Gene Atlantis

Lượt đọc: 610 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 72

❊ ❊ ❊

Tu viện Immaru

Vùng tự trị Tây Tạng

Kate đỡ đầu David lên trong lúc anh nuốt mấy viên kháng sinh với nước từ một chiếc chén sành. Chút nước còn lại tràn xuống miệng anh, và cô lấy áo mình lau đi. Cả sáng nay anh vẫn cứ lúc mê lúc tỉnh.

Cô lại mở cuốn nhật ký ra.

Tôi dẫn lính của mình qua đường hầm, giơ ngọn nến ra trước mặt. Chúng tôi đã gần đến nơi, nhưng tôi dừng lại, giơ tay lên trong lúc đám lính vấp phải lưng tôi. Có phải tôi vừa nghe thấy gì đó không? Tôi cắm cái âm thoa xuống đất và quan sát nó, chờ đợi kết luận. Nếu nó rung thì tức là quân Đức đang đào hầm gần chỗ chúng tôi. Chúng tôi đã phải bỏ dở hai đường hầm vì sợ sẽ đụng phải chúng. Đường hầm thứ hai chúng tôi đã cho nổ sập ngay bên dưới chúng, hy vọng có thể làm chúng chậm bước.

Chiếc âm thoa không động đậy. Tôi nhét nó vào đai đeo dụng cụ, rồi chúng tôi tiếp tục dấn sâu hơn vào bóng tối, ngọn nến hắt những cái bóng leo lét lên hai vách đất và đá. Bụi và sỏi rơi lả tả xuống đầu chúng tôi trong lúc chúng tôi bước đi.

Rồi cơn mưa đất đá bỗng dừng lại. Tôi ngước lên và đưa nến lại gần, cố nhìn xem chuyện gì đã xảy ra.

Tôi quay người và quát, “Lùi lại!” đúng lúc trần hầm sập xuống và địa ngục tràn vào. Ánh nến lờ mờ tắt ngóm trong lúc tôi bị đẩy ngã xuống đất. Lớp đất đá đè cứng lấy chân tôi, và tôi suýt ngất xỉu.

Quân Đức nhảy xuống, gần như ngay trên người tôi, và bắt đầu nã súng, giết chết hai cậu lính của tôi ngay tại chỗ. Ánh lửa lóe ra từ nòng súng máy của chúng và tiếng gào thét của những người sắp chết là thứ duy nhất chỉ cho tôi biết cảnh tàn sát đang ở đâu.

Tôi rút súng lục ra và bắn chúng ở cự ly gần, giết hai tên đầu tiên, chắc hẳn chúng tưởng tôi đã chết hoặc không nhìn thấy tôi trong bóng tối. Nhiều quân Đức tiếp tục tràn xuống, và tôi bắn cả chúng nữa. Năm, sáu, bảy tên đã chết, nhưng chúng vẫn kéo đến thành một hàng vô tận, cả một trung đoàn, sẵn sàng xuyên qua đường hầm và chọc thủng phòng tuyến của quân Đồng minh. Sẽ là một vụ thảm sát. Tôi hết đạn rồi. Tôi ném khẩu súng lục trống không đi và lấy ra một quả lựu đạn. Tôi cắn chốt giật ra rồi lấy hết sức ném nó vào đường hầm của quân Đức ở bên trên, vào chân đợt quân mới đang dồn lên. Hai giây dài dằng dặc trôi qua trong lúc chúng tiếp tục nhảy xuống và nã súng vào tôi, rồi vụ nổ rung chuyển tất cả, khiến đường hầm của chúng sập xuống và làm cả hai đường hầm nát vụn quanh tôi. Tôi đã bị đè bẹp. Tôi không thể ngồi dậy và sẽ không thể thoát nổi, đất đá làm tôi nghẹt thở, nhưng rồi đột nhiên có những bàn tay túm lấy tôi...

Cô y tá đang ngồi đó, lau mồ hôi trên trán tôi và đỡ đầu tôi.

“Chúng đã rình đợi chúng tôi... đào lấn vào đường hầm của chúng tôi trong đêm... chúng tôi không có cơ hội...” tôi nói, cố giải thích.

“Tất cả đã qua rồi. Chỉ là một cơn ác mộng thôi.”

Tôi đưa tay sờ xuống chân, như thể chạm vào nó sẽ giúp cơn đau thon thót kia dừng lại. Cơn ác mộng chưa kết thúc. Sẽ không bao giờ kết thúc.

Cứ mỗi đêm, cơn đau lại càng dữ dội hơn và mồ hôi tôi càng tuôn ra như tắm; chắc hẳn nàng đã nhận ra điều đó. Và đúng thế thật. Cái lọ trắng đang nằm trong tay nàng và tôi nói, “Chỉ một chút thôi. Tôi phải chặn cơn đau lại.”

