Hiệp sĩ phiêu lưu

Hiệp Sĩ Phiêu Lưu

Lượt đọc: 58 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
Con Cá Mệnh Lớn

❊ ❊ ❊

Con Kate nhà chúng tôi, Joe Braggs, và tôi đều có nhúng tay vào cơ sự lúc ban đầu; và vì những kết quả lớn lao sau này vốn bắt nguồn từ những sự kiện nhỏ nhặt trong buổi sáng tháng Mười Giấy ấy, tôi xin thuật lại mọi chuyện theo đúng trình tự.

Mọi chuyện bắt đầu từ việc tôi từ chối thẳng thừng việc đưa con Kate đến nhà mục sư để xem lính duyệt binh. Tôi vô cùng kính yêu mục sư, vị lão ông trầm ngâm, đôn hậu và không con cái ấy, người đã như người cha thứ hai của tôi kể từ ngày buồn bã khiến mẹ tôi trở thành góa phụ; và nếu không vì đám lính tráng, thì chẳng có gì thú vị hơn là được dành buổi chiều bên cụ già cùng những trang sách. Nhưng trái tim tôi hẳn đã tan nát nếu tôi bước chân đến đó. Một con chim hoàng yến trong lồng vốn là cảnh tượng đủ não nề ở phòng khách, nhưng nếu treo chiếc lồng ấy lên cội cây trong khu vườn ngập nắng, nơi những con chim tự do hót ca và bay lượn xung quanh, thì bạn sẽ biến nỗi đau âm ỉ thành niềm dau đớn xé tâm can. Căn phòng nghiên cứu nhỏ của mục sư, với những hàng sách mà cụ đã dìu dắt tôi thấu hiểu và yêu mến bằng một phần nhỏ vốn hiểu biết cùng nhiệt huyết của chính cụ, chính là cái cầu đậu và cóng hạt của chiếc lồng đời tôi; chúng là những thứ, sau người mẹ hiền dịu và con em Kate hỗn hào, khiến cuộc sống này còn đáng sống, nhưng suy cho cùng vẫn chỉ là một phần của chiếc lồng mà thôi. Sẽ thật phát điên nếu tôi phải nhảy nhót và ríu rít ở đó trong tầm mắt của những con người tự do, với gươm giáo trong tay và tiền đồ thênh thang phía trước. Jack Dobson sẽ diễu hành qua đó, mang theo niềm hạnh phúc ngọt ngào của con Kate—nó hoàn toàn mơ hồ không biết rằng tôi đã thấu điều đó—nhưng với tôi, đó lại là sự cay đắng của cái chết. Jack Dobson! Tôi quý Jack, nhưng không phải khi y diện chiếc áo đỏ rực và vàng chói lọi, với cựa giày và gươm va lanh lảnh trên con đường đá cứng đờ vì giá rét. Tôi bật cười trước ý nghĩ ấy; Jack Dobson, kẻ mà tôi từng đánh nhau không biết bao nhiêu lần thời đi học cho đến khi tôi có thể nện cho y một trận dễ như trở bàn tay; Jack Dobson, một gã trai đủ vui vẻ, kẻ luôn đánh nhau hăng hái ngay cả khi biết chắc mình sắp nhận một trận đòn nên thân, nhưng trí khôn của y chỉ đủ để ê a lướt qua câu "Arma virumque cano", rồi thì thào: "Noll này, anh có thể giương súng và bắn chết người, nhưng làm sao anh ngâm nga nổi mấy câu ấy?". Và chính vì người cha gầy gò, keo kiệt và hám lợi của y là một nhân vật có máu mặt bề ngoài và là một phú hào của thị trấn cổ xưa, nên Jack mới được làm CORNET trong trung đoàn long kỵ binh mới thành lập của Lãnh chúa Brocton, hôm nay đang cùng các cánh quân khác của Công tước xứ Cumberland hành quân từ Lichfield đến Stafford. Còn với tôi, niềm tự hào của cụ Bloggs về tiếng Latinh và của lũ trai tráng về khoản chiến đấu, thì chiến công hiển hách nhất tôi có thể với tới lại là đi bắn thỏ. Thế nên, nung nấu bên trong những nỗi niềm về số phận nghiệt ngã của mình, tôi từ chối đến nhà mục sư. Mẹ tôi sẽ đi. Với bà, đó sẽ là một niềm vui thực sự, và con Kate cũng sẽ ngoan ngoãn hơn dưới ánh mắt điềm đạm, thấu đáo của bà.

