Gene Atlantis

Lượt đọc: 495 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 79

❊ ❊ ❊

Kate xem xét vết thương và thay băng cho David, vết thương đang lành dần. Anh sắp tỉnh rồi. Cô hy vọng như vậy. Cô lại cầm cuốn nhật ký lên.

Ngày 9 tháng 8, 1917

Khi Craig ghé thăm ngày hôm qua, y bảo tôi rằng Immari Gibraltar “chỉ là một công ty địa phương nhỏ”. Y thêm vào ngay, “mặc dù chúng tôi là một phần của một tổ chức lớn hơn có mối quan tâm ở cả châu lục này lẫn nước ngoài”. Một công ty địa phương nhỏ chẳng đời nào có thể làm chủ cả nửa bến cảng, và cũng không phải làm vậy thông qua nửa tá công ty bình phong.

Vụ tham quan địa điểm khai quật là dấu hiệu đầu tiên cho thấy Immari không giống với vẻ ngoài của nó. Tôi đến địa chỉ trên tấm danh thiếp của Mallory và thấy một tòa nhà ba tầng xập xệ ở giữa khu bến cảng. Các biển hiệu trên những tòa nhà đều bắt đầu bằng “Công ty Xuất-Nhập khẩu” hoặc “Hàng hải và Vận tải biển” hoặc “Công ty Đóng tàu và Tân trang”. Những cái tên dài thượt và những tòa nhà nhộn nhịp trái ngược hẳn với tòa nhà bê tông tăm tối, như đã bị bỏ hoang, với hai chữ “Immari Gibraltar” viết cẩu thả bằng chữ in hoa màu đen ngay trên cửa ra vào.

Bên trong, một cô tiếp tân đứng bật dậy và nói, “Chào buổi sáng, anh Pierce. Ông Craig đang đợi anh đấy.”

Hoặc là cô ta nhận ra tôi qua bước đi cà nhắc, hoặc là họ không có nhiều khách đến thăm cho lắm.

Đoạn đường xuyên qua văn phòng khiến tôi nhớ đến đại bản doanh của một tiểu đoàn đặt vội tại một thành phố vừa chiếm được sau một trận bao vây, một nơi sẽ nhanh chóng bị bỏ hoang khi tiểu đoàn chiếm được thêm nhiều đất hơn hoặc phải đột ngột rút lui. Một nơi không đảm bảo sự ổn định lâu dài.

Craig tỏ vẻ lịch thiệp, nói với tôi rằng y rất vui vì tôi đã quyết định làm việc với họ. Đúng như tôi đoán, không thấy tăm hơi Kane đâu, nhưng ở đó có một tên khác, trẻ hơn, độ ngoài hai mươi lăm, cỡ tuổi tôi, và giống Kane như lột - nhất là cái cười khẩy đầy vẻ kẻ cả trên mặt hắn. Craig xác nhận nghi ngờ của tôi.

“Patrick Pierce, đây là Rutger Kane. Anh đã gặp cha cậu ấy. Tôi đã mời cậu ấy tham gia buổi tham quan này, vì các anh sẽ làm việc với nhau.”

Chúng tôi bắt tay nhau. Tay hắn rất khỏe, và hắn bóp chặt, gần như hực lên một tiếng. Những tháng nằm liệt giường đã làm tôi yếu đi, và tôi rút tay về.

Kane con có vẻ hài lòng. “Rất vui vì cuối cùng anh cũng đến, Pierce ạ. Tôi đã bảo ba tôi tìm cho tôi một người khai mỏ mới từ mấy tháng nay; cuộc chiến chết tiệt này làm chậm chân tôi thế là đủ rồi.” Hắn ngồi xuống và vắt chân chữ ngũ. “Gertrude!” Hắn liếc qua vai nhìn cô thư ký vừa xuất hiện ở ngưỡng cửa. “Đem cà phê ra đây. Anh uống cà phê chứ, Pierce?”

Tôi không trả lời hắn mà chỉ nhìn Craig và nói bằng giọng vô cảm, “Điều kiện của tôi rất rõ ràng. Tôi nắm quyền quyết định ở hầm mỏ - đó là nếu tôi chấp nhận việc này.”

