Ngôi Nhà Trống Và Những Câu Chuyện Ma Khác

Lượt đọc: 32 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Giữ Trọn Lời Hứa

❊ ❊ ❊

Đã mười một giờ đêm, chàng sinh viên trẻ Marriott đang tự giam mình trong phòng, cố nhồi nhét chữ vào đầu hết sức có thể. Cậu là "sinh viên năm thứ tư" tại Đại học Edinburgh, và đã rớt kỳ thi này nhiều lần đến mức cha mẹ cậu đã tuyên bố thẳng thừng rằng họ không thể tiếp tục tài trợ tiền để cậu bám trụ ở đây được nữa.

Phòng trọ của cậu vừa rẻ vừa tối tăm, nhưng chính tiền học phí mới là thứ ngốn tiền. Cuối cùng, Marriott đành xốc lại tinh thần, quyết tâm một mất một còn với kỳ thi, và suốt mấy tuần nay, cậu đã vùi đầu học chăm chỉ như mức độ tối đa mà một người phàm có thể chịu đựng. Cậu đang cố bù lại khoảng thời gian và tiền bạc đã mất theo một cách cho thấy rõ ràng là cậu chẳng hiểu chút giá trị nào của cả hai thứ đó. Bởi vì chẳng có người bình thường nào — mà Marriott ở mọi phương diện đều là một kẻ rất bình thường — lại có thể liều lĩnh vắt kiệt tâm trí như cách cậu vừa làm dạo gần đây, mà sớm muộn gì lại không phải trả giá đắt.

Trong số các bạn học, cậu có rất ít bạn bè hay người quen, và những người ít ỏi ấy đã hứa sẽ không làm phiền cậu vào ban đêm, khi biết rằng cuối cùng cậu cũng đang thực sự tập trung học hành. Do đó, khi nghe tiếng chuông cửa reo vào cái đêm hôm ấy và nhận ra mình sắp có khách, cảm giác trong lòng cậu còn mạnh mẽ hơn rất nhiều so với sự ngạc nhiên đơn thuần. Có những người sẽ đơn giản là bịt chuông lại và tiếp tục lặng lẽ làm việc. Nhưng Marriott không phải kiểu người như vậy. Cậu vốn hay lo lắng. Việc không biết vị khách đó là ai và muốn gì sẽ cứ bứt rứt, gặm nhấm tâm trí cậu suốt cả đêm. Do đó, cách duy nhất là để vị khách ấy bước vào — rồi lại bước ra — càng nhanh càng tốt.

Bà chủ nhà đi ngủ đúng mười giờ chẵn, và sau giờ đó thì đừng hòng bắt bà giả vờ nghe thấy tiếng chuông, thế nên Marriott bực dọc bật dậy khỏi đống sách vở với một câu thầm rủa báo điềm gở cho cuộc gặp sắp tới, rồi tự mình ra mở cửa.

Đường phố thành phố Edinburgh vô cùng tĩnh lặng vào muộn giờ này — thực ra là muộn đối với chuẩn mực của Edinburgh — và tại khu phố yên tĩnh thuộc đường F——, nơi Marriott ở trên tầng ba, hầu như không một âm thanh nào phá vỡ sự tĩnh mịch. Khi cậu bước qua sàn nhà, tiếng chuông lại reo lên lần thứ hai với một sự giục giã phiền toái không cần thiết,

và cậu vặn ổ khóa, bước ra sảnh nhỏ với sự cáu kỉnh và bực bội ngập tràn trong lòng trước thái độ xấc láo của cú bấm chuông kép.

"Mấy bợm đó đều biết thừa là tớ đang ôn thi cho kỳ thi này cơ mà. Sao đời nào lại đến làm phiền tớ vào cái giờ quái quỷ này chứ?"

Những cư dân trong tòa nhà này, cùng với chính cậu, là sinh viên y khoa, sinh viên các ngành khác, những người làm nghề thư ký luật nghèo túng, và một vài thành phần khác có lẽ có nghề nghiệp không mấy minh bạch cho lắm. Cầu thang đá, được thắp sáng lờ mờ ở mỗi tầng bằng ngọn đèn hơi gas không thể vặn cao hơn một mức nhất định, xoắn ốc uốn lượn xuống tận mặt đường mà chẳng có lấy một manh thảm hay tay vịn che đậy. Có tầng sạch sẽ hơn các tầng khác. Điều đó tùy thuộc vào bà chủ nhà phụ trách tầng ấy.

Đặc tính âm học của một chiếc cầu thang xoắn ốc quả là kỳ lạ. Marriott, đứng cạnh cánh cửa đang mở, tay cầm quyển sách, cứ ngỡ từng khoảnh khắc rằng chủ nhân của những bước chân sắp xuất hiện trong tầm mắt. Tiếng giày vang lên gần đến nỗi và lớn đến nỗi tưởng chừng chúng đi trước cả người bước một cách bất thường. Tự hỏi đó có thể là ai, cậu thủ sẵn đủ mọi lời chào đón sắc cay độc dành cho kẻ dám cả gan làm gián đoạn công việc của mình.

Thế nhưng kẻ đó vẫn không xuất hiện. Tiếng bước chân nghe sát ngay bên mũi cậu, vậy mà chẳng thấy bóng dáng ai.

Một cảm giác sợ hãi kỳ lạ bất chợt ập qua người cậu — một cơn chóng mặt và một luồng rùng mình chạy dọc sống lưng. Tuy nhiên, nó biến mất hầu như nhanh như lúc nó đến, và cậu đang lưỡng lự không biết nên gọi lớn với vị khách tàng hình của mình, hay sập cửa lại và quay về với sách vở, thì nguyên nhân gây ra sự náo động kia mới từ từ rẽ qua góc khuất và lộ diện.

Đó là một người lạ. Cậu nhìn thấy một thanh niên trẻ tuổi, người thấp và rất vạm vỡ. Gươn mặt cậu ta trắng bệch như một mảng phấn, và đôi mắt rất sáng có những quầng thâm nặng nề bên dưới. Mặc dù má và cằm chưa cạo râu và vẻ bề ngoài có phần lếch thếch, người đàn ông này rõ ràng là một quý ôg, bởi vì cậu ta ăn mặc chỉnh tề và mang một phong thái nhất định. Nhưng kỳ lạ nhất là cậu ta không đội mũ, và tay cũng không cầm mũ; mặc dù trời mưa phùn rả rích suốt cả buổi tối, cậu ta dường như chẳng có lấy áo khoác hay ô.

