Điệp Viên Của Czar: Bí Ẩn Mối Tình Câm

Lượt đọc: 92 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
Lâu Đài Kinh Hoàng

❊ ❊ ❊

Gã người Phần Lan cao lớn đã buộc lũ ngựa lại từ trước. Gã đỡ tôi xuống một chiếc thuyền cũ kỹ, nặng trịch rồi chèo xuôi theo dòng sông mùa nước lớn; dòng nước chảy xiết cuồn cuộn qua một khúc ngoặt gấp rồi dường như mở rộng ra mênh mông. Dưới ánh sao đêm, tôi có thể lờ mờ nhận ra mặt nước xám ngắt trải dài phẳng lặng tít tắp, bờ bên kia lởm chởm những rặng thông viền quanh.

“Chúng ta đang đi đâu thế này?” tôi hạ giọng hỏi người dẫn đường. Nhưng gã chỉ thì thào:

“Suỵt! Thưa ngài! Xin ngài hãy kiên nhẫn, rồi ngài sẽ được gặp tiểu thư người Anh.”

Tôi đành ngồi yên trên thuyền, mặc cho gã buông trôi theo dòng nước và chỉ dùng đôi mái chèo to bản, nặng nề để lái. Dòng sông bất chợt thu hẹp lại, hai bên bờ rợp bóng thông cao vút; đó là một khúc sông vắng vẻ, quạnh quẽ vô cùng, có lẽ là một trong những nơi cô tịch nhất trên toàn cõi châu Âu. Có lần, tiếng chó sói tru thảm thiết vang lên ngay sát mạn thuyền chúng tôi lướt qua, nhưng người dẫn đường chẳng hề hé răng một lời.

Đi chừng gần một dặm, dòng nước lại mở ra một mặt hồ rộng lớn. Ở đằng xa, sừng sững vươn cao trên mặt nước là một tòa kiến trúc đồ sộ hình chữ nhật ba tầng, một góc có ngọn tháp tròn cao vút—trông hệt như một tòa lâu đài thời Trung cổ. Khi chúng tôi vừa trông thấy nó, từ một ô cửa sổ nhỏ trên tháp, ánh đèn rọi xuống mặt nước lung linh; thấy vậy, người dẫn đường khẽ ậm ừ vẻ hài lòng. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là ánh sáng báo hiệu điểm hẹn.

Gã chèo thuyền áp sát nơi ấy hết sức thận trọng, luôn nép mình dưới bóng tối đen đặc của bờ hồ cho tới khi đến đúng vị trí đối diện với ngọn tháp mạn sườn. Nơi ô cửa sổ sáng đèn, tôi thấy rõ bóng đen của ai đó xuất hiện trong chốc lát; ngay lúc ấy, người dẫn đường quẹt một que diêm, giữ chặt trên đầu ngón tay cho đến khi nó cháy tàn lụi hẳn.

Gần như ngay tức khắc, ánh đèn trên tháp vụt tắt. Chờ chừng năm phút, gã bèn chèo thẳng băng qua mặt hồ hướng về ngọn tháp đen ngòm cắm sâu vào lòng nước. Nơi đây u ám và tĩnh mịch hơn bất cứ chốn nào tôi từng thấy, một pháo đài bất khả xâm phạm từ thời đại trước khi người ta phát minh ra đại bác công thành, thành trì của một vị vương công hay bá tước phong kiến nào đó từng một thời giam hãm cả vùng đất xung quanh trong vòng nô dịch.

Tôi chống tay vào bức tường đá đen đúa nhẫy rêu để thuyền khỏi va đập, rồi nhận ra ngay phía trước là một bậu gỗ nhỏ cùng nửa tá bậc thang dẫn lên cánh cửa vòm thấp lè tè. Cánh cửa vừa mở ra không một tiếng động, và bóng đen của một người phụ nữ đang đứng thò đầu dòm ra ngoài.

Người dẫn đường khẽ thì thào vài lời trấn an bằng tiếng Phần Lan, rồi chậm rãi đẩy thuyền áp sát bậu gỗ và nói:

“Kính mời quý ngài lên bờ. Hiện thời chưa có nguy hiểm gì.”

Tôi đứng dậy, nắm chặt một sợi xích sắt rỉ sét lớn để giữ thăng bằng, rồi bước vào ô cửa hẹp khoét trên bức tường đá dày cộp. Tôi nhận ra mình đang đứng trong bóng tối cạnh người phụ nữ, người rõ ràng đã chờ đợi chúng tôi và theo dõi tín hiệu từ nãy đến giờ.

Không nói một lời, bà ta dẫn tôi qua một hành lang ngắn, rồi quẹt diêm thắp một chiếc đèn lồng lớn kiểu cổ. Khi ánh sáng rọi vào khuôn mặt, tôi thấy nét mặt bà gầy gò, khắc khổ, đôi mắt sâu hoắm và một lọn tóc bạc vắt ngang vầng trán nhăn nheo. Bà trùm một chiếc mũ vải cùng chất liệu thô ráp màu đen với chiếc áo tu dài, quanh cổ viền cổ áo bằng vải lanh trắng bản rộng. Ngay tức khắc, tôi nhận ra bà là thành viên của một dòng tu nào đó, có lẽ là một chi phái nhỏ mà những người ở Ý như chúng tôi chưa từng nghe biết.

Khuôn mặt gầy gò khắc khổ ấy toát lên nét của một người đàn bà đầy nghị lực, và chiếc áo tu tang tóc dường như quá rộng so với thân hình nhỏ thó, còi cọc của bà.

“Xơ có nói được tiếng Pháp không?” Tôi ướm hỏi bằng thứ tiếng ấy, bởi tôi biết hầu hết các tu viện trên khắp châu Âu đều dùng tiếng Pháp.

“Có chứ, thưa ông,” bà đáp. “Và tôi cũng biết một chút tiếng Anh nữa—chỉ một chút xíu thôi,” bà mỉm cười nói thêm.

“Xơ có biết vì sao tôi đến đây không?” Tôi hỏi, trong lòng thấy nhẹ nhõm vì ít ra ở chốn đồng không mông quạnh này cũng có một người nói được tiếng mẹ đẻ của mình.

“Vâng, người ta đã báo trước cho tôi rồi,” bà đáp bằng thứ giọng lơ lớ nặng trịch khi chúng tôi đứng trong căn phòng đá nhỏ hẹp trơ trọi, một gian buồng hình bán nguyệt bên trong tháp, có lẽ xưa kia từng là chốn ngục tù. “Nhưng ông không sợ khi liều mình mạo hiểm đến đây sao?” bà hỏi.

“Sao lại sợ?”

“À thì… bởi vì ở đây tuyệt đối cấm người lạ mặt. Nếu người ta phát hiện ra ông, ông sẽ không thể toàn mạng rời khỏi nơi này đâu—tôi báo trước cho ông biết đấy.”

“Tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần chấp nhận rủi ro đó rồi,” tôi mỉm cười đáp, đồng thời tay bất giác lần xuống túi sau để chắc chắn khẩu súng vẫn an toàn ở đó. “Tôi muốn gặp cô Elma Heath.”

Bà xơ già gật đầu, tay loay hoay với chiếc đèn lồng. Tôi liếc nhìn đồng hồ, thấy đã hai giờ sáng.

“Xin ông nhớ cho, nếu ông bị phát hiện, ông phải cam đoan tôi không liên can gì đấy nhé?” bà vừa nói vừa ngẩng đầu lên, đôi mắt xám sắc sảo nhìn xoáy vào mặt tôi. “Cho ông vào đây là tôi đã phản bội lại trách nhiệm của mình, và tôi sẽ chẳng bao giờ làm thế nếu không bị ép buộc.”

“Bị ép buộc ư! Ra sao cơ?”

“Đó là lệnh của Trưởng ty Cảnh sát. Ngay cả ở chốn này, chúng tôi cũng không thể mạo hiểm đắc tội với ông ta.”

Thì ra gã Boranski đã thực sự giữ lời, và nhờ lệnh của gã mà cánh cửa đóng kín của tu viện này mới chịu mở ra.

“Dĩ nhiên rồi,” tôi đáp. “Quan chức Nga ngày nay có quyền sinh quyền sát ở Phần Lan. Nhưng tiểu thư ấy đang ở đâu?”

“Ông vẫn quyết liều cả tự do lẫn mạng sống của mình sao?” bà hỏi bằng giọng khàn đặc, đầy vẻ nghiêm trọng u ám.

“Tôi quyết rồi,” tôi đáp. “Xin hãy dẫn tôi tới gặp nàng.”

“Và khi gặp cô ấy, ông tuyệt đối không được tìm cách bắt chuyện, được chứ? Hãy hứa với tôi điều đó.”

“Ôi, thưa Xơ!” tôi thốt lên. “Xơ đòi hỏi ở tôi một sự hy sinh quá lớn rồi. Tôi lặn lội từ Anh sang, không, từ tận nước Ý xa xôi đến đây để tìm nàng, để hỏi nàng về một bí ẩn kỳ lạ và tìm ra sự thật. Chẳng lẽ tôi lại không được phép nói với nàng đôi lời sao?”

“Ông muốn tìm ra sự thật ư, thưa ngài!” người đàn bà nhận xét. “Tôi cứ ngỡ ông là người tình của cô ấy—rằng ông chỉ muốn gặp lại cô ấy lần cuối mà thôi.”

“Không, tôi không phải người tình của nàng,” tôi đáp. “Thực ra chúng tôi còn chưa từng gặp mặt. Nhưng tôi cần tìm kiếm sự thật từ chính miệng nàng thốt ra.”

“Điều đó thì ông chẳng bao giờ biết được đâu,” bà nói, giọng bỗng đanh lại và biến đổi khác lạ.

“Bởi vì có một âm mưu nhằm che giấu bí mật đó!” tôi kêu lên. “Nhưng tôi quyết tâm làm sáng tỏ bức màn bí mật này, và chính vì thế tôi mới lặn lội từ nước Anh sang tận đây.”

Người đàn bà cầm đèn mỉm cười buồn bã, dường như thấy buồn cười trước sự bồng bột của tôi.