Craig giơ cả hai tay lên để chặn lời Rutger, rồi y nói nhanh, hy vọng có thể xoa dịu cả hai chúng tôi. “Không có gì thay đổi cả, anh Pierce ạ. Rutger đã làm dự án này gần chục năm rồi, gần như cậu ấy đã lớn lên trong những đường hầm đó! Có lẽ hai anh có nhiều điểm chung lắm đấy, ờ, theo như những gì tôi nghe được. Không, hai anh sẽ làm việc cùng nhau. Cậu ấy sẽ cho anh những lời khuyên vô giá, với hiểu biết của cậu ấy và kỹ năng khai thác mỏ của anh, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ đào xong, hoặc tiến triển rất nhanh.” Y chặn cô thư ký lại khi cô rón rén bê khay cà phê vào. “À Gertrude, cô có thể bỏ hộ cà phê vào phích giữ nhiệt được không? Chúng tôi sẽ đem theo. Ờ, và ít trà cho anh Pierce nữa.”

Lối vào hầm nằm cách văn phòng Immari chừng hơn một cây số rưỡi - trong một nhà kho nằm dọc cảng, ngay cạnh núi Gibraltar. Hay chính xác hơn là hai nhà kho, bên trong liền nhau nhưng bên ngoài lại có hai mặt tiền để nhìn vẫn như hai nhà kho riêng biệt. Một nhà kho lớn như thế này sẽ nổi bật và gây tò mò. Trong khi đó, hai nhà kho kích cỡ trung bình hoàn toàn có thể được dựng lên mà không bị ai chú ý.

Bên trong cái kho khổng lồ ấy, bốn người Phi da nâu sáng đang đợi chúng tôi. Tôi đoán họ là người Marốc. Khi thấy chúng tôi, họ lặng lẽ nhấc một tấm bạt phủ trên một công trình ở giữa nhà kho. Khi tấm bạt được nhấc lên, tôi nhận ra đó chẳng phải là công trình gì cả - đó chính là lối vào hầm. Một cái miệng há hoác trải rộng sang hai bên. Tôi đã chờ đợi một trục hầm nằm dọc, nhưng so với những bất ngờ sau đó thì điều này vẫn chưa là gì.

Có một chiếc xe tải chạy điện. Và hai đường ray lớn dẫn vào trong hầm. Rõ ràng là họ phải chuyển rất nhiều đất ra ngoài.

Craig chỉ vào một khoang xe trống không trên đường ray, rồi chỉ về phía cảng và biển bên ngoài cửa kho. “Chúng tôi đào ban ngày và chở đất ra vào ban đêm, anh Pierce ạ.”

“Các vị đổ đất...”

“Xuống vịnh, nếu có thể. Nếu là đêm trăng tròn thì chúng tôi phải giong thuyền đi xa hơn,” Craig đáp.

Cũng có lý. Đó gần như là lựa chọn duy nhất của họ để tống khứ một lượng đất lớn như vậy.

Tôi đến gần hơn và xem xét trục hầm. Nó được đỡ bằng những súc gỗ lớn, giống như các hầm mỏ ở Tây Virginia, nhưng còn có cả một sợi cáp đen dày nối từ súc gỗ này sang súc gỗ kia, kéo dài hết tầm mắt. Thực ra là hai sợi cáp, mỗi sợi ở một bên trục hầm. Ở bên kia lối vào hầm, sợi cáp bên trái được nối với... một cái điện thoại. Sợi cáp bên tay phải chỉ nối với một cái hộp gắn trên một cây cột. Nó có một cần gạt kim loại, như một cái công tắc. Nguồn điện ư? Chắc chắn là không phải.