Hàng trăm câu hỏi bùng lên trong tâm trí Marriott và chực chờ trên đôi môi, nổi bật nhất là những câu như "Cậu từ xó xỉnh nào chui ra thế này?"

và "Vì ơn Chúa mà cậu đến tìm tôi có việc gì?" Nhưng chẳng có câu hỏi nào kịp thốt thành lời, bởi vì gần như ngay lập tức, vị khách quay đầu sang một chút để ánh đèn gas ngoài hành lang chiếu lên khuôn mặt anh ta từ một góc độ mới. Rồi trong chớp mắt, Marriott nhận ra người quen cũ.

"Field! Chúa tôi! Cậu đấy chứ?" cậu thốt lên nghẹn ngào.

Chàng sinh viên năm tư vốn không thiếu sự nhạy bén, và cậu nhận ra ngay rằng đây là một tình huống cần được đối xử khéo léo. Cậu đoán ra được, chẳng cần qua một quá trình tư duy thực sự nào, rằng thảm họa từng được dự báo nhiều lần cuối cùng cũng đã giáng xuống, và cha của người đàn ông này đã đuổi anh ta ra khỏi nhà. Họ từng học chung một trường nội trú từ nhiều năm trước, và mặc dù từ đó đến nay họ hầu như chưa gặp lại lần nào, tin tức vẫn thỉnh thoảng bay đến tai cậu với khá nhiều chi tiết, bởi vì gia đình Field sống gần nhà cậu và giữa các chị em gái của họ có mối thâm tình sâu sắc. Cậu thanh niên nhà Field đã sa ngã vào những cuộc chơi bời trác táng từ lâu, cậu nhớ mình từng nghe mang mang về chuyện đó — rượu chè, phụ nữ, thuốc phiện, hoặc thứ gì đó đại loại thế — cậu không thể nhớ chính xác.

"Vào đi," cậu nói ngay lập tức, cơn giận biến đi đâu mất. "Có điều gì đó không ổn rồi, tớ nhìn là biết. Vào đây, kể cho tớ nghe mọi chuyện xem nào, biết đâu tớ có thể giúp..." Cậu hầu như chẳng biết phải nói gì, và còn ấp úng thêm khối chuyện khác. Mặt tối của cuộc đời, và sự kinh hoàng của nó, thuộc về một thế giới nằm xa lắc xa lơ khỏi bầu không khí trong lành chỉ toàn sách vở và mộng mơ nhỏ bé của riêng cậu. Dù vậy, trong lồng ngực cậu vẫn đập một trái tim trượng nghĩa.

Cậu dẫn đường băng qua hành lang, cẩn thận khép cửa trước lại phía sau, và nhận ra ngay lúc đó rằng người kia, dẫu chắc chắn là không say rượu, nhưng bước chân lại lảo đảo và rõ ràng là kiệt sức lắm rồi. Marriott có thể không tài nào vượt qua nổi các kỳ thi của mình, nhưng ít nhất cậu cũng nhận ra các triệu chứng của sự đói khát — sự đói khát cùng cực, nếu cậu không đoán nhầm — khi chúng đang phơi bày ngay trước mắt.

Cậu nói với giọng vui vẻ và đầy sự đồng cảm chân thành: "Đi nào. Tớ rất vui được gặp cậu. Tớ đang định ăn chút gì lót dạ, và cậu đến đúng lúc lắm để nhập tiệc cùng tớ đấy."

Người kia không đưa ra câu trả lời rõ thành lời, đôi chân lê lết yếu ớt đến mức Marriott phải đỡ lấy cánh tay anh ta để làm chỗ dựa. Lần đầu tiên cậu nhận ra bộ quần áo đang mặc trên người anh ta rộng thòng lòng đến đáng thương. Khung xương vạm vỡ giờ đây thực ra chẳng còn lại gì ngoài một bộ xương khô. Anh ta gầy trơ xương như một bộ hài cốt. Thế nhưng, khi vừa chạm vào người kia, cảm giác chóng mặt và sợ hãi khi nãy lại ùa về. Nó chỉ kéo dài trong chốc lát rồi tan biến, và cậu tự nhiên quy cho đó là do sự đau khổ và bàng hoàng khi chứng kiến một người bạn cũ rơi vào cảnh ngộ đáng thương như thế.

"Để tớ dìu cậu nhé. Hành lang này tối tăm tệ hại — tớ vẫn luôn cằn nhằn mãi thôi," cậu nói một cách nhẹ nhàng khi nhận ra qua sức nặng tì lên tay mình rằng sự dìu dắt này là vô cùng cần thiết, "nhưng mụ mèo già đó chẳng bao giờ làm gì ngoài việc hứa hẹn." Cậu dìu anh ta đến chiếc ghế sofa, trong đầu thầm tự hỏi anh ta từ đâu tới và làm thế nào mà tìm được địa chỉ này. Chắc cũng phải bảy năm rồi kể từ những ngày tháng ở trường nội trú khi họ còn là những người bạn vô cùng thân thiết.

"Bây giờ, nếu cậu chịu khó tha lỗi cho tớ một phút," cậu nói, "tớ sẽ chuẩn bị bữa tối — có gì ăn nấy nhé. Và đừng bận tâm phải nói chuyện gì cả. Cứ thoải mái nằm nghỉ trên ghế sofa đi. Tớ thấy cậu mệt lả rồi đấy. Lát nữa cậu có thể kể cho tớ nghe sau, rồi chúng ta sẽ tính tiếp."

Người kia ngồi xuống mép ghế sofa và ngẩn người nhìn trân trân trong im lặng, trong khi Marriott lôi ổ bánh mì đen, bánh nướng scone, và hũ mứt cam khổng lồ mà sinh viên Edinburgh lúc nào cũng tích trữ trong tủ bếp ra. Đôi mắt anh ta ánh lên một vẻ rực rỡ gợi liên tưởng đến các chất kích thích, Marriott thầm nghĩ, liếc nhìn trộm từ sau cánh cửa tủ bếp. Cậu chưa muốn nhìn thẳng trực diện. Tình cảnh của gã bạn này đang rất tệ, và việc cứ trân trân nhìn ngó rồi chờ đợi lời giải thích trông thật giống như đang đi thi vậy. Hơn nữa, rõ ràng là anh ta đã quá kiệt sức để có thể cất lời. Thế nên, vì phép lịch sự — và vì một lý do khác nữa mà cậu chưa thể diễn giải rạch ròi cho chính mình — cậu để vị khách được nghỉ ngơi mà bề ngoài ra vẻ như không quan tâm, trong khi bản thân bận rộn chuẩn bị bữa tối.