“Hiện giờ ông đang đứng trên đất Nga đấy, thưa ông, chứ không phải đất Anh đâu,” bà nhận xét bằng thứ tiếng Anh ngập ngừng, lơ lớ. “Nếu người ta mà biết được mục đích của ông, họ sẽ không để ông sống sót mà quay về tổ quốc đâu. Than ôi!” bà thở dài, “ông làm sao biết được những bí ẩn cùng nỗi kinh hoàng ở xứ Phần Lan này. Tôi là công dân Pháp, sinh ra ở Tours, và bị đưa đến Helsingfors từ năm mười lăm tuổi. Tôi đã sống ở Phần Lan suốt bốn mươi lăm năm ròng. Xưa kia chúng tôi từng sống rất hạnh phúc, nhưng từ khi Sa hoàng bổ nhiệm Nam tước Oberg làm Tổng toàn quyền…” đến đây, bà nhún vai buông lửng câu nói.

“Nam tước Oberg—Tổng toàn quyền Phần Lan ư!” tôi nghẹn lời thảng thốt.

“Chính thị. Chẳng lẽ ông không biết sao?” bà chuyển sang nói tiếng Pháp. “Đã bốn năm nay ông ta nắm trọn quyền sinh sát tối cao để đàn áp và Nga hóa những người Phần Lan khốn khổ này. Than ôi, thưa ông! Đất nước này xưa kia trù phú biết bao, nay lại trở thành một vết nhơ trên gương mặt châu Âu. Thủ đoạn của ông ta là tồi tệ và tàn nhẫn nhất trong số những kẻ phục vụ nước Nga. Trước khi tới đây, ông ta là kẻ bị căm ghét nhất ở Petersburg, và người ta đồn rằng chính vì thế nên Hoàng đế mới đày ông ta đến xứ này.”

“Và ông ta là bác của tiểu thư Elma Heath này ư?”

“Bác ư? Ôi! Chuyện đó thì tôi không rõ, thưa ông. Chưa ai nói với tôi điều đó bao giờ. Cháu gái ông ta ư—tội nghiệp cô gái trẻ!—sao lại có thể như thế được? Chắc chắn là không phải rồi!”

“Sao lại không?” tôi gặng hỏi.

Nhưng người đàn bà không đưa ra lời giải thích nào; bà chỉ ngửa hai bàn tay ra rồi thở dài. Dường như bà dành mối trắc ẩn sâu sắc cho cô gái tôi đang tìm kiếm; tấm lòng bà thực chất nhân hậu hơn vẻ bề ngoài thô ráp rất nhiều.

“Viên Nam tước này sống ở đâu?” tôi hỏi, lấy làm kinh ngạc khi hay tin ông ta lại giữ một cương vị cao ngất ngưởng như thế trong giới quan trường Nga—vị đại diện của Sa hoàng, với quyền lực to lớn chẳng kém gì chính Hoàng đế.

“Tại Dinh Toàn quyền ở Helsingfors.”

“Và Elma Heath lại bị giam ở đây—trong pháo đài u ám này! Tại sao chứ?”

“Ôi, thưa ông, làm sao tôi biết được? Có lẽ là vì những bí mật gia tộc. Ông biết đấy, những bí mật kiểu ấy thường là nguồn cơn của biết bao chuyện.”

“Tôi cũng nghĩ hệt như vậy,” tôi nói. “Nàng bị bắt tới đây trái với ý muốn của mình.”

“Rất có thể. Nơi đây chẳng phải chốn vui vẻ gì, như ông thấy đấy. Chúng tôi phải chịu đựng băng tuyết suốt năm tháng trời, và bốn tháng liền gần như bị cô lập hoàn toàn khỏi thế giới văn minh, chẳng nhìn thấy một gương mặt mới nào.”

“Kinh khủng thật!” tôi thốt lên, đưa mắt nhìn quanh những bức tường đá tối tăm dường như đang toát ra bầu không khí đầy bi kịch và bí ẩn. Tôi đồ rằng lâu đài cổ này đã bị biến thành một tu viện, giống như nhiều nơi khác ở Đức và Áo. Hẳn vào thời phong kiến xưa kia, nơi đây từng là một dinh cơ tráng lệ. “Thế Xơ ở đây đã lâu chưa?” tôi hỏi.

“Mới được bảy năm thôi. Nhưng tôi sắp rời đi rồi. Ngay cả tôi, một người vốn đã quen với cuộc sống cô độc tịch mịch, cũng không thể chịu đựng nổi thêm nữa. Tôi cảm thấy sự tĩnh mịch lạnh lẽo và nỗi thê lương nơi này sẽ khiến mình phát điên mất. Vào mùa đông, chốn này chẳng khác nào một hầm băng.”

Việc viên Nam tước là kẻ cai trị Phần Lan khiến tôi vô cùng kinh ngạc, bởi bấy lâu nay tôi cứ ngỡ ông ta chỉ là một tay phiêu lưu mạo hiểm lọc lõi nào đó. Nhưng khi những sự việc đã qua vụt lóe lên trong đầu, tôi chợt nhớ ra rằng ở Rừng Rannoch, người ta đã tìm thấy tấm mề đay Huân chương Thánh Anne của Nga, một vinh dự rất có thể đã được ban tặng cho ông ta. Nếu đúng như vậy thì sự trùng hợp này quả là đáng kinh ngạc. Tôi gặng hỏi thêm người bạn đồng hành về viên Nam tước.

“Than ôi, thưa ông,” bà giãi bày, “người ta gọi ông ta là ‘Kẻ bóp nghẹt Phần Lan’. Chính ông ta đã ra lệnh đánh roi những người nông dân xứ Kasko cho tới khi bốn người trong số họ phải bỏ mạng—và Sa hoàng đã ban tặng Huân chương Đại bàng Trắng cho ông ta vì chiến tích ấy—chính ông ta đã đình bản một nửa số báo chí và tống giam mười tám chủ bút vì dám đăng bản tin về cuộc mít tinh của người Thụy Điển ở Helsingfors; chính ông ta dung túng cho tệ nạn tham nhũng và đút lót trong giới quan lại để mưu cầu lợi ích cho nước Nga; chính ông ta hạ lệnh bắt tiếng Nga phải là ngôn ngữ hành chính, hạn chế nền giáo dục công lập, đánh thuế nặng nề và đè đầu cưỡi cổ dân chúng cho đến lúc này ngòi nổ đã châm, và Phần Lan đã sẵn sàng cho một cuộc khởi nghĩa công khai. Các nhà tù chật ních những người vô tội; đàn bà phụ nữ bị đòn roi; người nghèo thì chết đói, thế mà ‘Kẻ bóp nghẹt’, như người đời vẫn gọi, lại báo cáo với Sa hoàng rằng Phần Lan đã thuần phục và đã bị Nga hóa hoàn toàn!”

Thỉnh thoảng tôi cũng có nghe phong phanh đôi điều về tình cảnh tồi tệ đến ghê tởm này qua báo chí Anh, nhưng chưa bao giờ để tâm đến danh tính của kẻ bạo ngược. Hóa ra bác của Elma Heath lại chính là “Kẻ bóp nghẹt Phần Lan”, kẻ chỉ trong vòng bốn năm ngắn ngủi đã biến một đất nước phồn vinh thành một đống hoang tàn trên bờ vực khởi nghĩa!

“Tôi có thể gặp nàng được chưa?” tôi hỏi, cảm thấy chúng tôi đã nấn ná lại đây quá lâu. Nếu sự hiện diện của tôi ở chốn này nguy hiểm đến vậy, thì càng thoát ra sớm chừng nào càng tốt chừng nấy.

“Được rồi, xin mời đi theo tôi,” bà nói. “Nhưng phải giữ im lặng! Đi thật khẽ thôi,” và giơ cao chiếc đèn lồng bằng sừng cũ kỹ để soi đường, bà dẫn tôi quay trở lại hành lang đá thấp lè tè, đưa tôi luồn lách qua hàng loạt lối đi quanh co phức tạp, tất cả đều trơ trọi và u ám, những phiến đá dưới chân đã mòn lõm qua năm tháng thời gian. Chúng tôi rón rén bước đi không một tiếng động lướt qua nhiều cánh cửa vòm thấp đóng đinh tán to bản theo phong cách từ mấy thế hệ trước, rồi đột ngột rẽ vuông góc, tôi nhận ra chúng tôi đang ở trong một ngõ cụt. Người đàn bà dừng lại trước cánh cửa ở cuối ngõ và đặt ngón tay lên môi làm hiệu. Đoạn, bà ra hiệu bảo tôi đứng chờ ở đó, rồi bước vào trong, khép cửa lại sau lưng, bỏ mặc tôi trong bóng tối đen như mực.

Tôi căng tai lắng nghe nhưng chẳng nghe thấy âm thanh nào ngoài tiếng động có người đang cựa quậy bên trong. Chẳng có lời nào thốt ra, hoặc nếu có thì cũng chỉ là những lời thì thào quá nhỏ không thể lọt tới tai tôi. Suốt gần năm phút ròng rã, tôi sốt ruột chờ đợi bên ngoài cánh cửa đóng kín, cho tới khi tay nắm cửa lại xoay và người dẫn đường im lặng vẫy tay gọi tôi vào trong.

Tôi bước vào một căn phòng nhỏ vuông vức, sàn trải thảm, phía trên cao treo một ngọn đèn tỏa ra thứ ánh sáng leo lét khắp căn phòng đồ đạc đơn sơ. Nơi đây trông như một gian phòng khách nhỏ, với một chiếc bàn gỗ thông mộc mạc và đôi ba chiếc ghế, nhưng không hề có lò sưởi nên trông lạnh lẽo và thiếu tiện nghi vô cùng. Phía bên kia là một gian phòng nhỏ hơn, bà xơ già bước vào đó chốc lát rồi quay ra, dắt theo một bóng hình nhỏ bé kỳ lạ, xanh xao trong bộ váy xám—một bóng hình mang gương mặt hoàn hảo và kiều diễm nhất trần đời mà tôi từng được chiêm ngưỡng. Mái tóc màu hạt dẻ bồng bềnh xõa buông lơi trên đôi vai, hai bàn tay chắp lại trước ngực, nàng đưa mắt nhìn thẳng vào tôi vẻ đầy kinh ngạc khi được dẫn về phía tôi.