"Thế thì thôi," con Kate bảo, "ngồi nhà mà càu nhàu với cuốn Virgil chết tiệt của anh đi." Mẹ tôi, người thấu hiểu lòng con chỉ có thể là những người mẹ, không nói gì và lặng lẽ chuẩn bị những món ăn yêu thích cho bữa trưa của tôi.

Dùng bữa xong xuôi và dọn dẹp nhà cửa gọn gàng—thực ra hiếm khi có gì ngoài việc phủi đi mấy hạt bụi bay lạc—con Kate trong bộ cánh xúng xính nhất và mẹ trong chiếc áo mặc đi lễ đường bắt đầu lên đường sang nhà mục sư. Tôi đứng ở hiên nhà nhìn theo bóng họ vượt qua cái sân lát đá cuội và dọc theo con đường cho đến khi khuất hẳn sau cây cầu.

Đó là lúc phần việc của con Kate trong chuỗi sự kiện mở đầu này lộ diện. Tìm kiếm khắp nơi trên dưới, chẳng thấy tăm tích cuốn Virgil thân yêu, dày cộp của tôi đâu cả, với tấm bìa da thuộc ngả vàng và mép trang sách viền đỏ. Tôi tìm thấy cuốn sách nấu ăn của con Kate và suýt ném nó qua cửa sổ, nhưng ánh mắt tôi lại bắt gặp dòng đề từ kỳ cục trên trang lót, viết bằng thứ chữ to bè, ngoằn ngoèo của nó:

"KATHERINE WHEATMAN, sách của nó,

Xin Chúa phù hộ cho nó học nấu ăn giỏi.

Tại The Hanyards.

Tháng Bảy, 1739."

Những từ ngữ đơn giản ấy đâm vào tôi như bầy ong vò vẽ giận dữ. Con Kate tóc đỏ của chúng tôi chẳng phải học giả gì, nhưng dẫu sao việc đọc sách của nó lại hữu ích trong thế giới nhỏ bé của chúng tôi hơn là của tôi; bởi đây chính là nơi nó học nghệ thuật nấu nướng những món ngon và tráng miệng mà cả Jack Dobson lẫn tôi đều vô cùng ưa thích. Và nếu tôi không sớm học lấy cách làm điều gì đó cho ra hồn, dẫu chỉ là việc quản lý năm trăm mẫu đất sao cho có lãi, thì tài nấu ăn của con Kate thực sự sẽ cần đến sự trợ giúp phép màu như lời gợi ý trong câu thơ châm biếm vô tình và đầy cay đắng đối với tôi ấy. Tôi đặt cuốn sách xuống và từ bỏ công cuộc tìm kiếm cuốn Virgil. Đằng nào thì việc đó cũng vô ích, bởi con Kate có thứ mưu mẹo của riêng nó, và chắc chắn nó đã giấu cuốn sách đi nơi nào mà tôi chẳng thể nào tìm nổi. Tôi tự đền bù cho mình bằng một cách thỏa đáng, lén nhét một dải ruy băng lạc loài của nó vào túi quần, rồi ngồi xuống hút thuốc. Chiếu tẩu của tôi không tài nào bắt lửa, và tôi đập nát nó trong cơn tức tối.

Chiếc đồng hồ quả lắc bằng gỗ sồi cao kềnh càng vẫn tích tắc đều đặn trong gian nhà chính, và Jane vẫn cất tiếng hát bên cối bơ ở căn nhà vắt sữa bên kia sân. Tôi ngồi thẫn thờ nhìn đống lửa, nơi chẳng hiển hiện gì ngoài một Jack Dobson oai nghiêm trong bộ dạng nhà binh, và tôi căm ghét y vì sự vĩ đại ấy, đồng thời khinh bỉ chính mình vì sự tiểu tiểu. Dẫu vậy, cảnh tượng này thật không tài nào chịu nổi, và việc nhìn thấy Joe Braggs đangón rén bước qua sân về phía nhà vắt sữa lại mang đến cho tôi một niềm khuây khỏa nhẹ nhõm. Tên láu cá đáng lẽ phải đang vá lại đoạn rào ở thửa Mười Mẫu, thế mà lại mò ra đây để kiếm chác một vại bia. Y có thể nịnh bợ Jane dễ như tóm gọn một con thỏ, nhưng tôi sẽ cho y một trận tơi bời hoa lá, cái gã thô kệch này.