Cậu châm bếp cồn để nấu ca cao, và khi nước đã sôi, cậu kéo chiếc bàn bày đầy những món ngon ra sát ghế sofa, để Field thậm chí không phải bận công di chuyển sang ghế ngồi.

Cậu nói: "Nào, chúng ta ăn thôi, rồi sau đó tụi mình sẽ hút tẩu và trò chuyện. Tớ đang ôn thi, cậu biết đấy, và giờ này thì tớ hay ăn chút gì đó lắm. Có bạn đồng hành thật là vui."

Cậu ngước lên và bắt gặp ánh mắt của vị khách đang xoáy thẳng vào mình. Một cơn rùng mình vô thức chạy dọc từ đầu đến chân cậu. Khuôn mặt đối diện trắng bệch như xác chết và mang một biểu cảm đau đớn cùng sự dằn vặt tinh thần vô cùng khủng khiếp.

Cậu thốt lên, vùng đứng dậy: "Ôi trời! Tớ quên mất tiêu. Tớ có cất ít rượu whisky đâu đây. Đúng là cái đồ ngốc mà. Bản thân tớ chẳng bao giờ đụng đến nó khi đang cày cuốc thế này cả."

Cậu đi tới tủ chén, rót một ly rượu nguyên chất thật đầy mà người kia ngửa cổ nuốt sạch trong một hơi duy nhất mà chẳng thèm pha thêm chút nước nào. Marriott vừa quan sát anh ta uống vừa nhận ra thêm một điều nữa — chiếc áo khoác của Field phủ đầy bụi, và trên một bên vai còn dính một nhúm mạng nhện. Nó hoàn toàn khô ráo; Field xuất hiện vào một đêm mưa tầm tã mà không có mũ, ô hay áo khoác, vậy mà lại khô ráo hoàn toàn, thậm chí còn bám đầy bụi. Chứng tỏ anh ta đã ở dưới mái che từ trước. Tất cả những điều này có ý nghĩa gì? Phải chăng anh ta đã trốn trong tòa nhà này? . . .

Thật quá đỗi kỳ lạ. Thế nhưng anh ta chẳng hề hé răng nửa lời; và đến lúc này, Marriott cũng đã đinh ninh trong đầu rằng cậu sẽ không gặng hỏi bất cứ điều gì cho đến khi bạn mình được ăn uống và nghỉ ngơi đàng hoàng. Thức ăn và giấc ngủ rõ ràng là những thứ mà anh chàng tội nghiệp này cần nhất và trước tiên — cậu tự mãn với khả năng chẩn đoán chớp nhoáng của mình — và việc dồn ép anh ta lúc này khi chưa phục hồi lại sức lực là điều không công bằng.

Họ cùng nhau ăn bữa tối trong khi người chủ nhà vừa ăn vừa huyên thuyên trò chuyện một chiều, chủ yếu xoay quanh bản thân cậu, chuyện ôn thi và mụ chủ nhà "mèo già" của cậu, cốt để vị khách không phải thốt ra dù chỉ một lời trừ khi thực sự muốn — mà rõ ràng là anh ta chẳng hề muốn chút nào! Nhưng trong khi anh ta nghịch ngợm đùa giỡn với thức ăn và chẳng hề cảm thấy thèm thuồng gì, thì người kia lại ăn ngấu nghiến.

Được tận mắt nhìn thấy một kẻ đói khát ngấu nghiến những chiếc bánh scone lạnh ngắt, bánh yến mạch cứng khừ và ổ bánh mì đen phết đầy mứt cam quả là một sự mở mang tầm mắt đối với chàng sinh viên thiếu trải đời này, kẻ chưa bao giờ biết thế nào là bị bỏ đói dù chỉ ba bữa một ngày. Cậu bất giác dõi theo, thầm tự hỏi tại sao gã bạn mình lại không bị nghẹn chết trong quá trình tống thức ăn vào bụng.

Nhưng Field có vẻ vừa buồn ngủ lại vừa đói khát. Hơn một lần cái đầu anh ta gục xuống và ngừng nhai thứ thức ăn đang ngậm trong miệng. Marriott bắt buộc phải lay mạnh người anh ta thì anh ta mới chịu tiếp tục bữa ăn. Một cảm xúc mạnh mẽ hơn sẽ lấn át cảm xúc yếu hơn, nhưng cuộc chiến giằng xé giữa cơn đói cồn cào thực sự và thứ thuốc phiện ma thuật mang tên cơn buồn ngủ ngập tràn sức mạnh ấy lại là một cảnh tượng kỳ lạ đối với người sinh viên trẻ, kẻ vừa quan sát vừa đan xen giữa sự kinh ngạc và hoang mang. Cậu từng nghe nói về niềm vui khi được cho những kẻ đói khát ăn và ngắm nhìn họ thưởng thức đồ ăn, nhưng cậu chưa từng thực sự chứng kiến điều đó bao giờ, và cậu không hề ngờ nó lại thế này. Field ăn uống như một con thú hoang — ngấu nghiến, nhồi nhét, tọng cho đầy họng. Marriott quên bén chuyện sách vở, và bắt đầu cảm thấy có một cục nghẹn gì đó dâng lên cổ họng mình.

Cậu ngượng ngùng thốt lên khi cuối cùng chiếc bánh scone cuối cùng đã biến mất và bữa ăn đơn phương diễn ra chớp nhoáng đã khép lại: "Tớ e là có quá ít thứ để đãi cậu, anh bạn ạ." Field vẫn chẳng đáp lời, bởi vì anh ta đã gần như ngủ thiếp đi ngay trên ghế ngồi. Anh ta chỉ mệt mỏi và biết ơn ngước mắt lên nhìn.

Cậu tiếp tục: "Bây giờ cậu phải ngủ một giấc thôi, nếu không thì kiệt sức mất. Tớ sẽ thức trắng đêm để ôn cái kỳ thi quái quỷ này. Chiếc giường của tớ sẵn sàng chào đón cậu. Ngày mai chúng ta sẽ ăn sáng muộn và — và xem có thể làm gì — rồi lập kế hoạch — tớ cực kỳ giỏi trong việc lập kế hoạch đấy nhé," cậu nói thêm với một chút cố gắng tạo vẻ nhẹ nhõm.