Nàng bước đi yếu ớt, sắc mặt nhợt nhạt như người không còn giọt máu. Khi nàng bước lại dưới ngọn đèn, tôi nhận thấy bộ trang phục của nàng tuy thô kệch nhưng sạch sẽ, và những đường nét thanh tú, cân đối từng khiến tôi mê mẩn qua bức ảnh chụp, ngoài đời thực lại càng ngọt ngào và vô song hơn bội phần so với những gì tôi hằng tưởng tượng. Tôi đứng sững sờ trước nàng, chết lặng trong nỗi ngưỡng mộ khôn xiết.

Trong im lặng, nàng cúi đầu chào đầy duyên dáng, rồi nhìn tôi bằng ánh mắt ngạc nhiên, dường như tự hỏi một kẻ hoàn toàn xa lạ như tôi thì có thể cần gì ở nàng.

“Tôi đoán hẳn cô là tiểu thư Elma Heath?” cuối cùng tôi cũng thốt nên lời. “Xin phép cho tôi được tự giới thiệu, tên tôi là Gordon Gregg, sinh ra là người Anh nhưng mang bản năng của một công dân toàn cầu. Tôi đến đây để hỏi cô một câu hỏi—câu hỏi liên quan trực tiếp đến chính bản thân cô. Lydia Moreton đã phái tôi đến tìm cô.”

Tôi nhận thấy đôi mắt nâu to tròn của nàng chỉ chăm chú nhìn vào đôi môi tôi chứ không nhìn vào gương mặt.

Đôi môi nàng khẽ mấp máy, nhưng nàng nhìn tôi với một nỗi buồn khôn xiết. Tuyệt nhiên không có một âm thanh nào phát ra.

Tôi đứng như trời trồng trước mặt nàng, chết lặng như hóa đá, bởi ngay trong khoảnh khắc ấy, nhanh như chớp giật, tôi bàng hoàng nhận ra sự thật kinh hoàng.

Nàng vừa câm lại vừa điếc!

Nàng đưa đôi bàn tay đang đan vào nhau lên hướng về phía tôi trong tĩnh lặng, những giọt lệ chực trào trên đôi mắt tuyệt mỹ của nàng.

Tôi nhìn thấy nơi cổ tay nàng là một đôi cùm bằng thép sáng loáng.

“Nơi này là đâu thế này?” tôi gặng hỏi người đàn bà trong trang phục tu hành, khi vừa trấn tĩnh lại sau cú sốc trước nỗi bất hạnh khủng khiếp của cô gái tội nghiệp. “Tôi đang ở đâu đây?”

“Đây là Lâu đài Kajana—nhà thương điên dành cho tội phạm của Phần Lan,” bà đáp. “Tù nhân này, như ông thấy đấy, đã mất đi cả thính giác lẫn khả năng nói năng.”

“Vừa câm vừa điếc ư!” tôi kêu lên, nhìn ngắm nguyên mẫu xinh đẹp của bức ảnh đã bị hủy hoại trên chiếc du thuyền Lola. “Nhưng chắc chắn từ trước tới giờ cô ấy đâu có bị như vậy!” tôi thốt lên.

“Vâng. Tôi nghĩ không phải lúc nào cô ấy cũng thế,” bà xơ khẽ đáp. “Nhưng ông từng bảo định tra hỏi cô ấy, chẳng phải tôi đã nói với ông rằng muốn tìm ra sự thật là chuyện bất khả thi rồi sao?”

“Nhưng cô ấy có thể viết câu trả lời cho các câu hỏi của tôi cơ mà?” tôi tranh luận.

“Than ôi! Không được đâu,” bà lão thì thào đáp. “Đầu óc cô ấy đã bị tổn thương rồi. Thật bất hạnh, cô ấy là một kẻ điên vô phương cứu chữa.”

Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt nâu buồn bã, mở to nhưng không hề né tránh ấy, lòng bàng hoàng tột độ.

Đôi cổ tay trắng ngần bị khóa chặt trong vòng thép, gương mặt nhợt nhạt cùng làn môi không còn sắc máu, những cử động đờ đẫn của nàng, tất cả đều kể lại một câu chuyện đầy bi thảm. Thế nhưng bức thư tôi từng đọc, rất có thể được đọc cho người khác viết hộ một cách lén lút vì tay nàng không được tự do, chắc chắn không phải là lời lẽ bộc phát của một người điên loạn. Nàng có nhắc đến cái chết, điều đó đúng, nhưng chẳng phải hoàn cảnh này cho thấy nàng đang dần bị dồn đến bước đường cùng phải tự sát hay sao? Nàng đã giữ kín bí mật của mình, và nàng muốn Hornby—người đàn ông sắp kết hôn với Muriel Leithcourt—biết được điều đó.

Căn phòng chúng tôi đang đứng rõ ràng là gian phòng dành riêng cho nàng, bởi phía bên kia là phòng ngủ chật hẹp; thế nhưng ô cửa sổ nhỏ tít trên cao lại bị chấn song sắt bịt kín, và vẻ trơ trọi lạnh lẽo của chốn ngục tù này quả thực đủ khiến bất cứ ai bị giam cầm nơi đây thà chọn cái chết còn hơn tiếp tục cảnh tù đày.

Một lần nữa tôi lại cất lời với nàng, chậm rãi và dịu dàng, nhưng chẳng có tiếng hồi đáp nào. Việc nàng câm hoàn toàn đã quá rõ ràng. Nhưng chắc chắn trước kia nàng không như vậy! Tôi lặn lội đi tìm nàng bởi vẻ đẹp trong bức chân dung đã hớp hồn tôi, và giờ đây khi tìm thấy, nàng còn kiều diễm hơn cả trong tranh, nhưng than ôi, lại phải gánh chịu một tật nguyền khiến cuộc đời nàng biến thành một tấn thảm kịch. Việc nhận thức được sự thật nghiệt ngã này khiến tôi choáng váng. Chưa bao giờ tôi thấy một gương mặt nào hoàn mỹ đến thế, diễm lệ, thanh tú, tao nhã, toát lên phong thái của một người xuất thân cao quý, nhưng lại chan chứa một nỗi buồn khôn tả xiết, đong đầy nỗi tuyệt vọng câm lặng không lời.

Nàng đưa hai bàn tay chắp lại lên miệng rồi lắc đầu ra hiệu rằng mình không thể hiểu cũng chẳng thể cất lời đáp. Thấy vậy, tôi liền rút chiếc ví trong túi áo ra, lấy một mảnh giấy rồi dùng nét chữ to nắn nót viết: “Tôi do Lydia Moreton phái tới. Tên tôi là Gordon Gregg.”

Khi ánh mắt tha thiết của nàng chạm vào những dòng chữ ấy, nàng lập tức trở nên vô cùng kích động và gật đầu lia lịa. Đoạn, nàng đưa đôi cổ tay bị cùm thép về phía tôi, nhìn tôi với vẻ van lơn, tha thiết như cầu xin tôi hãy giải thoát nàng khỏi cảnh xiềng xích ghê rợn nơi nấm mồ câm lặng này.

Mặc cho người đàn bà dẫn đường tìm cách ngăn cản, tôi vẫn đưa cây bút chì cho nàng và đặt mảnh giấy lên bàn để nàng viết.

Bà xơ toan giật lấy mảnh giấy, nhưng tôi đã nhẹ nhàng dùng sức giữ chặt cánh tay bà lại, nói bằng tiếng Pháp:

“Không được. Tôi muốn xem liệu cô ấy có thực sự mất trí hay không. Ít nhất Xơ cũng phải để tôi được toại nguyện điều này chứ.”

Trong lúc chúng tôi đang giằng co, Elma cầm lấy bút chì và cố gắng viết, nhưng do hai tay bị trói quá chặt nên nàng không tài nào viết nổi. Tuy nhiên, sau nhiều lần gắng gượng, cuối cùng nàng cũng nắn nót in được những chữ hoa nguệch ngoạc để trả lời:

“Tôi biết ông. Ông từng ở trên du thuyền. Tôi cứ ngỡ họ đã giết ông rồi.”

Bà lão mặt quắt nhìn thấy câu trả lời của nàng—một câu trả lời rõ ràng là vô cùng tỉnh táo—khiến đôi lông mày bà ta nhíu lại đầy vẻ khó chịu.

“Tại sao cô lại ở đây?” tôi viết, khéo léo che không cho bà xơ nhìn thấy câu hỏi của mình.

Đáp lại, nàng khó nhọc và vất vả viết từng chữ:

“Tôi bị kết án vì một tội lỗi tôi không hề phạm phải. Hãy đưa tôi rời khỏi đây, bằng không tôi sẽ tự sát mất.”

“A!” bà lão thốt lên. “Ông thấy đấy, tội nghiệp cô bé, cô ta cứ đinh ninh mình vô tội! Ai ở đây cũng nghĩ vậy cả.”

“Nhưng tại sao cô ấy lại bị giam ở đây?” tôi giận dữ gặng hỏi.

“Tôi không biết, thưa ông. Bổn phận của tôi đâu phải là đi tìm hiểu lai lịch tội trạng của họ. Khi họ ốm đau thì tôi chăm sóc, chỉ có thế thôi.”

“Và ai là chỉ huy của pháo đài này?”

“Đại tá Smirnoff. Nếu ông ta mà biết tôi cho ông vào đây, ông sẽ không bao giờ toàn mạng rời khỏi chốn này đâu. Đây chính là ngục Schusselburg của Phần Lan—nơi giam giữ những kẻ mưu phản chống lại Nhà nước.”

“Nhà tù dành cho những kẻ âm mưu chính trị sao?”

“Than ôi, thưa ông, đúng vậy đấy! Nơi mà những sinh linh khốn khổ bị tra tấn dã man để ép cung và moi tin tức, tàn bạo chẳng kém gì thời kỳ đen tối của Tòa án Dị giáo thời Trung cổ. Những bức tường này dày lắm, tiếng la hét của họ từ những hầm ngục ngầm dưới đáy hồ chẳng lọt được ra ngoài đâu.”

Từ lâu tôi đã từng nghe nói về những nỗi kinh hoàng ở ngục Schusselburg. Thực ra, có ai từng du ngoạn nước Nga mà lại chưa từng nghe qua? Chỉ cần nhắc đến ngục Bastille thời hiện đại trên Hồ Ladoga, nơi chưa từng có một tù nhân nào được biết là còn sống sót bước ra, cũng đủ khiến bất kỳ người Nga nào phải tái mặt. Và tôi lại đang ở ngay trong ngục Schusselburg của Phần Lan!

