Nhật Bản Duy Tân 30 năm

Lượt đọc: 73 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương VI. TRÊN ĐƯỜNG CHÍNH TRỊ

❊ ❊ ❊

Đừng thấy hạng dân vô quyền nằm dưới ở trong một xã hội mà cho là thường! Hạng ấy đã có óc khôn, nảy ra sức mạnh và ý muốn, thì sức mạnh ý muốn đó phăng phăng đi tới, dầu thành đồng núi sắt cũng không cản được. Bây giờ ta thử xem họ vùng vẫy trên đường chính trị, tức là xét cái lai lịch của chế độ Hiến pháp nước Nhật vậy.

Đọc qua mấy chương ở trên rồi, chắc hẳn trong trí độc giả tự nhiên nảy ra cái cảm giác nhất định rằng Nhật Bản được duy tân tự cường, chính là do nơi dân chúng khua động thành phong trào xây dựng lên cơ sở. Đầu hết là sức dân, vua hiền quan sáng là sức thứ hai thôi.

Quả có như vậy thiệt.

Phàm một xã hội nhân quần được văn minh tấn hóa, phần nhiều khi là nhờ có một số ít người chí khí thức thời đứng lên kêu gào dìu dắt quần chúng mà ra. Hạng đó cũng như hột giống, nó có gieo vãi trước, mới có nẩy mầm đâm ngọn, cây xanh lá tốt sau. Đã cần có hạng tiên phong như thế phất cờ đi trước, song cũng lại cần họ phải có can đảm thiệt hành cái chủ nghĩa của họ cho kỳ được, cho tới cùng; chớ nếu có chí khí kiến thức mà chỉ nói rồi thôi, thì có ích lợi gì cho nhân quần xã hội đâu. Hạng người như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Phủng của mình ở đời Tự Đức chẳng phải là bực chí khí thức thời đáng yêu đáng kính là gì; nhưng chỉ tiếc mấy ông biết dùng có một cách là dâng sớ điều trần mà thôi, ngoài ra không cố ráng làm sao giục lòng thức tỉnh quốc dân và tự mình hoạt động, thành ra rốt lại mấy ông uổng mạng, mà chỗ thức thời của mấy ông cũng vô ích cho việc đời. Nếu đám người chí khí thức thời ở Nhật Bản bảy tám chục năm trước cũng thế, thì làm gì có nước Nhật Bản như ngày nay!

Sự nghiệp duy tân nước họ sở dĩ xây dựng lên được, chính bởi cái sức của đám “Hạ ban Phiên sĩ” làm chủ chốt.

Thế nào là “Hạ ban Phiên sĩ”?

Khoảng trên đầu sách, đã có chỗ nói chế độ phong kiến ở Nhật từ thế kỷ XII (Tây lịch) trở đi, trên cao hết là Thiên hoàng chỉ làm vua hư vị vô quyền, trong nước có trên 260 chư hầu hay là Phiên chúa 藩主 [Hanshu], đều thuộc quyền thống trị của Tướng quân, là một võ gia có thế lực hơn hết, dựng ra Mạc phủ, truyền nối đời đời, nắm trọn quốc chính trong tay, như kiểu mấy ông bá chủ ở đời Chiến Quốc bên Tàu vậy. Xã hội có ba giai cấp, là quý tộc, sĩ tộc và bình dân. Bậc sĩ là những người có chức nghiệp hay là có học thức. Đây nói về hạng Hạ ban Phiên sĩ, (下班藩士) tức là chỉ vào bậc sĩ ở trong nước Phiên mà lại ở vào lớp dưới. Nguyên là mỗi phiên bang, có ông Phiên chúa (người trong quý tộc), làm vua cai trị, bầy tôi phò tá đều là lão thần và phiên sĩ, cha truyền con nối, làm thần thuộc đời đời. Phiên sĩ chia ra có thượng ban (上班) và hạ ban (下班), nghĩa là bực trên, bực dưới. Phiên sĩ bực trên là số ít mà nhà thì giàu, chức thì lớn, chỉ giúp đỡ chính quyền trong phiên bang, chớ họ không làm sinh nghiệp gì khác hết. Còn hạ ban bực dưới chiếm số rất đông, phần nhiều nhà nghèo, nhưng có học thức tài cán, có tâm chí siêng năng, nhưng vẫn phải khuất phục trước mặt đám thượng ban luôn luôn.

Người có tài năng học thức mà bị đè ép khuất phục, không được mở mặt dương mày, thì còn gì bất bình hơn? Bấy lâu, đám hạ ban phiên sĩ vẫn chứa lòng bất bình; thường ráng phấn đấu và tìm cơ hội để thi thố tài năng của họ. Từ giữa thế kỷ XVIII, họ giao tiếp người Lan, nghiên cứu sách Lan, biết được chỗ tài giỏi của học thuật Tây phương và tình thế các nước, liền vùng trỗi dậy ngay từ hồi bây giờ hoặc kêu gào sửa sang chính trị, hoặc truyền bá tân học cho dân; thế là cái mầm duy tân của Nhật nhờ có đám sĩ tộc thức thời đã ươm hột một trăm năm trước rồi vậy.

Dẫn mãi tới lúc đề đốc Bá Lý qua, Mạc phủ cả quyết khai quốc, cho đến khi Minh Trị Thiên hoàng thống nhất cả nước rồi thi hành công cuộc duy tân trong 30 năm, đem Nhật Bản đặt lên ngang hàng Âu Mỹ, bao nhiêu những người bôn tẩu quốc sự, sáng tạo duy tân, đều là hạ ban phiên sĩ hết thảy. Nhà giáo dục quốc dân như Phúc Trạch Dụ Cát 福澤諭吉 [Fukuzawa Yukichi], Trung Thôn Kính Vũ 中村敬宇 [Nakamura Keiu] mà độc giả đã biết, chính là hạ ban phiên sĩ, nhà chính trị đại danh như Đại Ôi Trọng Tín 大隈重信 [Okuma Shigenobu], Y Đằng Bác Văn 伊藤博文 [Ito Hirobumi], cũng là hạ ban phiên sĩ, anh hùng như Lục tướng Nãi Mộc 乃木陸将 [Nogi Rikushou], Hải tướng Đông Hương 東郷海将 [Tougou Kaishou], cũng là hạ ban phiên sĩ nữa. Tóm lại, chính hạng người ở bực dưới của xã hội Nhật, đã đưa quốc gia Nhật lên cao.

Đừng thấy hạng dân vô quyền nằm dưới ở trong một xã hội mà cho là thường! Hạng ấy đã có óc khôn, nảy ra sức mạnh và ý muốn, thì sức mạnh ý muốn đó phăng phăng đi tới, dầu thành đồng núi sắt cũng không cản được. Thì Nhật Bản nhờ sức mạnh ý muốn của đám hạ cấp sĩ tộc mà trở nên văn minh hùng cường đó chớ gì?

