Khi chọn ra một số vụ án tiêu biểu làm nổi bật năng lực tư duy phi thường của người bạn tôi, Sherlock Holmes, tôi đã cố gắng hết sức để lựa chọn những vụ ít mang tính giật gân nhất, đồng thời vẫn tạo khoảng không gian hợp lý để anh thỏa sức tung hoành tài năng. Tuy nhiên, thật không may, việc tách bạch hoàn toàn giữa yếu tố giật gân và tội ác là điều bất khả thi; và một người chép sử rơi vào cảnh tiến thoái lưỡng nạn: hoặc phải hy sinh những chi tiết cốt thiết đối với lời khai của mình để rồi đưa ra một ấn tượng sai lệch về vụ án, hoặc phải sử dụng những tình tiết mà sự ngẫu nhiên, chứ không phải sự lựa chọn, đã mang lại cho anh ta. Với lời tựa ngắn ngủi này, tôi xin quay trở lại với những ghi chép của mình về một chuỗi sự kiện tuy kỳ lạ nhưng lại vô cùng khủng khiếp.
Đó là một ngày tháng Tám nóng như đổ lửa. Phố Baker trông như một cái lò bánh mì, và ánh nắng chói chang hắt lên lớp gạch vàng của ngôi nhà đối diện khiến mắt tôi nhức nhối. Thật khó mà tin nổi đây lại chính là những bức tường từng hiện lên đầy ảm đạm trong những màn sương mù mùa đông. Rèm cửa nhà chúng tôi được kéo hờ, và Holmes đang nằm cuộn mình trên chiếc ghế sofa, đọc đi đọc lại một bức thư nhận được qua bưu điện buổi sáng. Về phần tôi, quãng thời gian phục vụ tại Ấn Độ đã rèn luyện cho tôi khả năng chịu đựng cái nóng tốt hơn cái lạnh, và nền nhiệt chín mươi độ chẳng phải là điều gì khổ sở cả. Nhưng tờ báo buổi sáng lại chẳng có gì thú vị. Quốc hội đã giải tán. Mọi người đều đã rời khỏi thành phố, và tôi thì khao khát những tán lá xanh của vùng New Forest hay những bãi sỏi của Southsea. Khoản tiền tiết kiệm cạn kiệt đã buộc tôi phải hoãn kỳ nghỉ của mình, còn đối với người đồng hành cùng tôi, cả đồng quê lẫn biển cả đều chẳng có lấy chút sức hút nào. Anh thích nằm ngay giữa năm triệu con người, với những xúc tu vươn dài len lỏi qua từng ngõ ngách, nhạy bén trước mọi lời đồn đại hay nghi vấn về những vụ án chưa có lời giải. Sự trân trọng thiên nhiên không tìm thấy chỗ đứng trong số rất nhiều ân huệ mà anh được ban tặng, và niềm vui đổi gió duy nhất của anh là khi chuyển hướng tâm trí từ kẻ gian nơi phố thị để truy lùng kẻ đồng bọn của chúng chốn điền viên.
Nhận thấy Holmes quá chăm chú để có thể trò chuyện, tôi bèn vứt tờ báo nhạt nhẽo sang một bên, ngả người ra sau ghế và chìm đắm trong dòng suy tư trầm ngâm. Bất chợt, giọng nói của người bạn phá vỡ mạch suy nghĩ của tôi:
— Anh nói đúng, Watson, — anh cất lời. — Đó quả là một cách giải quyết tranh chấp ngớ ngẩn nhất trên đời.
— Vô cùng ngớ ngẩn! — tôi thốt lên, rồi chợt nhận ra anh vừa nói hộ tận đáy lòng mình, tôi liền ngồi thẳng dậy trên ghế và trân trân nhìn anh với vẻ ngỡ ngàng tột độ.
— Cái gì thế này, Holmes? — tôi kêu lên. — Chuyện này vượt xa mọi điều tôi có thể tưởng tượng nổi.
Anh cười lớn trước sự bối rối của tôi.
— Anh còn nhớ chứ, — anh nói, — cách đây ít lâu, khi tôi đọc cho anh nghe đoạn văn trong một bài tùy bút của Poe, nơi một nhà tư duy sắc sảo dò ra tận suy nghĩ thầm kín của người đồng hành, anh đã có ý coi đó chỉ là một trò biểu diễn tài nghệ thuần túy của tác giả. Khi tôi nhận xét rằng bản thân tôi vẫn thường xuyên làm điều tương tự, anh đã tỏ vẻ hoài nghi.
— Ồ, không đâu!
— Có lẽ không phải bằng miệng, anh bạn Watson thân mến của tôi ạ, nhưng chắc chắn là bằng cặp lông mày của anh. Thế nên, khi tôi thấy anh vứt tờ báo xuống và bắt đầu suy nghĩ miên man, tôi vô cùng sung sướng vì có cơ hội đọc vị nó, và cuối cùng là chen ngang vào đó, như một bằng chứng cho thấy tôi hoàn toàn đồng điệu với anh.
Nhưng tôi vẫn còn cách xa sự thỏa mãn. — Trong ví dụ mà anh đọc cho tôi nghe, — tôi nói, — nhà tư duy đã rút ra kết luận từ hành động của người mà anh ta quan sát. Nếu tôi nhớ không lầm, anh ta đã vấp phải một đống đá, ngước nhìn những vì sao, vân vân và vân vân. Thế nhưng tôi chỉ ngồi yên lặng trên ghế của mình, vậy thì tôi có thể đã để lộ ra những manh mối nào chứ?
— Anh đang tự đối xử bất công với chính mình đấy. Các nét trên khuôn mặt được ban cho con người làm phương tiện để biểu lộ cảm xúc, và gương mặt anh là những bề tôi vô cùng trung thành.
— Ý anh muốn nói là anh đã đọc được luồng suy nghĩ của tôi qua các nét mặt ư?
— Gương mặt anh, và đặc biệt là đôi mắt. Có lẽ bản thân anh cũng không nhớ nổi sự ngẩn ngơ của mình bắt đầu từ lúc nào phải không?
— Không, tôi chịu.
— Vậy để tôi nói cho anh nghe. Sau khi vứt tờ báo xuống, đó là hành động thu hút sự chú ý của tôi vào anh, anh đã ngồi đẫn người ra trong nửa phút với một vẻ mặt vô hồn. Sau đó, đôi mắt anh dán chặt vào bức chân dung mới đóng khung của Tướng Gordon, và tôi nhận thấy qua sự biến đổi trên khuôn mặt rằng một chuỗi suy nghĩ đã được khơi nguồn. Nhưng nó không kéo dài được bao lâu. Ánh mắt anh lướt nhanh sang bức chân dung chưa đóng khung của Henry Ward Beecher đặt trên nóc mấy cuốn sách của anh. Rồi anh ngước nhìn lên tường, và tất nhiên ý đồ của anh đã quá rõ ràng. Anh đang nghĩ rằng nếu bức chân dung đó được đóng khung thì nó sẽ vừa khít che lấp khoảng trống trên tường và đối xứng với bức tranh của Gordon ở đằng kia.
— Anh đã theo dõi tôi một cách kỳ tài! — tôi thốt lên.
— Đến đây thì tôi khó mà đoán sai được. Nhưng rồi suy nghĩ của anh lại quay về với Beecher, và anh đăm đăm nhìn sang như thể đang nghiền ngẫm tính cách qua các đường nét trên khuôn mặt ông ấy. Sau đó, đôi mắt anh giãn ra không còn nheo lại nữa, nhưng anh vẫn tiếp tục nhìn sang với vẻ trầm ngâm. Anh đang hồi tưởng lại những thăng trầm trong sự nghiệp của Beecher. Tôi thừa biết rằng anh không thể làm điều đó mà lại không nghĩ đến sứ mệnh mà ông ấy đã đảm nhận đại diện cho miền Bắc vào thời Nội chiến, bởi tôi nhớ anh từng bày tỏ sự phẫn nộ tột cùng trước cách đối xử mà ông nhận được từ những thành phần quá khích trong dân chúng chúng ta. Anh đã cảm thấy mãnh liệt về điều đó đến mức tôi biết chắc anh không thể nghĩ đến Beecher mà lại không nghĩ đến cả chuyện ấy. Khoảnh khắc sau, khi tôi thấy mắt anh rời khỏi bức tranh, tôi đoán rằng tâm trí anh lúc này đã chuyển hướng sang cuộc Nội chiến, và khi tôi quan sát thấy đôi môi anh mím chặt, đôi mắt ánh lên và hai bàn tay siết lại, tôi tuyệt đối chắc chắn rằng anh quả thực đang nghĩ đến sự anh dũng mà cả hai bên đã thể hiện trong cuộc chiến đấu tử sinh đó. Nhưng rồi, nét mặt anh lại trở nên buồn bã hơn; anh lắc đầu. Anh đang chìm đắm trong nỗi buồn, sự kinh hoàng và sự lãng phí sinh mạng vô ích. Bàn tay anh lần mò về phía vết thương cũ của chính mình và một nụ cười thoáng hiện trên môi, điều đó cho thấy mặt nực cười của phương pháp giải quyết các vấn đề quốc tế này đã len lỏi vào tâm trí anh. Đến điểm này, tôi hoàn toàn đồng tình với anh rằng nó thật ngớ ngẩn và rất đỗi vui mừng khi thấy mọi suy luận của mình đều chính xác.
