dụ Cát 福澤諭吉 [Fukuzawa Yukichi] vừa lập trường, vừa dịch sách, vừa làm báo để rèn tập nhân tài cho cuộc duy tân và thức tỉnh quốc dân về việc sinh tồn, việc quyền lợi. Trước mắt người Nhật buổi đầu duy tân, Phúc Trạch là ông thánh sống, có sự nghiệp giáo dục to lớn quan hệ như thế nào, một chương trên kia nói về “dân gian giáo dục” tôi đã nói rõ rồi, khỏi cần nhắc lại ở đây nữa.
Kế Phúc Trạch là Tân Đảo Tương 新島襄 [Nijima Jou], Trung Thôn Chính Trực 中村正直 [Nakamura Masanao], Trung Giang Đốc Giới 中江篤介 [Nakae Tokusuke]… đều là bậc anh tài có công nghiệp gieo mầm ngoại quốc văn học ở nước Nhật.
Sau lúc nhà vua đã bỏ chế độ phong kiến và cho tứ dân bình đẳng, bấy giờ người ta xôn xao bàn bạc về những chuyện dân quyền tự do; đã bàn bạc về những chuyện dân quyền tự do, lẽ tất nhiên người ta hâm mộ sùng bái những người như Montesquieu, Jean Jacques Rousseau của nuớc Pháp. Bởi vậy, lúc Trung Giang Đốc Giới ở Pháp quốc về, dịch sách Dân ước (Contrat Social) của Rousseau và xướng lên thuyết dân quyền tự do, làm cho nhân tâm rung động nồng nàn. Rồi đó phong trào dân quyền càng ngày càng thịnh. Năm Minh Trị thứ 14, nhà vua phải hạ chiếu kỳ hẹn với dân 10 năm nữa thi mở ra Quốc dân hội nghị thành ra dân càng đua nhau cầu học trí thức thế giới và tư tưởng dân chúng càng ngày càng mới mẻ thêm.
Ấy là tình thế vào khoảng năm Minh Trị thứ 15, 16 trở về trước, mặc dầu tiêm nhiễm ngoại quốc tư tưởng và phiên dịch sách vở Thái Tây đã nhiều, nhưng văn học mới vẫn chưa thiệt dấy lên. Duy có một hiện tượng, là có tân văn tạp chí nhân được phong trào mới mà đẻ ra thôi. Là bởi nhân tâm Nhật Bản hồi này đều dốc lòng gắng sức vào việc cải tạo quốc gia, cho nên sự cầu học trí thức Thái Tây, chỉ cốt những việc gì là việc thiết thực, chớ không ai rảnh rang để thưởng ngoạn văn học Thái Tây cho được. Huống chi trong khoảng 15 năm mới khởi cuộc duy tân này, số người biết ngôn ngữ văn tự Thái Tây còn ít lắm; dầu cho người biết cũng là chưa đủ tinh thông để thưởng ngoạn cái thú vị của văn học Thái Tây nữa kia.
Thời kỳ tân văn học mở ra thật từ năm Minh Trị thứ 15, 16 trở đi.
Khởi thủy là ba vị giáo sư đại học, Ngoại Sơn 外山 [Toyama], Thỉ Điền Bộ Lương Cát 矢田部良吉 [Yatabe Ryoukichi] và Tỉnh Thượng Hinh 井上馨 [Inoue Kaoru] in ra lối thơ mới, gọi là Tân thể thi 新体詩 [Shintaishi]. Văn học phương Tây vang dội tới văn học Nhật Bản mở mối ra từ đó.
Nguyên là lối thi tả tình của Nhật thuở trước, thông dụng nhất là điệu ca bằng quốc âm và có tô điểm vô những tiếng ờ đời Trung cổ, người ta mới cho là hay. Ba vị giáo sư trên đây cho lối quốc ca vắn quá không đủ tả hết tình tứ ra được; lại còn chêm tiếng Trung cổ vào cũng không hợp thời nữa. Rồi đó ba ông xúm nhau lại bắt chước điệu thi của Tây mà đặt ra ca, gọi là thi theo thể mới. Lại dịch nhiều thi ca hay của Tây phương cho quốc dân ngoạn thưởng. Về sau có nhiều tay dịch thi ca Tây phương còn hay hơn nhiều, song kể người thợ đầu hết, chính là ba ông, vả lại người Nhật được rảnh rang nếm mùi văn học Tây phương và biết là cân dùng, thật bắt đầu tự đó.
Lần hồi không mấy năm, những tay có tài phiên dịch đem sách của các danh sĩ Âu châu ra dịch tứ tung, nhiều nhất là tiểu thuyết và bi kịch. Cervantès, Shakespeare, Fénelon (truyện Télémaque), Daniel de Foe (Robinson Crusoe), Goethe, Dickens, và Alexandre Dumas (truyện Les Trois Mousquetaires, người Nhật khoái lắm), Victor Hugo, Maupassant, Zola, Loti, Tolstoi, Jules Verne, văn chương tiểu thuyết của các ông này đều dịch hết ra tiếng Nhật và người Nhật ngoạn thưởng hoan nghênh đáo để. Triết học thì họ dịch từ Platon cho đến Rousseau, Kant, Schopenhager, Auguste Comte, Stuart Mill và nhất là Herbert Spencer.
Lúc đang nói chuyện đây, văn đàn mới ở nước Nhật, có hai phái đứng đối nhau đánh trống phất cờ tân văn học:
Một là phái thanh niên văn khoa học sinh ở trường đại học Tảo Đạo điền; giáo sư văn khoa của trường này là Bình Nội Tiêu Dao 坪内逍遥 [Tsubochi Shouyou], một nhà lãnh tụ trên đàn văn học mới, rất tinh thông Anh văn, thường đem văn học nước Anh dịch thuật giới thiệu cho học giới Nhật Bản. Thụ nghiệp với ông lúc bấy giờ, có nhiều thanh niên học sinh còn đang ngồi trên ghế học đường mà đã viết tiểu thuyết và soạn kịch, tài hoa nổi tiếng.