Tôi lật mặt sau của tờ giấy và viết câu hỏi—

“Có phải Nam tước Oberg đã đưa cô tới đây không?”

Đáp lại, nàng nắn nót viết từng chữ—

“Tôi tin là vậy. Tôi bị bắt ở Helsingfors. Hãy báo cho Lydia biết tôi đang ở đâu.”

“Cô có biết Muriel Leithcourt không?” tôi dùng cách cũ để hỏi, và nàng đáp rằng họ từng học chung trường với nhau.

“Cô có nhìn thấy tôi trên chiếc du thuyền Lola không?” tôi viết tiếp.

“Có. Nhưng tôi không thể cảnh báo cho ông, dù tôi đã tình cờ nghe lén được ý đồ của họ. Sau khi ông đi khỏi, họ đưa tôi lên bờ, tới Siena. Ba ngày sau, tôi nhận ra mình đã câm và điếc—họ đã biến tôi thành ra nông nỗi này.”

Lời tố cáo của nàng khiến tôi rụng rời. Nàng đã bị kẻ khác cố tình hãm hại cho tàn phế!

“Ai đã làm việc đó?”

“Tôi nghĩ là một bác sĩ. Họ đã đánh thuốc mê tôi.”

“Là những ai?”

“Những kẻ tự xưng là bạn bè của tôi.”

Tôi quay sang người đàn bà trong bộ áo tu, phẫn nộ kêu lên—

“Bà có thấy những gì cô ấy viết không? Cô ấy đã bị tàn phế dưới tay những kẻ giả danh bạn bè, những kẻ muốn chôn vùi bí mật mà cô ấy nắm giữ. Chúng sợ không dám giết cô ấy, nên đã mua chuộc một tay bác sĩ để cố tình phẫu thuật biến cô ấy thành kẻ vừa câm vừa điếc. Và giờ đây chúng đang bức tử cô ấy đến con đường tự sát!”

“Thưa ông, tôi thực sự bàng hoàng!” bà xơ thốt lên. “Xưa nay tôi cứ đinh ninh đầu óc cô ấy có vấn đề, nhưng rõ ràng cô ấy hoàn toàn tỉnh táo chẳng khác gì tôi, chỉ là bị hủy hoại một cách tàn nhẫn bởi những kẻ bạn bè giả tạo, những kẻ quyết tâm không để bất kỳ lời nào thốt ra khỏi miệng cô ấy nữa.”

“Một hành vi tàn độc đáng xấu hổ đã giáng xuống đầu cô gái trẻ không tấc sắt trong tay này!” tôi tức giận thốt lên. “Và tôi sẽ coi việc vạch mặt, trừng trị những kẻ thủ ác là bổn phận của mình.”

“Ôi, thưa ông. Tôi van ông đừng hành động nông nổi,” người đàn bà nghiêm nghị nói, đặt tay lên cánh tay tôi. “Xin ông nhớ cho rằng ông đang ở Phần Lan—nơi Nam tước Oberg nắm trọn quyền sinh sát trong tay.”

“Tôi chẳng sợ gì Nam tước Oberg,” tôi lớn tiếng. “Nếu cần, tôi sẽ cầu viện đến chính Sa hoàng. Tiểu thư đây bị giam giữ ở chốn này chỉ vì nàng nắm giữ một bí mật nào đó. Nàng phải được tự do—tôi sẽ chịu mọi trách nhiệm.”

“Nhưng ông không được tìm cách giải thoát cô ấy khỏi nơi này đâu. Làm vậy cả hai sẽ phải bỏ mạng đấy. Lâu đài Kajana này chẳng bao giờ để lộ bí mật về những kẻ chết rũ trong những bức tường thành, hay những kẻ bị ném thẳng xuống đáy nước sâu rồi chìm vào quên lãng đâu.”

Tôi lại quay sang Elma, người đang đứng nhìn với vẻ lo lắng đầy hoang mang trước nội dung cuộc trò chuyện của chúng tôi. Bất chợt nàng nắm lấy tay bà xơ già và hôn lên đó một cách trìu mến, có lẽ là để ngầm báo cho tôi biết rằng nàng tin tưởng bà.

Đoạn, tôi viết lên giấy—

“Nam tước Oberg có phải là bác của cô không?”

Nàng lắc đầu từ chối, cho thấy viên Tổng toàn quyền Phần Lan đáng sợ kia chỉ đóng một vở kịch với nàng, một vở kịch mà nàng bị ép buộc phải thuận theo.

“Philip Hornby là ai?” tôi viết thoăn thoắt.

“Bạn tôi—ít nhất tôi tin là vậy.”

Bạn ư! Thế mà bấy lâu nay tôi cứ ngỡ hắn là một tay mạo hiểm lừa đảo và là kẻ thù!

“Tại sao anh ta lại đến Leghorn?” tôi hỏi.

“Vì một mục đích bí mật. Từng có âm mưu giết ông, nhưng tôi đã tìm cách phá vỡ âm mưu đó,” đó là những dòng chữ nàng khó nhọc in ra từng nét.

“Vậy thì tôi nợ cô mạng sống này,” tôi viết. “Và để đền đáp, tôi sẽ làm hết sức mình để giải cứu cô khỏi nơi đây, nếu cô không ngại phó thác bản thân cho tôi.”

Và nàng đáp lại—

“Tôi sẽ vô cùng đội ơn ông, bởi tôi không thể chịu đựng chốn địa ngục này thêm nữa. Tôi tin rằng ở đây người ta tra tấn phụ nữ dữ lắm. Rồi một ngày nào đó họ cũng sẽ tra tấn tôi thôi. Xin ông hãy cố gắng hết sức đưa tôi thoát khỏi nơi này, rồi tôi sẽ kể cho ông nghe tất cả. Nhưng,” nàng viết thêm, “tôi e rằng ông chẳng bao giờ cứu tôi ra được đâu. Tôi bị giam cầm ở đây với bản án chung thân.”

“Nhưng cô là người Anh, và nếu cô không được xét xử công khai, tôi có thể khiếu nại lên Đại sứ của chúng tôi.”

“Không, tôi là thần dân Nga. Tôi sinh ra ở Nga, và chuyển sang Anh từ khi còn là một cô bé.”

Điều đó đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện. Với tư cách là một thần dân của Sa hoàng ngay trên đất nước mình, nàng phải chịu sự chi phối của cái vết nhơ đáng xấu hổ của nền văn minh: cho phép tống giam một người tùy theo ý muốn của một quan chức cấp cao, mà không cần qua xét xử hay cho họ bất kỳ cơ hội kháng cáo nào. Bởi vậy, tôi lập tức nhìn thấy muôn vàn khó khăn trước mắt.

Thế nhưng nàng đã hứa sẽ nói cho tôi biết toàn bộ sự thật nếu tôi có thể giải cứu nàng!

Một luồng ký ức về bức màn bí ẩn khôn lường ùa về trong tâm trí tôi. Hàng ngàn câu hỏi trỗi dậy trong lòng, tất cả những điều tôi khao khát muốn hỏi nàng, nhưng ở chốn ngục tù hôi hám này, điều đó là bất khả thi. Đúng lúc tôi đang đứng đó, một tiếng thét thất thanh xé lòng vì đau đớn tột cùng của một người đàn bà vẳng đến tai tôi, xuyên qua cả những bức tường đá đồ sộ dường như không thể xuyên thủng. Có lẽ một tù nhân bất hạnh nào đó đang bị tra tấn dã man để ép cung. Tôi rùng mình trước những nỗi kinh hoàng không bút nào tả xiết của pháo đài u ám này.

Lẽ nào tôi lại có thể để một cô gái mảnh mai, không tấc sắt tự vệ như nàng tiếp tục làm tù nhân nơi ngục Bastille này, nơi mà những nỗi kinh hoàng từng được những người đàn ông ở Nga nhắc đến với giọng run rẩy sợ hãi? Chúng đã cố tình hủy hoại thân thể nàng, tước đoạt của nàng cả thính giác lẫn khả năng nói năng, và giờ đây chúng định dồn nàng đến chỗ phát điên vì sự câm lặng và nỗi cô độc vốn luôn dẫn tới sự điên loạn.

“Tôi đã quyết định rồi,” tôi bất ngờ nói, quay sang người đàn bà đã dẫn đường cho tôi; lúc này bà đã dùng chiếc chìa khóa giấu kín bên mình để tháo chiếc cùm thép cho tù nhân, rồi đứng khoanh tay với dáng vẻ điềm tĩnh của người tu hành.

“Ông sẽ không hành động bồng bột đấy chứ?” bà van lơn trong nỗi lo âu thảng thốt. “Xin nhớ cho, mạng sống của ông đang bị đe dọa, và cả mạng sống của tôi nữa.”

“Kẻ thù của nàng cũng từng có ý định giết cả tôi!” tôi đáp, nhìn thẳng vào đôi mắt nâu sâu thẳm, đầy bí ẩn đang mê hoặc tôi như có phép phù phép. “Chúng đã giam hãm nàng trong tay bởi nàng không có khả năng tự vệ. Nhưng tôi sẽ đứng ra làm người bạn và là người che chở cho nàng.”

“Bằng cách nào cơ chứ?”

“Người lái thuyền đang chờ tôi bên ngoài. Tôi định đưa nàng đi cùng.”

“Nhưng, thưa ông, chuyện đó là bất khả thi!” bà lão thốt lên bằng giọng khàn đặc. “Nếu bị đám lính tuần tra trên hồ cả ngày lẫn đêm phát hiện, chúng sẽ bắn chết cả hai người đấy.”

“Tôi chấp nhận mạo hiểm,” tôi nói, và không chần chừ thêm một lời, tôi lao vào buồng ngủ nhỏ xé phăng chiếc chăn thô màu nâu trên chiếc giường con ọp ẹp.

Đoạn, tôi khoác tay người con gái có gương mặt kiều diễm nay đã thực sự trở thành ánh thái dương trong cuộc đời tôi, ra hiệu mời nàng cùng đi.

Bà xơ đứng chắn ngang cửa, tha thiết van nài tôi nghĩ lại.