— Hoàn toàn chính xác! — tôi nói. — Và giờ thì sau khi anh đã giải thích, tôi thú nhận rằng mình còn ngạc nhiên hơn lúc trước.
— Mọi thứ rất ư là nông cạn, anh bạn Watson thân mến ạ, tôi đoan chắc với anh như vậy. Lẽ ra tôi đã không bận tâm lôi kéo sự chú ý của anh nếu như ngày hôm trước anh không tỏ ra hoài nghi. Nhưng tôi đang cầm trên tay đây một bài toán nhỏ có lẽ sẽ khó giải quyết hơn cái tiểu phẩm đọc vị suy nghĩ vừa rồi của tôi. Anh có để ý thấy trên báo có một đoạn ngắn đề cập đến nội dung kỳ lạ của một bưu kiện gửi qua đường bưu điện cho cô Cushing, ở phố Cross, Croydon không?
— Không, tôi chẳng thấy gì cả.
— A! thế thì chắc anh đã bỏ sót nó rồi. Cứ chuyền nó qua đây cho tôi xem nào. Nó đây rồi, nằm ngay dưới mục tài chính. Có lẽ anh làm ơn đọc lớn nó lên được chứ?
Tôi cầm lấy tờ báo mà anh vừa ném trả lại và đọc đoạn văn được chỉ định. Nó mang tiêu đề: "Một Bưu Kiện Ghê Rợn."
— "Cô Susan Cushing, sống tại phố Cross, Croydon, đã trở thành nạn nhân của thứ phải được xem là một trò đùa ác ý vô cùng ghê tởm, trừ phi có một ý nghĩa đen tối nào khác ẩn chứa đằng sau sự việc này. Vào lúc hai giờ chiều hôm qua, một bưu kiện nhỏ bọc giấy gói nâu đã được người đưa thư giao đến. Bên trong có một chiếc hộp bìa các-tông đầy muối thô. Khi đổ chỗ muối này ra, cô Cushing kinh hoàng khi phát hiện thấy hai tai người, thoạt nhìn hãy còn khá tươi. Chiếc hộp được gửi bằng bưu kiện bảo đảm từ Belfast vào sáng hôm trước. Không có dấu hiệu nào chỉ ra người gửi, và sự việc càng trở nên bí ẩn hơn khi cô Cushing, một phụ nữ độc thân đã năm mươi tuổi, có lối sống vô cùng khép kín và có rất ít người quen hay bạn bè thư tín đến mức việc cô nhận được thứ gì đó qua bưu điện là một sự kiện hiếm hoi. Tuy nhiên, cách đây vài năm, khi sinh sống tại Penge, cô từng cho ba sinh viên y khoa thuê phòng trong nhà, và cô đã phải tống cổ họ đi vì thói sinh hoạt ồn ào và vô kỷ luật. Cảnh sát cho rằng vụ hành hung này có thể do đám thanh niên đó gây ra cho cô Cushing, những kẻ vẫn mang mối hìềm thù với cô và hy vọng dọa dẫm cô bằng cách gửi cho những di vật từ phòng mải phẫu này. Giả thuyết này càng có thêm cơ sở từ thực tế rằng một trong những sinh viên đó đến từ miền bắc Ireland, và theo trí nhớ của cô Cushing thì chính là từ Belfast. Trong lúc này, vụ việc đang được điều tra tích cực, ông Lestrade, một trong những sĩ quan thám tử nhạy bén nhất của chúng ta, đang trực tiếp thụ lý vụ án."
— Thế là đủ cho tờ Daily Chronicle rồi, — Holmes nói khi tôi đọc xong. — Giờ thì đến lượt người bạn Lestrade của chúng ta. Tôi nhận được một lá thư ngắn từ anh ta sáng nay, trong đó anh ta viết: 'Tôi nghĩ vụ án này rất hợp với sở trường của anh. Chúng tôi rất hy vọng sẽ sáng tỏ được mọi chuyện, nhưng lại gặp chút khó khăn trong việc tìm điểm tựa để bắt tay vào việc. Tất nhiên là chúng tôi đã đánh điện tới bưu điện Belfast, nhưng có một lượng lớn bưu kiện đã được gửi vào ngày hôm đó, và họ không có cách nào nhận diện được bưu kiện cụ thể này, hay nhớ nổi người gửi. Chiếc hộp là loại hộp nửa cân đựng thuốc lá honeydew và chẳng giúp ích gì cho chúng ta cả. Giả thuyết sinh viên y khoa vẫn tỏ ra khả thi nhất đối với tôi, nhưng nếu anh có vài giờ rảnh rỗi, tôi rất sẵn lòng đón tiếp anh ở ngoài này. Tôi sẽ có mặt ở nhà hoặc ở đồn cảnh sát suốt cả ngày.' Anh thấy thế nào, Watson? Liệu anh có thể vượt qua cái nóng oi bức này và cùng tôi xuôi về Croydon với chút hy vọng mong manh về một vụ án cho những ghi chép của anh không?
— Tôi đang khao khát có việc gì đó để làm đây.
— Vậy thì anh sẽ có nó. Hãy bấm chuông gọi người hầu và bảo họ gọi một chiếc xe ngựa. Tôi sẽ quay lại ngay sau khi thay chiếc áo choàng tắm và nhét đầy bao thuốc xì-gà.
Một trận mưa rào đổ xuống khi chúng tôi ở trên tàu, và cái nóng ở Croydon đỡ ngột ngạt hơn rất nhiều so với trong thành phố. Holmes đã cho gửi điện tín trước, thế nên Lestrade, vẫn gầy gò, lịch lãm và tinh ranh như chồn hôi ngày nào, đang đợi chúng tôi ở nhà ga. Đi bộ chừng năm phút là đưa chúng tôi đến phố Cross, nơi cô Cushing sinh sống.
Đó là một con phố rất dài với những ngôi nhà gạch hai tầng, gọn gàng và ngăn nắp, có bậc thềm đá được cọ trắng tinh và từng nhóm phụ nữ đeo tạp dề đang túm tụm buôn chuyện trước cửa. Đi được nửa đường, Lestrade dừng lại và gõ cửa một ngôi nhà, được mở ra bởi một cô hầu phòng nhỏ tuổi. Cô Cushing đang ngồi ở căn phòng phía trước, nơi chúng tôi được dẫn vào. Cô là một phụ nữ có khuôn mặt điềm tĩnh, đôi mắt to hiền từ, và mái tóc điểm bạc rủ xuống hai bên thái dương. Một chiếc khăn thêu gác trên đùi cô và một giỏ chỉ thêu đủ màu đặt trên chiếc đôn bên cạnh.
— Chúng nằm ở căn nhà ngoài rồi đấy, mấy thứ kinh khủng đó, — cô nói khi Lestrade bước vào. — Ước gì các ông mang quách chúng đi cho khuất mắt.
— Tôi sẽ làm vậy, thưa cô Cushing. Tôi chỉ giữ chúng ở đây cho đến khi người bạn của tôi, anh Holmes, được nhìn thấy chúng trước mặt cô thôi.
— Tại sao lại phải trước mặt tôi hả ông?
— Để phòng khi anh ấy muốn hỏi vài câu.
— Hỏi tôi thì có ích gì khi tôi đã bảo là tôi chẳng biết mảy may gì về chuyện này cơ chứ?
— Hoàn toàn phải thưa bà, — Holmes cất giọng dịu dàng. — Tôi chắc chắn rằng bà đã phải phiền muộn quá mức cần thiết vì chuyện này rồi.
— Quả thực là vậy đấy, thưa ông. Tôi là một phụ nữ sống yên phận và khép kín. Việc thấy tên mình lên báo chí rồi cảnh sát kéo đến nhà thế này là một chuyện quá đổi lạ lẫm với tôi. Tôi không muốn mấy thứ đó ở trong này đâu, ông Lestrade. Nếu các ông muốn xem thì phải ra cái nhà kho ngoài sân ấy.
Đó là một cái nhà kho nhỏ nằm trong khu vườn hẹp chạy dọc phía sau ngôi nhà. Lestrade bước vào và mang ra một chiếc hộp bìa các-tông màu vàng, kèm theo một đoạn giấy gói màu nâu và ít dây thừng. Có một chiếc ghế dài ở cuối lối đi, và tất cả chúng tôi cùng ngồi xuống trong khi Holmes lần lượt kiểm tra từng món đồ mà Lestrade đưa cho anh.
— Đoạn dây thừng này cực kỳ thú vị đấy, — anh nhận xét, giơ nó lên hướng ánh sáng và hít hà. — Anh rút ra được gì từ sợi dây này vậy, Lestrade?
— Nó đã bị tẩm hắc ín.
— Chính xác. Nó là một đoạn dây bện tẩm hắc ín. Chắc hẳn anh cũng nhận thấy cô Cushing đã dùng kéo cắt đứt sợi dây, có thể thấy rõ qua vết tưa kép ở cả hai đầu. Chi tiết này rất quan trọng.
— Tôi chẳng thấy có gì là quan trọng cả, — Lestrade nói.