Khi đám công nhân Marốc đã lật hết tấm bạt lên, Rutger tiến đến và quát tháo họ bằng tiếng Đức. Tôi hiểu được lõm bõm, và đặc biệt chú ý vào một từ: “feuer”. Lửa. Chỉ nghe từ đó cũng đã đủ khiến tôi rùng mình. Hắn chỉ vào xe tải, rồi đường ray. Đám công nhân có vẻ bối rối. Chắc chắn màn diễn này được dàn dựng dành riêng cho tôi, và tôi liền quay đi, không muốn xem tấn kịch ấy và sự hổ nhục của mấy người công nhân. Tôi nghe thấy Rutger lấy một thứ gì đó, và trên đường ray có tiếng leng keng. Tôi quay lại thì thấy hắn đang châm lửa cho một cái bấc trong một túi giấy tròn bên trên một xe ray tí hon, không to hơn chiếc đĩa là bao. Rutger đặt cái xe lên một đường ray đơn, và mấy người Marốc giúp hắn sử dụng một dụng cụ như cái súng cao su để bắn chiếc đĩa và ngọn lửa vào hầm tối. Cái túi giấy giúp ngọn lửa không bị thổi tắt ngay tức thì.

Một phút sau, chúng tôi nghe thấy một tiếng nổ từ xa vọng lại. Khí nổ. Có lẽ là một túi khí mêtan. Rutger ra hiệu cho đám công nhân Marốc thử một cái nữa, và họ vội vã chạy đến bên đường ray với một xe ray hình đĩa nữa và một túi giấy đầy lửa. Tôi thấy rất ấn tượng, ở Tây Virginia, tôi rất lấy làm tiếc phải nói rằng cách thức của chúng tôi không được tiên tiến như vậy. Gặp phải túi khí mêtan thì chẳng khác nào vớ được quả lựu đạn đã tháo chốt - vụ nổ sẽ xảy ra ngay tức thì và phá hủy tất cả. Nếu hơi lửa không giết ta trước thì vụ sập hầm cũng sẽ giết ta.

Đây là một hầm mỏ nguy hiểm.

Chúng tôi nghe thấy tiếng nổ thứ hai, lần này ở sâu hơn.

Đám công nhân Marốc chuẩn bị và ném một túi thử thứ ba.

Chúng tôi đợi một lát, và khi không nghe thấy tiếng gì nữa, Rutger liền gạt công tắc trên cái hộp và ngồi vào sau vô lăng xe tải. Craig vỗ lưng tôi. “Chúng ta sẵn sàng rồi, anh Pierce.” Craig ngồi vào ghế hành khách, còn tôi ngồi ở băng ghế sau. Rutger lái bừa vào hầm, suýt nữa đâm phải đường ray ở cửa, nhưng hắn kịp đánh tay lái vào phút cuối để đi lên giữa đường ray, rồi lái thẳng tới trước, đưa chúng tôi đi vào sâu hơn trong lòng đất, như những nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết của Jules Verne. Có lẽ là cuốn Hành trình tới tâm Trái Đất.

Đường hầm tối om, chỉ có hai ngọn đèn pha lờ mờ của chiếc xe tải, hầu như chỉ chiếu sáng nổi một khoảng trước mũi xe ba mét. Chúng tôi lái đi rất nhanh trong gần một giờ đồng hồ, và tôi không thể nói nổi một lời, mà có muốn nói thì cũng chẳng ai nghe nổi giữa tiếng ầm ĩ này. Kích cỡ của khu mỏ thật không thể tưởng tượng được. Các đường hầm đều rộng và cao, và - tôi lấy làm hổ thẹn khi nhận ra điều này - được đào rất, rất cẩn thận. Đây không phải là những đường hầm đào tìm kho báu; chúng là những lối đi ngầm dưới đất, được xây để trường tồn.

Mấy phút đầu khi chúng tôi mới vào mỏ, xe liên tục rẽ. Hẳn chúng tôi đã đi theo một đường hầm xoắn ốc, như một cái mở nút chai đâm sâu vào lòng đất, đủ sâu để vào tận dưới lòng vịnh.