“Xin hãy để cô ấy ở lại đây một cách bí mật, rồi ông muốn làm gì thì làm, muốn khiếu nại lên Nam tước hay Sa hoàng cũng được, nhưng thưa ông, xin đừng dại dột tìm cách giải cứu một tù nhân khỏi nơi này, điều đó là không thể nào đâu. Người đưa ông từ Abo đến đây sẽ chẳng đời nào dám gánh vác trách nhiệm tày đình ấy đâu.”

“Đi nào,” tôi nói với Elma, dẫu than ôi, nàng chẳng thể nào nghe được tiếng tôi. “Ít nhất chúng ta cũng phải liều một phen để tìm lấy tự do.”

Nàng hiểu ngay ý định của tôi trong chớp mắt, và ngoan ngoãn để tôi dắt đi dọc theo dãy hành lang dài hun hút, bước đi rón rén và không gây ra một tiếng động nào.

Tôi đã chộp lấy chiếc đèn lồng bằng sừng cũ kỹ, và khi bà xơ lùi lại không dám đi theo, hai chúng tôi đơn độc lẻn đi, quay ngược lại dọc theo hành lang đá cho tới khi tôi nhận ra cánh cửa của căn phòng đầu tiên tôi bước vào. Vạn vật đều im ắng, và khi chúng tôi rón rén kiễng chân bước đi, tôi cảm nhận được bàn tay cô gái bám chặt lấy cánh tay mình, một cái siết tay mách bảo rằng nàng đã đặt trọn niềm tin vào tôi như người cứu rỗi đời nàng.

Tôi thừa nhận đó là một hành động liều lĩnh và mù quáng, bởi ngay cả khi qua được bên kia hồ, làm sao chúng tôi có thể hy vọng xuyên qua những cánh rừng rậm bạt ngàn, khắc nghiệt đến thế, lại ở quá xa bất kỳ nơi ẩn náu nào. Song tôi cảm thấy việc giải cứu nàng là bổn phận của mình. Hơn nữa, chẳng phải vẻ đẹp kỳ diệu của nàng đã giăng lưới bắt trọn tâm hồn tôi; chẳng phải ngay từ giây phút đầu tiên tao ngộ, một linh tính không thể giải thích đã mách bảo rằng số phận của chúng tôi từ nay đã gắn liền với nhau sao? Nàng nép sát vào tôi như sợ bị phát hiện, khi chúng tôi lặng lẽ tiến bước dọc theo hành lang thấp lè tè, tối tăm, nơi tôi biết cánh cửa gỗ kiên cố trên tháp dẫn thẳng ra mặt hồ. Chỉ cần xuống được thuyền, chúng tôi có thể chèo ngược về nơi lũ ngựa đang chờ sẵn, rồi cao chạy xa bay. Rốt cuộc người đàn bà kia đã không cản đường hay hô hoán báo động. Từng có lúc tôi nghi ngờ bà ta, nhưng giờ đây tôi thấy trái tim bà thực sự chứa chan lòng trắc ẩn đối với cô gái tội nghiệp bên cạnh tôi.

Chúng tôi lén lút tiến lên không một tiếng động cho đến khi chỉ còn cách cánh cửa mở toang vài thước, nơi chiếc thuyền đang đợi phía dưới, thì bỗng nhiên, ánh đèn lồng chập chờn rọi trúng một vật gì đó sáng loáng, và một giọng trầm vang lên trong bóng tối bằng tiếng Nga—

“Đứng lại! Không tao bắn!”

Kinh hoàng tột độ, chúng tôi nhận ra mình đang đối diện với họng súng carbin đã lên đạn.

Một tên lính gác to lớn lực lưỡng đứng quay lưng về phía lối thoát hiểm bí mật, đôi mắt đen ngòm của hắn sáng quắc dưới chiếc mũ lưỡi trai, tay giương súng nhắm thẳng vào ngực chúng tôi ở khoảng cách chưa đầy sáu bộ.

Gã râu ria xồm xoàm hung hăng quát hỏi tôi là ai.

Tim tôi thắt lại. Tôi đã hành động quá nông nổi, và giờ đây đã sa vào tay quan lớn Nam tước Xavier Oberg, viên Tổng toàn quyền tàn độc—rơi vào một cái bẫy dường như đã được giăng ra vô cùng khéo léo để đón lõng tôi.

Tôi đã trở thành tù nhân trong pháo đài kinh hoàng, nơi chưa một bóng người nào ngoài đám lính canh từng được biết là có thể bước chân ra ngoài—ngục Bastille của “Kẻ bóp nghẹt Phần Lan”!

Tôi biết mình đã lâm vào bước đường cùng.

Họng súng carbin của tên lính canh chỉ còn cách ngực tôi chừng hai bộ.

“Nói mau!” gã quát. “Mày là ai?”

Chỉ trong một cái liếc mắt, tôi đã nắm bắt được sự nguy hiểm tột cùng của tình thế, và không chút do dự, tôi lao bổ vào người hắn, luồn xuống dưới họng súng. Hắn hạ súng xuống nhưng đã quá muộn, bởi tôi đã ôm chặt lấy ngang hông hắn, vô hiệu hóa vũ khí trong tay hắn. Mọi việc diễn ra chỉ trong chớp mắt, bởi tôi biết giáp lá cà là cơ hội sống sót duy nhất của mình.

Thế nhưng, nếu chiếc thuyền không còn đợi dưới cánh cửa đóng kín kia thì sao? Nếu gã đánh xe Phần Lan không có mặt ở đó sẵn sàng ứng cứu thì tôi coi như cầm chắc cái chết. Cô gái bất hạnh mà tôi liều mình giải cứu sợ hãi lùi lại nép sát vào tường trong chốc lát, nhưng rồi thấy tôi đang vật lộn với gã khổng lồ, nàng liền lao tới, dùng cả hai tay chộp lấy khẩu súng và cố sức giằng ra khỏi tay hắn. Ngón tay hắn đã trượt khỏi cò súng, và hắn đang cố giành lại để nổ súng báo động. Thấy vậy, bằng một ngón đòn cũ học được từ thời ở trường Uppingham, tôi gạt chân hắn, khiến hắn lảo đảo suýt ngã nhào.

Một tiếng chửi thề bật ra khỏi miệng hắn, nhưng đúng lúc ấy Elma đã thành công giằng lấy khẩu súng khỏi đôi bàn tay gân guốc của hắn; giờ đây tôi dùng hết sức bình sinh siết chặt lấy hắn, sức mạnh sinh ra từ nhận thức về mối nguy cận kề cái chết. Toàn bộ tương lai của tôi, cũng như của nàng, phụ thuộc cả vào thắng bại trong cuộc đọ sức sinh tử này. Hắn to lớn và vạm vỡ, sức lực vượt xa tôi, nhưng thời ở Uppingham tôi từng được coi là một đô vật cừ khôi, và giờ đây kỹ năng của môn cận chiến cổ xưa ấy đã phát huy tác dụng đắc lực.

Tên lính gào thét cầu cứu, giọng trầm khàn của hắn dội vang khắp các hành lang đá. Nếu đồng bọn nghe thấy, báo động sẽ lập tức nổi lên.

Chúng tôi vật lộn điên cuồng, giằng co qua lại, hắn cố quật ngã tôi, trong khi tôi ở mỗi thế xoay chuyển đều áp dụng những ngón đòn học được thời trai trẻ. Tuy nhiên, đó dường như là một trận đấu cân sức, bởi hắn trụ vững bằng sức mạnh cơ bắp hoang dã, và các thớ thịt của hắn rắn đanh như thép nguội.

Nhưng bất thình lình, trong lúc chúng tôi đang giằng co quyết liệt và dữ dội, cô gái người Anh đã luồn qua chúng tôi với khẩu carbin trong tay, và bằng một động tác dứt khoát, nàng giật tung cánh cửa nặng nề mở ra phía mặt hồ.

Đúng khoảnh khắc ấy, không may tôi lại sẩy chân, và bàn tay hắn bóp chặt lấy cổ họng tôi như một chiếc gông thép. Tôi vùng vẫy dữ dội để thoát ra, gồng từng thớ cơ bắp, nhưng than ôi! Hắn đã chiếm thế thượng phong. Tôi nghe thấy một tiếng “tõm”, và thấy trên tay Elma không còn khẩu súng nữa; nàng đã ném phăng nó xuống nước.

Cũng đúng lúc đó, tôi nghe thấy một giọng nói từ bên ngoài khẽ gọi: “Cố lên, thưa ngài! Cố lên! Tôi vào cứu ngài đây.”

Đó là gã người Phần Lan trung thành, người vẫn kiên nhẫn chờ tôi trong bóng tối đặc quánh, và chỉ với vài nhát chèo, gã đã đưa thuyền áp sát vào bậu gỗ chênh vênh bên ngoài cửa.

“Đưa tiểu thư đi mau!” tôi cố sức thều thào bằng tiếng Nga. “Mặc kệ tôi,” và tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy gã dìu Elma bước xuống thuyền, đúng lúc con thuyền đang trôi lướt qua bậc thềm nhỏ.

Tôi dũng cảm chống cự, nhưng trước một kẻ có sức mạnh man rợ như thế, tôi hoàn toàn bất lực. Hắn bóp chặt cuống họng khiến tôi đau đớn đến nghẹt thở, và từng giây trôi qua, cơ hội chiến thắng của tôi cứ lụi tàn dần. Sức cùng lực kiệt. Khi còn khóa được hai tay hắn vào sườn, tôi có thể kìm giữ hắn mà không tốn quá nhiều sức, nhưng giờ đây với những ngón tay hắn đang cắm ngập vào khí quản, tôi không thể nào thở nổi.

Tôi đang dần dần bị bóp chết ngạt.

Bị khuất phục đồng nghĩa với ngục tù đày đọa nơi đây, thậm chí là cái chết. Còn chiến thắng sẽ mang lại mạng sống cho Elma, và cho cả chính tôi. Đây là cuộc chiến sinh tử giành giật mạng sống. Một ý nghĩ vụt lóe lên trong đầu, tôi tiếp tục giằng co kịch liệt, đồng thời dần dà ép lùi đối thủ về phía cửa. Hắn gào thét cầu cứu nhưng chẳng ai nghe thấy. Hắn rủa xả, chửi thề và la hét cho tới khi, bằng một nỗ lực phi thường gần như siêu phàm, tôi gạt ngã hắn, khiến đầu hắn đập mạnh vào thanh xà cửa bằng đá vang lên một tiếng khô khốc đến mức ở khoảng cách khá xa chắc chắn cũng nghe thấy. Trong chốc lát hắn bị choáng váng, và chỉ trong một giây ngắn ngủi ấy, tôi đã gỡ được bàn tay hắn khỏi cổ họng mình rồi dùng hết bình sinh hất ngược hắn ra ngoài cửa.