— Tầm quan trọng nằm ở chỗ nút thắt vẫn còn nguyên vẹn, và nút thắt này mang một đặc điểm kỳ lạ.
— Nó được thắt rất gọn gàng. Tôi đã kịp ghi chú lại điều đó rồi, — Lestrade ra chiều tự mãn.
— Vậy là xong phần dây thừng nhé, — Holmes mỉm cười nói, — giờ thì đến lớp giấy bọc hộp. Giấy gói màu nâu, phảng phất mùi cà phê rõ rệt. Sao, anh không nhận ra điều đó ư? Tôi nghĩ chắc chắn là thế rồi. Địa chỉ được in bằng những nét chữ khá nguệch ngoạc: ‘Cô S. Cushing, Phố Cross, Croydon.’ Viết bằng một ngòi bút bản to, có lẽ là ngòi J, với loại mực cực kỳ kém chất lượng. Từ ‘Croydon’ ban đầu được đánh vần bằng chữ ‘i,’ sau đó được sửa thành chữ ‘y.’ Vậy là bưu kiện này được viết địa chỉ bởi một người đàn ông — nét in rõ ràng là của nam giới — học vấn có hạn và không rành về thị trấn Croydon. Tạm thế đã nhé! Chiếc hộp là một hộp đựng thuốc lá honeydew loại nửa cân màu vàng, không có điểm gì đặc biệt ngoại trừ hai dấu vân tay ở góc dưới bên trái. Nó được nhồi đầy muối thô, loại dùng để bảo quản da thuộc và các mục đích thương mại thô ráp khác. Và ẩn sâu trong đó chính là những vật phẩm vô cùng kỳ lạ này.
Vừa nói, anh vừa lấy ra hai chiếc tai, rồi đặt một tấm ván lên đầu gối để quan sát chúng thật tỉ mỉ, trong khi Lestrade và tôi cúi người về phía trước ở hai bên, luân phiên liếc nhìn những di vật ghê rợn này và gương mặt trầm ngâm, đầy sốt sắng của người bạn đồng hành. Cuối cùng, anh cất chúng trở lại hộp và ngồi trầm ngâm suy tư hồi lâu.
— Chắc hẳn các anh đều nhận thấy, — cuối cùng anh lên tiếng, — rằng đôi tai này không phải là một cặp.
— Vâng, tôi đã nhận ra điều đó. Nhưng nếu đây là trò đùa ác ý của mấy tên sinh viên phòng giải phẫu, thì việc chúng gửi hai chiếc tai không thành cặp cũng dễ dàng chẳng kém gì một cặp cả.
— Chính xác. Nhưng đây không phải là một trò đùa ác ý.
— Anh chắc chứ?
— Phỏng đoán nghiêng hẳn về hướng đó. Xác trong các phòng giải phẫu đều được tiêm dung dịch bảo ướp. Những chiếc tai này hoàn toàn không có dấu hiệu đó. Hơn nữa chúng còn rất tươi. Chúng bị cắt đứt bằng một dụng cụ cùn, điều khó mà xảy ra nếu do một sinh viên làm. Thêm vào đó, axitbolic hoặc cồn tinh luyện mới là chất bảo quản mà trí óc của một y sinh nghĩ tới, chứ chắc chắn không phải là muối thô. Tôi nhắc lại rằng chẳng có trò đùa giỡn nào ở đây cả, mà chúng ta đang điều tra một vụ án mạng nghiêm trọng.
Một luồng rợn gáy mơ hồ chạy dọc sống lưng tôi khi lắng nghe lời người bạn và chứng kiến vẻ nghiêm nghị đanh lại trên gương mặt anh. Màn dạo đầu tàn bạo này dường như phảng phất bóng dáng của một sự kinh hoàng kỳ lạ, khó tài nào giải thích nổi ẩn giấu phía sau. Tuy nhiên, Lestrade lắc đầu như một kẻ chỉ bị thuyết phục một nửa.
— Chắc chắn là có những điểm phản đối giả thuyết trò đùa, — anh ta nói, — nhưng lại có những lý do vững chắc hơn nhiều để bác bỏ hướng đi kia. Chúng ta biết rằng người phụ nữ này đã sống một cuộc đời vô cùng yên bình và đáng kính tại Penge và ở đây suốt hai mươi năm qua. Cô ấy hầu như chẳng rời khỏi nhà lấy một ngày trong suốt khoảng thời gian đó. Vậy cớ hà gì mà một kẻ sát nhân lại đi gửi cho cô ta những bằng chứng phạm tội của mình, nhất là khi, trừ phi cô ta là một diễn viên thượng thặng, cô ta cũng chẳng hiểu rõ gì về câu chuyện này hơn chúng ta?
— Đó chính là bài toán mà chúng ta phải giải quyết, — Holmes đáp, — và về phần mình, tôi sẽ bắt tay vào việc bằng cách phỏng đoán rằng lập luận của tôi là chính xác, và một vụ án mạng kép đã được thực hiện. Một trong hai chiếc tai là của phụ nữ, nhỏ nhắn, được tạo hình tinh xảo và có xỏ lỗ tai đeo hoa tai. Chiếc còn lại là của nam giới, rám nắng, sạm màu và cũng được xỏ lỗ tai đeo hoa tai. Hai con người này có lẽ đã chết, bằng không thì chúng ta đã nghe được câu chuyện của họ từ lâu rồi. Hôm nay là thứ Sáu. Bưu kiện được gửi vào sáng thứ Thư. Vậy thảm kịch đã xảy ra vào thứ Tư hoặc thứ Ba, hoặc thậm chí sớm hơn. Nếu hai người đó bị sát hại, thì còn ai ngoài kẻ sát nhân lại đi gửi dấu tích tội ác của hắn cho cô Cushing? Chúng ta có thể coi kẻ gửi bưu kiện chính là người mà chúng ta đang tìm kiếm. Nhưng hắn ta hẳn phải có lý do vô cùng thuyết phục mới gửi bưu kiện này cho cô Cushing. Lý do gì chứ? Chắc chắn là để báo cho cô ta biết việc đã rồi! Hoặc có lẽ để làm cô ta đau khổ. Nhưng trong trường hợp đó, cô ta phải biết đó là ai chứ. Liệu cô ta có biết không? Tôi thì hoài nghi lắm. Nếu cô ta biết, tại sao còn báo cảnh sát làm gì? Cô ta hoàn toàn có thể chôn giấu đôi tai đó đi, và chẳng ai hay biết chuyện gì đã xảy ra cả. Đó mới là việc cô ta sẽ làm nếu muốn bao che cho kẻ thủ ác. Nhưng nếu cô ta không muốn bao che cho hắn, cô ta đã khai ra tên hắn rồi. Có một nút thắt ở đây cần phải gỡ rối cho xuôi xuôi đây.
Vừa nãy anh còn nói bằng một giọng cao, nhanh, đăm đăm nhìn qua hàng rào khu vườn, nhưng giờ đây anh nhanh nhẹn bật dậy và bước về phía ngôi nhà.
— Tôi có vài câu hỏi muốn thỉnh giáo cô Cushing, — anh nói.
— Thế thì tôi xin phép để các anh lại đây vậy, — Lestrade nói, — vì tôi còn một vụ việc nhỏ khác đang dang dở. Tôi nghĩ mình chẳng còn gì để khai thác thêm từ cô Cushing nữa. Các anh sẽ tìm thấy tôi ở đồn cảnh sát.
— Chúng tôi sẽ ghé qua trên đường ra ga, — Holmes đáp. Chỉ một khoảnh khắc sau, anh và tôi đã quay trở lại căn phòng khách, nơi người phụ nữ điềm đạm vẫn đang cặm cụi thêu thùa chiếc khăn trải ghế. Cô đặt nó xuống đùi khi chúng tôi bước vào và nhìn chúng tôi bằng đôi mắt xanh thẳng thắn, dò xét.
— Tôi đoan chắc với các ông rằng, — cô nói, — sự việc này chỉ là một sự nhầm lẫn, và bưu kiện đó vốn dĩ không bao giờ dành cho tôi. Tôi đã nói điều này vài lần với vị quý ông bên sở Scotland Yard, nhưng ông ta cứ một mực cười trừ. Tôi chẳng có lấy một kẻ thù nào trên đời này cả, xét theo những gì tôi biết, vậy cớ sao ai đó lại đi chơi khăm tôi một vố như thế chứ?
— Tôi cũng đang dần có chung quan điểm đó với cô, cô Cushing, — Holmes nói, ngồi xuống bên cạnh cô. — Tôi nghĩ rằng việc này còn hơn cả một sự trùng hợp... — anh khựng lại, và tôi không khỏi ngạc nhiên khi liếc nhìn sang và thấy anh đang đăm đăm nhìn vào góc nghiêng khuôn mặt người phụ nữ với vẻ tập trung kỳ lạ. Cả sự ngạc nhiên lẫn vẻ mãn nguyện thoắt ẩn thoắt hiện trong chốc lát trên gương mặt hừng hực vẻ hào hứng của anh, dẫu rằng khi cô quay đầu lại để tìm nguyên nhân sự im lặng của anh thì anh đã trở nên đoan trang đúng mực như mọi khi. Bản thân tôi cũng trân trân nhìn vào mái tóc ép sát điểm bạc của cô, chiếc mũ trọn đầu gọn gàng, đôi hoa tai mạ vàng nhỏ xíu, các nét mặt điềm tĩnh; nhưng tôi chẳng thể tìm thấy thứ gì có thể lý giải cho sự phấn khích rõ mười mươi của người bạn đồng hành.