Sức mạnh ý muốn của dân họ tràn lan bày tỏ ra đủ các phương diện: Chương trên, ta đã thấy họ sốt sắng tấn tới trong trường giáo dục; bây giờ ta thử xem họ vùng vẫy trên đường chính trị. Mà xem họ vùng vẫy trên đường chính trị, tức là xét cái lai lịch của chế độ Hiến pháp nước Nhật vậy.

DÂN QUYỀN LÚC MỚI KHỞI SỰ DUY TÂN

Độc giả đã rõ sự tích hồi Minh Trị Thiên hoàng quyết ý duy tân, ngài dắt các vị công khanh chư hầu làm lễ tế cáo trời đất thần minh mà thề 5 điều, thì chính điều thứ nhất là thề “rộng mở hội nghị, muôn việc quyết định ở nơi công luận”. Thế là rõ ràng vua Minh Trị tôn trọng dân quyền dư luận và ngay từ ban đầu đã có chủ tâm dựng lên chế độ Hiến pháp cho nước Nhật vậy.

Liền đó triều đình sắp đặt lại, gọi là Thái chính quan 太政官 [Daijoukan] tức là trung ương chính phủ, ở trong chia ra là 7 cục 局 [Kyoku]. Dưới thì đặt ra hai chức là Nghị định 議定 [Gijou] và Tham dự 参与 [Kinyo], dùng để hỏi han bàn định triều chính. Hạng này lựa chọn hoặc là phiên chúa, hoặc là phiên sĩ có tài năng danh vọng thì được, chớ không phân quý tiện gì. Thứ lại đặt ra Trưng sĩ 徴士 [Choushi] và Cống sĩ 貢士 [Koushi], do các phiên chúa kén chọn tấn cử về triều, phiên lớn 3 người, phiên nhỏ 2 người hay một người, triều đình dùng làm quan hạ cấp nghị sự, tức như hạ nghị viện sau này, còn hạng trên thì như thượng nghị viện.

15

BẢN VIÊN THOÁI TRỢ 板垣 退助 [Itagaki Taisuke] (1837-1919) - Một người vận động dân quyền rất hăng hái trong buổi đầu duy tân và tạo lập ra chính đảng trước hết

Đồng thời, vua Minh Trị lại định rõ 3 quyền riêng nhau. Ngài hạ dụ rằng: “Quyền lực trong nước từ đây nhất thiết đều thuộc về một mình Thái chính quan, khiến cho không có mối lệ chính lệnh do cả hai ngả ban ra như trước kia nữa. Còn quyền lực của Thái chính quan cũng chia riêng ba quyền Lập pháp 立法[Rippou], Hành pháp 行法 [Gyouhou] và Tư pháp 司法 [Shihou], để cho đứt hẳn chỗ lo thiên trọng chuyên chế”.

Vậy là Minh Trị chính phủ khơi nguồn đắp móng Hiến pháp cho quốc dân Nhật từ đây, mà ở trong có ý noi theo cái thuyết “Tam quyền phân lập” của Montesquieu nước Pháp, rất là rõ ràng.

Qua năm Minh Trị thứ 2, có Tập nghị viện 集議院 [Shuugiin] mở ra, cũng là nơi nghị sự của các phiên sĩ do nhà nước chọn lựa sung vào. Sở dĩ những người nghị sự mà do nhà nước chọn lựa, không có lẽ gì khác hơn là bởi dân chúng mới ở chế độ phong kiến chuyên chế vừa thoát ra khỏi, tự nhiên trong sự thay cũ đổi mới, đang còn bỡ ngỡ, chưa đủ ngày giờ rèn tập tư cách chính trị, cho nên chưa tập cách nhân dân bầu cử được.

Dầu sao mặc lòng, ngay từ lúc ban đầu, chính phủ Minh Trị sắp đặt như thế, kể ra cũng khéo tôn trọng dân quyền công nghị lắm. Nhờ lấy sự tôn trọng dân quyền công nghị làm bia, mà chính phủ thi hành được mọi việc cải cách rất là mạnh bạo. Ví dụ năm Minh Trị thứ 4, bỏ hẳn các phiên bang, đổi ra làm huyện; lại tuyên bố Tứ dân đồng quyền 四民同権 [Shimin Douken] (sĩ, nông, công, thương có quyền như nhau), ấy đều là việc cải cách mạnh bạo; vì nước Nhật vốn là nước phong kiến, có giai cấp sang hèn đã lâu đời rồi, mà nay bỗng chốc xóa bỏ đi được, thật là hay.

Lúc ấy có lắm kẻ thấy chính phủ cải cách táo bạo quá như thế, thì tỏ ý bất bình, nổi lên làm loạn. Nhưng chính phủ nhờ có những ông chúa phiên thế lực, tán thành duy tân, xúm lại giúp sức, thành ra công cuộc cải cách cứ việc tấn hành, mà mấy đám phản loạn cũng dẹp được mau.

Bởi nhờ cái oai của các ông cường phiên, chính phủ chế phục thiên hạ được, rồi lại bởi sự bãi phiên, nên chính phủ phải thâu dụng các ông vào những địa vị trọng yếu ở trong triều, trong nước. Trong số này, hai cường phiên Tát và Trường có thế lực lớn hơn hết. Sau khi cơ sở của chính phủ lần hồi vững vàng, vây cánh của hai cường phiên đó giữ lấy những ngôi thứ trọng yếu, rồi tác oai tác phúc, làm cho cái tinh thần ban đầu của chính phủ tôn trọng dân quyền công nghị, nay phải lần mòn tiêu mất đi. Bè đảng cường phiên người ta gọi là Phiên phiệt 藩閥 [Hanbatsu] lại muốn dựng cờ nổi trống, chuyên chế quốc chính triều cương, không coi dư luận ra gì nữa hết.

Bọn kiến thức bất bình lắm; họ khua dậy nhân tâm, để đòi dân quyền và hối thúc Hiến pháp. Đây là một thời kỳ dân Nhật hoạt động trên đường chính trị rất hay.

Năm Minh Trị thứ 6, triều đình bàn tính chính sách đối phó với nước Hàn (tức Cao Ly), thành ra trong triều có cuộc chia rẽ lung tung, kẻ đi người ở. Cả bọn Tây Hương Long Thịnh 西郷隆盛 [Saigo Takamori], Phó Đảo Chủng Chần 副島種臣 [Soejima Taneomi], Bản Viên Thoái Trợ 板垣退助 [Itagaki Taisuke], Hậu Đằng Tượng Nhị Lang 後藤象二郎 [Gotou Shoujirou] và Giang Đằng Tân Bình 江藤新平 [Etou Shimpei] đang làm chức Tham dự tại triều, cùng rủ nhau từ chức, vì họ chủ trương nhất định đánh Hàn, nhưng triều đình không chịu nghe. (Ta coi Nhật mới khởi sự duy tân có sáu năm, mà muốn cử binh đánh người, cái dân khí hăng hái gan góc có ghê không?) Còn bọn Nham Thương Cụ Thị 岩倉具視 [Iwakura Tomomi], Đại Cửu Bảo Lợi Thông 大久保利通 [Ookubo Toshimichi], Mộc Hộ Hiếu Doãn 木戸孝允 [Kido Takayoshi] đều chủ trương hãy khoan sinh sự với ai, nên lo nội chính của mình sửa sang hẳn hoi đã rồi sẽ hay; bọn ấy ở lại trong triều như thường.