Tiếng gỗ gãy rắc rắc vang lên khi bậc thềm mục nát sụp đổ, một tiếng rơi tùm lớn, và ngay giây sau, làn nước đen ngòm đã nuốt chửng gã râu xồm đồ sộ suýt nữa đã cướp mất Elma Heath khỏi tay tôi và giam cầm tôi trong tòa lâu đài kinh hoàng ấy. Hắn chìm nghỉm như một tảng đá, bởi dù tôi đứng dõi mắt chờ hắn ngoi lên, tôi chỉ nhìn thấy những mảnh ván gỗ lững lờ trôi theo dòng nước.

Tuy nhiên, chỉ trong chớp mắt, ngay khi tôi còn đang đứng bàng hoàng trước hành động tự vệ của mình, nơi đây bỗng vang dội những tiếng la hét báo động, và trên ngọn tháp phía trên đầu tôi, chiếc chuông đồng cũ kỹ, rỉ sét bắt đầu đung đưa, gióng lên những hồi chuông chát chúa vang rền khắp mặt nước mênh mông.

Gã người Phần Lan râu hoe lại phóng thuyền tới chỗ tôi đứng, hét lớn—

“Nhảy xuống đi, thưa ngài! Mau nhảy đi kẻo mất mạng! Lính gác sắp ập tới rồi!”

Phía sau tôi nơi hành lang, ánh lửa bập bùng và ánh kim loại của binh khí lấp loáng. Một tiếng súng nổ chát chúa, và một viên đạn rít qua sát sạt bên tai tôi, nhưng may mắn tôi không hề hấn gì. Tôi nhảy bổ xuống, suýt làm lật úp con thuyền, nhưng lập tức chộp lấy một mái chèo và ra sức chèo thục mạng; khi chúng tôi vừa rời xa những bức tường thành đen ngòm u ám ấy, lửa từ ba khẩu súng trường lại khạc ra giận dữ.

“Chèo mau!” tôi hét lên, ngoái đầu lại xem người bạn đồng hành kiều diễm của mình có bị trúng đạn hay không.

“Bình tĩnh lại, thưa ngài,” gã người Phần Lan giục. “Nhìn kìa, tít đằng kia trong bóng tối. Ta có thể đánh lừa chúng, vì thuyền tuần tra thế nào cũng đang chực sẵn ở đầu nguồn sông để chặn đường chúng ta.”

Lũ lính gác lại nổ súng vào chúng tôi, nhưng trong màn đêm mịt mùng, phát bắn của chúng chệch hướng hoàn toàn. Ánh đèn bừng sáng trên những ô cửa sổ cao ngất của lâu đài, và chúng tôi có thể thấy một sự hỗn loạn tột cùng đã bùng phát trước vụ vượt ngục của tù nhân. Đám lính đứng ở cửa tháp đang gào thét gọi thuyền tuần tra—vốn chẳng thấy tăm hơi đâu—hối thúc họ chèo tới đuổi bắt chúng tôi; nhưng nhờ khua chèo thoăn thoắt, chúng tôi phóng thẳng một mạch qua hồ cho tới khi nép mình dưới bóng tối đen đặc của bờ bên kia, rồi từ từ men theo bờ trở lại hướng chúng tôi đã đi tới.

“Nếu chạm trán các thuyền kia, thưa ngài, chúng ta buộc phải tấp vào bờ rồi trốn vào rừng thôi,” gã người Phần Lan giải thích. “Đó là cơ hội sống sót duy nhất.”

Gã vừa dứt lời thì ngoài lòng hồ, chúng tôi lờ mờ nhận ra một chiếc thuyền dài với ba tay chèo đang lao vun vút về phía cửa sông, nơi chúng tôi đang rất muốn hướng tới.

“Nhìn kìa!” người dẫn đường khẽ kêu lên, hãm mái chèo cho thuyền dừng hẳn lại. “Chúng đang sục sạo tìm chúng ta đấy! Nếu bị phát hiện, chúng sẽ bắn ngay. Lệnh của chúng là thế. Tuyệt đối không một con thuyền nào được phép xuất hiện trên mặt hồ này.”

Elma ngồi dõi theo những kẻ truy đuổi, nhưng vẫn điềm tĩnh và lặng lẽ. Nàng dường như phó thác trọn vẹn bản thân cho tôi.

Đám lính gác đang ra sức chèo, tiếng mái chèo bì bõm cọ vào cọc chèo vang lên rành rọt, rõ ràng chúng tin rằng chúng tôi đã chạy trốn về phía dòng sông. Nhưng gã người Phần Lan dường như đã đoán trước được điều này, và chính vì thế chúng tôi mới nằm im an toàn khuất khỏi tầm mắt dưới bóng râm của một tán cây rủ xuống mặt nước.

Một làn sương xám đang từ từ bốc lên từ mặt hồ, và gã người Phần Lan nhìn thấy thì thầm hy vọng làn sương sẽ hỗ trợ chúng tôi. Ở Phần Lan vào cuối thu, sương mù thường dày đặc chẳng kém gì những màn sương mù khét tiếng ở London, nhưng trắng hơn, đặc quánh hơn và buốt giá hơn nhiều.

“Nếu lên bờ lúc này, chúng ta sẽ buộc phải đi vòng mất đứt bốn ngày đường trong rừng rậm để tránh đầm lầy,” gã chỉ tay thì thào. “Nhưng nếu vào được dòng sông, ta có thể cập bờ ở bất cứ đâu rồi đi bộ đến một nơi nào đó cho tiểu thư ẩn náu.”

“Anh thấy nên làm thế nào? Chúng tôi hoàn toàn trông cậy vào anh. Trưởng ty Cảnh sát đã bảo tôi rằng có thể tin tưởng anh tuyệt đối.”

“Tôi nghĩ tốt nhất là nên mạo hiểm một phen,” sau một thoáng ngập ngừng, gã đáp bằng tiếng Nga. “Chúng ta sẽ buộc thuyền lại, rồi tôi sẽ đi men theo bờ xem đám lính gác đang làm gì. Ngài hãy ở lại đây, tôi sẽ không để bị phát hiện đâu. Đằng kia lau sậy và bụi rậm mọc rậm rạp hơn. Nhưng nếu có biến trong lúc tôi vắng mặt, ngài hãy lên bờ và đi thẳng về hướng tây cho tới khi gặp đầm lầy, rồi cứ men theo bờ đầm mà đi thẳng về hướng nam,” dứt lời, gã kéo thuyền sát vào bờ, rồi thân hình vạm vỡ, khôn ngoan của gã lẩn khuất vào những bụi cây rậm rạp trong màn đêm.

Trời vẫn chưa có dấu hiệu gì của rạng đông. Thậm chí các vì sao lúc này đã bị mây che khuất, và mặt nước phẳng lặng mênh mông mỗi lúc một mờ mịt hơn khi hai chúng tôi ngồi lặng lẽ bên nhau. Tôi căng tai lắng nghe tiếng mái chèo khua nước hay một tiếng người nói, nhưng ngoài tiếng sóng vỗ ì ọp dưới mạn thuyền, chẳng có lấy một âm thanh nào khác. Tôi nắm lấy bàn tay của cô gái có gương mặt thanh tú bên cạnh và khẽ siết chặt. Đáp lại, nàng cũng siết nhẹ tay tôi.

Đó là cách duy nhất để chúng tôi sẻ chia nỗi niềm tin cậy. Người con gái mà tôi đã lặn lội tìm kiếm suốt bao tháng ngày ròng rã nay đang ngồi cạnh tôi, vậy mà không thể cất lên một lời nào.

Vẫn nắm chặt đôi bàn tay nàng trong tay mình, tôi siết nhẹ như muốn tỏ cho nàng thấy tôi nguyện sẽ là người bảo vệ chở che cho nàng, trong khi nàng quay sang nhìn tôi đầy tin tưởng, như thể hạnh phúc vì được như vậy. Tôi tự hỏi, cuộc đời nàng đã trải qua những gì? Bức màn bí mật vây quanh nàng là gì? Bí mật nào có thể khiến kẻ thù của nàng nỡ ra tay tàn độc hủy hoại thân thể nàng đến mức này, rồi đày ải nàng vào pháo đài u ám, kinh hoàng vẫn đang lù lù hiện ra trước mắt chúng tôi trong bóng tối? Hẳn bí mật của nàng phải đụng chạm đến quyền lợi của một nhân vật vô cùng quyền thế, bằng không chúng đã chẳng bao giờ dùng đến những thủ đoạn quyết liệt đến nhường ấy để bịt miệng nàng.

Bất thình lình, tôi nghe thấy tiếng bước chân rón rén tiến lại gần, và ngay sau đó một giọng nói khẽ vang lên mà tôi nhận ra ngay là của người bạn Phần Lan.

“Có nguy hiểm rồi, thưa ngài—nguy hiểm lớn lắm!” gã thì thào gấp gáp. “Ba chiếc thuyền đang lùng sục tìm chúng ta.”