Hai là hội Nghiễn hữu xã 硯友社 [Kenyusha] tụ họp những người kiện tướng của tân văn học, người dịch sách nước nọ, người dịch sách nước kia, gần có đủ mặt: nhà phê bình có, nhà sáng tác có, nhà văn học sử có, một thời hoạt động vang dậy trên đàn học mới.
Ngoài ra có hai làn sóng, tuy chống chọi nhau, mà đều có ích cho cuộc tấn hóa của Nhật Bản mới kỳ.
Một là làn sóng sùng bái Tây phương.
Một là làn sóng tỏ rạng quốc túy.
Năm Minh Trị thứ 20, Đức Phú Tô Phong 徳富蘇峰 [Tokutomi Sohou] mở ra tạp chí đặt tên là Quốc dân chi hữu 国民之友 [Kokumin no Tomo] đem các vấn đề văn học, tôn giáo, phong tục ra bàn bạc một cách rộng rãi ngang tàng, nhiều bài viết văn lập luận rất kỳ, cốt đem văn học Tây phương vô nước Nhật và chú ý về văn nghệ mới lạ. Trong báo ấy đầy rẫy bài vở hoặc sáng tác, hoặc phê bình, hoặc dịch thuật, bài nào cũng có vẻ làm rung động tai mắt người trong nước giữa lúc muốn đạp đổ văn học cũ, dựng lên văn học mới.
Đức Phú Tô Phong là tín đồ đạo Gia-tô, cho nên ông ta nghị luận về các vấn đề tôn giáo, chính trị, dân quyền nhất nhất đều có chủ nghĩa khuyên bảo người ta sùng bái Tây phương.
Những người chống cự chủ nghĩa ấy bèn mở ra tạp chí đặt tên là Nhật Bản nhân 日本人 [Nipponjin], lấy chủ nghĩa phát dương quốc hồn quốc túy làm gốc. Họ nói văn minh Tây phương cũng còn có nhiều chỗ thiếu sót, chớ phải hoàn toàn tốt đẹp gì sao; chẳng qua chỉ có võ lực là hơn, vì lẽ thời thế sinh tồn, mình bắt chước người ta thì bắt chước, nhưng không thể nào lãng quên hay là bỏ hẳn những cái tinh túy của văn minh Đông phương mình đi được.
Trong mấy năm Minh Trị từ 20 đến 23, 24, hai làn sóng trên đây đều có ảnh hưởng rất hay cho tư tưởng Nhật Bản. Một mặt này có chủ nghĩa Âu hóa rầm rộ thịnh hành, một mặt kia có tinh thần quốc túy nổi lên chống lại. Té ra những người từ Minh Trị buổi đầu tới đây, chuyên chú xem xét văn vật phương Tây, chừng rõ biết được hết sự tình của người ta rồi, trở lại giật mình vì chỗ việc gì mình cũng nhắm mắt theo càn là bậy. Vì sự thiệt chính mình cũng có nhiều cái hay.
Đó là chỗ tự tỉnh của quốc dân Nhật Bản, nhờ sự tự tìm biết cái hay của người đánh thức giùm sự biết cái hay của mình.
Hai làn sóng này điều hòa lại với nhau, khiến cho người Nhật tấn hóa một cách có lương tri sáng suốt, và công nghiệp duy tân đến đó mới thiệt là chín chắn.
Trên kia nói hai làn sóng đều có ích cho cuộc tấn hóa của Nhật Bản là vậy đó. Còn một việc hiển nhiên khác nữa.
Buổi đầu duy tân, người trong nước ham mê vồ vập văn minh Tây phương quá đỗi, tới nước quên mất không nhớ lại rằng Đông phương có một nền mỹ thuật có vẻ tốt đẹp riêng, đáng quý đáng giữ. Thành ra bao nhiêu những bức tranh vẽ khéo, những đồ chạm trổ quý báu công phu, chính là vật báu của Nhật mà người Nhật đem bán rẻ cho người Âu Mỹ đem đi gần hết, chẳng biết tiếc là gì. Đến những miếu thần chùa Phật đồ quý vật xưa, có quan hệ về lịch sử lâu đời, người ta cũng để cỏ mọc rêu phong, trôi sông bỏ xó, không thèm sửa sang gìn giữ. Tới chừng có chủ nghĩa phát dương quốc túy nổi lên phừng phừng, bấy giờ người ta mới sực tỉnh, biết rằng văn vật phương Tây có những cái đáng theo thì theo, nhưng mà văn vật phương Đông mình cũng có những cái hay phải nên giữ gìn quý trọng mới được. Rồi đó, nhiều môn nghệ thuật riêng, mỹ tục riêng, ví dụ như múa kiếm, đánh vật, trồng hoa, múa nhạc, uống nước trà… hai mươi năm tấm lòng quá chuộng văn minh Tây phương cho khinh thường xem rẻ đi, bấy giờ nó lại lần hồi khôi phục cho tới ngày nay.
Đến văn học cũ cũng vậy, bị người ta phế khi mấy chục năm, tới đây có những người trở lại biết cái thú vị văn học xưa của mình, bèn gom góp lựa lọc lấy tinh túy cựu văn học mà dung hòa bằng tư tưởng mới của Tây phương. Thành ra họ nhồi cả văn học Đông Tây lại một cục, để nắn ra văn học mới. Vẫn biết là văn học mới đó có nhờ Tây phương văn học chế hóa cho nhiều, nhưng ở bên trong vẫn có tinh hoa đặc sắc riêng của mình một phần.