Trong bọn từ chức bỏ đi kia, có bốn ông vẫn ở luẩn quẩn tại Đông Kinh để hoạt động chính trị bên ngoài, duy có Tây Hương Long Thịnh trở về quê hương Lộc Nhi Đảo [Kagoshima] mở trường tư, rèn tập thanh niên về mặt chính trị. Vì sự yêu cầu dân quyền mà ba năm nữa Tây Hương cử binh đánh lại triều đình; câu chuyện ấy sẽ nói sau.

Giờ hãy nói tiếp theo câu chuyện trên. Giữa lúc trong triều mới xảy ra việc chia rẽ có kẻ ở người lui, thì có một người đi du học bên Anh bấy lâu, nay trở về triều, tâu bày sự tình Tây phương. Người đó hết sức ngợi khen chế độ nghị viên của Anh quốc, nói rằng Nhật Bản nên bắt chước; nếu không thì quyền chính cứ ở mãi trong tay chuyên chế của một hai ông cường phiên hoài. Chính phủ nên làm sao mở rộng cái tinh thần tôn trọng công nghị như hồi ban đầu ra, để cho quốc dân có quyền tham chính mới được.

Nhân đó, qua năm Minh Trị thứ 7, ngày 18 tháng Giêng, họ Bản Viên 板垣 [Itagaki] cùng bảy người bạn đồng chí, dâng tờ biểu lên triều đình, xin nhà vua mau mau mở ra nghị viện dân tuyển (nghị viện do dân bỏ thăm bầu cử). Lại đem tờ xướng nghị đó đăng báo, công bố cho quốc dân hay. Bản Viên đặt tên rõ ràng Dân tuyển nghị viện 民選議員 [Minsen Giin] là có chủ ý chỉ rõ cơ quan ấy thay mặt quốc dân, tự dân bầu cử ra, chớ không phải như Tập nghị viện kia là Quan tuyển nghị viện 官選議員 [Kansen Giin] do nhà nước lựa chọn cắt cử.

Lúc này bọn chí sĩ muốn hiệp nhau lại thành ra chính đảng 政党 [Seitou] như ở các nước Âu Mỹ, song còn e ngại một chút, là vì thuở đó hai tiếng “đồ đảng” còn phạm nhằm quốc cấm; nhà nước coi giống như nghĩa mưu phản, hễ ai phạm thì trị tội và nêu tên ra giữa chợ búa. Muốn tránh cái họa đó, nên chi bọn chí sĩ kết đảng, chỉ tự xưng là Ái quốc công đảng 愛国公党 [Aikoku Koutou], để chỉ tỏ ra mình chẳng phải là đồ đảng phi vi hay là đồ bất chính vậy.

Tới đây, trí thức dân Nhật đã mở ra lần lần và sự giáo dục hợp quần cũng tấn tới khá rồi. Nhất là nhờ có Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi) chuyên việc dịch thuật, ra sức cổ động Chủ nghĩa Bình dân. Ngoài ra, lại có người dịch Xã hội khế ước (Contrat Social) của J. J. Rousseau và tờ Nhân quyền tuyên ngôn (Déclaration des Droits de l’Homme) của nước Pháp, để thức tỉnh quốc dân, cho biết tôn quý nhân quyền. Những sách ấy, dân nô nức mua đọc, thành ra cái phong trào Dân quyền tự do nổi lên mạnh lắm. Dầu cho trong chính phủ có những tay cường phiên chuyên chế, không trọng dư luận, nhưng dân sẽ bắt buộc phải trọng; không muốn cho lập chính đảng, nhưng rồi cũng có chính đảng cứ lập ra.

CHÍ SĨ ĐỔ MÁU VÌ DÂN QUYỀN VÀ CHÍNH ĐẢNG

Đây bước vào cái thời kỳ dân Nhật hoạt động chính trị một cách hăng hái dữ tợn, vì dân quyền và chính đảng mà có nhiều chí sĩ đến đổ máu uổng mình.

Hồi này họ Mộc Hộ 木戸 [Kido] ở trong chính phủ (làm chức Tham dự), ngầm kín làm đầu cho một bọn theo chủ nghĩa “Tiệm tấn Lập hiến” (lần hồi tấn lên chính thể Lập hiến). Còn họ Bản Viên từ lúc bỏ chức Tham nghị trở về vườn, ở trong dân gian, thì công nhiên làm đầu của phe tự do cấp tấn, muốn có nghị viện dân tuyển cho mau.

Tháng 2 năm Minh Trị thứ 7, một người trong đám cùng Bản Viên từ chức Tham nghị (gọi là Tham dự cũng thế) hồi năm ngoái, là Giang Đằng Tân Bình 江藤新平 [Etou Shimpei], lật đật trở về quê quán ở Tá hạ 佐賀 [Saga]. Bọn sĩ tộc ở đây tôn Giang Đằng lên làm thủ tướng rồi cử binh chống lại chính phủ, đòi chính phủ phải gấp thi hành Hiến pháp. Chính phủ thấy vậy, giận lắm, thành ra cả phe Bản Viên cùng chính phủ tuyệt tình, trở nên thù nghịch nhau.

Tức thời Bản Viên cũng từ giã Đông Kinh trở về quê hương ở Thổ Tá 土佐 [Tosa] mà tuyên truyền thức tỉnh quốc dân; luôn dịp ép đòi chính phủ mau mau thi hành chính sách tự do tấn bộ. Bấy giờ ở Tá Hạ và Thổ Tá có Lập Chí xã 立志社 [Risshisha] dậy lên, nương theo lời tuyên thệ của Ái quốc công đảng mà rèn tập tính cách tự trị cho dân. Lại giãi bày những lẽ dân quyền tự do rất là hăng hái. Đám thanh niên nhập xã có tới bốn năm ngàn người. Thành ra Lập Chí xã cùng với trường tư học của Tây Hương Long Thịnh lập ra tại Lộc Nhi Đảo, là hai đảng đồng chí, găng với chính phủ trung ương, làm cho chính phủ phải kiêng nể.

Nhờ có Ái quốc công đảng của Bản Viên xướng lập trước hết và truyền hịch trong nước, lần lần các nơi đều có những hội xã chính trị mở ra, có tính chất và tôn chỉ đại khái như Lập chí xã trên đây.