Tôi uống một ngụm, và con quái vật tạm lui. Và tôi cũng ngủ được chút ít.

Khi tôi thức giấc, nàng đang có mặt ở đó, ngồi đan len trong góc phòng. Trên bàn cạnh giường tôi là ba cái ly nhỏ đựng thứ chất lỏng màu nâu sẫm - phần thuốc phiện trong ngày của tôi, cho tôi lượng moócphin và codein mà tôi cần đến tuyệt vọng. Tạ ơn Chúa. Tôi lại bắt đầu vã mồ hôi, và cùng với nó, cơn đau cũng quay trở lại.

“Tôi sẽ về nhà trước khi mặt trời lặn.”

Tôi gật đầu và uống cạn ly đầu tiên.

Mỗi ngày hai ly.

Hàng đêm, nàng đều đọc sách cho tôi nghe, sau giờ làm việc và bữa tối.

Tôi nằm đó, thỉnh thoảng lại chêm vào một lời nhận xét thông minh hoặc một câu bình phẩm dí dỏm. Nàng cười, và nếu tôi đùa có hơi quá trớn thì nàng sẽ tinh nghịch mắng tôi.

Cơn đau gần như đã có thể chịu đựng được.

Mỗi ngày một ly. Tự do.

Gần được rồi. Nhưng cơn đau vẫn còn.

Tôi vẫn chưa đi lại được.

Tôi đã sống cả đời trong hầm mỏ, trong những nơi tối tăm chật hẹp. Nhưng tôi không thể chịu đựng nổi. Có lẽ là do ánh sáng, hoặc không khí trong lành, hoặc việc phải nằm trên giường suốt ngày đêm. Một tháng đã trôi qua.

Hàng ngày, cứ đến gần ba giờ chiều là tôi lại đếm từng phút cho tới khi nàng về nhà. Một người đàn ông, đợi một người phụ nữ trở về nhà. Riêng khái niệm trong câu ấy nghe đã lạ rồi.

Tôi đã bảo nàng thôi làm việc ở bệnh viện. Vi trùng. Bom. Bọn hiếu chiến. Tôi đã thử đủ mọi cách. Nàng không chịu. Tôi không thể thuyết phục được nàng. Tôi chẳng có chân để đứng. Tôi không thể giậm chân giậm cẳng với nàng. Và thêm nữa, tôi lại đang mất trí, tự viết những câu đùa ngớ ngẩn về bản thân mình, cho bản thân mình.

Ngoài cửa sổ, tôi thấy nàng đang bước dọc lối đi. Mấy giờ rồi nhỉ? Hai rưỡi. Nàng về sớm. Và - có người đi cùng nàng. Trong một tháng kể từ khi tôi ở đây, nàng chưa bao giờ dẫn một anh chàng nào về nhà. Ý nghĩ ấy chưa bao giờ nảy ra trong đầu tôi, và giờ thì nó khiến tôi thấy cực kỳ khó chịu. Tôi cố nhìn ra ngoài cửa sổ cho rõ hơn, nhưng không thấy họ nữa. Họ đã vào nhà.

Tôi cuống cuồng chỉnh lại giường chiếu và cắn răng chịu cơn đau âm ỉ để nhấc mình dậy, để tôi có thể ngồi thẳng thớm trên giường và tỏ ra mạnh khỏe hơn thực chất. Tôi cầm một cuốn sách lên và bắt đầu đọc, nhưng cầm ngược. Tôi ngước lên và chỉnh lại cuốn sách đúng lúc Helena bước vào. Một lão già điệu bộ, để ria, đeo kính một tròng và mặc bộ vét kèm cả áo gilê bám sát gót nàng như một con chó săn mồi tham lam.

“A, anh đã bắt đầu đọc sách rồi đấy à. Anh chọn cuốn nào vậy?” Nàng hơi đẩy cuốn sách về phía tôi, đọc tựa đề và hơi nghiêng đầu sang bên. “Hừm, Kiêu hãnh và Định kiến. Một trong những cuốn tôi thích nhất.”

Tôi gập vội cuốn sách lại và ném nó lên bàn như thể nàng vừa bảo tôi nó có dính mầm dịch hạch. “À, vâng, ta phải hiểu biết về những chuyện như thế này. Và, biết trân trọng các... tác phẩm kinh điển.”

Lão già đeo kính một tròng nhìn nàng với vẻ sốt ruột. Hẳn lão muốn nhanh chóng đi vào việc chính - xa khỏi tên què nằm trong buồng ngủ dành cho khách này.