Tiếng hát bỗng ngưng bặt, rồi đến tiếng quay cối bơ, và năm phút sau tôi rón rén đến cửa nhà bếp đang khép hờ. Hỡi ôi, chúa tể Joe của chúng ta, một tay cầm vại bia, cánh tay tự do thì ôm lấy cổ Jane. Cuộc sống tại The Hanyards mới dễ chịu làm sao đối với hai kẻ này! Tôi lỏm nghe được một đoạn chuyện phiếm của họ.

"Có mấy mụ hoàng hậu thực sự không hở Jin?"

"Chứ sao," cô ta đáp. "Có tranh vẽ bọn họ trong mấy cuốn sách của Cậu Noll ấy chứ. Trên đầu cũng đội vương miện nữa."

"Nhà mình cũng có một mụ này Jin ơi, nhưng mả mụ chẳng có vương miện nào cả. Mà lạy hồn cô em, anh thà hôn em còn hơn ngắm năm mươi mụ hoàng hậu."

Jane thét lên khi tôi dập tắt nụ hôn vừa chớm nở của chúng bằng cách đánh văng chiếc vại bia từ tay y bay tuốt vào trong bếp, nhưng trong lúc sút y ra cửa, tôi lại vấp phải một cái xô đựng nước, khiến khoảng chục con cá tuế đẹp đẽ giãy đành đạch một cách thảm hại trên sàn nhà ướt sũng.

"Xin cậu đừng làm thế chứ, Cậu Noll," Joe phân trần. "Tôi chỉ lên nhà chính để mang đám cá tuế này cho cậu thôi mà."

"Và tao thèm khát gì đống cá ấy hả?" tôi bực tức quát.

Joe thừa hiểu tính tôi. Y liền lươn lẹo: "Có một con cá vược to bằng cái cột cổng ở khúc vực giữa đám sậy dọc theo bờ cao đấy ạ."

Thấy tôi liếc mắt chú ý, y nói tiếp: "Tôi thấy nó sáng nay, và còn nghe tiếng nó quẫy nữa. Nó quẫy một phát nghe tõm như cả bao khoai tây rơi từ trên cầu xuống. Thế nên tôi mới bắt vội mấy con cá tuế này, nghĩ bụng thế nào cậu cũng ra câu nó cho mà xem."

"Mang chúng thả vào chậu nước sạch đi, Joe; còn cô Jane, đong cho y vại bia khác. Tôi sẽ tự nhận với cô Kate vụ làm vỡ vại bia."

Tôi đi lấy cần câu và phụ kiện, xách xô cá tuế và rảo bước băng qua đồng cỏ ra sông. Bờ sông phía gần nhà hơn, cách đó chừng ba trăm thước, cao hơn mặt nước từ hai đến sáu sải chân, thấp nhất là đoạn có cây cầu gạch bắc qua đường dẫn về làng. Bờ bên kia rất thấp, vào mùa hè thường mọc rợp những thảm sậy và bấc lớn, giờ đây tuy đã lụi tàn gần hết nhưng vẫn để lộ vũng nước sâu nơi con cá vược vừa "quẫy tõm như bao khoai tây". Vị trí này nằm đối diện với đoạn bờ cao nhất của chúng tôi—khu The Hanyards được bao bọc bởi dòng sông theo hướng này—và cây cầu nằm cách đó chừng một trăm thước về phía hạ nguồn bên trái tôi. Chỉ trong khoảnh khắc, một con cá tuế béo múp đã được thả xuống khe nước, bơi lội tung tăng hết mức có thể theo sợi cước.

Suốt hơn một tiếng đồng hồ, tôi cứ đi đi lại lại ngắn ngủn dọc bờ sông, giữ khoảng cách vừa đủ với mép nước để vẫn nhìn rõ chiếc phao. Nếu con cá vược thực sự ở đó, nó chẳng mảy may động tĩnh, và dần dần sự háo hức của một kẻ đi câu trong tôi bắt đầu chùng xuống, mắt tôi lơ đễnh phóng qua những đồng cỏ hướng về ngọn tháp nhà thờ, nơi bóng râm của nó bao trùm lấy một cuộc sống mà tôi chẳng bao giờ có thể chạm tới, đang vui tươi trôi dạt về phương bắc. Tôi ở đây và sẽ mãi chôn chân ở đây, như một củ cải già, cho đến khi Thần Chết bứng cả gốc rễ tôi đi.