Thế thì về văn học cũng như về quân bị, kinh tế, chính trị, công thương, nếu người Nhật Âu hóa là chỉ muốn cho được giữ y tính cách đặc biệt của mình. Đây, tôi muốn mượn câu của giáo sư Félicien Challaye làm câu kết đoạn này: “Ai tưởng về mặt văn chương, người Nhật muốn biến thành Âu hóa, thật là tư tưởng lầm lắm đó”.
NHẬT BÁO TẠP CHÍ
Nếu ai muốn bỏ hết các việc cải cách khác của Nhật Bản, mà chỉ xem nội một khoản báo chí thôi, cũng đủ thấy bước đường duy tân người Nhật rong ruổi mau lẹ đến thế nào. Từ lúc mới khởi duy tân trở đi, chưa đầy hai chục năm, báo chí của họ đã có cơ sắp sửa ngang vai chen gót với sự nghiệp ấy của Âu Mỹ rồi. Chẳng bù với báo chí xứ mình đẻ ra có lẽ trên ba mươi năm mà vẫn còn là thằng trẻ nít: một tờ báo chạy nhất ở tỉnh thành lớn xứ mình chưa bằng tờ báo nhỏ ở một xó châu quận người ta.
Trong lúc bắt đầu khai quốc, nghĩa là lúc chính quyền còn về tay Mạc phủ, bị Đề đốc Bá Lý tới ra oai buộc phải mở cửa thông thương, đám chí sĩ Nhật Bản đã dựng lên ít nhiều cơ quan ngôn luận để thúc giục nhà nước phải mau duy tân cải cách. Những báo này còn in chữ khắc bằng cây và chỉ ra mỗi tháng hay mỗi tuần một số, cách thức biên tập sắp đặt tờ báo còn lôi thôi lắm.
Lúc này cả thảy gồm chục hiệu báo chí chớ không phải ít, nhưng báo nào cũng khốn khổ về đồng tiền eo hẹp, thành ra không mấy tờ đứng vững. Ông Henry Dumolard, tác giả cuốn Le Japon politique, économique et social (Paris, Colin 1903) thuật lại một chuyện nghe tức cười chết: “Có báo xuất bản hai năm rồi vì hết tiền vốn mà phải đóng cửa, là vì trước sau chỉ vỏn vẹn có hai vị độc giả mà thôi”.

Ông vua báo giới Nhật - TRUNG THÔN LONG BÌNH 中村龍平 [Nakamura Ryuuhei] - Người làm cho báo Triều Nhật có địa vị ngày nay. Ngoài ra còn làm chủ nhiều báo và in nhiều sách.
Bước qua thời đại Minh Trị duy tân, còn sót lại năm ba tờ tuần báo nguyệt san, trong đó chỉ có báo Giang Hồ tân văn 江湖新聞 [Koko Shimbun] ra vẻ đặc sắc hơn hết. Nhưng vì mỗi số báo ra, bài nào cũng xăm xoi công kích hai cường phiên Tát Ma và Trường Châu làm cho chính phủ tức mình sinh ghét, rồi cấm xuất bản, lại bỏ tù viên chủ bút báo ấy. Trước giờ chính phủ chưa nghĩ đến sự kiềm chế các báo, nay mới thấy sự đó là cần, bèn ra lệnh buộc tờ báo nào cũng phải xin phép nhà nước cho ra mới được, bài vở nếu thả giọng bạo động quá thì chủ nghiệm chủ bút ở tù.
Mãi tới năm Minh Trị thứ 4 (1871), Nhật Bản mới có tờ báo hằng ngày thứ nhất xuất bản, là Đông Kinh Hoành Tân tân văn 東京横浜新聞 [Tokyo Yokohama Shimbun], bắt đầu dùng chữ chì của người Nhật tự đúc lấy (thử coi sớm chưa!) và in bằng máy in đặt mua ở Âu châu. Từ việc biên tập, việc in, việc bán, sắp đặt đã khá chỉnh bị. Báo này chẳng những làm ông tổ nhật báo mà thôi, lại làm khuôn mẫu cho những báo hằng ngày khác kế theo nữa.
Qua năm sau, 5 tờ báo hằng ngày lớn nối gót nhau ra đời:
Đông Kinh nhật nhật tân văn 東京日日新聞 Bưu tiện báo tri tân văn 郵便報知新聞 Triều Dã tân văn 朝野新聞 Độc mãi tân văn 読売新聞 Thự tân văn 曙新聞 Mỗi tờ bày tỏ một chính kiến, hoặc muốn tấn hóa lần hồi, hoặc đòi duy tân cấp bách, mà tờ nào cũng có một vài tay danh nhân chí sĩ chấp bút, đua nhau bút chiến tung hoành, có ảnh hưởng đến thời cuộc một cách sâu xa, lừng tiếng là Ngũ đại tân văn (五大新聞 Godai Shimbun), chính phủ cũng phải kiêng nể.
Từ năm Minh Trị thứ 4 đến thứ 8, trước sau 5 năm, mà nhật báo, tuần báo, tạp chí dựng lên đến hơn 100 nhà. Sự tiến bộ của báo giới Nhật phát khởi đã mau mà rồi ngày càng tấn tới mau lẹ dị thường. Trong sự tấn bộ đó, nhiều chỗ bày tỏ ra công phu nhân lực mới quý. Thử xem một chuyện phát báo cũng biết. Các báo ban đầu đều in ra buổi trưa; việc phát hành đã có xe hơi xe đạp gì đâu, người ta chia nhau thủng thẳng đưa tay đến tận mỗi nhà độc giả. Mấy anh đưa báo còn khệnh khạng, chần chờ, đến mỗi nhà, ngồi uống chén nước trà, nói chuyện tán tỉnh con ở ngộ nghĩnh nhà người ta chê chán rồi mới chịu đem báo đến nhà khác cũng vậy, thành ra báo ra buổi trưa mà sự phát hành kéo mãi đến khuya mới xong. Mỗi nhà báo phải mướn cả trăm người đi phát tay như thế. Tội nghiệp có nhà báo mướn hạng người đó không đủ, thì chính các ông trợ bút tự đem phát lấy; báo để trong tay áo “kimono” rút ra mà đưa mỗi nhà.