“Patrick, đây là Damien Webster. Ông ấy đã từ tận Mỹ đến đây để gặp anh. Ông ấy không chịu cho tôi biết là vì việc gì.” Nàng nhướn mày lên, vẻ bí mật.

“Rất hân hạnh, anh Pierce. Tôi đã từng quen cha anh.”

Thì ra không phải lão theo đuổi nàng. Khoan đã, đã từng quen cha tôi.

Webster có vẻ cũng nhận ra sự bối rối của tôi. “Chúng tôi đã gửi điện đến bệnh viện. Anh không nhận được sao?”

Cha tôi đã mất, nhưng lão không đến vì việc này. Thế thì là vì cái gì?

Helena lên tiếng trước tôi. “Thiếu tá Pierce đã ở đây cả tháng nay rồi. Một ngày bệnh viện nhận được rất nhiều điện tín. Ông có việc gì vậy, ông Webster?” Giọng nàng đã trở nên nghiêm nghị.

Webster trừng mắt nhìn nàng. Có lẽ lão không quen với việc một người phụ nữ nói chuyện với mình như vậy. Lão nên gặp nhiều phụ nữ như vậy hơn mới phải. “Tôi có một vài việc. Thứ nhất là gia tài của cha anh...”

Ngoài cửa sổ, một con chim đậu xuống đài phun nước. Nó nhảy nhót, nhúng đầu xuống nước, rồi lại ngẩng lên và giũ cho sạch nước.

“Cha tôi mất như thế nào?” tôi hỏi, vẫn tập trung nhìn con chim.

Webster nói nhanh, như cho xong chuyện, cho đỡ phiền toái. “Tai nạn xe hơi. Cả cha và mẹ anh đều chết ngay tức khắc. Tôi đã luôn bảo những cỗ máy đó rất nguy hiểm mà. Họ qua đời rất êm ái. Không đau đớn gì, tôi có thể đảm bảo với anh như vậy. Giờ thì...”

Tôi cảm thấy một nỗi đau khác, một cảm giác cô đơn trống trải đè nặng lấy tôi, như trong tôi có một vực thẳm mà tôi không thể lấp đầy. Mẹ tôi đã ra đi. Giờ hẳn đã được chôn cất. Tôi sẽ không bao giờ gặp lại bà nữa.

“Như vậy có được không, anh Pierce?”

“Gì cơ?”

“Tài khoản ở Ngân hàng First National ở Charleston. Cha anh đã rất tiết kiệm. Trong tài khoản có gần hai trăm ngàn đô cơ đấy.”

Tiết kiệm đến mức bủn xỉn.

Webster rõ ràng là đang sốt ruột và tuôn ra một tràng nữa, mong tôi sẽ đáp lại. “Tài khoản đứng tên anh. Không có di chúc, nhưng vì anh không có anh chị em nên cũng không thành vấn đề.” Lão đợi thêm một lát. “Chúng tôi có thể chuyển tiền đến một ngân hàng ở đây.” Ông ta liếc nhìn Helena. “Hoặc ở Anh nếu anh muốn...”

“Trại trẻ mồ côi bang Tây Virginia. Nó ở Elkins. Hãy chuyển toàn bộ số tiền trong tài khoản cho họ. Và đảm bảo họ biết rằng đó là tiền của cha tôi.”

“Ờ, vâng, thế cũng... được. Tôi có thể hỏi vì sao không?”

Một câu trả lời thành thực sẽ là “vì ông ấy không muốn tôi có số tiền đó” hay chính xác hơn là, “vì ông ấy không thích con người hiện nay của tôi”. Nhưng tôi không nói gì, có lẽ vì Helena đang có mặt trong phòng hoặc có lẽ vì tôi nghĩ lão luật sư láu cá này không đáng nhận được một câu trả lời trung thực. Thay vào đó, tôi chỉ lầm bầm gì đó đại loại như, “Cha tôi sẽ muốn như vậy.”

Lão liếc nhìn chân tôi, cố tìm từ thích hợp. “Như vậy cũng tốt thôi, nhưng lương hưu quân đội thì... không nhiều nhặn gì cho cam, ngay cả với bậc thiếu tá. Tôi nghĩ anh sẽ muốn giữ một phần tiền, khoảng một trăm ngàn đô chẳng hạn?”

Giờ tôi nhìn thẳng vào lão. “Tại sao ông không cho tôi biết thực ra ông đến đây vì lý do gì? Tôi nghĩ không phải là vì gia tài hai trăm ngàn đô của cha tôi.”