Qua năm Minh Trị thứ 8, phe Bản Viên và Mộc Hộ (lúc này Mộc Hộ cũng mới từ chức về vườn) mời các hội xã nhóm hội chung ở Đại Bản 大阪 [Oosaka], rồi công bố hai điều đại cương như vầy:

Cái thuyết của chúng tôi nhất định, là cầu có một chính phủ do nhà vua lập luật (nghĩa là tránh những mối tệ chuyên chế của một hai cường phiên).

Chúng tôi muốn thực hành cái thuyết ấy, cho nên phải đòi có chế độ Nghị viện, để cho minh bạch luật phép trong thiên hạ.

Rồi đó Mộc Hộ cùng Bản Viên lại trở vô chính phủ làm chức Tham nghị như cũ. Nhà vua sai ông cùng với Đại Cửu Bảo Lợi Thông và Y Đằng Bác Văn hợp nhau khảo cứu chính thể. Vua Minh Trị hạ chiếu, có câu: “Chính phủ Lập hiến lần hồi dựng lên, trẫm và chúng dân đều được nhờ phúc”. Liền khi ấy, chính phủ đặt ra Nguyên Lão viện 元老院 [Genrouin] và Đại Thẩm viện 大審院 [Daishinin]; bấy giờ là ba quyền thiệt và phân lập.

Từ đó, thuyết Dân quyền tự do càng thịnh; khắp nước chỗ nào cũng lập hội kết xã và nghị luận chính trị nổi lên rất cao.

Tháng 6 năm ấy (năm Minh Trị thứ 8), chính phủ mở ra hội nghị địa phương của nhà nước, cho mỗi phủ huyện có hai người thay mặt dân đi dự hội, và cho các nhà làm báo được dự nghe. Song hồi này có nhiều tờ báo nói giọng kịch liệt quá; họ công kích chính phủ chỉ kiếm chuyện chần chừ, không mau đặt nghị viện dân tuyển. Chính phủ phải giữ quyền mình cho nghiêm, liền ra điều lệ làm báo, trị tội phỉ báng và kiểm thúc ngôn luận.

Đồng thời, giữa chốn triều đình, cũng nổi lên chống nghịch nhau về chủ nghĩa. Ví dụ Đại Cửu Bảo vẫn chủ tiệm tấn, còn Bản Viên thì cứ chủ cấp tiến luôn luôn.

Vì chỗ bất đồng ý kiến đó nên chi qua tháng 10, Bản Viên lại từ chức Tham nghị, lui về dân gian, cho dễ ra sức thúc giục nhân tâm mở mang dư luận.

Bọn chí sĩ cấp tấn nôn nao đòi ban Hiến pháp mở nghị viện ngay, song chính phủ xét chưa phải thời, nên cứ ước hẹn dần dà mãi. Bởi vậy, đến tháng giêng năm Minh Trị thứ 10 (nhằm 1886), phe trường tư ở Lộc Nhi Đảo, tức là phe chính trị cấp tiến, đồ đảng của Tây Hương Long Thịnh, tôn Tây Hương lên làm tướng, cử binh làm loạn, hỏi tội chính phủ. Ta nên biết bây giờ Tây Hương làm ông chủ trường tư, làm một nhà hoạt động chính trị, chớ lúc cuối đời Mạc phủ cách mười mấy năm trước, ông ta đã từng làm tới Lục quân đại tướng rồi. Bọn bất bình thấy ông có tướng tài, nên họ tôn ông làm tướng, để cự với chính phủ. Song chúng quả bất địch, họ Tây Hương bại trận mà chết. Ban đầu chính phủ cho ông ta là phản thần, nhưng sau 12 năm, nhà vua nghĩ lại mà thương, bèn phong tước hầu cho con ông. Tại kinh thành Đông Kinh có dựng tượng đồng kỷ niệm, chính Tây Hương là người tử tiết vì chính trị đầu hết.

Tây Hương phẫn uất vì triều chính bị bọn Phiên phiệt chuyên quyền, nên khi cử binh khởi nghĩa, có phát ra mấy vần thơ rất hùng. Bài thơ truyền tụng qua tới nước Nam mình, không mấy ông nhà nho không ngâm nga thán phục; có ông khoái ý, dịch ra quốc văn. Ấy là bài:

大聲呼酒上高樓 雄気欲呑五大州 一片丹心三尺剣 揮拳先斬佞臣頭

Đại thanh hô tửu thướng cao lâu, Hùng khí dục thôn ngũ đại châu. Nhất phiến đan tâm, tam xích kiếm, Huy quyền tiên trảm nịnh thần đầu.

Tôi thấy ông Á nam Trần Tuấn Khải dịch[1]:

Hét lớn lên lầu đánh chén say, Khí hùng như nuốt năm châu ngay. Nột mảnh lòng son ba thước kiếm, Lấy đầu quân nịnh cho biết tay.

Ông Nguyễn Bá Học dịch ra điệu lục bát:

Năm châu ngon lắm ớ bay! Rượu đâu? Cho mỗ bước ngay lên lầu. Lòng son, ba thước lưu cầu, Ra tay trước hãy chém đầu thằng gian.

Trong lúc Tây Hương cử binh, bọn bất bình ở các nơi cũng túa lên hưởng ứng, thành ra trong nước có nội loạn lung tung.

Bấy giờ, Bản Viên liền thừa cơ hội thúc giục nhà nước nên gấp gấp thành lập chính thể Lập hiến, cho yên lòng dân. Bản Viên sai xã trưởng của Lập Chí xã là Phiến Cương Kiện Cát 片岡健吉 [Kataoka Kenkichi, sau làm Nghị trưởng Chúng nghị viện) lên tới kinh đô dâng tờ kiến nghị. Trong đó, đại ý xin chính phủ nên rộng xét công luận, để sửa sang những điều chính trị sai lầm, khiến cho ba quyền lập pháp, tư pháp và hành chính được vững vàng đúng đắn; vậy thì nên mau mau mở ra nghị viện dân tuyển, dựng lên cái nền Hiến pháp.

Kể ra lời lẽ của Bản Viên êm đềm mà thống thiết lắm; nhưng mà lúc ấy chính phủ đang lo dẹp loạn, không rảnh ngày giờ xem xét gì đặng, thành ra tờ kiến nghị của Bản Viên vừa dâng lên là bị xếp xó ngay.

Phe cấp tiến có gan dạ mưu mô dữ lắm; giữa lúc phe nội loạn nổi lên, chính phủ lo dẹp như thế, có mấy người chức sự ở trong Nguyên Lão viện, là Lục Áo Tông Quan 陸奥宗光 [Mutsu Munemitsu], về sau làm Ngoại giao đại thần), Lâm Hữu Tạo 林有造 [Hayashi Yuuzou], về sau làm Đệ tín đại thần, tức là làm Thượng thư bộ Bưu chính), cùng mấy bạn thanh niên đồng chí nữa, âm mưu sắp đặt cử binh ngay ở Đông Kinh toan đánh đổ chính phủ để dựng lên chính thể Lập hiến.