— Có một hoặc hai câu hỏi...—
— Ồ, tôi chán ngấy những câu hỏi lắm rồi! — cô Cushing sốt ruột kêu lên.
— Tôi tin là cô có hai người em gái.
— Sao ông lại có thể biết điều đó?
— Ngay khoảnh khắc bước chân vào phòng, tôi đã quan sát thấy trên lò sưởi có một khung ảnh chụp chung của ba người phụ nữ, trong đó một người chắc chắn là cô, còn những người kia trông giống cô đến mức không thể nhầm lẫn về mối quan hệ huyết thống được.
— Vâng, các ông hoàn toàn đúng. Đó là các em gái tôi, Sarah và Mary.
— Và ngay cạnh khuỷu tay tôi đây là một bức chân dung khác, chụp tại Liverpool, của cô em út đang đứng cạnh một người đàn ông có vẻ là quản lý tàu dựa vào quân phục. Tôi nhận thấy cô ấy vẫn chưa lập gia đình vào thời điểm đó.
— Ông có tài quan sát nhanh nhạy thật đấy.
— Đó là nghề của tôi mà.
— Vâng, ông hoàn toàn đúng. Nhưng con bé đã kết hôn với anh Mr. Browner chỉ vài ngày sau đó. Hắn làm việc trên tuyến đường Nam Mỹ khi bức ảnh đó được chụp, nhưng hắn quá yêu vợ đến mức không tài nào chịu nổi cảnh xa cách cô ấy lâu ngày, thế là hắn xin chuyển sang chạy tuyến tàu giữa Liverpool và Luân Đôn.
— À, có lẽ là tàu Conqueror chăng?
— Không, tàu May Day, theo những gì tôi nghe được lần cuối. Jim đã từng xuống đây thăm tôi một lần. Đó là trước khi hắn tái nghiện rượu; nhưng về sau cứ hễ đặt chân lên bờ là hắn lại uống, và chỉ cần hơi men vào là hắn điên dại mất kiểm soát. Ôi! Quả là một ngày tồi tệ khi hắn cầm ly rượu lên lần nữa. Đầu tiên hắn lạnh nhạt với tôi, rồi cãi cọ với Sarah, và giờ khi Mary đã ngừng viết thư cho chúng tôi, chẳng ai biết số phận họ ra sao nữa.
Hiển nhiên là cô Cushing đã chạm đến một chủ đề mà cô vô cùng bận tâm. Giống như hầu hết những người sống cô độc, thoạt đầu cô có vẻ e thẹn, nhưng cuối cùng lại trở nên cực kỳ cởi mở. Cô kể cho chúng tôi nghe rất nhiều chi tiết về người em rể làm quản lý tàu, rồi lan man sang chủ đề về những người thuê trọ cũ là đám sinh viên y khoa, cô thuật lại tường tận vô số thói hư tật xấu của họ, kèm theo tên tuổi và bệnh viện của từng người. Holmes lắng nghe chăm chú mọi thứ, thỉnh thoảng lại đan xen vài câu hỏi.
— Về người em thứ hai của cô, Sarah, — anh nói. — Tôi lấy làm lạ, từ khi cả hai cô đều là gái chưa chồng, sao hai người lại không dọn về chung sống một nhà cho tiện.
— Ồ! Ông không biết tính nết của con Sarah nên mới nói thế chứ bằng không ông sẽ chẳng còn thấy lạ nữa. Tôi đã thử khi mới chuyển đến Croydon, và chúng tôi sống với nhau cho đến khoảng hai tháng trước thì buộc phải chia tay. Tôi không muốn nói xấu gì em ruột mình đâu, nhưng con Sarah xưa nay vốn hay xen chuyện người khác và rất khó chiều.
— Cô nói rằng nó đã cãi cọ với những người thân bên Liverpool của cô ư?
— Vâng, thế mà có lúc họ lại là bạn bè thân thiết nhất đấy chứ. Chà, nó đã lặn lội lên tận trển sinh sống cốt để được ở gần họ. Thế mà giờ đây nó chẳng còn từ ngữ cay nghiệt nào là không dám dành cho Jim Browner. Sáu tháng cuối cùng sống ở đây, nó chẳng mở miệng nói gì ngoài chuyện nhậu nhẹt và thói hư tật xấu của hắn. Tôi ngờ rằng hắn đã bắt gặp nó đang chõ mũi vào chuyện gia đình mình và dằn mặt cho một trận, đó chính là nguồn cơn cơ sự.
— Cảm ơn cô, cô Cushing, — Holmes nói, đứng dậy và cúi chào. — Tôi nhớ cô vừa nói em gái Sarah của cô sống ở phố New Wallington phải không? Tạm biệt cô, và tôi rất lấy làm tiếc vì cô lại phải phiền lòng vì một vụ án mà, như cô đã nói, cô chẳng hề dính dáng mảy may.
Có một chiếc xe ngựa đang chạy tới khi chúng tôi bước ra, và Holmes liền vẫy lại.
— Đi Wallington mất bao xa vậy? — anh hỏi.
— Chỉ tầm một dặm thôi thưa ông.
— Rất tốt. Lên xe đi, Watson. Chúng ta phải thừa thắng xông lên thôi. Dù vụ án có đơn giản đến đâu, thì vẫn có một hoặc hai chi tiết vô cùng giáo khoa liên quan đến nó. Đánh xe ghé qua một bưu điện điện tín trên đường đi nhé anh tài xế.
Holmes gửi đi một bức điện ngắn và suốt quãng đường còn lại, anh ngả người ra sau ghế, chiếc mũ sụp xuống mũi để che ánh nắng chiếu vào mặt. Người đánh xe dừng lại trước một ngôi nhà trông không khác mấy so với căn hộ chúng tôi vừa rời đi. Người bạn đồng hành ra hiệu cho anh ta chờ rồi vừa đặt tay lên chiếc khòng cửa thì cánh cửa mở ra, xuất hiện trên bậc thềm là một quý ông trẻ tuổi mặc âu phục đen nghiêm nghị với chiếc mũ bóng loáng.
— Cô Cushing có nhà không? — Holmes hỏi.
— Cô Sarah Cushing đang lâm trọng bệnh, — anh ta đáp. — Cô ấy đã phải chịu đựng những triệu chứng thần kinh hết sức nặng nề từ ngày hôm qua. Với tư cách là bác sĩ điều trị, tôi hoàn toàn không thể chịu trách nhiệm cho phép bất kỳ ai vào thăm cô ấy được. Tôi khuyên ông nên quay lại sau mười ngày nữa. — Anh ta đeo găng tay vào, khép cửa lại và sải bước rảo đi dọc con phố.
— Chà, nếu không gặp được thì đành chịu vậy, — Holmes vui vẻ thốt lên.
— Có lẽ cô ta cũng chẳng thể hoặc không muốn kể cho anh nghe nhiều đâu.
— Tôi có muốn cô ấy kể lể gì đâu. Tôi chỉ muốn nhìn mặt cô ta thôi. Dù sao thì tôi cũng nghĩ mình đã thu lượm đủ những gì cần thiết rồi. Đưa chúng tôi đến một khách sạn tử tế nào đó đi anh tài xế, nơi chúng tôi có thể dùng chút bữa trưa, rồi sau đó chúng ta sẽ ghé thăm người bạn Lestrade ở đồn cảnh sát.
Chúng tôi có một bữa ăn nhẹ nhàng ấm cúng bên nhau, trong suốt bữa đó Holmes không nói gì ngoài chuyện đàn vĩ cầm, hào hứng kể lại cách anh mua được chiếc đàn Stradivarius chính hiệu của mình – thứ có giá trị ít nhất năm trăm đồng ghine – tại một tiệm môi giới của người Do Thái ở phố Tottenham Court Road chỉ với năm mươi lăm si-ling. Điều này dẫn dắt anh sang Paganini, và chúng tôi ngồi liền một tiếng đồng hồ bên chai rượu claret trong khi anh say sưa kể hết giai thoại này đến giai thoại khác về con người kỳ lạ đó. Buổi chiều đã ngả về muộn và cái nắng gay gắt dịu lại thành một thứ ánh sáng êm ả trước khi chúng tôi đặt chân tới đồn cảnh sát. Lestrade đang đứng đợi chúng tôi ở cửa.
— Có điện tín gửi cho anh này, ngài Holmes, — anh ta nói.
— Ha! Câu trả lời đây rồi! — Anh xé toạc nó ra, liếc mắt đọc lướt qua rồi vo tròn nhét vào túi. — Mọi chuyện ổn thỏa cả rồi, — anh nói.
— Anh đã tìm ra manh mối gì chưa?
— Tôi đã tìm ra tất cả mọi thứ!
— Cái gì! — Lestrade trân trân nhìn anh đầy kinh ngạc. — Anh đang đùa đấy chứ.