Field duy trì sự im lặng "chết chóc vì buồn ngủ" của mình, nhưng có vẻ đã ngầm đồng ý, và người kia dẫn đường đi vào phòng ngủ, đồng thời cất lời xin lỗi người con trai vị chuẩn nam tước đang hấp hối này — người mà dinh thự gia đình chẳng khác nào một cung điện — về sự khiêm tốn của căn phòng. Tuy nhiên, vị khách mệt mỏi chẳng thèm bày tỏ chút phép lịch sự hay lời cảm ơn nào. Anh ta chỉ bám chặt lấy tay bạn mình để lấy điểm tựa khi lảo đảo bước qua phòng, rồi cứ để nguyên cả quần áo mà thả gã cơ thể kiệt sức xuống chiếc giường. Chưa đầy một phút sau, trông anh ta đã ngủ say như chết.

Trong vài phút, Marriott đứng ở cửa phòng đang mở và nhìn chằm chằm vào anh ta; thành tâm cầu nguyện rằng bản thân sẽ không bao giờ rơi vào một hoàn cảnh khốn cùng tương tự,

rồi sau đó lại quay sang bận tâm suy nghĩ xem ngày mai mình sẽ phải làm gì với vị khách không mời mà tới này. Nhưng cậu không dừng lại lâu để suy nghĩ, bởi vì tiếng gọi từ những trang sách mang tính mệnh lệnh tối cao, và dù chuyện gì xảy ra đi nữa, cậu cũng phải đảm bảo rằng mình vượt qua được kỳ thi đó.

Sau khi khóa chặt cửa ra hành lang một lần nữa, cậu ngồi xuống bàn sách và tiếp tục phần ghi chú về dược lý học dang dở từ lúc tiếng chuông cửa reo lên. Nhưng trong chốc lát, thật khó để tập trung tâm trí vào môn học. Tâm trí cậu cứ bay bổng về hình ảnh của gã trai mặt trắng bệch, mắt kỳ lạ, đói khát và bẩn thỉu, đang nằm nguyên trong bộ quần áo và đôi giày bốt trên giường. Cậu hồi tưởng lại những ngày tháng đi học chung trước khi mỗi đứa một ngả, và cách họ từng thề non hẹn biển về tình bạn vĩnh cửu — và đủ thứ khác nữa. Thế mà giờ đây! Thật là một hoàn cảnh ngặt nghèo khủng khiếp. Làm sao mà một người có thể để cho thói trác táng tàn phá bản thân đến mức độ này cơ chứ?

Nhưng có một lời thề mà họ từng lập ra dường như Marriott đã quên sạch. Ngay lúc này đây, chí ít thì nó cũng nằm quá sâu trong tiềm thức để có thể nhớ lại.

Xuyên qua cánh cửa hé mở — phòng ngủ nằm liền kề phòng khách và không có cửa nào khác — vọng ra tiếng thở dài, đều đặn và sâu thẳm của một người mệt mỏi, thứ âm thanh nhịp nhàng và vững chắc của kẻ kiệt sức đến nỗi chỉ nghe thôi cũng khiến Marriott suýt muốn buồn ngủ theo.

Chàng sinh viên thầm nghĩ: "Anh ấy rất cần nó, và có lẽ nó đến vừa đúng lúc làm sao!"

Có lẽ vậy thật; bởi vì ở bên ngoài, cơn gió buốt giá thổi thốc đến từ bên kia vùng Forth đang gầm rú tàn nhẫn, hất những dòng nước mưa lạnh buốt đập vào ô cửa kính và quét dọc qua những con đường vắng tanh vắng ngắt. Lâu trước khi Marriott thực sự ổn định lại tinh thần để tiếp tục việc đọc sách, cậu vẫn nghe văng vẳng, tựa như xuyên qua từng câu chữ trong sách, tiếng thở nặng nhề và sâu thẳm của kẻ đang say ngủ ở căn phòng bên cạnh.

Vài tiếng đồng hồ sau, khi cậu ngáp dài và đổi sách, cậu vẫn nghe thấy tiếng thở đó, liền rón rén đi về phía cửa để ghé mắt nhìn vào.

Ban đầu, bóng tối trong phòng hẳn đã đánh lừa cậu, hoặc có lẽ mắt cậu vẫn còn lóa và mờ đi bởi ánh sáng chói chang của ngọn đèn đọc sách khi nãy. Trong một hoặc hai phút, cậu chẳng thể nhận ra được gì ngoài những khối đồ đạc tối sẫm, dáng vẻ lùm lùm của chiếc tủ đựng ngăn kéo áp sát tường, và mảng màu trắng của chiếc bồn tắm đặt giữa phòng.

Rồi chiếc giường dần hiện ra trong tầm mắt. Và trên đó, cậu nhìn thấy đường nét của thân hình đang ngủ say từ từ định hình trước mắt, nhô lên một cách kỳ lạ vào không gian tối tăm, cho đến khi nó nổi bật lên với độ tương phản rõ rệt — cái bóng dài đen đẫm nằm trên tấm chăn phủ trắng tinh.

Cậu suýt phì cười. Field không hề dịch chuyển lấy một ly. Cậu đứng ngắm anh ta một hoặc hai phút rồi quay lại bàn sách. Đêm nay ngập tràn những âm thanh ca hát của gió và mưa. Không một tiếng xe cộ qua lại; chẳng có chiếc xe ngựa hai bánh nào lộc cộc lao qua những phiến đá cuội, và trời vẫn còn quá sớm cho những chiếc xe chở sữa. Cậu tiếp tục làm việc một cách kiên trì và tận tụy, chỉ dừng lại chốc lát để đổi sách, hoặc nhấm nháp chút nước độc dược giúp cậu tỉnh táo và kích thích đại não hoạt động hết công suất, và vào những lúc ấy, tiếng thở của Field vẫn luôn văng vẳng rõ mồn một trong phòng. Ở bên ngoài, cơn bão vẫn tiếp tục gầm thét, nhưng bên trong ngôi nhà mọi thứ đều tĩnh lặng. Chùm đèn bàn hắt toàn bộ ánh sáng xuống chiếc bàn bừa bộn, để lại góc bên kia phòng chìm trong bóng tối tương đối. Cửa phòng ngủ nằm đối diện trực diện với chỗ cậu ngồi. Chẳng có gì làm phiền kẻ đang cày cuốc, ngoài những đợt gió thốc thỉnh thoảng đập vào khung cửa sổ, và một cơn đau nhói nhẹ ở cánh tay.