Nhưng rủi cơ mưu bại lộ ra, cả bọn đều bị bắt hạ ngục, cả Phiến Cương Kiện Cát, xã trưởng Lập Chí xã, khi dâng thư kiến nghị còn đang luẩn quẩn ở Đông Kinh đợi tin, nay cũng bị chính phủ hiềm nghi, bắt nhốt vô khám.

Giữa cuộc huyết đấu của chính phủ và nhân dân, chính phủ đại thắng. Không mấy chốc, việc loạn ở miền Tây Nam dẹp yên được rồi, bọn bất bình khắp cả trong nước đều nép tiếng, im hơi, không còn dám hó hé lấy võ lực ra để chống cự gì nữa. Chừng cái oai của chính phủ càng to, mà chính thể Lập hiến tới đây hình như muốn hỏng mất rồi.

Nhưng, may sao lại xảy ra một việc biến động, khiến cho cái vận của chính thể Lập hiến bỗng dưng lại xoay ra có thế hối hả rộn ràng: Ấy là việc hồi tháng 5 năm Minh Trị thứ 11, người trọng yếu của phe tiệm tấn là Đại Cửu Bảo Lợi Thông bị thích khách đón đường đâm cho mấy dao chết tốt. Vụ ám sát này càng tỏ ra lòng dân nóng nảy tấn hóa lắm vậy.

Chắc bởi thấy nhân tâm như thế, nên chi cách đó không bao lâu, chính phủ mở ra địa phương hội nghị ở các phủ huyện, tức là sắp đặt thứ tự để mở ra trung ương hội nghị về sau.

Luôn ba năm Minh Trị thứ 11, 12 và 13, bọn Bản Viên và Hà Dã Quảng Trung 河野広中 [Kouno Hironaka, sau cũng làm nghị trưởng Chúng nghị viện) hai ba lần mở ra toàn quốc đại hội ở Đại Bản, mục đích đều là thỉnh cầu chính phủ phải mở Nghị viện cho mau. Cả thảy có 96 đoàn thể chính trị ái quốc ở khắp trong nước, cộng hơn 9 muôn 8 ngàn hội viên, cử đại biểu đi dự hội.

Trước khi các phe dân quyền nhóm đại hội lần thứ ba, chính phủ thấy dân làm rộn quá, liền gấp đặt ra thể lệ nhóm hội, rồi tức tốc đánh dây thép truyền lệnh cho quan quyền ở Đại Bản phải ngăn cản đại hội và giải tán Ái Quốc xã đi. Song, bọn chí sĩ hay được tin trước bèn lật đật nhóm hội sớm hơn và lập ra một đoàn thể chung, gọi là Quốc hội Kỳ thành Đồng minh 国会期成同盟 [Kokkai Kisei Doumei] nghĩa là thề nhau hiệp sức hoạt động kỳ cho đến lúc có Quốc hội (tức là Nghị viện) mở ra mới thôi.

Rồi Đồng minh này phái Phiến Cương Kiện cát cùng Hà Dã Quảng Trung thay mặt cho dân 2 phủ 22 huyện, đi lên Đông Kinh dâng tờ nguyện vọng. Chính phủ kiếm cớ, không xét tờ ấy. Hai người tổng đại biểu lại đưa lên Nguyên Lão viện, cũng bị cự nốt.

Đồng minh liền đặt trung ương tổng bộ của mình ở ngay Đông Kinh thề rằng phải kêu gào cho được quá phần nửa quốc dân ký tên đóng dấu vào tờ nguyện vọng, để đồng minh làm cho đạt mục đích mới nghe.

Hồi này, phong trào chính trị nổi rùm cả nước; người ta không ước hẹn nhau mà cũng theo đuổi chung một mục đích, có nhiều đại biểu khắp nơi, kế tiếp nhau về kinh, hoặc tới các nha môn, hoặc viếng các đại thần, ai nấy cùng bày tỏ kèo nài có một việc là thi hành Hiến pháp. Chính phủ lấy làm phiền về sự phải tiếp chuyện các đại biểu mỗi ngày, bèn ra một đạo pháp lệnh mới, định rằng từ nay phàm ai có dâng thư hiến kế gì, nhất thiết phải do quan địa phương xem xét rồi tâu về kinh mới được.

Bọn chí sĩ kêu gào dân quyền tự do thuở nay, cốt xúi người ta kéo nhau về kinh dâng tờ nguyện vọng cho đông, là để ra oai với chính phủ, nhưng giờ chính phủ ra lệ mới kia rồi, thì cái mưu cao của bọn chí sĩ không còn ăn thua được nữa. Từ nay, phong trào lại xoay ra thế khác. Bây giờ bọn chí sĩ lo gây dựng ra thế lực của dân chúng. Hoặc kết thành chính đảng; hoặc dạy dỗ nhân dân về việc chính trị, hoặc tổ chức các cuộc diễn thuyết khắp nơi. Cả nước hoạt động chính trị, có vẻ rầm rộ lạ lùng. Họ Bản Viên thật là hăng hái và chịu khó nhọc, tối ngày đi ngược về xuôi, du thuyết trong nước, làm kích thích nhân tâm dữ lắm.

CHÍNH ĐẢNG TRƯỚC NHẤT VÀ TRIỀU ĐÌNH PHẢI HẸN KỲ MỞ RA QUỐC HỘI

Qua năm Minh Trị thứ 14, có một việc quan hệ về quốc gia lý tài, chính phủ tính làm, nhưng cách định xử trí không khéo, làm cho dư luận sôi nổi dữ. Các báo viết bài công kích chính phủ mỗi ngày. Lại có người tổ chức ra những cuộc diễn thuyết rất lớn để phản đối công nhiên.

Ngay giữa chính phủ, ý kiến của các ông Tham nghị cũng nghịch nhau, nhất là Đại Ôi Trọng Tín.

Ông này nguyên là phiên sĩ ở Tá Hạ, nổi tiếng anh tài tân học, nên được trào đình Minh Trị triệu vô kinh làm chức Tham nghị. Ở trong triều Đại Ôi giúp đỡ công việc duy tân cải cách rất nhiều; thứ nhất các việc ngoại giao tài chính ban đầu hết sức khó khăn rắc rối, mà Đại Ôi bàn tính sắp đặt hay lắm. Thế là bấy lâu Đại Ôi vẫn trung thành phù trợ chính phủ, nhưng đến khi có việc quan hệ lý tài nói đây, chính phủ tính làm, thì Đại Ôi gân cổ công kích đáo để.

Việc ấy một việc bán đất công ở Bắc Hải Đạo do đám Phiên phiệt ở trong triều đình làm ngang. Bởi vậy Đại Ôi nói rằng nếu muốn cho tuyệt cái mầm Phiên phiệt ỷ thế làm ngang đi, thì không có cách gì hay hơn là mau mau mở ra Quốc hội, để cho dư luận của dân cùng chính phủ được hiểu biết nương dựa vào nhau.