Gã vừa dứt lời thì từ trong làn sương mù lóe lên một tia lửa súng trường, một tiếng nổ chát chúa vang lên, và lại một viên đạn nữa rít qua sát ngay sau đầu tôi. Trong chớp mắt, sự thật đã phơi bày, bởi tôi nhìn thấy bóng đen của một chiếc thuyền đang chèo thục mạng lao thẳng về phía chúng tôi. Phát súng vừa rồi là tín hiệu báo rằng chúng tôi đã bị phát hiện và đang bị truy đuổi. Những phát súng khác thi nhau nổ rộ, hòa lẫn với những tiếng reo hò man dại, đắc thắng của đám lính gác khi chúng xông thẳng tới, và tôi hiểu rằng, dẫu đã trốn thoát được khỏi ngục, giờ đây chúng tôi coi như đã cùng đường. Chúng đã áp sát quá gần, không còn đường nào để lẩn tránh. Mối hiểm nguy chúng tôi hằng lo sợ đã ập xuống. Rõ ràng sự xuất hiện của gã người Phần Lan trên bờ đã bị một chiếc thuyền tuần tra tấp bên bờ phát hiện, và chúng đã bám theo gã đến tận nơi chúng tôi đang nấp—nơi mà chúng tôi đã ngây thơ lầm tưởng là một chốn ẩn náu an toàn. Chẳng còn cách nào khác là phải đối mặt với số phận nghiệt ngã. Ba lần ánh lửa đỏ lừ từ nòng súng trường phả thẳng vào mặt chúng tôi, thế nhưng nhờ may mắn, không ai trong chúng tôi bị trúng đạn. Dẫu vậy, chúng tôi thừa hiểu rằng ý đồ của những kẻ truy đuổi là giết chết chúng tôi bằng được.

“Nhanh lên, thưa ngài! Chạy mau! Khi còn kịp!” gã người Phần Lan thở hổn hển, nắm lấy tay tôi và kéo tôi lên khỏi thuyền, trong khi tôi vội đỡ Elma lên bờ.

“Hoida! Lối này! Nhanh lên!” người dẫn đường giục giã, và cả ba chúng tôi, bất chấp mọi hậu quả, lao bổ vào bóng đêm mịt mùng không nhìn rõ lối đi, đúng lúc những kẻ truy đuổi hung hãn tấp thuyền vào ngay chỗ chúng tôi vừa ngồi cách đó một giây. Chúng gào thét man dại khi nhảy tót lên bờ đuổi theo, nhưng người dẫn đường của chúng tôi, kẻ sinh ra và lớn lên ở những cánh rừng này, biết rất rõ cách chạy theo đường vòng cung và cách che giấu dấu vết. Đó là một cuộc chạy đua giành giật tự do—không, là giành giật chính mạng sống.

Trời tối đen như mực đến nỗi chúng tôi khó lòng nhìn thấy gì ở khoảng cách quá một bước chân, buộc phải đưa hai tay ra phía trước để tránh đâm sầm vào những thân cây lớn, trong khi chốc chốc chúng tôi lại vướng vào mớ dây leo chết khô và thực vật ký sinh chằng chịt tạo nên tầng tầng lớp lớp bụi rậm rạp. Bốn bề quanh chúng tôi vang lên những tiếng la hét, chửi rủa của đám người truy đuổi, và át hẳn lên trên hết thảy, chúng tôi nghe thấy một giọng nói đầy uy quyền, rõ ràng là của một viên trung sĩ chỉ huy toán lính gác, quát lớn—

“Bắn chết thằng đàn ông, nhưng để con đàn bà lại! Đại tá muốn bắt sống ả mang về. Tuyệt đối không được để ả trốn thoát! Chúng ta sẽ được trọng thưởng hậu hĩnh. Tiến lên, các đồng chí! Mene edemmäski!”

Nhưng cô gái đang run rẩy bên cạnh tôi chẳng nghe thấy gì hết, và có lẽ nàng không nghe thấy lại là điều may mắn nhất. Nỗi sợ hãi duy nhất của tôi là những kẻ truy đuổi, lúc này có vẻ đã lên tới cả chục tên, đã tản ra thành hàng ngang với ý đồ khép vòng vây bọc lấy chúng tôi. Chắc chắn chúng thông thuộc từng tấc đất của cánh rừng khổng lồ đầy rẫy đầm lầy và bãi lầy này, và nếu không tìm thấy chúng tôi, chúng sẽ dồn chúng tôi vào một trong những bãi lầy đó, nơi lối thoát là điều hoàn toàn không tưởng.

Trái lại, người dẫn đường dũng cảm của chúng tôi dường như chẳng màng đến hiểm nguy mà cứ thế tiến bước, thỉnh thoảng lại chìa tay ra nâng đỡ cô gái tật nguyền mà chúng tôi vừa giải cứu khỏi nấm mồ sống. Chúng tôi cắm đầu chạy thẳng một mạch, cho tới khi đột nhiên cảm thấy bàn chân bắt đầu lún sâu vào nền đất mềm xốp; ngay lập tức gã Phần Lan rẽ ngoặt sang bên trái vuông góc, và chúng tôi lọt vào một bụi rậm dày đặc hơn, nơi trong bóng tối bàn tay và mặt mũi chúng tôi bị cào xước tơi bời.

Một phát súng hiệu nữa nổ vang, dội qua cánh rừng, nhưng âm thanh lại phát ra từ hướng ngược lại với đường chúng tôi đang đi; bởi thế chúng tôi hy vọng mình đã cắt đuôi được những kẻ đang khao khát săn lùng chúng tôi để lấy tiền thưởng. Nhưng bất thình lình, một phát súng thứ hai, một tín hiệu đáp lời, lại nổ vang ngay trước mặt chúng tôi, và điều đó đã phơi bày sự thật cay đắng. Chúng tôi thực sự đang bị kẹp giữa hai toán lính, và chúng đang dần khép chặt vòng vây! Chúng đã dồn chúng tôi đến sát mép đầm lầy. Gã Phần Lan nhận ra mối hiểm nguy cũng nhanh như tôi, và dừng phắt lại.

“Ta quay ngược lại thôi,” gã giục giã trong hơi thở dồn dập. “May ra còn có thể lừa được chúng.”

Thế rồi chúng tôi lại rẽ vuông góc một lần nữa, cắm đầu chạy nhanh hết mức có thể quay trở lại bờ hồ. Đó là một cuộc rượt đuổi nghẹt thở trong bóng đêm, bởi chúng tôi chẳng biết mình đang đi đâu, cũng chẳng biết liệu mình có thể sẩy chân rơi vào một cái bẫy ngầm, một hẻm núi hay một vùng đầm lầy hiểm độc nào không. Có một lần, từ đằng xa qua rặng cây, chúng tôi nhìn thấy ánh đèn lồng của một tên lính gác, và lúc này cô gái có gương mặt ngọt ngào bên cạnh tôi dường như đã kiệt sức và mệt mỏi rã rời. Nhưng chúng tôi vẫn hối hả tiến bước, cố gắng không gây ra một tiếng động nào, dẫu cho tiếng cành cây khô gãy răng rắc dưới chân chúng tôi nghe chẳng khác nào tiếng sấm rền.

Cuối cùng, thở không ra hơi, chúng tôi dừng lại nghe ngóng. Chúng tôi đã nhìn thấy màn sương xám mờ ảo nơi mặt hồ tĩnh mịch chôn giấu biết bao bí mật nằm im lìm. Không một tiếng động. Lũ lính gác đã đuổi thẳng về phía trước, đinh ninh rằng chúng đã dồn chúng tôi vào bãi lầy chết chóc kia, nơi nếu bước chân vào, chúng tôi chắc chắn sẽ bị hút chìm dần và nuốt chửng. Chúng hẳn đang vây bọc quanh đó, tin chắc con mồi đã nằm gọn trong tay.

Nhưng chúng tôi đã lẻn đi men theo mép nước, cho đến khi dưới ánh sáng mờ mờ, chúng tôi nhận ra hai chiếc thuyền trống không—chiếc của đám lính gác và chiếc của chính chúng tôi. Chúng tôi đã quay trở lại đúng nơi mình từng lên bờ.

“Ta hãy chèo thuyền lên mạn đầu hồ đi,” gã Phần Lan gợi ý. “Ở đó ta có thể lên bờ và trốn thoát khỏi tay chúng.” Chỉ một khoảnh khắc sau, cả ba chúng tôi đã ngồi trên chiếc thuyền của đám lính gác, dùng hết sức bình sinh chèo thuyền dưới bóng râm đen đặc của bờ hồ ngược về hướng bắc, hướng ngược lại với thị trấn Nystad.

Chúng tôi căng mắt cảnh giác nhìn quanh xem có con thuyền nào khác không, nhưng chẳng thấy chiếc nào. Những phát súng hiệu trên bờ đã thu hút toàn bộ lính gác dồn về địa điểm đó để tham gia lùng sục, và giờ đây, nhờ đi đường vòng rồi lại xuống thuyền, từng giây trôi qua khoảng cách giữa chúng tôi và những kẻ truy đuổi cứ thế giãn rộng ra. Tôi nghĩ chúng tôi hẳn đã chèo được vài dặm, bởi trước khi chúng tôi cập bờ trở lại nơi một dải đất thấp, bằng phẳng và cằn cỗi, vệt sáng xám đầu tiên của ngày mới đã ló rạng ở phương đông.

Elma nhận ra điều đó, và nàng cứ đăm đăm nhìn vào vệt sáng bằng đôi mắt nâu to tròn đầy trầm tư. Đó chính là ánh bình minh dành cho nàng—bình minh của một cuộc đời mới. Ánh mắt chúng tôi giao nhau; nàng mỉm cười với tôi, rồi lại nhìn về hướng đông, ánh mắt chan chứa biết bao ý niệm thầm kín.

Lên bờ xong, chúng tôi kéo chiếc thuyền lên rồi giấu biến vào bụi rậm để đám lính gác khi lùng sục sẽ không thể biết chúng tôi đã đi theo hướng nào, rồi chúng tôi cứ thế đi thẳng về phía bắc băng qua những vùng đất trũng, hướng về nơi cánh rừng hiện lên đen thẫm trên nền trời xám xịt ban mai. Làn sương mù lúc này đã tan đi đôi chút, nhưng không khí vẫn buốt giá và căm căm.

Chúng tôi nhận thấy cánh rừng này rợp những cây thông cao vút, mặt đất khá dễ đi, một vùng cây cối hoang vu bạt ngàn mà hàng giờ liền chúng tôi mải miết băng qua trong nỗ lực vô vọng tìm kiếm lối mòn gập ghềnh mà người dẫn đường bảo rằng kéo dài cả trăm dặm từ Alavo xuống tận Tammerfors, trung tâm công nghiệp của xứ này. Nhưng muốn tìm ra một con đường mòn trong một cánh rừng rộng tới bốn mươi dặm là một việc vô cùng khó khăn, và suốt nhiều tiếng đồng hồ chúng tôi cứ thế lang thang mãi, nhưng than ôi, công cốc vẫn hoàn công cốc.