Tuy nhiên, cơn đau này — thứ mà cậu không tài nào tìm được nguyên nhân — đã có lúc trở nên vô cùng buốt nhói. Nó làm phiền cậu; và cậu cố nhớ lại xem mình đã bầm dập cánh tay nặng đến thế bằng cách nào và vào lúc nào, nhưng hoàn toàn vô ích.

Cuối cùng, trang sách trước mặt cậu chuyển từ màu vàng sang sắc xám, và bắt đầu có tiếng bánh xe lăn trên đường phố phía bên dưới. Đã bốn giờ sáng. Marriott ngả người ra sau và ngáp dài đến trẹo cả quai hàm. Sau đó cậu kéo rèm cửa sang một bên. Cơn bão đã ngớt và Ngọn đồi Lâu Đài đang chìm trong màn sương mờ ảo. Lại một cái ngáp dài nữa, cậu quay lưng khỏi khung cảnh ảm đạm và chuẩn bị tranh thủ chợp mắt bốn tiếng đồng hồ còn lại cho đến giờ ăn sáng trên chiếc ghế sofa. Field vẫn đang thở nặng nhọc trong phòng nhì bên cạnh, và trước tiên cậu rón rén bước nhẹ qua sàn để đảo mắt nhìn lại anh ta một lần nữa.

Nheo mắt thận trọng nhìn qua khe cửa hé mở, cái nhìn đầu tiên của cậu rơi ngay vào chiếc giường giờ đây đã có thể nhận diện rõ mồn một trong ánh sáng xám xịt của buổi sớm mai. Cậu trân trân nhìn chằm chằm. Rồi cậu dụi mắt. Rồi cậu lại dụi mắt lần nữa và thò đầu sâu hơn qua cạnh mép cửa. Với đôi mắt đờ đẫn, cậu càng nhìn chăm chú hơn nữa, chăm chú hơn nữa.

Nhưng chẳng có gì thay đổi cả. Cậu đang nhìn vào một căn phòng trống không.

Cảm giác sợ hãi mà cậu từng trải qua khi Field lần đầu xuất hiện đột ngột quay trở lại, nhưng với cường độ mạnh mẽ hơn rất nhiều. Cậu cũng bắt đầu nhận thức được rằng cánh tay trái của mình đang giật nhói dữ dội và gây ra cơn đau buốt khôn tả. Cậu đứng ngây người tự hỏi, trân trân nhìn và cố gắng thu gom lại những suy nghĩ đang tản mác. Cậu run lẩy bẩy từ đầu đến chân.

Bằng một nỗ lực tối đa của ý chí, cậu rời khỏi điểm tựa ở cánh cửa và mạnh dạn bước thẳng vào trong phòng.

Ở đó, trên chiếc giường, vẫn hằn nguyên vết lõm của một cơ thể, nơi Field đã nằm và ngủ. Vẫn có dấu vết của chiếc đầu trên gối, và vết lõm nhỏ ở cuối giường nơi đôi giày bốt tì lên tấm chăn phủ. Và ở đó, rõ mồn một hơn bao giờ hết — bởi vì cậu đang đứng sát gần nó hơn — chính là tiếng thở!

Marriott cố gắng xốc lại tinh thần. Bằng một nỗ lực cực lớn, cậu cất tiếng gọi lớn tên người bạn của mình!

"Field! Cậu đấy chứ? Cậu đang ở đâu vậy?"

Không có lời đáp; nhưng tiếng thở vẫn tiếp tục không ngắt quãng, phát ra trực tiếp từ chiếc giường. Giọng cậu vang lên với một âm sắc xa lạ đến mức Marriott chẳng dám lặp lại câu hỏi nữa, thay vào đó cậu quỳ sụp xuống sàn và kiểm tra chiếc giường từ trên xuống dưới, cuối cùng giật tung tấm nệm ra và dời từng lớp ga gối ra khỏi giường. Thế nhưng mặc dù những âm thanh ấy vẫn tiếp tục vang lên, hoàn toàn chẳng có bóng dáng nào của Field, cũng chẳng có lấy một kẽ hở nào mà một con người, dù có nhỏ bé đến đâu, có thể ẩn nấp nổi. Cậu kéo chiếc giường dịch ra khỏi bức tường, nhưng âm thanh vẫn y nguyên ở chỗ cũ. Nó không hề dịch chuyển theo chiếc giường.

Nhận thấy việc tự chủ bản thân đang trở nên vô cùng khó khăn trong tình trạng kiệt sức hiện tại, Marriott ngay lập tức bắt tay vào việc lục soát kỹ lưỡng căn phòng. Cậu lùng sục khắp tủ chén, tủ đựng ngăn kéo, góc hốc nhỏ nơi treo quần áo — mọi ngóc ngách. Nhưng hoàn toàn chẳng có dấu hiệu của bất kỳ ai. Ô cửa sổ nhỏ gần sát trần nhà đã được đóng kín; và dù thế nào đi nữa, nó cũng chẳng đủ lớn để lọt qua một con mèo. Cửa phòng khách đã bị khóa trái từ bên trong; anh ta không thể nào tẩu thoát theo hướng đó. Những suy nghĩ kỳ quái bắt đầu gặm nhấm tâm trí Marriott, kéo theo sau chúng là những cảm giác vô cùng khó chịu. Cậu ngày càng trở nên hoảng loạn hơn; cậu lại lục soát lại chiếc giường cho đến khi nó trông chẳng khác nào bãi chiến trường của một trận đánh bằng gối; cậu lùng sục cả hai căn phòng trong khi thừa biết rõ ràng mọi nỗ lực đều vô ích — rồi cậu lại lục soát thêm lần nữa. Mồ hôi lạnh túa ra khắp cơ thể; và tiếng thở nặng nhọc suốt từ nãy đến giờ vẫn không ngừng phát ra từ góc phòng nơi Field đã nằm xuống để ngủ.

Sau đó cậu thử một cách khác. Cậu đẩy chiếc giường về đúng vị trí ban đầu của nó — rồi chính mình nằm phịch xuống đó, ngay đúng chỗ mà vị khách của cậu từng nằm. Nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, cậu tung người vùng dậy chỉ trong một cú bật. Tiếng thở vang lên sát rạt bên cạnh cậu, gần như áp sát vào má cậu, và nằm lọt thỏm giữa người cậu với bức tường! Ngay cả một đứa trẻ cũng chẳng thể nhét nổi vào khoảng trống ấy.