Không phải Đại Ôi chỉ nói suông mà thôi; nói rồi liền thảo ra một tờ biểu, sửa soạn dâng lên Thiên hoàng ngự lãm, trong đó Đại Ôi xin tới năm Minh Trị thứ 16 thì phải mở Quốc hội. Nội triều đều hoảng kinh về lời xướng nghị của Đại Ôi.

Lúc đó Minh Trị Thiên hoàng đang ngự giá tuần du ở miệt đông bắc. Đến hôm ngự về, liền đêm hôm ấy ngài triệu hết các đại thần và tham nghị vô nhóm trong cung, rồi lập tức bãi việc tính bán đất công kia đó, cho khỏi quốc dân đến năm Minh Trị thứ 22 thì mở Quốc hội.

Thuở giờ chính phủ chần chừ, dụ dự không nhất định đến năm nào mới mở Quốc hội. Nay nhờ có Đại Ôi dâng biểu thúc giục, nên mới có kỳ hẹn đến năm Minh Trị thứ 22. Nhưng vì Đại Ôi chủ trương gấp mở Quốc hội, có ý hối thúc triều đình như thế, triều đình bãi chức Tham nghị của Đại Ôi. Đồng thời có nhiều vị quan liêu và tham nghị cùng một ý với Đại Ôi, trong đó có Khuyển Dưỡng Nghị, Thỉ Dã Văn Hùng 矢野文雄 [Yano Ryuukei], Vĩ Kỳ Hành Hùng 尾崎行雄 [Ozaki Yukiou]… cũng phải một lượt bãi chức nữa. Tóm lại, lúc ấy phàm những người nào có nhân duyên và đồng ý với họ Đại Ôi, đều bỏ chức về vườn, không còn ai ở lại trong hoạn lộ. Sau năm Minh Trị thứ 6, có vấn đề đánh Hàn mà triều đình chia rẽ tới nay có việc biến động này ở giữa chính phủ là việc lớn nhất.

Bước ra ngoài hoạn lộ rồi, Đại Ôi cùng với Bản Viên là hai tay thủ lĩnh chính trị hoạt động ở trong dân gian, ra sức hô hào kết lập chính đảng, đối đầu với chính phủ. Huống chi Đại Ôi từng ở trong triều lâu ngày, bao nhiêu chỗ thực tình và chỗ thiếu sót của chính phủ ra sao, Đại Ôi đều thấu rõ hết, thành ra chính phủ kiêng sợ, coi Đại Ôi và Bản Viên như hai địch quốc lớn.

Từ trước đến giờ, trong việc chính trị hoạt động tuy có những đoàn thể nọ, đồng minh kia lập ra rồi, nhưng đó chưa thiệt phải là chính đảng. Nay có sắc chỉ hẹn kỳ mở Quốc hội rồi, nhân muốn rèn tập nhân dân để nay mai đủ tư cách tham dự chính trị, nên chi Bản Viên bèn đứng ra tổ chức một chính đảng, có chủ nghĩa và kỷ luật hẳn hoi, gọi là Tự Do đảng 自由党 [Jiyuutou].

Nhật Bản có chính đảng, thiệt là khởi thủy từ đây.

Cùng trong một ngày (15 tháng 10 năm Minh Trị thứ 14), Đại Ôi lập ngay tại Đông Kinh một chính đảng, gọi là Lập hiến Cải tiến đảng 立憲改進党 [Rikken Kaishintou].

Ngoài ra còn có mấy đảng khác nữa, nhưng kể sự lâu bền và có hệ thống về lịch sử, thì chỉ có đảng Tự do của Bản Viên và đảng Cải tiến của Đại Ôi mà thôi.

Bản Viên lấy tư cách là Tổng lý đảng Tự do, đi dạo khắp trong nước để tuyên truyền diễn thuyết, cổ động lòng dân. Qua tháng 4 năm sau (Minh Trị thứ 15), Bản Viên ở Đông Kinh, tới dự một cuộc đại hội trong vườn Kỳ Phụ, bị thích khách là Tương Nguyên Thượng Cảnh thừa cơ đâm trúng vào bụng. Nhưng may phước Bản Viên không chết. Tương Nguyên bảo rằng Bản Viên quá khích, làm nhiễu hại quốc gia, cho nên va đâm; và tưởng nếu đâm chết Bản Viên, thì phá đổ cả đảng Tự do cùng tiêu. Ngay sau khi bị đâm, Bản Viên vẫn tỉnh và nói cứng:

“Bản Viên này dầu có chết đi nữa, “tự do” không khi nào chết được đâu”.

Nghe lời nói như thế, đủ rõ cái chí khí của những tay hoạt động chính trị trong hồi duy tân ra thế nào? Nhờ có những tay đó mà dân quyền chính đảng nước Nhật được mau vẻ vang tấn tới vậy.

CON ĐƯỜNG ĐI TỚI HIẾN PHÁP CÒN NHIỀU CHÔNG GAI

Giữ lời ước hẹn với dân, Minh Trị Thiên hoàng lo dự bị việc mở Quốc hội. Tháng Hai năm Minh Trị thứ 15, ngài sai Y Đằng Bác Văn cùng mấy tay anh tài bác học qua Âu châu khảo cứu Hiến pháp, Y Đằng qua ở Âu châu xem xét đến một năm ngoài mới trở về. Sau lại đi Âu châu khảo cứu một lần nữa; lần này về nước mới thảo ra Hiến pháp dâng lên Thiên hoàng ngự lãm. Y Đằng dùng nhiều công phu tâm lực vào việc này. Đại khái Hiến pháp Nhật Bản gần giống như Hiến pháp nước Đức. Nguyên văn do Y Đằng thảo ra, có đôi chỗ chật hẹp cho dân, nhưng chính vua Minh Trị sửa lại vì ngài muốn chủ não Hiến pháp trọng về mục đích cho dân tự do tấn hóa.

Trong khi một mặt Minh Trị Thiên hoàng sai họ Y Đằng đi Âu châu khảo cứu Hiến pháp, một mặt chính phủ Phiên phiệt bày đặt thêm những thể lệ gắt gao về việc kết xã lập hội, để trở ngăn chính đảng khó phát đạt.

Đã vậy mà lúc này mấy chính đảng lại tranh giành lẫn nhau rồi vu vạ cho nhau, quên mất kẻ thù chung của bọn mình, là chính phủ Phiên phiệt kia, thành ra chính phủ thừa cơ hội đó mà dùng thủ đoạn cương ngạch để đè ép chính đảng.

Các chính đảng phải chịu mọi sự thắt ngặt không nổi cho nên phải rủ nhau giải đảng. Tới hai đảng mạnh thế nhất, là đảng Tự do của Bản Viên cùng đảng Cải tiến của Đại Ôi cũng vậy. Nhưng chỉ bên ngoài họ làm bộ giải đảng, chớ bên trong vẫn giao thông thinh khí với nhau và cứ bí mật hoạt động luôn.

