Tu viện Immaru
Khu tự trị Tây Tạng
Kate nheo mắt, cố đọc cuốn nhật ký. Mặt trời đang lặn sau rặng núi và nỗi lo sợ đang mỗi lúc một dâng lên trong cô. Cô liếc nhìn David, vẻ mặt anh gần như vô cảm, không dò thấu nổi. Có lẽ là hơi thoáng một chút u sầu.
Như đọc được tâm trí cô, Milo bước vào căn buồng rộng lát gỗ với một ngọn đèn khí. Kate thích mùi đèn ấy; không hiểu sao nó khiến cô yên tâm hơn.
Milo đặt cây đèn lên bàn cạnh giường, để ánh sáng chiếu được vào cuốn nhật ký, rồi nói, “Chào buổi tối, bác sĩ Kate...” Khi thấy David đã tỉnh, mặt cậu liền tươi lên. “Và xin chào, anh Ree...”
“Giờ tôi là David Vale rồi. Rất vui được gặp lại cậu, Milo. Cậu đã cao lên nhiều đấy.”
“Và không chỉ có thế đâu, anh David ạ. Milo đã học được nghệ thuật giao tiếp cổ xưa có tên là... tiếng Anh.”
David bật cười. “Và đã học rất khá. Lúc ấy tôi đã tự hỏi không biết họ sẽ ném nó đi hay là đưa nó cho cậu - Phiến đá Rosetta ấy.”
“A, người bảo trợ bí mật của tôi cuối cùng cũng đã lộ diện!” Milo lại cúi đầu. “Cảm ơn anh vì món quà ngôn ngữ ấy. Và giờ, cho phép tôi được đền đáp món quà ấy, ít ra là phần nào,” cậu nhướn mày, vẻ bí mật, “bằng bữa tối được không?”
“Được chứ,” Kate cười nói.
David nhìn qua cửa sổ. Tia mặt trời cuối cùng lẩn ra sau ngọn núi như một quả lắc biến mất vào cạnh đồng hồ. “Cô nên nghỉ đi, Kate. Đó là một đoạn đường rất dài đấy.”
“Tôi sẽ nghỉ khi nào chúng ta xong. Đọc sách giúp tôi thư giãn hơn.” Cô lại mở cuốn nhật ký ra.

Ngày 23 tháng 12, 1917
Tôi cố nhìn qua đám bụi đang lắng xuống. Rồi tôi nheo mắt, không tin nổi vào cái mình đang thấy nữa. Chúng tôi đã đào được thêm bậc thang, nhưng còn một thứ gì khác nữa, kéo dài sang bên phải cầu thang - một khe hở, như một vết rạch trên nền kim loại.
“Vào rồi!” Rutger reo lên và lao vào bóng tối cùng màn bụi mù mịt.
Tôi túm lấy hắn, nhưng hắn giật tay tôi ra. Chân tôi đã khá hơn chút ít, giờ tôi chỉ cần uống một, hoặc đôi khi là hai viên thuốc giảm đau một ngày, nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ bắt kịp hắn.
“Anh có muốn chúng tôi theo anh ta không?” viên quản đốc người Marốc hỏi.
“Không,” tôi đáp. Tôi sẽ không hy sinh một người trong bọn họ để cứu Rutger. “Đưa tôi một con chim.” Tôi xách lồng chim hoàng yến, bật đèn trên mũ lên và tiến vào ô cửa tối.
Ô cửa lởm chởm này rõ ràng là kết quả của một vụ nổ hoặc một vụ đứt gãy. Nhưng không phải do chúng tôi gây ra. Chúng tôi chỉ tìm thấy nó mà thôi - các bức tường kim loại phải dày đến gần một mét rưỡi. Khi tôi bước vào công trình mà hội Immari đã đào bới và lặn ngụp suốt gần sáu chục năm để tìm kiếm, một cảm giác kính sợ rốt cuộc cũng choáng ngợp trong tôi. Khu vực đầu tiên là một hành lang, rộng ba mét, dài chín mét. Nó dẫn vào một căn phòng tròn với những vật kỳ diệu mà tôi không biết miêu tả ra sao. Vật đầu tiên khiến tôi chú ý là một góc lõm trên tường với bốn cái ống lớn, như những cái ống nghiệm khổng lồ hình thuôn hoặc những lọ thủy tinh dài, dựng đứng từ sàn lên đến tận trần. Chúng trống rỗng, ngoại trừ một ánh sáng trắng yếu ớt và chút khói mù lơ lửng dưới đáy. Ở xa hơn là hai cái ống khác. Tôi nghĩ một cái đã bị hư hại. Lớp thủy tinh đã bị nứt, và trong đó không có khói. Nhưng cái ống nằm cạnh... bên trong có một thứ gì đó. Rutger cũng nhìn thấy nó, và hắn đang đứng trước cái ống, dường như nó cảm nhận được sự có mặt của chúng tôi. Làn khói tan ra khi chúng tôi lại gần, như một tấm màn vén lên, để lộ bí mật đằng sau nó.
Đó là một con người. Không, một con vượn. Hoặc thứ gì đó giữa hai sinh vật ấy.
Rutger nhìn tôi, lần đầu tiên với một vẻ không phải là vênh váo hay khinh bỉ. Hắn có vẻ bối rối. Có lẽ là sợ nữa. Tôi thì chắc chắn là sợ rồi.
Tôi đặt tay lên vai hắn và tiếp tục nhìn quanh phòng. “Đừng chạm vào thứ gì cả, Rutger.”