Cậu quay trở lại phòng khách, mở toang các khung cửa sổ để đón trọn mọi ánh sáng và không khí có thể vào phòng, rồi cố gắng suy ngẫm lại toàn bộ sự việc một cách bình tĩnh và rạch ròi. Cậu thừa biết những kẻ học quá trớn và ngủ quá ít đôi khi sẽ bị quấy rầy bởi những ảo giác vô cùng sống động. Một lần nữa, cậu bình tĩnh kiểm điểm lại từng biến cố trong đêm; những cảm giác chính xác của mình; những chi tiết sống động; những cảm xúc đã khơi dậy trong lòng; bữa tiệc rùng rợn — chẳng có ảo giác đơn lẻ nào có thể gom nhóp tất cả những thứ đó lại và kéo dài trong một khoảng thời gian lâu đến vậy. Nhưng với sự bất an nhiều hơn, cậu nghĩ về cơn chóng mặt lặp đi lặp lại, cùng cảm giác kinh hoàng kỳ lạ từng quét qua người mình một hai lần, rồi đến những cơn đau buốt dữ dội ở cánh tay. Những điều này hoàn toàn không thể giải thích nổi.

Hơn nữa, khi cậu bắt đầu phân tích và xem xét, có một điều khác nữa ập xuống đầu cậu tựa như một sự bừng tỉnh đột ngột: Trong suốt khoảng thời gian đó, Field thực sự chưa từng thốt ra dù chỉ một từ duy nhất! Thế nhưng, tựa như đang nhạo báng những dòng suy tưởng của cậu, từ căn phòng phía bên trong vẫn đều đặn phát ra tiếng thở dài, sâu thẳm và nhịp nhàng. Sự việc này thật khó tin. Thật quá vô lý.

Bị ám ảnh bởi những viễn cảnh về bệnh viêm não và sự điên loạn, Marriott đội mũ và mặc áo mưa rồi bước khỏi nhà. Làn gió buổi sớm trên đỉnh Arthur's Seat sẽ thổi bay những sợi mạng nhện quẩn quanh trong đại học, hương thơm của hoa thạch nam, và trên hết là khung cảnh của biển cả. Cậu lang thang trên những sườn đồi ẩm ướt phía trên Holyrood suốt hai tiếng đồng hồ, và chỉ chịu quay về sau khi những vận động mạnh đã rũ bỏ phần nào nỗi kinh hoàng bám víu trong xương cốt, đồng thời mang lại cho cậu một cơn đói ngấu nghiến làm quà kèm theo.

Ngay khi bước chân vào nhà, cậu nhìn thấy có một người đàn ông khác đang đứng quay lưng về phía ánh sáng sát cửa sổ. Cậu nhận ra đó là Greene, người bạn học cùng ôn cho kỳ thi sắp tới.

Cậu ta cất lời: "Tớ cày cuốc thâu đêm suốt sáng đấy, Marriott, và định ghé sang đây để so sánh lại mớ ghi chú sẵn tiện ăn sáng luôn. Cậu ra ngoài từ sớm thế à?" Marriott đáp rằng cậu bị đau đầu và việc đi dạo giúp nó thuyên giảm, Greene gật đầu lẩm bẩm "Ái chà!". Nhưng khi cô giúp việc vừa bưng bát cháo đang bốc khói nghi ngút lên bàn rồi lui ra ngoài, cậu ta tiếp tục bằng một giọng điệu có phần gượng gạo,

"Tớ không biết là cậu có những người bạn thích chè chén đấy, Marriott ạ?"

Câu nói này rõ ràng mang tính thăm dò, và Marriott lạnh lùng đáp rằng chính cậu ta cũng không hề hay biết điều đó.

Cậu bạn kia vừa gật đầu về hướng phòng ngủ vừa nhìn bạn mình bằng ánh mắt đầy tò mò, kiên quyết nói tiếp: "Nghe cứ y như là có gã bợm nào đang 'ngủ say để giã rượu' trong đó ấy nhỉ?" Hai người trân trân nhìn nhau đăm đăm trong vài giây, rồi Marriott nghiêm túc thốt lên —

"Tạ ơn Chúa vì cậu cũng nghe thấy thế!"

"Tớ đương nhiên nghe thấy chứ. Cửa đang mở cơ mà. Xin lỗi nếu tớ không được phép nghe nhé."

Marriott hạ thấp giọng xuống: "Ối, ý tớ không phải thế. Nhưng tớ nhẹ nhõm quá. Để tớ giải thích. Tất nhiên, nếu cậu cũng nghe thấy, thì mọi chuyện xem như ổn cả; nhưng thực sự là nó khiến tớ hoảng sợ hơn bất cứ điều gì tớ có thể nói với cậu. Tớ đã tưởng mình sắp mắc bệnh viêm màng não hay thứ gì đại loại thế, và cậu thừa biết cái kỳ thi này quyết định bao nhiêu thứ mà. Nó lúc nào cũng khởi đầu bằng những âm thanh, hay ảo ảnh, hoặc mấy thứ ảo giác quái gở nào đó, và tớ—"

Cậu bạn kia bực dọc chêm vào: "Nhảm nhí! Cậu đang luyên thuyên cái quái gì thế?"

Marriott cố giữ vẻ bình tĩnh nhất có thể, bởi vì tiếng thở vẫn văng vẳng rõ mồn một, nói: "Này, nghe tớ đây, Greene, và tớ sẽ kể cho cậu nghe ý tớ là gì, chỉ có điều đừng ngắt lời." Và thế rồi cậu tường thuật lại chính xác những gì đã xảy ra trong suốt đêm qua, kể tuốt tuồn tuột mọi thứ, thậm chí đến cả cơn đau ở cánh tay. Khi dứt lời, cậu đứng dậy khỏi bàn ăn và băng qua phòng.

"Bây giờ cậu nghe rõ tiếng thở lắm phải không?" cậu nói. Greene đáp là có. "Được rồi, đi cùng tớ, chúng ta sẽ lục soát căn phòng này một phen." Tuy nhiên, người kia vẫn bất động trên ghế.

Cậu ta ngượng ngùng đáp: "Tớ vào từ nãy rồi; tớ nghe thấy tiếng động và cứ ngỡ là cậu. Cửa khép hờ — nên tớ đã tò mò bước vào."

Marriott chẳng bình luận gì thêm, chỉ đẩy cánh cửa mở toang hết cỡ có thể. Khi cánh cửa bật mở, âm thanh của tiếng thở càng lúc càng trở nên rõ nét hơn.