Vì đó, mà luôn mấy năm, lòng dân bị bít mất đầu nọ, tất phải bung ra đầu kia: Có nhiều việc quá khích bạo động xảy ra, đến đỗi nhiều người ra tù vô khám vì tội quốc sự phạm, hay là bị xử đến tử hình cũng có. Nhất là hồi năm Minh Trị thứ 19, chính phủ cùng các nước bàn tính sửa lại các điều ước đã ký từ mấy chục năm trước, trong đó có khoản quan hệ về pháp luật, chính phủ chịu để quan tòa ngoại quốc hợp với quan tòa Nhật xử kiện. Khoản này làm cho dư luận nhân dân sôi nổi dữ. Ngoại giao đại thần là Tỉnh Thượng Hinh 井上馨 [Inoue Kaoru] phải bãi chức và cả Nội các Y Đằng phải nhào. (Ta nên biết từ cuối năm Minh Trị thứ 18, triều đình đã bỏ Thái chính quan mà đổi ra Nội các 内閣 [Naikaku] như các nước, có Nội các tổng lý và đại thần các bộ. Y Đằng Bác Văn lúc này làm Nội các tổng lý. Nước Nhật có Nội các bắt đầu từ đây).

Bây giờ, những chí sĩ đảng viên của các đảng cũ lại nhen nhúm nổi dậy, có Hậu Đằng Tượng Nhị Lang đứng ra liên kết hết thảy các phe đảng hợp lại cho có sức mạnh, Hậu Đằng nói:

“Ngày nay không còn phải là ngày anh em trong nhà chúng ta tranh giành xích mích nhau được nữa. Ta thử ngó qua đại lục, con đường xe lửa Tây Bá Lợi của Nga đang làm kia, không bao lâu nữa thì tới Mãn Châu, kéo dài tới muôn dặm, đó thật là việc có quan hệ tới sự sinh tử tồn vong của Đông dương mình. Vậy anh em chí sĩ trong nước, nên bỏ những điều tiểu dị, lấy nghĩa đại đồng, cùng nhau kết thành một đoàn thể lớn, đặng có thế lực mà dùng ở trong Quốc hội nay mai sắp mở ra đây. Nếu như gặp phải chính phủ chuyên chế thì chúng ta chỉ đá một cái là nhào chớ lo gì!”

Các đảng phái cũ nghe lấy làm phải, đều xúm theo ngọn cờ của Hậu Đằng mà trở nên một đoàn thể có thế lực rất lớn, bao vây cả chính phủ, khiến cho chính phủ e dè luýnh quýnh. Các chính đảng ở Nhật có lúc thành cuộc liên hiệp lại một cánh, là từ cuộc liên hiệp này của Hậu Đằng làm được trước hết.

Giữa ngày lễ mừng Minh Trị Thiên hoàng kỷ nguyên năm thứ 22 (1889), Thiên hoàng công bố Hiến pháp thi hành và ân xá cho các quốc sự phạm. Trải 22 năm, chí sĩ hoạt động chính trị, thúc đòi Hiến pháp, thế là nay đã đạt tới mục đích.

16 NĂM THAY ĐỔI 23 NGHỊ VIỆN

Ngày mùng 1 tháng 7 năm Minh Trị thứ 23 (1890), nước Nhật có cuộc tổng tuyển cử Chúng nghị viện thứ nhất (tức như Communes nước Anh hay Chambre des députés nước Pháp).

Các nước ở Đông phương, một nước có chính trị Hiến pháp trước nhất, chính là nước Nhật.

Phép tuyển cử ban đầu cũng lựa chọn kỹ lưỡng, trong số 42 triệu dân Nhật Bản lúc ấy chỉ có 46 muôn người đi bỏ thăm, nghĩa là chưa được 1% có quyền đầu phiếu.

Thuở đó phần nhiều dân chúng nước Nhật còn chưa biết yêu cầu lấy quyền tham chính; duy có số ít là hạng chí khí học thức biết sốt sắng lập thành chính đảng và hoạt động chính trị mà thôi. Bởi vậy lúc đầu, cái quyền đầu phiếu ít nhiều rộng hẹp thế nào, dân chúng không lấy làm vui buồn gì cả. Song cái số ít kia là cái sức mạnh gớm ghê, địa vị chính trị của dân Nhật mau tấn tới chỉ nhờ về cái số ít đó.

Giờ các chính đảng lại nổi dậy hoạt động tự do. Không đảng nào không ra sức phấn đấu với chính phủ, cái chỗ họ nghi nan phòng sợ là xem chính phủ có giữ đúng tinh thần Hiến pháp không? Hay là đặt dùng Nội các nào có xứng chức đúng tài hay không?

Rồi thì các đảng cũ tái khởi và nhiều đảng mới tổ chức ra, danh hiệu đã nhiều mà chính kiến cũng lắm. Hai đảng Hiến Chính đảng 憲政党 [Kenseitou], và Chính Hữu hội 政友会 [Seiyuukai] có thế lực ở nghị viện Nhật Bản ngày nay, thay đổi nhau tổ chức Nội các bấy lâu, chính là khai sinh từ hồi Minh Trị duy tân, sau khi ban hành Hiến pháp ít năm.

Thiệt vậy, có Hiến pháp ban hành rồi, phong trào chính trị càng thêm hoạt động; đã nói rằng lúc này có nhiều đảng mới lập ra, danh hiệu đã nhiều mà chính kiến cũng lắm. Có khi các chính đảng rời nhau ra mà phấn đấu tranh giành nhau về chính kiến dữ dội; có khi các chính đảng hiệp nhau lại công kích phản đối chính phủ cũng dữ dội. Vì đó mà chính phủ thường phải dùng cái quyền giải tán Nghị viện luôn. Từ Minh Trị thứ 23 đến Minh Trị thứ 39, trước sau 16 năm mà đổi thay tới 22 Nghị viện. Ta xem như vậy, đủ thấy phong trào chính trị nước Nhật giữa hồi mới bãi cựu canh tân đã bồng bột tấn tới dường nào!

Tuy có lúc các chính đảng chia xé gây gổ nhau, nhưng không bao giờ họ quên chỗ quyền lợi tối cao của quốc gia. Khi quyền lợi tối cao đó cần dùng cả nước đồng tâm hiệp lực, thì tức khắc các chính đảng liên hiệp lại ngay. Ví dụ như hồi đánh Tàu năm 1894 và hồi đánh Nga năm 1904-1905, cả nước Nhật kết hiệp lại như một người để giúp đỡ chính phủ đến cùng; họ nghĩ mấy lúc có quốc gia đại sự, không phải là lúc nên có đảng phái tư tranh vậy.

CHÍNH TRỊ HOẠT ĐỘNG TRƯỚC SAU CÓ BỐN THỜI KỲ

Phong trào chính trị nước Nhật có chỗ nhân quả tương sinh rõ ràng: Ta xét cuộc vận động dân quyền, tức là xét lịch sử chính đảng, mà xét lịch sử chính đảng tức là xét lịch sử Hiến pháp.