Lão có vẻ sững sờ. “Tất nhiên rồi, anh Pierce. Tôi chỉ đang cố tư vấn... vì lợi ích của anh mà thôi. Thật ra, tôi đến đây chính vì chuyện đó. Tôi đem đến một tin nhắn của ngài Henry Drury Hatfield, thống đốc bang Tây Virginia vĩ đại. Ngài muốn anh - ờ, trước hết ngài muốn gửi tới anh lời chia buồn sâu sắc vì mất mát của anh, cũng như của toàn bang và của toàn đất nước nữa. Ngoài ra, ngài cũng muốn anh biết ngài sẽ sẵn sàng bổ nhiệm anh vào ghế của cha anh trong Nghị viện Mỹ, vì quyền hạn này vừa được trao cho ngài bởi cơ quan lập pháp của bang.”

Giờ tôi đã bắt đầu hiểu ra tại sao nhà McCoy lại ghét đám rắn độc này đến vậy [[1]]. Henry Hatfield là cháu trai của Devil Hatfield, trưởng gia tộc Hatfield khét tiếng. Thống đốc không thể tranh cử cho nhiệm kỳ thứ hai. Ông ta đã muốn giành cái ghế nghị viện đó cho chính mình hai năm trước, nhưng năm trước đó các bang đã phê chuẩn Tu chính án số Mười bảy, cho phép các nghị sĩ Mỹ được bầu trực tiếp, khiến những cơ quan lập pháp thối nát của bang và những kẻ giật dây như Hatfield mất quyền. Cha tôi là một trong những nghị sĩ được người dân bầu nhiều nhất. Cái chết của ông và chuyện tiền nong, giờ đã có vẻ hợp lý hơn. Nhưng việc bổ nhiệm thì không.

Webster không để điều bí ẩn kéo dài lâu. Lão tựa người vào chân giường, nói chuyện như thể chúng tôi đã là bạn quen thân từ lâu. “Tất nhiên, với tư cách là một anh hùng chiến trận, anh sẽ là lựa chọn được lòng dân. Sẽ có một cuộc bầu cử đặc biệt. Như anh biết đấy, bây giờ các nghị sĩ được dân chúng bầu ra,” lão gật đầu, “và cũng nên như thế. Ngài thống đốc sẵn sàng bổ nhiệm anh vào ghế của cha anh với điều kiện anh ủng hộ ngài trong cuộc bầu cử đặc biệt và tham gia chiến dịch tranh cử của ngài. Đổi lại, ngài sẽ vui lòng tiếp tục ủng hộ sự nghiệp của anh. Có lẽ anh sẽ muốn vào quốc hội chẳng hạn. Nghị sĩ Patrick Pierce nghe cũng kêu đấy.” Lão đứng lên khỏi giường và mỉm cười với tôi. “Vậy tôi có thể báo tin vui cho ngài thống đốc rồi chứ?”

Tôi lầm lầm nhìn lão. Tôi chưa bao giờ muốn đứng lên đến thế, muốn dẫn con quỷ này ra cửa và tống lão ra.

“Tôi biết tình hình không lý tưởng lắm, nhưng chúng ta phải biết nắm bắt thời cơ.” Webster hất đầu về phía chân tôi. “Và với những... hạn chế của anh, đây có thể là một cơ hội tốt. Anh sẽ khó tìm được công việc nào tốt hơn...”

“Cút đi.”

“Kìa, anh Pierce, tôi biết...”

“Ông nghe tôi rồi đấy. Và đừng có quay lại. Ông đã có câu trả lời duy nhất ông có được. Bảo lão Hatfield du côn ấy đi mà tự làm những công việc bẩn thỉu của lão, hay là nhờ họ hàng lão ấy. Tôi nghe nói họ giỏi việc đó lắm.”

Lão bước về phía tôi, nhưng Helena đón lấy cánh tay lão. “Đường này, thưa ông Webster.”

Khi lão đã đi rồi, nàng quay trở lại. “Tôi rất tiếc về chuyện cha mẹ anh.”

“Tôi cũng vậy. Mẹ tôi rất tốt và dịu dàng.” Tôi biết nàng có thể thấy tôi đang buồn đau đến mức nào, nhưng tôi không thể kìm nén được nữa.

“Tôi có thể đem cho anh thứ gì không?” Tôi đoán ra là nàng không cố ý làm vậy, nhưng mắt nàng liếc về phía chỗ cái lọ vẫn để bên cạnh giường.

“Có. Một bác sĩ. Cho cái chân của tôi.”

[1] Ý chỉ mối thù hận giữa hai gia đình Hatfield và McCoy ở vùng Tây Virginia-Kentucky, bắt nguồn khi một người nhà McCoy bị một người nhà Hatfield giết trong thời Nội chiến Mỹ (1863) và kéo dài tới tận 1891.

Dịch giả Lê Minh Đức
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.