— Chưa bao giờ tôi thấy mình nghiêm túc như lúc này. Một tội ác động trời đã được thực hiện, và tôi nghĩ giờ đây mình đã phơi bày trọn vẹn từng chi tiết của nó.
— Còn tên tội phạm thì sao?
Holmes nguệch ngoạc vài chữ vào mặt sau tấm danh thiếp của mình rồi ném sang cho Lestrade.
— Đó là tên của hắn, — anh nói. — Anh không thể tiến hành bắt giữ cho đến tối mai là sớm nhất. Tôi muốn anh đừng nhắc gì đến tên tôi liên quan đến vụ án này, vì tôi chỉ thích đứng tên chung với những vụ án nào có chút khó khăn trong việc giải quyết mà thôi. Đi thôi, Watson. — Chúng tôi sải bước cùng nhau về ga, để lại Lestrade vẫn đang trân trân nhìn với vẻ mặt đầy hoan hỉ vào tấm danh thiếp mà Holmes vừa ném cho.
— Vụ án này, — Sherlock Holmes cất lời khi chúng tôi cùng nhấm nháp xì-gà tối đó tại căn hộ trên phố Baker, — cũng giống như các cuộc điều tra mà anh đã ghi chép lại dưới nhan đề ‘Chiếc Nhẫn Tố Tụng’ và ‘Dấu Hiệu Bộ Tứ’, là trường hợp mà chúng ta buộc phải suy luận ngược từ hệ quả trở về nguyên nhân. Tôi đã viết thư yêu cầu Lestrade cung cấp cho chúng ta những chi tiết hiện còn thiếu, thứ mà anh ta sẽ chỉ có được sau khi đã tóm gọn thủ phạm. Ta hoàn toàn có thể tin tưởng anh ta sẽ làm tốt việc đó, bởi dù hoàn toàn thiếu đi tư duy logic, anh ta lại dai dẳng như một con chó sục một khi đã hiểu rõ mình phải làm gì, và quả thực chính sự lì lợm ấy đã đưa anh ta lên vị trí hàng đầu tại Scotland Yard.
— Thế vụ án của anh vẫn chưa hoàn chỉnh ư? — tôi hỏi.
— Xét về mặt cốt lõi thì nó khá hoàn chỉnh rồi. Chúng ta biết rõ kẻ chủ mưu đằng sau vụ việc gớm ghiếc này là ai, dẫu cho một trong các nạn nhân vẫn chưa lộ diện. Chắc hẳn anh cũng đã tự rút ra cho mình những kết luận riêng rồi chứ?
— Tôi phỏng đoán rằng cái tay Jim Browner này, người quản lý trên một con tàu tuyến Liverpool, chính là kẻ mà anh đang nghi ngờ chứ gì?
— Ồ! Nó còn vượt xa cả mức nghi ngờ ấy chứ.
— Thế mà tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài những manh mối vô cùng mơ hồ.
— Trái lại, trong tâm trí tôi thì chẳng có gì rõ ràng hơn thế. Để tôi điểm lại các bước chính nhé. Chúng ta tiếp cận vụ án với một tâm trí hoàn toàn trống rỗng, điều này luôn mang lại lợi thế. Chúng ta không hề vạch ra bất kỳ giả thuyết nào cả. Chúng ta có mặt ở đó đơn thuần để quan sát và rút ra suy luận từ những quan sát của mình. Đầu tiên chúng ta nhìn thấy gì? Một người phụ nữ vô cùng điềm đạm và đáng kính, trông hoàn toàn vô can trước mọi bí mật, và một bức chân dung cho tôi thấy cô ấy có hai người em gái. Ngay lập tức, ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi rằng chiếc hộp đó có thể dành cho một trong hai người em. Tôi gác ý nghĩ đó sang một bên như một giả định có thể được bác bỏ hoặc xác nhận khi chúng ta thong thả. Sau đó, như anh nhớ đấy, chúng ta ra vườn và tận mắt chứng kiến những vật phẩm vô cùng kỳ lạ bên trong chiếc hộp vàng nhỏ xíu.
— Sợi dây thừng thuộc loại chuyên dùng bởi thợ làm buồm trên tàu biển, và ngay lập tức, hơi thở của biển cả đã phảng phất trong cuộc điều tra của chúng ta. Khi tôi nhận thấy nút thắt đó là kiểu được các thủy thủ ưa chuộng, rằng bưu kiện được gửi từ một thành phố cảng, và rằng chiếc tai của nam giới có xỏ lỗ đeo hoa tai – thứ vốn phổ biến ở những kẻ đi biển hơn là dân đất liền, tôi hoàn toàn chắc chắn rằng tất cả các nhân vật trong thảm kịch đều nằm trong số những người thuộc tầng lớp hàng hải của chúng ta.
— Khi tôi kiểm tra phần địa chỉ của bưu kiện, tôi nhận thấy nó gửi cho cô S. Cushing. Chà, người chị cả tất nhiên sẽ là cô Cushing, và dẫu tên viết tắt của cô ấy là ‘S’ thì nó hoàn toàn có thể thuộc về một trong những người em nữa. Trong trường hợp đó, chúng ta sẽ phải bắt đầu cuộc điều tra lại từ một cơ sở hoàn toàn mới. Do đó, tôi bước vào nhà với ý định làm sáng tỏ điểm này. Tôi suýt định trấn an cô Cushing rằng tôi tin chắc đã có sự nhầm lẫn xảy ra thì, như anh còn nhớ, tôi đột nhiên khựng lại. Thực chất là vì tôi vừa trông thấy một thứ khiến tôi vừa kinh ngạc vừa thu hẹp phạm vi điều tra của chúng ta lại một cách đáng kể.
— Với tư cách là một bác sĩ, anh thừa hiểu rõ, Watson, rằng chẳng có bộ phận nào trên cơ thể lại biến đổi nhiều như tai người. Theo quy tắc chung, mỗi chiếc tai đều mang nét đặc trưng riêng biệt và khác biệt hoàn toàn với tất cả những chiếc tai khác. Trong Tờ san Nhân học năm ngoái, anh sẽ tìm thấy hai chuyên luận ngắn về chủ đề này do chính tay tôi chắp bút. Do đó, tôi đã quan sát đôi tai trong hộp bằng con mắt của một chuyên gia và ghi chép cẩn thận các đặc điểm giải phẫu của chúng. Hãy thử tưởng tượng sự kinh ngạc của tôi khi nhìn vào cô Cushing và nhận ra tai của cô ấy trùng khớp hoàn toàn với chiếc tai nữ mà tôi vừa kiểm tra. Sự việc hoàn toàn vượt ra ngoài tầm của một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Vẫn là phần vành tai ngắn tương tự, đường cong rộng của thùy trên, và các nếp gấp của sụn trong giống hệt. Xét về mọi yếu tố cốt lõi, đó chính là một chiếc tai.
— Tất nhiên ngay lập tức tôi nhận thức được tầm quan trọng vô cùng lớn lao của quan sát đó. Hiển nhiên là nạn nhân có quan hệ họ hàng huyết thống và có lẽ là rất gần gũi. Tôi bắt đầu trò chuyện với cô ấy về gia đình, và anh còn nhớ là cô ấy đã lập tức cung cấp cho chúng ta những chi tiết cực kỳ quý giá.
— Trước hết, tên của người em gái là Sarah, và địa chỉ của cô ấy cho đến gần đây vẫn là nơi đó, thế nên quá rõ ràng vì sao sự nhầm lẫn lại xảy ra và bưu kiện đó vốn dĩ thuộc về ai. Sau đó, chúng ta nghe kể về viên quản lý tàu kết hôn với người em thứ ba, và biết được rằng hắn đã từng có thời gian vô cùng thân thiết với cô Sarah đến mức cô ấy đã lặn lội lên tận Liverpool để được ở gần vợ chồng nhà Browner, nhưng rồi một cuộc cãi vã đã chia rẽ họ. Xích mích này đã chấm dứt mọi liên lạc trong suốt vài tháng, thế nên nếu Browner có dịp gửi bưu kiện cho cô Sarah, hắn chắc chắn sẽ gửi đến địa chỉ cũ của cô ấy.
— Và giờ thì mọi chuyện bắt đầu sáng tỏ một cách kỳ diệu. Chúng ta đã biết đến sự tồn tại của viên quản lý tàu này, một kẻ bốc đồng, mang những cảm xúc mãnh liệt – anh còn nhớ hắn đã từ bỏ một vị trí công tác vốn hẳn phải rất tuyệt vời chỉ để được ở gần vợ chứ – lại còn hay vướng vào những cơn say xỉn nặng. Chúng ta có lý do để tin rằng vợ hắn đã bị sát hại, và một người đàn ông – có lẽ là một kẻ đi biển – cũng bị sát hại vào cùng thời điểm đó. Tất nhiên ghen tuông ngay lập tức nổi lên như là động cơ gây án. Và tại sao những bằng chứng của hành vi phạm tội này lại được gửi cho cô Sarah Cushing? Có lẽ bởi vì trong thời gian sinh sống ở Liverpool, cô ta đã nhúng tay vào việc khơi mào cho những sự kiện dẫn đến thảm kịch. Anh sẽ nhận thấy tuyến tàu này có ghé qua Belfast, Dublin và Waterford; vậy nên, giả sử Browner đã thực hiện hành vi tội ác và lập tức lên con tàu May Day của mình, Belfast sẽ là nơi đầu tiên hắn có thể gửi đi bưu kiện kinh hoàng đó.