Đường xoắn ốc đưa chúng tôi đến một khu vực tập kết rộng rãi hơn, chắc chắn được dùng để sắp xếp và cất trữ nhu yếu phẩm. Tôi chỉ thoáng thấy mấy kiện hàng và hộp chứa trước khi Rutger lại rồ máy cho xe lao vào đường hầm thẳng với tốc độ còn khủng khiếp hơn trước. Chúng tôi cứ đi mãi xuống dốc, và tôi gần như có thể cảm thấy không khí đang ẩm hơn theo mỗi giây. Có nhiều ngã rẽ đâm ra từ đường hầm, nhưng không gì khiến Rutger chậm lại. Hắn lái xe như điên, lạng phải lạng trái, suýt thì không kịp rẽ. Tôi bám chặt vào ghế. Craig cúi người chạm vào tay Rutger, nhưng tôi không nghe được giọng y giữa tiếng đinh tai nhức óc của động cơ xe. Dù y có nói gì thì Rutger cũng có vẻ không quan tâm. Hắn đẩy tay Craig ra và lao đi còn nhanh hơn trước. Động cơ rít lên, và các đường hầm lao qua vun vút.

Rutger đang lái bạt mạng như thế để chứng tỏ hắn nắm rõ các đường hầm này dù là trong bóng tối, rằng đây là lãnh địa của hắn, rằng hắn đang nắm tính mạng tôi trong tay. Hắn muốn dọa tôi. Đã hiệu nghiệm rồi đấy.

Đây là khu mỏ lớn nhất tôi đã từng đặt chân đến. Mà ở vùng núi Tây Virginia đâu có thiếu những khu mỏ khổng lồ.

Cuối cùng, đường hầm dẫn đến một khu vực rộng, hình thù gồ ghề - như thể đây là nơi những người thợ mỏ đã tìm hướng đi và đào nhầm một vài chỗ. Đèn điện treo từ trên trần xuống, chiếu sáng những vết lỗ chỗ và hố khoan trên vách, nơi đã bị cho nổ để tạo đường hầm rồi bị bỏ không. Tôi thấy một chồng dây cáp đen nữa chất đống cạnh một cái bàn, trên đặt một chiếc điện thoại nữa, chắc hẳn là điện thoại nối với mặt đất.

Đường ray cũng đến đây là dừng. Ba chiếc xe ray thu nhỏ nằm cạnh nhau ở điểm cuối đường ray, phía đầu bên kia căn hầm. Phần trên của hai khoang xe đã bị nổ tung. Khoang xe thứ ba nằm im lặng cạnh hai khoang kia; ngọn lửa của nó chập chờn liên tục trong lúc nó cào cấu cố hút lấy chút ôxy trong căn hầm ẩm thấp.

Rutger tắt động cơ, nhảy ra và thổi tắt ngọn nến.

Craig đi theo hắn và hỏi tôi, “Anh nghĩ sao, Pierce?”

“Đường hầm ấn tượng đấy.” Tôi nhìn quanh, quan sát căn hầm kỳ lạ này kỹ lưỡng hơn.

Rutger đến cạnh chúng tôi. “Đừng làm bộ nữa, Pierce. Anh chưa bao giờ thấy cái gì như thế này.”

“Tôi có nói thế đâu.” Rồi tôi nói với Craig. “Các vị có vấn đề với mêtan.”

“Đúng thế, vấn đề mới nảy sinh đấy. Chúng tôi mới bắt đầu đào phải các túi khí từ năm ngoái. Rõ ràng là chúng tôi hơi thiếu sự chuẩn bị. Chúng tôi đã tưởng rằng nước sẽ là mối nguy lớn nhất trong cuộc khai quật này.”

“Nghĩ như vậy cũng là hợp lý thôi.” Mêtan là mối nguy luôn rình rập ở rất nhiều mỏ than đá. Tôi không bao giờ nghĩ ở đây lại có mêtan, một nơi không có than đá, dầu, hay bất kỳ thứ quặng nguyên liệu nào.

Craig chỉ tay lên đầu chúng tôi. “Chắc hẳn anh đã nhận ra rằng mỏ có độ dốc đều - khoảng chín độ. Điều anh cần biết là đáy biển trên đầu chúng ta có độ dốc chừng mười một độ. Ở đây nó chỉ cách chúng ta khoảng hơn bảy mươi mét thôi - chúng tôi tin là vậy.”