Bậc thầy Walton đáng kính từng nói rằng câu cá là trò tiêu khiển của những kẻ biết chiêm nghiệm, và qua ngần ấy năm ngẫm nghĩ sự đời, tôi biết ngài nói rất đúng. Nhưng đó hoàn toàn không phải là thú vui dành cho một kẻ đang hừng hực bực dọc; và trong lúc lang thang dọc bờ, tôi quên bén đi mất chiếc phao của mình, cho đến khi bật cười ngắn ngủn với cái đuôi của sự bực bội, tôi nhận ra rằng một chiếc lao xăm cá thực ra chỉ là thứ vũ khí ngớ ngẩn để chém giết một tên lính cao nguyên tưởng tượng, rồi tôi mới sực tỉnh và quay lại với việc câu cấy.

Và chính khoảnh khắc ấy, một sự việc xảy ra mà chưa bao giờ trong đời tôi từng chứng kiến, và suốt mười năm đi câu sau này cũng chưa từng thấy lại. Cần câu của tôi bị giật tung khỏi bờ, lao vút đi dọc theo dòng nước nhanh đến mức tôi phải cắm cổ chạy theo cho kịp nhịp với nó. Quả là một phen động trời, và vào khoảnh khắc đầy phấn khích ấy, tôi sẽ chẳng thèm đổi chỗ cho Jack Dobson làm gì. Không một chút chần chừ, tôi nhảy ùm xuống sông, lội bì bõm ra, tóm lấy phần chuôi cần và giật mạnh.

"To bằng cái cột cổng." Joe nói cấm có sai. Vừa khi tôi giật cần, con cá vược liền ngoi lên mặt nước. Tấm bụng vàng óng trải dài cùng cái mõm dữ tợn dài ngoằn ngoèo khiến tim tôi nhảy thót vì vui sướng. Thà tóm được con cá này còn hơn là được phong chức chỉ huy cả một trung đoàn. Cần câu của tôi cong vút như chiếc liềm khi tôi quần nhau với nó, nhả cước rồi thu vào, hết lần này đến lần khác. Mấy bận tôi nhìn thấy những vạch đen trên tấm lưng lấp lánh của nó lao về phía mình, với vẻ hung ác trong đôi mắt viền đỏ và sự hiểm nguy lộ rõ trong bộ hàm sắc nhọn, nhưng bộ dây cước chắc nịch vẫn chịu đựng được. Mồ hôi túa ra đầm đìa trên trán dẫu tôi đang ngập ngụa tới lưng chừng bụng trong làn nước lạnh ngắt như băng. Từng chút một, tôi vừa chiến đấu vừa lết về phía bờ, rồi lại tiếp tục nhích dần đến gần chân cầu, nơi tôi có thể leo lên được.

Chắc phải mất nửa tiếng đồng hồ tôi mới lùa được nó đến đó, nhưng cuối cùng, bằng cách bất ngờ thả lỏng cho nó bơi đi chục thước cước, tôi đã kịp bám lên bờ và chặn đứng nó trước khi nó kịp lao vào đám gốc sậy. Thế nhưng tai họa lại giáng xuống ngay lúc đó, bởi khi leo lên, tôi bất cẩn làm văng chiếc lao xăm giắt ở cổ áo—nơi tôi cài để cho an toàn—rơi tõm xuống lòng sông.

"Cứ lo giữ con cá đi," một giọng nói vang lên sau lưng tôi, "còn cái lao cứ để tôi."

"Cảm ơn," tôi ngắn gọn đáp lời vì đã hụt hơi, rồi tiếp tục cuộc chiến.

Một người phụ nữ quỳ xuống bên bờ, dùng chiếc roi ngựa khều chiếc lao xăm lại, thò bàn tay thon thả xuống nước vớt nó lên. Sau đó, nàng đứng phía sau tôi, chăm chú theo dõi trận chiến. Con cá vược, dù to lớn và khỏe mạnh đến đâu, cũng bắt đầu kiệt sức, và chẳng mấy chốc tôi đã khiến nó phải quẫy những nhịp ngắn và gấp gáp ở vùng nước nông ngay dưới chân chúng tôi.