— Vào giai đoạn này, một hướng giải quyết thứ hai rõ ràng vẫn có thể xảy ra, và dẫu tôi cho rằng nó cực kỳ khó xảy ra, tôi vẫn quyết định làm sáng tỏ nó trước khi tiến xa hơn. Một kẻ tình si bị cự tuyệt có thể đã ra tay sát hại vợ chồng Browner, và chiếc tai nam giới có thể thuộc về người chồng. Có rất nhiều phản đối trầm trọng đối với giả thuyết này, nhưng nó vẫn là một khả năng có thể hình dung được. Do đó, tôi đã gửi một bức điện tín cho người bạn Algar của tôi ở lực lượng cảnh sát Liverpool, nhờ anh ta tìm hiểu xem cô Browner có ở nhà không, và liệu Browner có khởi hành trên con tàu May Day hay không. Sau đó chúng ta tiếp tục lên đường đến Wallington để thăm cô Sarah.
— Trước hết, tôi tò mò muốn xem chiếc tai gia đình đã được di truyền trên người cô ta đến mức độ nào. Sau đó, tất nhiên là cô ta có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin vô cùng quan trọng, nhưng tôi không mấy lạc quan rằng cô ta sẽ làm vậy. Cô ta hẳn đã nghe ngóng được vụ việc từ ngày hôm trước, vì toàn bộ Croydon đang xôn xao bàn tán về nó, và chỉ có một mình cô ta là hiểu rõ bưu kiện đó đích thực dành cho ai. Nếu sẵn sàng hợp tác với công lý, có lẽ cô ta đã liên lạc với cảnh sát từ trước rồi. Dù sao đi nữa, việc đến gặp cô ta rõ ràng là nhiệm vụ của chúng ta, thế nên chúng ta đã đi. Và chúng ta phát hiện ra rằng tin tức về sự xuất hiện của bưu kiện – bởi căn bệnh của cô ta bắt đầu từ thời điểm đó – đã tác động mạnh mẽ đến mức khiến cô ta phát cơn sốt não. Mọi chuyện còn rõ ràng hơn bao giờ hết rằng cô ta hoàn toàn hiểu được ý nghĩa sâu xa của nó, nhưng đồng thời cũng rõ ràng một điều là chúng ta sẽ phải chờ đợi một thời gian dài mới mong nhận được bất kỳ sự trợ giúp nào từ phía cô ta.
— Tuy nhiên, thực chất chúng ta hoàn toàn độc lập với sự giúp đỡ của cô ta. Những câu trả lời đã sẵn sàng chờ đón chúng ta tại đồn cảnh sát, nơi tôi đã chỉ thị cho Algar gửi tới. Không gì có thể thuyết phục hơn thế. Ngôi nhà của cô Browner đã đóng cửa hơn ba ngày nay, và những người hàng xóm cho rằng cô ấy đã đi về phía nam để thăm người thân. Các văn phòng tàu thủy cũng đã xác nhận rằng Browner đã rời đi trên con tàu May Day, và tôi tính toán rằng tàu của cô ấy sẽ cập cảng Thames vào tối mai. Khi hắn đặt chân đến nơi, hắn sẽ được chào đón bởi tên Lestrade bảo thủ nhưng kiên quyết, và tôi không hoài nghi gì về việc chúng ta sẽ có đầy đủ mọi chi tiết được lấp đầy.
Sherlock Holmes đã không phải thất vọng trước những kỳ vọng của mình. Hai ngày sau, anh nhận được một phong bì cồng kềnh, bên trong chứa một bức thư ngắn từ viên thám tử và một tài liệu đánh máy dài vài trang giấy khổ lớn.
— Lestrade đã tóm gọn được hắn rồi, — Holmes nói, ngước nhìn tôi. — Có lẽ anh sẽ hứng thú khi nghe những gì hắn thuật lại đây.
— "Kính gửi ngài Holmes, — Theo như kế hoạch mà chúng ta đã vạch ra nhằm kiểm chứng các giả thuyết của mình" – "từ ‘chúng ta’ nghe khá hay đấy chứ, Watson, phải không nào?" – "tôi đã xuống Bến Albert vào lúc 6 giờ chiều hôm qua, và bước lên con tàu S.S. May Day, thuộc Công ty Vận tải Hơi nước Liverpool, Dublin và Luân Đôn. Qua dò hỏi, tôi phát hiện ra có một quản lý tàu tên là James Browner và hắn đã có những hành động bất thường đến mức thuyền trưởng buộc phải tước bỏ nhiệm vụ của hắn trong suốt chuyến hải trình. Khi xuống khoang nghỉ của hắn, tôi bắt gặp hắn đang ngồi trên một chiếc rương với phần đầu gục vào hai bàn tay, cứ thế đung đưa người qua lại. Hắn là một tên to con, lực lưỡng, cạo râu nhẵn nhụi và da ngăm đen – trông hơi giống Aldridge, kẻ đã giúp chúng ta trong vụ án tiệm giặt là giả. Hắn bật dậy ngay khi nghe tôi thông báo công chuyện, và tôi đã đưa còi lên miệng định gọi dăm cảnh sát đường thủy đang túc trực ở góc phố, nhưng hắn dường như chẳng còn chút tinh thần nào nữa, và cứ thế ngoan ngoãn đưa tay ra cho còng số tám chụp vào. Chúng tôi áp giải hắn về xà lim, mang theo cả chiếc hộp của hắn nữa, vì nghĩ rằng có thể có thứ gì khả ố bên trong; nhưng ngoại trừ một con dao lớn sắc bén mà hầu như tên thủy thủ nào cũng giắt lưng, chúng tôi chẳng thu được gì bõ công nhọc sức. Tuy nhiên, chúng tôi nhận ra mình chẳng cần thêm bằng chứng nào nữa, bởi khi được dẫn giải trước viên thanh tra tại đồn, hắn đã xin phép được đưa ra một lời khai, tất nhiên đã được ghi chép lại y nguyên từng chữ bởi chuyên viên tốc ký của chúng tôi. Chúng tôi đã cho đánh máy thành ba bản, và tôi xin gửi kèm theo đây một bản. Vụ việc quả đúng như tôi vẫn luôn nghĩ, cực kỳ đơn giản, nhưng tôi vẫn rất biết ơn vì sự hỗ trợ của anh trong cuộc điều tra này. Trân trọng kính chào, – G. Lestrade."
— Chà! Cuộc điều tra thực ra quả thực vô cùng đơn giản, — Holmes nhận xét, — nhưng tôi không nghĩ hắn lại nhìn nhận nó theo chiều hướng đó khi lần đầu tiên đến nhờ cậy chúng ta. Dù sao đi nữa, hãy xem tay Jim Browner có những gì để tự biện hộ cho bản thân nào. Đây là lời khai của hắn trước Thanh tra Montgomery tại Đồn Cảnh sát Shadwell, và nó có ưu điểm là được giữ nguyên văn từng câu chữ.
— "Tôi có gì để nói không? Vâng, tôi có rất nhiều điều để nói. Tôi phải thú nhận hết mọi chuyện ra cho nhẹ lòng. Các ông muốn treo cổ tôi hay mặc thây tôi thế nào cũng được. Tôi chẳng mảy may bận tâm đâu. Tôi nói cho các ông hay, tôi đã chẳng chợp mắt được một phút nào kể từ khi làm chuyện đó, và tôi tin rằng mình sẽ chẳng bao giờ ngủ lại được nữa cho đến khi vĩnh viễn chìm vào giấc ngủ ngàn thu. Lúc thì là khuôn mặt của hắn, nhưng phần lớn thời gian là khuôn mặt của cô ấy. Hình bóng họ cứ hiện ra mồn một trước mắt tôi chẳng khi nào dứt. Trông hắn thì cau có và đen tối, nhưng cô ấy lại mang vẻ ngạc nhiên trên gương mặt. Phải, con cừu non trắng ngọc ấy, thảo nào cô ấy chẳng ngạc nhiên khi đọc được cái chết trên một khuôn mặt vốn hiếm khi dành cho cô ấy bất cứ điều gì ngoài tình yêu thương trước đó.
— Nhưng đó là lỗi của con Sarah, và nguyền rủa thay cho kẻ khốn cùng này, xin trút mọi tai ương lên đầu ả và làm thối rữa dòng máu trong huyết quản ả! Không phải là tôi muốn thanh minh cho bản thân mình đâu. Tôi thừa nhận mình đã sa ngã vào hơi men trở lại, như một con thú hoang đê tiện. Nhưng cô ấy hẳn đã tha thứ cho tôi; cô ấy đã gắn chặt lấy tôi như sợi dây thừng bám lấy ròng rọc nếu như người đàn bà đó không bao giờ bước chân vào ngưỡng cửa nhà chúng tôi. Vì Sarah Cushing đã yêu tôi – đó mới chính là căn nguyên của mọi chuyện – ả yêu tôi cho đến khi mọi thứ tình yêu biến thành thứ hận thù độc địa khi ả nhận ra tôi coi trọng dấu giày dính bùn của vợ mình hơn là toàn bộ thể xác lẫn tâm hồn ả.