Tôi hiểu ra ngay lập tức, và tôi không thể giấu nổi sự ngạc nhiên. “Các anh nghĩ các túi khí mêtan là từ đáy biển ư?”

“Vâng, tôi e là vậy.”

Rutger cười khẩy như thể chúng tôi là hai bà già đang buôn chuyện.

Tôi ngắm nóc hầm. Craig đưa cho tôi một cái mũ bảo hộ và một cái ba lô nhỏ. Rồi y ấn một cái công tắc bên cạnh mũ, và cái mũ sáng lên. Tôi tò mò nhìn cái mũ hồi lâu, rồi đội nó lên, quyết định sẽ chú ý vào điều bí hiểm lớn hơn trước mắt.

Đá trên trần đều khô - một dấu hiệu tốt. Mối nguy mà không ai nhắc đến đó là nếu một túi khí mêtan bị nổ và nó đủ lớn để kéo dài tới tận đáy biển, thì vụ nổ sẽ rất khủng khiếp, kéo theo một cơn lũ có thế làm sập toàn bộ hầm gần như ngay tức khắc. Ta có thể bị chết cháy, chết đuối, hoặc bị đè bẹp. Hoặc là kết hợp của cả ba. Chỉ một đốm lửa thôi - từ một cái cuốc chim, từ một hòn đá rơi, từ ma sát do bánh xe trên đường ray - có thể khiến cả hầm nổ tung.

“Nếu túi khí nằm ở trên, giữa đường hầm và biển, thì tôi không thấy có lựa chọn nào khác. Các anh sẽ phải đóng hầm này và tìm đường khác,” tôi nói.

Rutger xì một tiếng. “Tôi đã bảo rồi mà, Mallory. Hắn không đủ sức đâu. Chúng ta đang phí thời gian với gã què hèn nhát người Mỹ này.”

Craig giơ một tay lên. “Một phút thôi, Rutger. Chúng ta đã trả tiền cho anh Pierce đến đây; hãy xem thử anh ấy nói gì.”

“Anh định sẽ làm gì, anh Pierce?”

“Không gì cả. Tôi sẽ bỏ dự án này. Lợi nhuận không thể đáng với cái giá phải trả - dù là về người hay về của.”

Rutger đảo mắt và bắt đầu đi vơ vẩn quanh hầm, không để ý gì đến Craig và tôi.

“Tôi e là chúng tôi không thể làm vậy,” Craig nói.

“Các anh đang tìm kho báu.”

Craig chắp tay sau lưng và đi vào sâu hơn trong hầm. “Anh đã thấy kích cỡ của nơi này rồi đấy. Anh biết chúng tôi không phải những kẻ đi tìm kho báu. Vào năm 1861, chúng tôi cho đánh chìm một con tàu ở vịnh Gibraltar: con tàu có tên là Utopia [[1]]. Một trò đùa nội bộ nho nhỏ. Chúng tôi bỏ ra năm năm sau đó để lặn xuống vị trí tàu bị đắm, dùng nó làm vỏ bọc cho thứ chúng tôi đã phát hiện ra bên dưới - một công trình nằm cách bờ biển Gibraltar hơn một cây số rưỡi. Nhưng chúng tôi đã xác định rằng chúng tôi không thể tiếp cận nó từ đáy biển - nó nằm quá sâu, và công nghệ lặn của chúng tôi chưa đủ tiên tiến và không thể phát triển đủ nhanh. Và chúng tôi sợ gây sự chú ý. Chúng tôi đã quanh quẩn quá lâu tại địa điểm đắm của một tàu buôn thông thường.”

“Một công trình ấy à?”

“Phải. Một thành phố hoặc một ngôi đền gì đó.”

Rutger đi lại chỗ chúng tôi và quay lưng về phía tôi, đối mặt với Craig. “Hắn không cần biết chuyện này. Hắn sẽ muốn thêm tiền công nếu hắn nghĩ chúng ta đang đào tìm một thứ có giá trị. Bọn Mỹ cũng tham lam không kém gì lũ Do Thái.”