Greene thì thào: "Chắc chắn có ai đó đang ở trong đó."

"Có ai đó ở trong đó thật, nhưng ở chỗ nào cơ chứ?" Marriott nói. Một lần nữa, cậu giục giã bạn mình cùng vào với mình. Nhưng Greene kiên quyết từ chối thẳng thừng; cậu ta bảo mình đã vào một lần rồi và đã lục soát cả căn phòng mà chẳng thấy bóng ma nào. Cho dù có thế nào đi nữa cậu ta cũng chẳng thèm bước vào đó lần thứ hai đâu.

Họ đóng cửa lại và rút lui về phòng khách để cùng nhau châm tẩu thuốc và bàn tán rôm rả. Greene gặng hỏi bạn mình rất kỹ lưỡng, nhưng chẳng thu được kết quả sáng sủa nào, bởi vì những câu hỏi vốn dĩ chẳng thể thay đổi được sự thật.

Marriott vừa xoa bóp cánh tay vừa cười gượng gạo: "Thứ duy nhất đáng lẽ phải có một lời giải thích hợp lý và logic chính là cơn đau ở cánh tay tớ đây này. Nó đau buốt kinh khủng và ê ẩm suốt cả một đoạn dài. Thế nhưng tớ chẳng tài nào nhớ nổi mình bị va đập vào lúc nào."

Greene đề nghị: "Để tớ kiểm tra cho. Tớ rất giỏi mấy vụ xương xẩu đấy, mặc cho đám giám khảo có nghĩ ngược lại đi chăng nữa." Được đùa giỡn đôi chút giúp tâm trạng nhẹ nhõm hơn phần nào, Marriott liền cởi áo khoác và xắn tay áo lên.

Cậu kinh ngạc kêu lên: "Ôi trời đất ơi, tớ đang chảy máu kìa! Nhìn đây này! Cái quái gì thế này?"

Ngay trên cẳng tay, sát ngay cổ tay, xuất hiện một đường sọc đỏ mỏng manh. Có một giọt máu nhỏ xíu trông có vẻ còn tươi nguyên đọng lại trên đó. Greene bước tới và săm soi kỹ càng nó trong vài phút. Sau đó, cậu ta ngả người ra sau ghế, đăm đăm nhìn khuôn mặt bạn mình đầy khó hiểu.

Lát sau, cậu ta lên tiếng: "Cậu tự cào xước lúc nào mà chẳng hay chứ gì. Chẳng có dấu hiệu bầm tím nào cả. Chắc phải có nguyên nhân gì khác khiến cánh tay đau nhức chứ."

Marriott ngồi bất động, trân trân nhìn chằm chằm vào cánh tay mình như thể lời giải đáp cho toàn bộ bí ẩn đang thực sự được khắc họa ngay trên lớp da thịt đó.

Greene dùng một giọng điệu nghe không mấy thuyết phục để trấn an: "Có gì đâu nào? Tớ chẳng thấy vết trầy xước nào có gì là kỳ lạ cả. Chắc là do khuy măng-sét của cậu rồi. Đêm qua lúc cậu quá ư phấn khích ấy mà—"

Nhưng Marriott, với sắc mặt trắng bệch đến tận môi, đang cố gắng thốt lên lời. Những giọt mồ hôi to bằng hạt đậu túa ra chi chít trên trán cậu. Cuối cùng, cậu nhoài người tới sát khuôn mặt bạn mình.

Cậu nói bằng một giọng thấp và run rẩy: "Nhìn đi. Cậu có thấy cái vết đỏ đó không? Ý tớ là nằm ngay bên dưới cái mà cậu gọi là vết trầy xước ấy?"

Greene thừa nhận cậu ta có thấy thứ gì đó lờ mờ, và Marriott liền dùng khăn tay lau sạch chỗ đó rồi giục bạn nhìn lại cho thật kỹ.

Sau một thoáng quan sát kỹ lưỡng, người kia ngẩng đầu lên đáp: "Ừ, tớ thấy rồi. Trông nó y như một vết sẹo cũ."

Marriott thì thào, đôi môi run lẩy bẩy: "Đó chính là một vết sẹo cũ. Giờ thì mọi thứ ùa về trong đầu tớ rồi."

Greene nhúc nhích cựa quậy trên ghế: "Mọi thứ cái gì chứ?" Cậu ta cố cười gượng nhưng bất thành. Trông bạn cậu có vẻ sắp suy sụp đến nơi rồi.

Cậu nói: "Suỵt! Trật tự nào, và — tớ sẽ kể cho cậu nghe. Field đã tạo ra vết sẹo đó đấy."

Suốt cả một phút liền, hai người nhìn thẳng vào mắt nhau mà không nói nửa lời.

Cuối cùng Marriott cất giọng to hơn: "Field đã tạo ra vết sẹo đó!"

"Field! Ý cậu là — đêm qua á?"

"Không, không phải đêm qua. Từ nhiều năm trước — ở trường học, bằng con dao của hắn. Và tớ cũng rạch một vết sẹo lên tay hắn bằng dao của tớ." Marriott lúc này đang nói rất nhanh.

"Bọn tớ đã trao đổi những giọt máu của nhau qua những vết thương ấy. Hắn nhỏ một giọt vào tay tớ và tớ nhỏ một giọt vào tay hắn—"

"Vì ơn Chúa, để làm cái quái gì chứ?"

"Đó là một lời thề non hẹn biển của tuổi trẻ. Bọn tớ đã lập ra một giao ước linh thiêng, một hiệp ước. Bây giờ thì tớ nhớ lại mọi thứ hoàn toàn rõ ràng rồi. Bọn tớ lúc đó vừa đọc xong một cuốn sách rùng rợn nào đó và đã thề sẽ xuất hiện trước mặt nhau — ý tớ là, đứa nào chết trước thề sẽ hiện hình cho đứa còn lại thấy. Và bọn tớ niêm phong giao ước đó bằng chính máu của nhau. Tớ nhớ rõ lắm — buổi chiều mùa hè oi ả ở sân trường, bảy năm về trước — và rồi một trong các thầy giáo bắt gặp và tịch thu những con dao ấy — và cho đến tận ngày hôm nay tớ chưa bao giờ nghĩ lại về nó—"

Greene ấp úng hỏi: "Và ý cậu là—"

Nhưng Marriott chẳng đáp lời. Cậu đứng dậy băng qua phòng rồi mệt mỏi nằm phịch xuống chiếc ghế sofa, lấy hai tay che kín khuôn mặt.