— Tổng cộng có ba chị em. Người chị cả chỉ đơn thuần là một phụ nữ tốt bụng, người thứ hai là một con ác quỷ, và người thứ ba là một thiên thần. Sarah ba mươi ba tuổi, còn Mary hai mươi chín tuổi khi tôi kết hôn. Chúng tôi hạnh phúc biết bao nhiêu trong từng ngày trọn vẹn khi dọn về chung sống một nhà, và khắp cả Liverpool chẳng có người phụ nữ nào tốt hơn vợ tôi, Mary. Thế rồi chúng tôi mời Sarah đến chơi một tuần, và tuần này kéo dài thành một tháng, rồi chuyện nọ xọ chuyện kia, cho đến khi ả nghiễm nhiên trở thành một thành viên trong nhà chúng tôi.
— Lúc bấy giờ tôi đang mang băng danh dự của phong trào cai rượu, chúng tôi dành dụm được một ít tiền, và mọi thứ sáng rực rỡ như một đồng đô-la mới đúc. Lạy Chúa tôi, có ai đời lại nghĩ rằng cơ sự lại đẩy đưa đến bước đường này chứ? Ai thèm mơ tưởng đến điều đó cơ chứ?
— Tôi thường xuyên về nhà vào các dịp cuối tuần, và thỉnh thoảng nếu tàu bị kẹt lại vì hàng hóa, tôi sẽ có nguyên cả một tuần ở nhà, và nhờ thế tôi có nhiều dịp tiếp xúc với cô em vợ Sarah. Ả là một phụ nữ cao ráo, nước da ngăm, lanh lợi và sắc sảo, với dáng điệu kiêu kỳ ngẩng cao đầu, và ánh mắt sắc lạnh lóe lên như tia lửa xẹt ra từ đá lửa. Nhưng khi có bé Mary ở đó, tôi chưa từng mảy may tơ tưởng đến ả, tôi xin thề có Chúa chứng giám cho lòng thương xót của Ngài.
— Thỉnh thoảng tôi có cảm giác như ả thích ở một mình với tôi, hoặc rủ rê tôi đi dạo cùng ả, nhưng tôi chưa bao giờ để tâm đến những chuyện đó. Cho đến một buổi tối nọ, đôi mắt tôi đã được khai sáng. Tôi từ tàu trở về và phát hiện vợ mình không có nhà, nhưng Sarah lại ở đó. ‘Mary đâu rồi?’ tôi hỏi. ‘À, con bé đi thanh toán vài khoản tiền rồi.’ Tôi sốt ruột đi đi lại lại trong phòng. ‘Anh không thể vui vẻ dẫu chỉ năm phút mà không có Mary sao, Jim?’ Ả cất lời. ‘Thật là một lời khen tệ hại cho tôi khi anh không thể hài lòng với bầu bạn của tôi dải dột trong chừng ấy thời gian.’ ‘Thôi nào cô em,’ tôi nói, đưa tay về phía ả một cách thân thiện, thế nhưng ả liền chộp lấy bàn tay tôi trong cả hai bàn tay của ả ngay tức khắc, chúng nóng hừng hực như đang phát sốt. Tôi nhìn thẳng vào mắt ả và đọc được tất cả trong đó. Chẳng cần ả phải cất lời, mà tôi cũng thế. Tôi cau mày và rụt tay lại. Rồi ả đứng bên cạnh tôi trong im lặng một lát, đoạn đưa tay vỗ vỗ lên vai tôi. ‘Bình tĩnh nào anh bạn Jim già!’ ả nói, rồi với một tiếng cười nhạt nhẽo cợt nhả, ả chạy vụt ra khỏi phòng.
— Chà, kể từ lúc đó, Sarah căm ghét tôi bằng cả tâm can và linh hồn ả, và ả đích thị là một người phụ nữ biết cách căm hận ra mặt. Tôi thật ngốc nghếch khi cứ để ả tiếp tục tá túc trong nhà mình – một kẻ ngu muội đần độn – nhưng tôi chưa từng hé răng nửa lời với Mary, bởi tôi biết điều đó sẽ làm cô ấy đau lòng. Mọi chuyện vẫn tiếp diễn như cũ, nhưng một thời gian sau tôi bắt đầu nhận thấy có chút thay đổi ở chính Mary. Vợ tôi vốn xưa nay luôn tin tưởng và ngây thơ là thế, nhưng giờ đây cô ấy trở nên kỳ cục và đa nghi, cứ muốn dò la xem tôi đã đi đâu, làm gì, thư từ của ai gửi đến, trong túi có những gì, và hàng ngàn thứ vớ vẩn khác. Ngày qua ngày, cô ấy ngày càng trở nên kỳ quặc và dễ cáu gắt hơn, và chúng tôi liên tục cãi vã vì những chuyện không đâu. Tôi thực sự thấy hoang mang trước tất cả những điều đó. Lúc này Sarah tránh mặt tôi, nhưng ả và Mary thì cứ như hình với bóng không thể tách rời. Giờ đây tôi mới nhận ra ả đã âm mưu, tính toán và đầu độc tâm trí vợ tôi chống lại tôi như thế nào, nhưng thời điểm ấy tôi lại là một con bọ mù quáng chẳng thể thấu thấu hiểu nổi điều đó. Rồi tôi phá bỏ lời thề cai rượu và bắt đầu uống rượu trở lại, nhưng tôi nghĩ mình đã chẳng làm thế nếu Mary vẫn giữ được sự thuần khiết như xưa. Giờ đây cô ấy có lý do để ghê tởm tôi, và khoảng cách giữa chúng tôi ngày một nới rộng ra. Và rồi cái gã Alec Fairbairn này nhúng tay vào, khiến mọi chuyện trở nên đen tối gấp ngàn lần.
— Hắn đến nhà tôi lần đầu tiên là để gặp Sarah, nhưng chẳng bao lâu sau mục đích là để gặp cả hai chúng tôi, bởi hắn là một gã đàn ông có lối cưỡi ngựa xem hoa đầy cuốn hút, đi đến đâu cũng kết giao được bạn bè. Hắn là một gã hào hoa phong nhã, bảnh bao và chải chuốt, kẻ đã đi qua nửa vòng trái đất và có thểuyên bác bàn luận về những gì hắn từng mục kích. Tôi không chối cãi chuyện hắn là một người bạn đồng hành thú vị, và hắn mang trong mình những phép lịch sự tuyệt vời của một gã đi biển, đến mức tôi nghĩ chắc hẳn đã có thời điểm hắn rành rỏi khu vực đài chỉ huy hơn là khoang mũi tàu. Suốt một tháng trời, hắn ra vào nhà tôi như cơm bữa, và chưa một lần nào ý nghĩ rằng tai họa có thể giáng xuống từ những cách cưỡi ngựa xem hoa đầy ngọt ngào, tinh quái của hắn lại xẹt qua tâm trí tôi. Thế rồi cuối cùng có điều gì đó đã khiến tôi nghi ngờ, và kể từ ngày hôm đó sự bình yên của tôi vĩnh viễn tan thành mây khói.
— Mọi chuyện cũng chỉ bắt đầu từ một chút tiểu tiết. Tôi bất ngờ bước vào phòng khách, và vừa đặt chân qua cửa, tôi thoáng thấy ánh sáng của sự chào đón trên gương mặt vợ mình. Nhưng ngay khi cô ấy nhận ra đó là tôi, ánh sáng ấy liền vụt tắt, và cô ấy quay mặt đi với một vẻ mặt thất vọng tràn trề. Thế là quá đủ đối với tôi rồi. Chẳng có ai ngoài Alec Fairbairn là kẻ mà bước chân có thể bị cô ấy nhầm lẫn với tôi cả. Giá như lúc đó tôi nhìn thấy hắn, tôi đã tống cổ hắn về chầu diêm vương rồi, vì tính khí tôi xưa nay vẫn luôn như một kẻ điên dại mỗi khi cơn giận bùng phát. Mary nhìn thấy ngọn lửa của quỷ dữ trong mắt tôi và lao vội đến níu lấy tay áo tôi. ‘Đừng, anh Jim, đừng mà!’ cô ấy nói. ‘Sarah đâu?’ tôi hỏi. ‘Ở trong bếp ấy,’ cô ấy đáp. ‘Sarah,’ tôi cất lời khi bước vào, ‘gã Fairbairn này đừng có hồng bước chân qua ngưỡng cửa nhà tôi nữa.’ ‘Sao lại không?’ ả hỏi. ‘Vì tao ra lệnh thế.’ ‘Ồ,’ ả nói, ‘nếu bạn bè của tôi không đủ tư cách bước vào cái nhà này, thế thì tôi cũng chẳng đủ tư cách ở lại đây nữa đâu.’ ‘Mày muốn làm gì thì tùy,’ tôi nói, ‘nhưng nếu thằng Fairbairn còn dám bén mảng mặt mũi đến đây lần nữa, tao sẽ gửi cho mày một bên tai của nó làm kỷ niệm đấy.’ Chắc là ả đã hoảng sợ trước sắc mặt của tôi, nên chẳng thốt ra thêm một lời nào nữa, và ngay chiều hôm đó ả đã dọn đi.