Từ hồi báo giới Nhật Bản tạo lập ra đến lúc đang nói đây, tuy là đủ môn nọ loại kia và cách sắp đặt cũng gọi là tấn tới mới mẻ khá rồi, nhưng người ta chỉ ham bàn chính trị, sính múa văn chương, chớ tờ báo chưa có tư bản tranh cạnh xen vô, chưa có tính chất thương mãi, cũng chưa có màu mè mỹ thuật.
Có chăng, là từ tờ Đại Bản triều nhật tân văn (大阪朝日新聞 Osaka Asahi Shimbun, Asahi Osaka) ra đời trở đi.
Thật vậy, lúc đầu chỉ là đám người văn gia chí sĩ chung đậu tiền bạc làm báo với nhau thôi, nhà tư bản chưa bước vô cõi tân văn. Đến năm Minh Trị thứ 12, có Đại Bản triều nhật tân văn mở ra, làm được vài năm rồi về tay Thôn Sơn Long Bình 村山龍平 [Murayama Ryouhei] kinh doanh, bấy giờ báo giới mới bắt đầu có tính chất tư bản. Mà từ đó báo giới mở mang rộng lớn, phải nhờ có sức tư bản như các công cuộc kinh doanh lớn lao khác vậy.
Thôn Sơn Long Bình là nhà giàu, không phải tay biết cầm bút viết văn nhưng mà biết cách làm một tờ báo thế nào cho được nhiều người ham đọc, cần đọc, phải đọc. Ông ta xuất một số tiền thật lớn để làm báo, chú trọng nhất là thông báo tin tức làm sao cho mau lẹ, bèn dồn cả toàn lực vào cơ quan thông tin, bày ra nào là điện tín trong nước ngoài nước, nào là thông tín viên đặc phái (correspondants spéciaux), để cho việc báo tin thật là mau chóng, dầu hao tốn bao nhiêu tiền cũng mặc. Tư bản cạnh tranh trong làng báo mở mối ra từ đây.
Mấy tờ báo khác, thấy tiếng tăm của Đại Bản triều nhật tân văn mỗi ngày bay lên cao như diều, cũng lấy sức tư bản ra để tranh cạnh, tiền bạc họ xài ra như nước, cầu lấy tin mau, in đẹp, báo lớn, bài nhiều. Nhưng phần đông vì sự tranh cạnh quá lố, đến phải đuối hơi trút túi mà chết. Duy có tờ Đại Bản mỗi nhật tân văn 大阪毎日新聞 [Osaka Mainichi Shimbun] là đứng lại tranh cạnh nổi mà thôi. Họ tranh cạnh luôn mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, từ lúc ấy cho đến bây giờ, chính là hai tờ báo hằng ngày, lớn nhất nước Nhật. Sau đây có một đoạn riêng, nói về thủ đoạn cạnh tranh ghê gớm của hai nhà báo Triều nhật Asahi và Mỗi nhật Mainichi ra thế nào? Giờ để nói chuyện tuần tự về lịch sử báo giới đã.
Đến năm Minh Trị thứ 23, nhà vua ban bố Hiến pháp và mở Chúng nghị viện ra rồi, báo giới càng thêm phát đạt và có thanh thế về mặt chính trị. Người ta nói lúc này về thế lực chính trị, chính phủ ở bậc nhất, nghị viện ở bậc nhì, tân văn ở bậc ba. Có lúc chính phủ sợ tân văn quá hơn là sợ nghị viện, cho nên thường khi tìm cách ngăn trở tân văn phát đạt, nhưng nó cũng cứ phát đạt như thường.
Sau cơ hội trên đây là cơ hội giúp cho báo giới bước cao lên một bước, tới trận Nhật Bản đánh nhau với nhà Thanh nước Tàu (1894), báo giới nhờ đó tăng số độc giả lên gấp đôi. Nhiều báo vì lẽ doanh nghiệp lợi tiện mà lập thêm chi nhánh riêng hai nơi: ví dụ Triều nhật và Mỗi nhật ở Đại Bản, lại lập ra tòa báo Triều nhật và Mỗi nhật ở Đông Kinh nữa, nơi nào in riêng tờ báo tại nơi đó. Nếu Đông Kinh là kinh đô chính trị, thì Đại Bản là kinh đô công nghệ. Muốn cho sự phát hành mau chóng, khỏi mất công gửi đi gửi lại lâu lắc lôi thôi, hai tờ báo lớn mới xuất bản hai nơi như thế. Mà nơi nào xuất bản cũng ghê, Triều nhật in ra 370.000 tờ ở Đại Bản và 180.000 ở Đông Kinh, hiệp cộng 550.000 tờ. Mỗi nhật cũng xuất bản cả hai nơi gần gần số ấy. Đó là nói số in hồi duy tân trải qua Nhật Nga đại chiến cho đến Âu châu đại chiến mà thôi. Chớ bây giờ hai tờ báo này in nhiều mấy lần hơn và kình địch với báo Anh, Mỹ kia. Độc giả sẽ thấy một đoạn nói riêng.