Craig cao giọng hơn. “Im đi, Rutger.”

Chẳng khó gì để lờ tên oắt con này đi. Trí tò mò của tôi đã bị kích thích. “Làm sao các anh biết phải đánh chìm con tàu ở đâu, đào ở chỗ nào?” tôi hỏi.

“Chúng tôi... đã có một khái niệm chung chung.”

“Dựa trên cơ sở nào?”

“Một vài tài liệu lịch sử.”

“Sao các anh biết hiện giờ ta đang ở dưới địa điểm đắm tàu?”

“Chúng tôi dùng la bàn và tính khoảng cách, xét thêm cả độ dốc của đường hầm nữa. Chúng ta đang ở ngay dưới địa điểm đó. Và chúng tôi có bằng chứng.” Craig bước tới vách hầm và với tay về phía mặt đá - không, đó là một tấm vải đen cáu bẩn mà tôi cứ ngỡ là đá. Y giật tấm vải phủ xuống sàn, để lộ ra... một lối đi, như một khoang của con tàu khổng lồ.

Tôi tiến lại gần, chiếu đèn trên mũ vào chỗ kỳ lạ đó. Tường có màu đen, rõ ràng là bằng kim loại, nhưng chúng lấp lánh theo một kiểu khác, không thể miêu tả được, tựa hồ chúng là vật sống và đang phản ứng lại với ánh đèn của tôi, như một tấm gương bằng nước. Và có những ngọn đèn lấp lánh trên trần và dưới sàn lối đi. Tôi ngó qua góc tường và thấy đường hầm dẫn tới một cánh cửa hoặc một lối ra gì đó.

“Cái gì thế này?” tôi thì thào.

Craig ngó qua vai tôi. “Chúng tôi tin rằng đây là Atlantis. Thành phố mà Plato đã miêu tả. Vị trí phù hợp. Plato nói rằng Atlantis xuất hiện từ dưới lòng Đại Tây Dương và nó là một hòn đảo nằm phía trước eo biển ở cạnh Những Cột Đá của Hercules...”

“Những Cột Đá của Hercules...”

“Chúng ta gọi chúng là Những Cột Đá của Hercules. Núi Gibraltar chính là một trong những Cột Đá của Hercules. Plato đã nói rằng Atlantis thống trị cả châu Âu, châu Phi và châu Á, và nó là đường dẫn tới các châu lục khác. Nhưng nó đã sụp đổ. Theo lời của Plato: ‘Đã có những vụ động đất và lũ lụt khủng khiếp; và chỉ trong vòng một ngày một đêm bất hạnh, tất cả người dân thiện chiến đều chìm xuống lòng đất, và hòn đảo Atlantis cũng theo đó mà biến vào lòng biển sâu.’”

Craig bước ra xa khỏi nơi kỳ lạ kia. “Đây chính là nơi đó. Chúng tôi đã tìm thấy nó. Giờ anh đã hiểu vì sao chúng tôi không thể dừng ở đây được, anh Pierce ạ. Chúng tôi đã tới rất, rất gần rồi. Anh có tham gia cùng chúng tôi không? Chúng tôi cần anh.”

Rutger cười phá lên. “Anh đang phí thời giờ đấy, Mallory. Hắn sợ chết khiếp rồi; nhìn mắt hắn là tôi biết.”

Craig nhìn thẳng vào tôi. “Đừng để ý đến cậu ta. Tôi biết việc này rất nguy hiểm. Chúng tôi có thể trả cho anh hơn một ngàn đô một tuần. Anh hãy cho tôi biết việc này đáng giá bao nhiêu.”

Tôi nhìn vào đường hầm, rồi lại nhìn lên trần. Trần khô ráo. “Để tôi nghĩ xem đã.”

[1] Thuật ngữ chỉ một cộng đồng hoặc xã hội giả tưởng gần như hoàn hảo về mọi mặt.

Dịch giả Lê Minh Đức
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.