Đồng minh mới của tôi đứng lặng lẽ trên bờ, tay thủ sẵn chiếc lao đợi đúng thời khắc. Và khoảnh khắc ấy đã đến: một động tác khéo léo, một cú hợp sức nhịp nhàng, và con cá vược khổng lồ liền cong người búng lên bờ.

"Hơn ba mươi cân là cái chắc!" tôi vui sướng hét lên.

"Làm tốt lắm, tay câu!" nàng cất lời. "Quả là một cảnh tượng tuyệt trần. Tôi đã đứng xem anh suốt từ nãy đến giờ. Lúc anh nhảy ùm xuống sông, tôi cứ ngỡ anh định tự tử chứ. Anh cứ đi đi lại lại với bộ dạng vô cùng tuyệt vọng và chán chường."

Lời trêu chọc ấy trao cho tôi dũng khí để nhìn thẳng vào đôi mắt nàng. Tôi tự hỏi liệu chúng có màu đen hay không, nhưng rồi lại tự bác bỏ, bởi mái tóc nàng mang sắc màu của những bông lúa mì đang độ chín vàng chờ lưỡi liềm gặt hái dưới ánh nắng chiều hè. Còn tôi, cao tròn sáu phút trong đôi tất, vậy mà hầu như chẳng phải cúi đầu xuống mấy khi nhìn vào mắt nàng. Gương mặt nàng đẹp vượt ngoài mọi trí tưởng tượng của tôi. Tôi từng vẽ ra trong đầu những viễn cảnh về nàng Dido mê đắm Aeneas, về Cleopatra khuất phục Antony theo ý thích. Nhưng những hình ảnh trau chuốt trong mơ màng ngày thường của tôi chưa từng tạo ra nổi một kỳ quan bằng da bằng thịt đang đứng trước mặt thế này đây. Tôi cảm giác như kẻ được nhấm nháp một ngụm vang quý hiếm và đậm đà, thầm tự hỏi tại sao thần linh lại ban ơn cho mình đến thế. Và hơn nữa, giữa lúc những chuyện cỏn con cứ chen lấn với điều to tát trong tâm trí, tôi nhận ra đây mới chính là vị hoàng hậu đích thực từng khiến Joe Braggs phải lóa mắt.

"Anh gọi nó là gì thế?" nàng hỏi, cúi đầu nhìn con cá.

"Thưa phu nhân, là cá vược, hay cá chó ạ."

"'Bạo chúa của những vùng bình nguyên nước', như cách gọi của ông Pope. Anh từng nghe về nhà thơ Pope chưa?" Nàng cất lời như thể "Không" là câu trả lời duy nhất có thể xảy ra.

"Thành thật mà nói là chưa, thưa phu nhân," tôi điềm đạm đáp, "nhưng tôi đã đọc những tác phẩm được gọi là thơ của ông ta." Nàng chau mày. "Horace gọi loài cá này," tôi nói tiếp, "là lupus, có thể xem là cá-sói, và đó là một cái tên rất chuẩn xác. Chắc hẳn phu nhân từng nghe danh Horace rồi chứ."

Câu nói đùa của tôi làm đôi mắt nàng lóe lên một tia sáng và đôi gò má ửng lên một sắc hồng rực rỡ hơn.

"Rồi, từng nghe qua," nàng đáp, giọng thoảng chút tiếc nuối. "Và giờ đây, hỡi Nimrod của những vùng bình nguyên nước, từ đây đến tiệm rèn của làng bao xa?"

"Chưa đầy một dặm đâu, thưa phu nhân."

"Và mất bao lâu để đóng một bộ móng ngựa?"

"Dạ, mấy chiếc móng hả phu nhân?"

Lại một tia sáng lóe lên trong đôi mắt nàng, và lần này tôi thấy thấp thoáng cả sắc xanh thẳm trong đó.

"Một chiếc thôi, thưa anh," nàng cụt ngủn đáp.

"Từ mười đến mười lăm phút, thưa phu nhân."

"Hắn ta chậm chạp quá nhỉ," nàng lẩm bẩm.

"Chắc hôm nay bác thợ rèn đang bận túi bụi."

"Bận rộn ư? Sao lại thế?"