Trong khi tân văn phát đạt tấn tới lạ lùng như thế, thì tạp chí cũng không vừa gì. Khoa học, chính trị, giáo dục, triết học, mỹ thuật, phụ nữ, tôn giáo… môn loại nào cũng có tạp chí riêng để kêu gào, để giảng dạy, để dìu dắt người ta. Kể tới năm 1905, nghĩa là từ ngày Minh Trị bắt đầu duy tân đến đây được 38 năm, các thứ tạp chí khắp nước Nhật đến số 1.500 hiệu, mà riêng ở Đông Kinh có 380 hiệu. Độc giả là phụ nữ và học sinh nhiều nhất, thực nghiệp giới ở bậc thứ.
Cũng kể tới thời kỳ nói trên đây, khắp nước Nhật, số báo hằng ngày lớn nhỏ trên 700 nhà. Thời gian không bao lâu mà báo chí mở mang phát đạt đến thế, thật là tột bậc vậy.
THỬ XEM SỰ CẠNH TRANH CỦA HAI TỜ BÁO LỚN NHẤT
Ấy là báo Triều nhật và Mỗi nhật như trên kia đã nói.
Cả hai đều có lịch sử trường cửu gần sáu chục năm nay, chẳng những là báo lớn ở nước Nhật hay là ở phương Đông này thôi, lại đứng vào hàng một số ít tờ báo lớn nhất trong thế giới nữa.
Tôi muốn để một đoạn riêng nói về lai lịch và sự nghiệp kinh doanh của hai tờ báo này nhất là về Triều nhật nhiều hơn.
Báo Triều nhật sáng lập ở Đại Bản (Osaka) ngày 25 tháng Giêng năm 1879 (Minh Trị thứ 12). Lúc đầu báo quán chỉ là một cái nhà bé nhỏ, bởi là cơ quan của văn sĩ chung nhau, chớ chưa có nhà tư bản xen vô.
Đã nói hồi Minh Trị bắt đầu duy tân, không có một thứ văn hóa nghệ thuật nào của Tây phương mà người Nhật họ không bắt chước; bởi vậy nghề làm báo của Tây phương cũng phát hiện ở nước Nhật một cách mạnh bạo lớn lao như muôn vàn nghề nghiệp khác. Nhưng lúc bấy giờ có nhiều tờ báo dựng lên rồi đổ ụp xuống liền, là vì có nhiều nỗi khó khăn gay trở; nhất là vì mặt tài chính làm cho thất bại nhiều hơn hết; duy chỉ có báo Triều nhật chống chọi và qua lọt được cái cầu khó khăn gay trở đó.
Từ năm 1885, báo Triều nhật ở Đại Bản dời về chỗ báo quán bây giờ, song lúc ấy nhà cửa, máy móc và cách sắp đặt cũng còn lôi thôi sơ sài, chớ đâu phải được như ngày nay. Mãi đến năm 1890, kiểu máy in mới của nước Pháp chế tạo ra, hiệu Marinoni, truyền qua Nhật Bản; chừng đó nghề làm báo ở Nhật Bản mới bước vào cõi tiến hóa mới mẻ.
Hai trận chiến tranh Trung Nhật (1894) và Nhật Nga (1904-1905) cùng là vụ loạn Quyền phỉ ở Bắc Kinh, đều là những cơ hội tấn phát lạ lùng cho báo Triều nhật. Mấy lúc có chiến tranh đó, báo đều phái đi từng đoàn phóng viên ra tới chiến trường để lấy tin và chụp hình. Bọn phóng viên này cố sức làm cái chức vụ thông tin, lăn lóc vào giữa chỗ rừng gươm mưa đạn, lắm khi tính mạng nguy hiểm rất mực, mà họ cũng không kể gì, cứ việc liều mình lấy tin cho được mới thôi. Một nhà báo có những phóng viên như thế, thật không có cách quảng cáo nào cho bằng và không thể nào không phát đạt cho được. Chính nhờ vì đó mà báo Triều nhật càng ngày càng tấn tới phi thường, được quốc dân hoan nghênh tin cậy lắm. Từ lúc ấy trở đi, số độc giả càng ngày càng tăng, báo Triều nhật càng thấy sự sắp đặt của mình về mặt vật chất nội dung còn thiếu sót nhiều; vả lại, cần phải cạnh tranh với báo Mỗi nhật (Mainichi, cũng ở Đại Bản) dữ lắm, thành ra báo Triều nhật hết sức mở mang. Sự cạnh tranh của hai nhà báo này, làm cho báo giới Nhật Bản leo lên một cái trình độ rất cao, ngang hàng với báo giới Hoa Kỳ, chớ báo giới Âu châu không bì kịp đâu.
Năm 1915, báo Triều nhật cất nhà báo mới, cao 8 từng lầu, thật là nguy nga rộng rãi, mà chỉ dựng có một năm là xong.
Đồng thời lại mở mang các cơ quan và khí cụ in báo, thông tin, thứ nào cũng tân thời hết thảy.
Báo này lúc khởi thủy là của một số anh em đồng chí viết văn nhà nghề, chung nhau lập ra; vài năm sau, nhà tư bản Thôn Thượng Long Bình xuất vốn mua lại làm chủ một mình, ra sức mở mang, càng ngày càng lớn, về vật chất và tinh thần cũng vậy. Cho đến năm 1919 trở đi, mới đổi ra công ty hữu hạn, số vốn đến 4 triệu yên, nhưng vẫn Thôn Thượng làm xã trưởng. Thôn thượng nổi tiếng là “vua báo” ở nước Nhật, cũng như Lord Northcliffe ở Hồng Mao mười năm trước và Hearst ở Hoa Kỳ bây giờ vậy. Vua báo Nhật Bản mới qua đời năm 1933, thọ 85 tuổi.
Nhà báo Triều nhật ở Đại Bản và ở Đông Kinh cũng vậy, xem hình thấy cảnh đồ sộ lạ thường, ta có thể tưởng tượng rằng nhà băng Đông Pháp ta ở Sài Gòn chỉ bằng phần nửa thôi.