Thiệt vậy, ngay lúc đầu duy tân, có cuộc vận động dân quyền do những tay chí sĩ mạnh bạo chủ trương, mới có chính đảng lập ra để làm cơ quan hoạt động. Rồi có chính đảng xướng xuất, rèn tập chính trị cho quốc dân và thúc giục chính phủ, nên chi mới sớm có Hiến pháp thi hành, nếu không thì chưa chắc năm Minh Trị thứ 23, nước Nhật đã có Hiến pháp đâu.

Nay muốn tóm thâu cái lịch trình của dân quyền chính đảng nước Nhật ta có thể chia làm 4 kỳ:

Kỳ thứ nhất, khởi từ năm Minh Trị thứ 7 có bọn Bản Viên, Hậu Đằng, Phó Đảo, Giang Đằng dâng biểu xin mở ra Nghị viện dân tuyển, cho đến năm Minh Trị thứ 14, là lúc họ Đại Ôi thoát ly chính phủ, ra ngoài hoạt động. Trong thời kỳ này tuy chưa có chính đảng nào tổ chức ra, nhưng cũng đã có nảy mầm đắp móng lên rồi, mà Bản Viên chính là người sáng lập chính đảng đầu hết. Năm Minh Trị thứ 14, có chiếu của Thiên hoàng kỳ hẹn với quốc dân đến năm thứ 23 thì mở Quốc hội. Lúc bấy giờ, Y Đằng Bác Văn cùng mấy vị quan liêu khác vâng chỉ nhà vua đi qua Âu châu xem xét để về thảo ra Hiến pháp; còn dân chúng thì có hai đảng Tự do và Cải tấn thành lập. Nhưng mà chính phủ đè nén rất nghiêm, cho nên đảng Tự do phải đành giải tán một lúc, rồi đến năm trước khi sửa soạn mở ra Quốc hội thì đảng ấy lại dấy lên, xây dựng cái nền móng dân đảng liên hiệp về sau. Ấy là kỳ thứ hai. Từ năm Minh Trị thứ 23, Quốc hội mở rồi trở đi, là kỳ thứ ba. - Hồi này, hai đảng Tự do và Cải tiến, bề ngoài hiệp lại thành ra Dân đảng để phản đối chính phủ, và chính bên trong thì hai đảng xung đột lẫn nhau. Chính phủ ra sức đề phòng và chống trả lại; hoặc khi bắt giải tán Nghị viện, hoặc lúc phải can thiệp vào việc tuyển cử. Tuy chính phủ ra oai làm khó các đảng không còn thiếu cách gì, nhưng vậy mà bao giờ phe phản đối cũng chiếm được số đông ở trong Nghị viện để làm ngặt chính phủ luôn luôn.

- Tới năm 1894, sau trận Nhật - Thanh giao chiến trở đi, thì tình thế xoay đổi ra khác. Bây giờ chính phủ biết không thể đè nén các đảng được nữa; mà các đảng cũng hiểu rằng cứ thù nghịch phản đối chính phủ hoài, là sự bất lợi. Đảng Tự do bèn cùng chính phủ đề huề trước hết; thứ đến đảng Tiến bộ. Chừng đó hai đảng hiệp nhau lại tổ chức ra Nội các chính đảng. Trên đàn chính trị Nhật, có Nội các của đảng phái bắt đầu từ đây. Song bên trong đảng phái không được thuận hòa nhau, thành ra Nội các chính đảng phải giả một lúc, nhường cho những người không thuộc về chính đảng nào cả. Vậy đủ biết Nội các vô đảng, vốn khó đứng yên đã đành, mà đến Nội các chính đảng chưa tới ngày giờ chín chắn thì cũng không vững nào.

4. Đến kỳ thứ tư, khởi từ năm Minh Trị thứ 31 trở đi, lúc Nội các chính đảng, lúc Nội các vô đảng, đắp đổi lẫn nhau. Tới đây chính phủ và chính đảng khéo nhường nhịn dung hòa nhau để sửa sang quốc chính.

Tóm lại, chính trị nước Nhật được mau tấn tới mở mang, thiệt nhờ cái công phu của chính đảng gây dựng bồi đắp trong đó lớn lắm. Chính đảng có công khua động thức tỉnh người trong nước mau có giáo dục chính trị, mau hiểu dân quyền tự do; chính đảng có công kiềm chế những ngón chuyên quyền và cứu chữa những điều sai sót của chính phủ trong lúc quốc dân chưa có quyền tham chính, nhất là ở trong chính phủ ban đầu lại có cái thế lực ngang tàng của đám Phiên phiệt. Sau nữa là chính đảng có công hối thúc Hiến pháp được sớm ban hành, Quốc hội được mau thành lập.

Có một chỗ Nhật Bản khác lạ người ta, ta nên nhìn biết, là các nước Âu Mỹ, thường thường có Hiến pháp Quốc hội trước, rồi mới có chính đảng sinh đẻ ra sau. Ví dụ như nước Anh là nước có Hiến pháp làm kiểu mẫu cho Nhật bắt chước phần nhiều, xưa kia có Quốc hội mở ra đến mấy trăm năm rồi mới có chính đảng; Nhật lại trái hẳn: Trước có chính đảng rồi sau mới có Quốc hội đẻ ra. Quốc hội bên Anh là một nguyên do sản xuất chính đảng; còn chính đảng ở Nhật thì lại là một cái động lực làm mẹ của Quốc hội; đó là cái đặc sắc lạ lùng của chính trị nuớc Nhật vậy. Còn nói gì trong cái thời gian có vài chục năm, họ xông pha vùng vẫy trên đường chính trị không bao lâu mà có được Hiến pháp hẳn hoi như thế, kể ra mau chóng biết sao mà nói cho cùng.

Ta nên nhớ luôn luôn rằng: Trên con đường này hay là các con đường nào khác cũng thế, Nhật Bản đi tới mục đích quá mau, đều là do nơi quyết tâm và lực lượng của dân hết thảy.

❀ ❀ ❀

[1] . Trần quân viết bài trong số báo Đuốc nhà Nam đặc biệt ngày 9 Février 1934, cho bài thi trên đây của Y Đằng Bác Văn, ấy là sai lầm. Chính của Tây Hương Long Thịnh. Chỉ Tây Hương với thủ đoạn cách mạng của Tây Hương mới phát ra bài thơ như thế. Ta nên nhớ hồi đang duy tân, phe đảng của hai phiên Tát và Trường chuyên quyền, nắm giữ hết các địa vị trọng yếu, ngăn trở dân quyền, nên chi Tây Hương phẫn uất mà khởi binh, mới phát ra cái khẩu khí như bài thơ đó. Còn Y Đằng lúc ấy đang làm quan lớn trong triều, cộng sự với phe đảng hai phiên Tát, Trường, thì làm gì có sự phẫn uất ấy đâu.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.