Bản thân Greene cũng có chút lúng túng. Cậu để mặc bạn mình yên tĩnh trong chốc lát, trong đầu tiếp tục ngẫm nghĩ lại mọi chuyện. Đột nhiên một ý tưởng lóe lên trong đầu cậu ta. Cậu tiến lại chỗ Marriott vẫn đang nằm bất động trên ghế sofa và lay cậu ấy dậy. Dù thế nào đi nữa, đối mặt với sự thật vẫn tốt hơn, bất kể có lời giải thích hay không. Đầu hàng trước số phận luôn là lối thoát ngớ ngẩn nhất.

Khi người kia ngẩng khuôn mặt trắng bệch lên nhìn mình, cậu mở lời: "Này, Marriott. Cậu có buồn bã phát rồ lên thế này cũng chẳng ích gì. Ý tớ là — nếu tất cả chỉ là ảo giác thì chúng ta biết phải xử lý thế nào rồi đấy. Còn nếu không phải — chà, chúng ta biết phải nghĩ gì, phải không nào?"

Người bạn đáp lại bằng một giọng thì thầm: "Tớ đoán thế. Nhưng vì lý do nào đó mà nó khiến tớ sợ chết khiếp. Và gã tội nghiệp ấy—"

"Nhưng suy cho cùng, nếu điều tồi tệ nhất là sự thật và — và gã đó đã giữ đúng lời hờ — ừ thì, hắn đã giữ lời, thế thôi, phải không nào?"

Marriott gật đầu.

Greene nói tiếp: "Chỉ có một điều duy nhất xuất hiện trong đầu tớ lúc này, đó là, cậu có chắc chắn là — rằng hắn thực sự đã ăn uống như thế không — ý tớ là liệu hắn có thực sự ăn thứ gì không đấy?" cậu nói dứt khoát, phun ra hết những suy nghĩ trong đầu.

Marriott sững sờ nhìn cậu ta một thoáng rồi đáp rằng cậu có thể dễ dàng xác nhận điều đó. Cậu nói rất điềm tĩnh. Sau cú sốc lớn vừa qua, chẳng còn bất kỳ sự ngạc nhiên nhỏ nhoi nào có thể đả động nổi cậu nữa.

Cậu nói: "Chính tay tớ đã cất mấy thứ đó đi, sau khi chúng ta ăn xong. Chúng nằm ở ngăn kệ thứ ba trong chiếc tủ kia. Chẳng ai chạm vào chúng từ lúc đó đến giờ cả."

Cậu chỉ tay mà không thèm đứng dậy, và Greene hiểu ý liền bước tới để kiểm tra.

Sau một thoáng quan sát ngắn ngủi, cậu ta thốt lên: "Chính xác. Giống hệt như những gì tớ nghĩ. Dù sao đi nữa thì đó cũng chỉ là một phần ảo giác. Mấy thứ này chẳng hề bị động chạm gì sất. Cứ lại đây mà tận mắt chứng kiến."

Họ cùng nhau kiểm tra ngăn kệ. Nào ổ bánh mì đen, đĩa bánh scone cứng khừ, bánh yến mạch, tất cả đều nguyên vẹn chưa hề bị xê dịch. Ngay cả ly rượu whisky mà Marriott đã rót ra vẫn nằm chỏng chơ ở đó với nguyên vẹn phần rượu bên trong.

Greene khẳng định: "Cậu đang cho — không khí ăn đấy. Field chẳng ăn uống bất cứ thứ gì cả. Hắn hoàn toàn không có mặt ở đó!"

Người kia với vẻ mặt đờ đẫn trân trân nhìn bạn, thấp giọng nài nỉ: "Nhưng còn tiếng thở thì sao?"

Greene không đáp lời. Cậu ta bước thẳng về phía phòng ngủ trong khi ánh mắt Marriott vẫn dõi theo từng bước chân. Cậu ta đẩy cửa ra và lắng nghe. Chẳng cần phải thốt thêm lời nào nữa. Âm thanh của tiếng thở đều đặn và sâu thẳm đang văng vẳng trôi qua bầu không khí. Chẳng có chút ảo giác nào ở đây cả, ít nhất là thế. Marriott có thể nghe thấy nó ngay từ chỗ cậu đang đứng ở đầu bên kia căn phòng.

Greene đóng cửa lại và quay trở lại. Cậu ta quả quyết tuyên bố: "Chỉ có một việc duy nhất chúng ta phải làm lúc này. Viết thư về nhà để dò la tình hình của hắn, và trong lúc chờ đợi thì hãy dọn sang phòng tớ để tiếp tục ôn thi. Tớ có sẵn một chiếc giường phụ cơ mà."

Chàng sinh viên năm tư đáp lời: "Đồng ý; kỳ thi đó thì hoàn toàn không phải ảo giác đâu; dù có chuyện gì xảy ra đi nữa tớ cũng phải vượt qua nó cho bằng được."

Và thế là họ đã làm đúng như vậy.

Khoảng một tuần sau, Marriott nhận được bức thư hồi âm từ cô em gái. Cậu đọc một phần nội dung cho Greene nghe —

Cô viết: "Thật kỳ lạ khi trong thư anh lại hỏi thăm về Field. Dường như đó là một chuyện khủng khiếp, nhưng anh biết đấy, chỉ cách đây không lâu Sir John đã cạn kiệt toàn bộ sự kiên nhẫn và đuổi hắn ra khỏi nhà, người ta đồn rằng chẳng cho hắn nổi một xu dính túi. Chà, anh đoán xem chuyện gì đã xảy ra nào? Hắn đã tự sát. Ít nhất thì trông nó giống như vụ tự sát. Thay vì bỏ nhà ra đi, hắn đã mò xuống tầng hầm và cứ thế để mặc bản thân chết đói đến chết. . . . Đương nhiên là họ đang cố tìm cách ém nhẹm vụ này đi, nhưng em đã nghe toàn bộ câu chuyện từ cô hầu phòng, người đã moi tin đó từ tên đầy tớ trai. . . . Họ tìm thấy thi thể vào ngày 14 và bác sĩ bảo hắn đã tử vong khoảng mười hai tiếng trước đó. . . . Hắn gầy xơ xác khủng khiếp. . . ."

Greene nói: "Vậy là hắn đã chết vào ngày 13."

Marriott gật đầu.

"Đó chính là đêm hắn đến tìm cậu."

Marriott lại gật đầu lần nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.