Bề ngoài đã vậy, cách thức sắp đặt làm việc bề trong nhất nhất theo kiểu tối tân, không thiếu một sự cần dùng gì cho nghề nghiệp mà trong tòa báo không có. Đại khái tầng lầu thứ nhất là bộ doanh nghiệp (ta gọi là ty quản lý) và nhà in; tầng thứ hai là phòng việc của ông xã trưởng (ta gọi là chủ nhiệm) cùng các cơ quan viên chức thuộc về phần ông; tòa soạn cũng ở tầng này, lại có một phòng hội nghị rất lớn. Tầng thứ ba là nơi tiếp khách, có viện đồ thư, có phòng âm nhạc. Tầng thứ tư có hàng cơm và những phòng riêng cho các trợ bút và phóng viên nằm nghỉ; lại có nhà tắm cho họ nữa… Còn trên nóc nhà có sân rộng để cho thầy thợ trong tòa báo lên tập thể thao mỗi ngày và có chuồng nuôi 300 con chim bồ câu dùng vào việc thông tin hay đem bài từ Đại Bản lên Đông Kinh cho nhà báo Triều nhật chi quán [Tức chi nhánh của báo Triều nhật] ở đây. Các máy móc in báo và làm hình đều đặt trong hầm nhà ở dưới chót hết.
Tòa báo có ga ra xe hơi riêng, lúc nào cũng có mấy chục chiếc xe hơi sẵn sàng, để cho các trợ bút và phóng viên đi làm công việc nghĩa vụ. Ngoài ra, còn có sân máy bay riêng và mười mấy cái phi cơ, cũng dùng vào việc thông tin tức.
Máy in báo Triều nhật toàn là kiểu máy tối tân như ở bên Mỹ, mỗi giờ có thể in ra 8 muôn tờ. Hiện thời, trong nhà báo Triều nhật có 17 bộ máy kiểu đó, cho nên mỗi giờ in được 1 triệu 36 muôn tờ trở lên.
Kể số người làm ở tòa soạn, ở nhà in và ty quản lý bây giờ có đến 1.756 người, riêng phần tòa soạn, vừa trợ bút, vừa phóng viên, kể có 400 người rồi. Năm chục năm trước, hồi báo Triều nhật mới lập ra, vẻn vẹn chỉ có 20 người làm, thế mà trải qua có nửa thế kỷ, báo ấy mở mang phát đạt cho tới có số người làm đông đảo như thế, thật là một sự tiến bộ lạ lùng lắm vậy.
Những thợ này làm việc trong báo Triều nhật, hình như mỗi người đối với nhà báo đều có cảm tình gắn bó và có lòng tín ngưỡng cao xa, đến đỗi họ cặm cụi giúp việc nhà báo một cách thành tâm tận lực, chớ không mấy ai chịu bỏ đi làm nơi khác. Theo số điều tra tới cuối năm rồi, thì trong nhà báo Triều nhật, số người làm việc lâu bền 20 năm trở lên, có ngoài 50 người; còn có nhiều người giúp việc ròng rã trên 40 năm nữa.
Báo Triều nhật thường ngày xuất bản buổi sáng 8 trang lớn, buổi chiều 4 trang; nội dung chú trọng về công việc tin tức trong xứ trước, rồi bàn rộng tới công việc tin tức khắp các nước Âu Mỹ. Bởi vậy, phàm là những nơi đô hội kinh thành lớn trong thế giới, báo Triều nhật đều có đặt thông tin riêng.
Trong số báo mỗi ngày, trừ tin tức ra, các vấn đề chính trị, kinh tế, giáo dục, mỹ nghệ, thể dục… mỗi vấn đề có một địa vị riêng, chu đáo hoàn toàn lắm. Cầm tờ báo coi cách in của họ tốt đẹp kỹ lưỡng quá: chữ Hòa văn (nghĩa là chữ Nhật có xen chữ Tàu vô) sắp nhỏ như con muỗi, vậy mà nét in rõ ràng sạch sẽ hết sức, không có một chút nào có thể chê được. So sánh một tờ báo Nhật với một tờ báo Tàu vào hạng tốt nhất, như Thân báo ở Thượng Hải, sự khác xa nhau kể trời với vực. Người Nhật tự chế ra được cái máy sắp chữ theo kiểu monotype của Âu Mỹ để sắp chữ Hòa văn. Báo Triều nhật vừa sắp chữ theo lối thường, vừa dùng máy sắp chữ kiểu riêng nói đây.
Không phải báo Triều nhật chỉ phát hành ở Đại Bản và ở Đông Kinh mà thôi, họ còn phát hành những tờ báo địa phương, rải rác có 29 nơi ở trong nước, mà nơi nào cũng mang cái tên báo đó và có máy in riêng cả.
Gặp khi có việc biến động gì quan hệ, ví dụ như lúc Nội các thay đổi, tức thời báo Triều nhật in ra số báo đặc biệt (numéro spécial), rồi cho mười mấy chiếc phi cơ của nhà báo bay đi phân phát khắp các phủ huyện. Họ cốt làm cho tin tức thông báo, cực kỳ mau lẹ hoàn toàn. Đội phi cơ của nhà báo phải bay đi ban đêm là sự thường lắm.
Ngoài ra số báo mỗi ngày, nhà báo Triều nhật còn xuất bản nhiều thứ tuần báo, về chính trị, về kinh tế, về thể dục, về phụ nữ, về nhi đồng, về nghệ thuật; còn có những tạp chí mỗi tháng ra một kỳ và mỗi mùa, mỗi năm cũng có một hiệu tạp chí riêng nữa. Ấy là các báo bằng chữ Nhật. Muốn làm quảng cáo cho nước Nhật khắp trong thế giới, báo Triều nhật phát hành mấy thứ tuần san tạp chí bằng chữ Anh, để gửi tặng các nước ngoài. Chắc ít người mình được ngó thấy mấy thứ báo này; ai ngó thấy tất phải ghê sợ cách in của Nhật Bản khéo léo tốt đẹp lạ lùng.