— Chà, giờ thì tôi chẳng biết đó thuần túy là sự độc ác của người đàn bà này, hay ả nghĩ rằng mình có thể kích động tôi chống lại vợ bằng cách xúi giục cô ấy cư xử lẳng lơ nữa. Dù sao đi nữa, ả cũng thuê một ngôi nhà cách đó đúng hai con phố và cho thủy thủ thuê trọ. Fairbairn thường xuyên lui tới đó, và Mary sẽ sang đó uống trà cùng chị gái và hắn. Cô ấy đã sang đó bao nhiêu lần thì tôi không rõ, nhưng có một hôm tôi đã bám theo, và khi tôi phá cửa xông vào, Fairbairn liền tẩu thoát qua bức tường rào phía sau khu vườn như một tên hèn nhát rác rưởi. Tôi thề với vợ rằng tôi sẽ tước đoạt sinh mạng cô ấy nếu còn bắt gặp cô ấy hú hò với hắn lần nữa, rồi tôi lôi xềnh xệch cô ấy về nhà, vừa đi vừa nức nở run rẩy, mặt cắt không còn giọt máu. Giữa chúng tôi chẳng còn chút vương vấn tình cảm nào nữa. Tôi thấy rõ cô ấy căm ghét và sợ hãi tôi, và khi ý nghĩ đó dồn ép tôi vào hơi men, cô ấy lại khinh bỉ tôi.
— Chà, Sarah nhận ra mình không thể kiếm sống qua ngày ở Liverpool, thế nên ả quay trở lại, theo như tôi được biết, để sống cùng người em gái ở Croydon, và mọi chuyện ở nhà vẫn diễn ra tẻ nhạt như cũ. Và rồi tuần lễ cuối cùng ấy ập đến cùng với toàn bộ sự khốn khổ và lụi tàn.
— Sự tình diễn ra thế này đây. Chúng tôi lên chuyến tàu May Day cho một hải trình vòng quanh kéo dài bảy ngày, nhưng một thùng phuy bị lỏng ra đã làm bung một tấm vỏ thép khiến chúng tôi buộc phải quay đầu vào cảng trong mười hai tiếng đồng hồ. Tôi rời tàu và trở về nhà, bụng nghĩ không biết vợ mình sẽ ngạc nhiên đến mức nào, và hy vọng rằng có lẽ cô ấy sẽ vui mừng khi thấy tôi về sớm thế. Ý nghĩ đó còn vảng vất trong đầu khi tôi rẽ vào con phố nhà mình, và đúng khoảnh khắc đó một chiếc xe ngựa chạy vụt qua tôi, và ngạc nhiên chưa, chính là cô ấy đang ngồi sát bên Fairbairn, cả hai đang tíu tít trò chuyện cười đùa, chẳng mảy quan tâm đến tôi đang đứng trân trân nhìn theo từ vỉa hè.
— Tôi xin nói với các ông, và xin lấy danh dự ra bảo đảm rằng, kể từ khoảnh khắc đó tôi hoàn toàn mất kiểm soát bản thân, và khi nhìn lại mọi thứ giống như một giấc mơ mờ ảo. Dạo gần đây tôi uống rất nhiều rượu, và hai sự việc ấy gộp lại đã thực sự làm đảo lộn tâm trí tôi. Có cái gì đó đang đập thình thịch trong đầu tôi lúc này, tựa như cây búa của thung lũng bến cảng, nhưng buổi sáng hôm ấy tôi có cảm giác như cả ngọn thác Niagara đang gầm rú và vo ve trong tai mình.
— Chà, tôi cắm cổ chạy thục mạng đuổi theo chiếc xe ngựa. Tôi cầm một khúc gậy gỗ sồi nặng trịch trên tay, và xin thề là tôi đã mờ mắt ngay từ giây phút đầu tiên; nhưng trong lúc chạy tôi cũng trở nên khôn ranh hơn, bèn chững lại một chút để quan sát họ mà không bị phát hiện. Chẳng mấy chốc họ dừng lại trước nhà ga xe lửa. Có một đám đông khá lớn tụ tập trước phòng vé, thế nên tôi đã lách đến sát rạt họ mà chẳng bị ai để ý. Họ mua vé đi New Brighton. Tôi cũng vậy, nhưng tôi lên toa cách họ ba toa tàu. Khi đến nơi, họ đi dọc theo khu Phố Đi Bộ, và tôi không bao giờ cách xa họ quá một trăm thước. Cuối cùng tôi thấy họ thuê một chiếc thuyền và bắt đầu chèo ra khơi, vì hôm nay trời quá đỗi oi bức, và chắc chắn họ nghĩ rằng ra mặt nước sẽ mát mẻ hơn.
— Tựa như thể ông trời đã trao họ vào tay tôi vậy. Trời hơi mờ sương, và bạn chẳng thể nhìn xa quá vài trăm thước. Tôi thuê một chiếc thuyền cho riêng mình và chèo theo sau họ. Tôi có thể nhìn thấy chiếc xuồng lờ mờ của họ, nhưng họ chèo nhanh gần bằng tôi, và hẳn họ đã ra xa bờ cả dặm trước khi tôi bắt kịp. Màn sương mù bao trùm như một bức màn khép kín xung quanh chúng tôi, và chỉ có ba chúng tôi trơ trọi ở giữa không gian đó. Lạy Chúa tôi, liệu tôi có bao giờ quên được gương mặt của họ khi họ nhận ra kẻ đang chèo chiếc thuyền áp sát họ là ai chứ? Cô ấy thét lên. Hắn chửi rủa như một kẻ điên và đâm bổ mái chèo về phía tôi, vì chắc chắn hắn đã nhìn thấy tử thần trong ánh mắt tôi. Tôi né được và giáng cho một gót gậy đập nát đầu hắn như đập vỡ quả trứng. Lẽ ra tôi đã tha mạng cho cô ấy, bất chấp cơn điên cuồng trong tôi, nhưng cô ấy lại quàng tay ôm chặt lấy hắn, gào thét và gọi tên hắn là ‘Alec’. Tôi lại giáng đòn thứ hai, và cô ấy nằm bất động co quắp bên cạnh hắn. Lúc đó tôi chẳng khác nào một con dã thú đã nếm mùi máu tươi. Giá như lúc đó con Sarah có mặt ở đây, thề có Chúa, ả cũng đã được tống tiễn đi chung với họ rồi. Tôi rút con dao ra, và – chà, thế đấy! Tôi đã nói đủ rồi đấy. Nó mang lại cho tôi một thứ niềm vui hoang dại khi nghĩ đến cảm giác của con Sarah sẽ ra sao khi ả nhìn thấy những bằng chứng rõ mười mươi cho thấy sự nhúng tay của ả đã gây ra hậu quả gì. Sau đó tôi buộc xác họ vào mạn thuyền, đục thủng một tấm ván, và đứng chờ cho đến khi chúng chìm hẳn xuống đáy. Tôi thừa biết chủ thuyền sẽ đinh ninh rằng họ đã mất phương hướng trong màn sương mù và bị trôi dạt ra ngoài khơi xa. Tôi tự chỉnh đốn lại bản thân, quay trở lại đất liền và lên tàu trở về mà chẳng một bóng người nào mảy may nghi ngờ về những gì đã xảy ra. Đêm hôm đó tôi đóng gói bưu kiện gửi cho Sarah Cushing, và ngày hôm sau tôi gửi nó đi từ Belfast.
— Đó là toàn bộ sự thật của câu chuyện. Các ông muốn treo cổ tôi hay làm gì tùy ý, nhưng các ông chẳng tài nào trừng phạt tôi nặng nề hơn những gì tôi đã phải gánh chịu đâu. Tôi chẳng thể khép mắt lại mà không nhìn thấy hai gương mặt đó đang trân trân nhìn tôi – nhìn chằm chằm như lúc chiếc thuyền của tôi phá vỡ màn sương mù. Tôi tước đoạt mạng sống của họ nhanh chóng, nhưng họ đang hành hạ tôi từng chút một; và nếu tôi phải trải qua thêm một đêm như thế này nữa, tôi chắc chắn sẽ phát điên hoặc chết quẻ trước khi trời sáng. Ông sẽ không nhốt một mình tôi vào xà lim chứ, thưa ông? Vì lòng từ bi xin đừng làm thế, và mong rằng ông sẽ được đối xử trong ngày đau khổ của mình y như cách ông đối xử với tôi lúc này."
— Ý nghĩa của tất cả chuyện này là gì vậy, Watson? — Holmes trầm mặc cất giọng khi đặt tờ báo xuống. — Vòng luẩn quẩn của sự khốn khổ, bạo lực và sợ hãi này nhằm phục vụ mục đích gì chứ? Nó hẳn phải hướng tới một cái kết cục nào đó, bằng không vũ trụ của chúng ta đang được vận hành bởi sự ngẫu nhiên, điều đó thật không tài nào tưởng tượng nổi. Nhưng kết cục nào chứ? Vẫn còn đó câu hỏi lớn muôn thuở mà lý trí con người vẫn mãi bế tắc chẳng tìm ra câu trả lời.