"Đám long kỵ binh có lẽ đã giao cho bác ấy khối việc," tôi đáp, đó chỉ là cách tôi giải thích cho sự chậm trễ. Nhưng những lời ấy lại đâm phăng vào tim nàng. Nàng đặt tay lên tay áo tôi, thảng thốt kêu lên: "Long kỵ binh! Ý anh là sao? Nói mau!"

"Công tước xứ Cumberland đang hành quân về phía bắc từ Lichfield để dẹp phe Stuart, và trung đoàn long kỵ binh của Lãnh chúa Brocton đang có mặt trong làng."

"Brocton! Ồ Chúa ơi! Brocton! Cha tôi bị bắt rồi! Lại còn bị chính Brocton bắt!" Nàng thốt lên trong cơn hoảng loạn, và tôi nhận ra nàng đã bị tổn thương sâu sắc. Thế mà tôi lại cảm thấy vui mừng—trái tim con người mới kỳ lạ làm sao—khi cái tên rơi ra từ đôi môi nghẹn ngào ấy lại chính là Lãnh chúa Brocton. Ôi, ước gì tôi được giáng một đòn chí mạng vào kẻ mà người cha khốn kiếp của hắn đã bức hại cha tôi đến chết trước thời hạn!

Trong bầu không khí sắc lạnh và giá buốt, âm thanh có thể truyền đi rất xa trên những đồng cỏ của The Hanyards. Những ngọn đồi bao bọc thung lũng phía tây có lẽ đã đóng vai trò như một chiếc bảng cộng hưởng. Dù thế nào đi nữa, mọi câu hỏi tiếp theo về nỗi rắc rối của nàng đã bị cắt đứt bởi tiếng móng ngựa khua lọc cọc từ đằng xa. Lúc này chúng tôi đang đứng cách cây cầu chưa đầy chục bước chân. Một hàng rào lưa thưa mọc trên bờ đất thấp, vắt ngang qua tận cây cầu nhờ một chiếc bậc leo qua rào, đã ngăn cách cánh đồng với con đường lớn. Tôi lao về phía chiếc bậc rào, thận trọng rướn đầu qua sát mặt đất. Nửa dặm đường bằng phẳng trải dài về bên phải hướng về phía làng, và dọc theo con đường ấy, cách đây chưa đầy sáu trăm thước, một tiểu đội long kỵ binh đang phi nước đại hướng về phía chúng tôi. Hàng rào vừa thưa lại vừa trơ trụi chẳng còn một chiếc lá, đến chỗ ẩn nấp cho một con thỏ cũng không có. Tôi quay phắt lại.

"Long kỵ binh," tôi nói.

"Chúng đang truy lùng tôi," nàng điềm nhiên đáp, và tôi nhận ra sự nguy hiểm cận kề chẳng hề khiến nàng nao núng.

Tôi đá cho con cá vược nằm im bất động, vứt nó xuống chân bờ rào cùng với chiếc cần câu, kéo xốc nàng chạy đến chỗ bậc rào, nhảy tõm xuống nước, ôm gọn nàng vào lòng và mang chui xuống gầm cầu. Chưa đầy một phút sau khi tôi ngừng lội, đám long kỵ binh đã rầm rập phóng qua ngay trên đầu chúng tôi.

Mới cách đây một tiếng đồng hồ, tôi còn đang khắc khoải khao khát cuộc sống và những chuyến phiêu lưu, thế mà giờ đây, tôi đang ngập ngụa nước đến tận thắt lưng, ôm trọn một nữ thần trong vòng tay. Cánh tay phải của nàng vòng qua cổ tôi, và má nàng áp sát đến nỗi tôi có thể cảm nhận hơi thở ấm áp, ngọt ngào của nàng phả vào mặt mình. Khi những tiếng động dần chìm đi, tôi quay lại nhìn vào gương mặt nàng, và tôi đã nhận được phần thưởng xứng đáng. Đôi mắt nàng nói cho tôi biết rằng nàng vô cùng cảm kích và tin tưởng tôi.

"Làm tốt lắm, tay câu!" nàng cất lời lần thứ hai.

"Nặng cân hơn cả con cá vược đấy," tôi đáp, xốc nàng dịch ra xa mép nước nhất có thể trước khi lội ngược trở lại. Một phút sau, tôi đặt nàng lên bờ với mái tóc vàng rối bù và gương mặt đỏ bừng như lửa cháy. Tôi soi xét nàng từ đầu đến chân rồi đắc ý kêu lên: "Chẳng ướt một sợi tơ!"

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.