Luôn dịp, tưởng nên nói qua cho biết sự cạnh tranh của mấy tờ báo lớn ở Nhật ra thế nào?
Hai báo Triều nhật và Mỗi nhật[1] cạnh tranh nhau từ ly từ chút, không ai chịu thua ai; nhưng họ cạnh tranh một cách vĩ đại, hùng hồn, chớ không phải cạnh tranh bằng những ngón tiểu nhân đâu. Ví dụ năm 1914, báo Mỗi nhật cất tòa báo cao 5 tầng, thì năm sau, báo Triều nhật dựng lên báo quán cao ngất 8 tầng. Hay là năm 1924, Mỗi nhật phái một chiếc thủy phi cơ bay khắp nước Nhật để cổ động cho báo; tức thì Triều nhật cho một chiếc phi cơ cất cánh bay ngang Si-bê-ri (Sibérie) và Nga quốc rồi tuốt xuống tới kinh thành Ba-lê nước Pháp, để chụp hình và điều tra về phong cảnh nhân vật.
Mỗi nhật tức mình quá, vì thấy mình làm gì, Triều nhật cũng làm cho hơn, Mỗi nhật bèn mua một lúc năm chiếc máy bay dùng làm quảng cáo, không dè mấy hôm sau, Triều nhật sắm 10 chiếc máy bay dùng để đem tin và chở báo đi lại trên không trung từ Đại Bản lên Đông Kinh.
Hai báo ganh hơi tức khí nhau đến đỗi nhà báo nào cũng in ra một số báo riêng để cho dân mù đọc.
Cuộc cạnh tranh từng nước của hai tờ báo này, có kết quả rất hay cho địa vị báo giới Nhật Bản được cao thêm lên hoài và người đọc báo được hưởng những sự lợi ích mới mẻ về mặt kiến văn tin tức luôn luôn.
Vì lẽ cạnh tranh, nhà báo nào cũng quăng tiền bạc ra như rác, không hề thập thò tiếc rẻ, miễn có tin tức mau chóng mà thôi. Tức như hồi năm 1923, có nạn động đất dữ dội ở thành Đông Kinh, ai nấy còn nhớ; kỳ đó báo Mỗi nhật xài hết tới 440.000 yên, là tiền phái người đi điều tra chụp hình và tiền đánh dây thép về nhà báo ở Đại Bản.
Sợ dùng những phương pháp thông tin thường dùng, e có khi bị chậm trễ hay hư hỏng gì chăng, nên chi hai nhà báo cạnh tranh, đều đặt ra nhà máy vô tuyến điện riêng, rất là hoàn hảo và nuôi nhiều chim bồ câu giúp việc cho các nhà phóng sự thông tin.
Hồi năm 1926, Đại Chính Thiên hoàng lâm bệnh, hai báo Triều nhật, Mỗi nhật cạnh tranh về cách thông tin mới ghê. Ngay lúc bệnh vua chưa lấy gì làm trầm trọng lắm, hai báo đã mướn nhà ở gần hoàng cung để cho phóng viên của mình ở luôn đêm ngày, dò la tin tức. Phóng viên hai báo giấu lén nhau ngộ quá, đến nỗi báo này tưởng báo kia không biết làm cách mướn nhà ở dọ tin như mình. Trong nhà đó, họ đặt máy nói, máy điện báo và sửa soạn máy chớp bóng sẵn sàng; lại dự bị những máy bay, những xe mô tô, chim bồ câu, để bất cứ giờ khắc nào, hễ phóng viên có bài vở hình ảnh gì, tức thời gửi về Đại Bản cho nhà báo in liền.
Chỉ vì nghe ngóng bệnh tình của vua, mà báo Triều nhật phái đi tới số 60 người ở bên hoàng cung ròng rã 4 tháng, kể cả trợ bút, phóng viên, cùng là sốp phơ, loong toong và đầy tớ của họ đem theo hầu hạ nấu ăn nữa. Báo Mỗi nhật cũng phái đi một số người đông như thế. Hai báo làm vậy là chỉ cốt tranh nhau đăng tin tức về bệnh tình Thiên hoàng cho được sớm hơn các báo độ mươi lăm phút đồng hồ thôi.
Coi một việc mà họ phái đi nhiều người như vậy, đủ biết số người phục dịch của mỗi nhà báo đông đến thế nào. Số người làm trong báo Triều nhật trên kia đã nói; còn số người làm của báo Mỗi nhật còn đông hơn: cả thảy 2.465 người, trong đó có 405 trợ bút. Cách tổ chức bên trong của báo này đại khái cũng như báo kia.
Hoa lợi của hai báo đều lấy tiền lời rao và số báo bán ra làm gốc. Mỗi năm họ thu nhập về hai khoản đó lối 10 triệu tới 14 triệu. Trừ mọi việc chi phí rồi, năm nào mỗi báo cũng được lời 2 triệu yên.
Người làm hai nhà báo này lương bổng khá lắm. Chủ bút báo Mỗi nhật có số lương mỗi năm tới 30.000 yên, chớ số lương quan thượng thư chỉ có 12.000, và lương quan tri sự mỗi phủ huyện (cũng như chủ tỉnh hay tổng đốc mỗi tỉnh ở nước mình) có 7.000 thôi.
Khỏi phải nói rõ, chắc độc giả cũng lượng biết những cơ quan ngôn luận ở Nhật Bản tổ chức một cách lớn lao, mới mẻ, trọn vẹn như tờ báo nói đây, tự nhiên có ảnh hưởng tốt đẹp cho văn hóa, cho dư luận đã đành, lại còn có thế lực lớn đối với chính trị trong nước nữa.
Đến thế kỷ nào, nước Nam mình mới có một tờ báo như Triều nhật hay Mỗi nhật?
NGHỀ IN TẤN PHÁT CŨNG GHÊ
Lấy thời gian và công việc mà so sánh thử chơi, cùng là khoảng đường 30 năm, kể từ chỗ cất bước phát đi, nghề báo nghề in ở nước Nhật chạy bằng hai cặp giò con thỏ, còn nghề in nghề báo của mình đi chậm quá con rùa.
Nói là 30 năm, chớ sự thật chưa hết cái thời gian ấy thì sự nghiệp báo chí và xuất bản của người Nhật đã sắp hàng với mấy anh chị bậc nhất trong thiên hạ rồi. Lời thề của họ cả quyết sửa sang mau lẹ cho bằng Âu Mỹ, thiệt họ đã làm đúng y, bất cứ phương diện nào.
Vào khoảng bắt đầu chúa Trịnh ở đời Lê nước ta, thì Đức Xuyên Gia Khang 徳川家康 [Tokugawa Ieyasu] nổi lên làm chúa ở nước Nhật, sai thợ khắc ra 30 muôn chữ rời bằng cây để in Ngũ kinh, Tứ thư và các sách xưa của bản quốc phát cho dân học. Tới khoảng đầu thế kỷ XVII (lối chừng 1614), họ lại biết đúc ra 20 muôn chữ bằng đồng nữa mới là kỳ hơn. Nhờ họ sớm biết khắc chữ cây rời, đúc chữ đồng rời như thế, thành ra nghề in đã có căn cơ vững vàng tốt đẹp và kinh kia sách nọ được rải trong dân gian được rộng lắm rồi.
Chắc hẳn “chữ rời” chẳng phải là việc phát minh của người Nhật đâu; thuở nay họ chỉ thánh bắt chước, chớ không phát minh được gì. Cụ Khổng ngày xưa nói mình “Thuật nhi bất tác, 述而不作”[2]; chính người Nhật cũng vậy đó. Tôi đoán chắc hồi thế kỷ XV, Gutenberg ở Đức phát minh ra máy in và chữ rời, về sau có những cố đạo Bồ Đào Nha hay mấy chú lái buôn Hòa Lan, mon men qua Nhật giảng đạo, buôn bán, đem việc phát minh của Gutenberg nói cho người Nhật nghe rồi họ bắt chước tức thời, chớ không chi lạ!
Đã sẵn có cốt cách lâu đời vậy rồi, tự nhiên đến thời kỳ duy tân vừa mở ra, nghề in phải theo thời thế mà Âu hóa, người Nhật tự biết đúc ra chữ chì mà in sách in báo ngay, không phải đặt làm ở Âu Mỹ. Mà nghề in tấn tới bồng bột, cũng là sự thường.
Thời kỳ duy tân đi tới chừng nào thì nghề in và số sách hoặc soạn hoặc dịch cũng đi tới chừng ấy. Chỉ xem hai con số sau đây cũng đủ thấy rõ:
Năm Minh Trị thứ 10, số sách in ra cộng 5.441 quyển trong đó 232 quyển là sách phiên dịch (dịch sách Âu Mỹ ra chữ bản quốc) và 464 quyển là sách phiên khắc (in lại y bản của người ta).
Tới năm Minh Trị 37, số sách in ra lên tới 26.610 quyển, mà trong đó chỉ có 28 quyển là sách phiên dịch, còn phiên khắc thì không có một quyển nào.
Là bởi nước Nhật sau 30 năm Minh Trị duy tân, được liệt cường Âu Mỹ xem ngang vai đồng bậc rồi, thì Nhật có vô hội đồng minh bảo hộ bản quyền của liệt cường, thành ra sự phiên dịch và phiên khắc sách ngoài, không phải tự do được như trước, sách vở người ta, mình muốn dịch của ai cứ dịch, muốn in lại của ai cứ in, chẳng phải xin phép tác giả hay nạp thuế bản quyền gì hết, mà cũng chẳng ai biết đó là đâu. Vả lại sau 30 năm duy tân rồi, việc giáo dục tấn tới mở mang lắm, hạng văn nhân học sĩ tự viết sách soạn sách lấy khá nhiều, mà số độc giả có thể tự hiểu văn tự Thái Tây cũng thêm đông lên rồi, không cần phải nhờ sách dịch nữa vậy.
Nghề in mới, họ bắt chước Thái Tây tới cực điểm đã đành, nhưng có một nghề in cũ họ gìn giữ và sửa sang thêm, chính người Âu Mỹ cũng phải thưởng ngoạn. Ấy là lối in tranh vẽ nhiều màu sắc mà in bằng bản khắc cây, gọi là Đông cẩm hội 東錦繪 [Tounishikie], một món mỹ thuật tổ truyền. Lối này đã đem những bức tranh đẹp từ đời xưa của Nhật in ra khoe với thế giới. Nhưng tay thợ khắc cây tinh xảo đến đâu, mà mỗi bức tranh phải khắc từ 30 bản tới 100 bản cây riêng mỗi màu mỗi nét để sau in chồng lên nhau, công phu quá nhiều và giá vốn quá mắc, thành ra không bì được với mỹ nghệ màu bằng đá bằng điễn của đời nay vừa mau vừa khéo hơn. Dầu vậy mặc lòng, nó cũng tỏ ra nghề in của Nhật từ xưa đã có giá trị mỹ thuật riêng là thế nào rồi.
-- HẾT --
❀ ❀ ❀
[1] . Người sáng lập báo Mỗi nhật (Mainichi) là Bản Sơn Ngạn Nhất (Motoyama Hikoichi) cũng tạ thế hồi năm 1933.
[2] . Tạm dịch: Thuật lại mà không trước tác. (BT)