Đói lả và kiệt sức, chúng tôi vẫn cố giữ vững can trường. May sao chúng tôi tìm thấy một con suối nhỏ, và cả ba vội vã dùng tay vục nước uống thỏa thuê. Nhưng về phần thức ăn thì chẳng có gì, ngoài một mẩu bánh mì lúa mạch đen cứng như đá mà gã Phần Lan còn sót lại trong túi áo sau bữa tối hôm trước; chúng tôi nhường cả cho Elma, và vì đói lả nên nàng ăn ngấu nghiến rất nhanh. Chúng tôi thừa hiểu rằng việc chết đói trong cánh rừng bạt ngàn không dấu chân người này là điều rất dễ xảy ra, bởi thế chúng tôi vẫn không nản lòng cất bước, trong khi vầng thái dương vàng vọt mùa thu cố len lỏi qua những rặng thông tối tăm, rọi le lói lên những thân cây xám thẳng tắp và hắt lên ánh sáng hoàng kim giữa bầu không gian tĩnh mịch chết chóc, không một tiếng động khuấy động.

Tôi chẳng biết mình đã lê bước được bao nhiêu dặm đường. Thật là một niềm an ủi khi biết rằng lúc này không còn kẻ nào bám đuổi phía sau, nhưng số phận nào đang đón đợi chúng tôi phía trước thì chẳng ai hay. Giá như tìm được con đường rừng ấy, chúng tôi có thể tình cờ bắt gặp một túp lều tiều phu nào đó để xin chút đồ ăn thô đạm, thế nhưng người dẫn đường của chúng tôi, dù đã quá quen thuộc với những cánh rừng bạt ngàn miền trung Phần Lan, cũng hoàn toàn mất phương hướng, và đôi mắt tinh tường, dày dạn kinh nghiệm của gã chẳng nhận ra bất kỳ dấu vết nào của nền văn minh. Ánh sáng phía trên cao cứ thế lụi tàn dần, và vấp phải một hòn đá sắc nhọn, Elma ngã quỵ xuống làm rách toạc cả chiếc giày.

Tôi nhìn đồng hồ, thấy đã năm giờ chiều. Chỉ một tiếng nữa thôi là trời sẽ tối sầm, khởi đầu cho một đêm dài lạnh giá của phương bắc. Elma, mệt mỏi rã rời và bàn chân đau nhức, ra hiệu xin được nằm xuống nghỉ ngơi. Thế là chúng tôi gom một đống lá khô làm giường cho nàng, nàng ngả lưng xuống và trong lúc chúng tôi canh chừng, nàng đã nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Gã người Phần Lan, một mực khẳng định mình không hề sợ lạnh, cởi chiếc áo khoác ngoài và nhẹ nhàng đắp lên đôi vai nàng.

Trong khi ánh sáng le lói cuối cùng vẫn còn vương lại, tôi ngắm nhìn những đường nét thanh tú, trắng ngần của nàng trong giấc ngủ, và trong lòng trào dâng một thôi thúc mãnh liệt muốn cúi xuống đặt một nụ hôn lên đôi gò má mềm mại, đầy mời gọi ấy. Nhưng tôi không có quyền làm thế—tôi không thể lợi dụng tình cảnh này.

Đêm dài buốt giá trôi qua trong mệt mỏi, và những tiếng sói tru từng chập khiến tay tôi bất giác nắm chặt lấy khẩu súng lục; nhưng khi rạng đông ló rạng, chúng tôi thức dậy cảm thấy khỏe khoắn hơn, và bất chấp những cơn đói cồn cào đang gặm nhấm ruột gan, chúng tôi đã sẵn sàng tiếp tục cuộc đào thoát liều lĩnh giành lấy tự do.

Dù có giấy nhưng tôi lại chẳng có bút chì để viết, thành thử tôi chỉ có thể giao tiếp bằng cử chỉ với người tù nhân bí ẩn của thành Kajana, cô gái kiều diễm với đôi mắt đen thẳm đã hớp trọn hồn tôi dưới sức quyến rũ không thể cưỡng lại của sắc đẹp. Mọi cử chỉ quan tâm, cung kính nhỏ bé mà tôi có thể làm, nàng đều đón nhận với một vẻ trang nghiêm, tĩnh lặng và thanh nhã, trong khi nơi đôi mắt sâu thẳm, sáng ngời của nàng, tôi đọc được một bức màn bí ẩn khôn cùng.

Màn sương mù vẫn chưa tan hẳn, bởi trời vừa hửng sáng thì chúng tôi đã lại lên đường, bụng đói, người run lên vì lạnh nhưng lòng vẫn tràn trề hy vọng. Đến một con suối, chúng tôi uống tạm chút nước, rồi trong một đoàn người lặng lẽ, chúng tôi lại hối hả tiến bước để tìm kiếm lối mòn gập ghềnh của những người tiều phu.

Chiếc giày rách của Elma khiến nàng vô cùng khổ sở, và nhận thấy dáng đi khập khiễng của nàng, tôi bảo nàng ngồi xuống để tôi cởi giày ra xem, hy vọng có thể sửa lại được đôi chút; nhưng khi tháo dây giày, tôi thấy trên chiếc tất của nàng có một vệt máu đọng lớn, nơi chính bàn chân nàng cũng đã bị cứa rách. Tôi dùng một hòn đá đập lại những chiếc đinh trên đế giày để đế khỏi rơi ra, rồi nàng xỏ chân vào lại, mỉm cười để mặc tôi buộc dây giày cho nàng.

Chúng tôi lại lê bước về phía trước, cứ mải miết tiến lên, băng qua cánh rừng bạt ngàn nơi muôn vàn thân cây dựng lên cùng một khung cảnh ảm đạm như nhau ở khắp mọi ngả, một cánh rừng hoang vu chưa từng in dấu chân người ngoại trừ những gã tiều phu hoang dã, nửa phần man rợ. Suốt cả ngày dài xám xịt ảm đạm ấy, chúng tôi cứ thế cất bước, lả đi vì đói, nhưng lại cảm thấy ít đau đớn hơn, bởi những cơn đau cồn cào ban đầu lúc này đã qua đi, nhường chỗ cho một cảm giác hơi chếnh choáng váng đầu. Nỗi sợ hãi duy nhất của tôi là chúng tôi sẽ buộc phải trải qua một đêm nữa ngoài trời không nơi trú ẩn, và điều đó sẽ ảnh hưởng thế nào đến cô gái vốn quen sống trong nhung lụa mà tôi đang âu yếm nắm chặt tay trong tay mình. Tình cảnh của tôi quả thực kỳ lạ xiết bao. Căn bệnh tật nguyền khủng khiếp dường như khiến nàng hoàn toàn phải nương tựa vào tôi.

Đột nhiên, đúng lúc ánh nắng vàng vọt trên cao bắt đầu tàn lụi, gã Phần Lan mặt bẹt, người từng cho tôi biết tên gã là Felix Estlander, reo lên vui sướng—

“Polushaite! Nhìn kìa, thưa ngài! A! Con đường đây rồi!”

Và khi nhìn về phía trước, chúng tôi thấy đôi mắt tinh tường, được rèn luyện kỹ càng của gã đã phát hiện ra ở tít đằng xa trong ánh hoàng hôn một lối mòn vắt ngang qua tầm mắt chúng tôi giữa những thân cây xám xanh. Chúng tôi vội vã rảo bước, và nhận ra mình đang đứng trên một lối mòn, rồi rẽ sang phải—một con đường gập ghềnh và lún sâu những vết rãnh do những thân cây gỗ bị đốn hạ kéo lê dọc theo lối này để ra con sông gần nhất.

Elma làm một cử chỉ như vừa nhen nhóm lại niềm hy vọng, và cả ba chúng tôi rảo bước nhanh gấp đôi, từng giây từng phút đều ngóng đợi sẽ bắt gặp một túp lều gỗ nào đó, nơi chủ nhân chắc chắn sẽ sẵn lòng cho chúng tôi trọ lại qua đêm. Nhưng bóng tối sập xuống quá nhanh, thế mà chúng tôi vẫn mải miết tiến bước. Elma tội nghiệp bước đi khập khiễng, và tôi biết bàn chân bị thương đang làm nàng đau đớn dữ dội, dẫu nàng chẳng thể nào hé răng nói với tôi nửa lời.

Nhưng rốt cuộc, sau gần bốn tiếng đồng hồ mò mẫm đi trong bóng tối gần như đặc quánh của rừng rậm, luôn nơm nớp lo sợ mình có thể lạc mất lối mòn, tim chúng tôi bỗng đập rộn lên khi thấy trước mặt một ánh đèn hắt ra từ ô cửa sổ; năm phút sau, Felix đã gõ cửa và cất tiếng hỏi bằng tiếng Phần Lan, xin người trong nhà mở lòng hào hiệp cưu mang một tiểu thư bị lạc trong rừng.

Chúng tôi nghe thấy một tiếng gầm gừ trầm đục như một lời nguyền rủa lầm bầm bên trong, và khi cánh cửa mở ra, đứng sừng sững trên ngưỡng cửa là một lão già cao lớn, râu ria xồm xoàm, cơ bắp cuồn cuộn trong chiếc áo sơ mi đỏ cáu bẩn, tay lăm lăm một khẩu súng lục lớn sáng loáng. Một cái nhìn sắc lẹm lướt qua chúng tôi đã làm lão yên tâm rằng chúng tôi không phải phường trộm cướp, và lão mời chúng tôi vào nhà trong khi Felix giải thích rằng chúng tôi vừa từ dưới hồ lên bờ, do thuyền bị trôi mất nên buộc phải đâm đầu vào rừng. Lão già lắng nghe câu chuyện thêu dệt đầy sinh động của gã Phần Lan, rồi nói vài lời với tôi mà Felix đã dịch lại sang tiếng Nga.

“Kính mời quan lớn cứ tự nhiên dùng chút đồ ăn đạm bạc mà lão có. Lão xin nhường chiếc giường trong buồng kia cho tiểu thư để cô ấy nghỉ ngơi. Lão lấy làm vinh hạnh vì được quan lớn quang lâm tới tệ xá.”

Và trong khi gã đang giải thích, lão tiều phu hộ pháp trong chiếc áo đỏ liền cời đống than hồng, nơi có một chiếc nồi lớn đang sôi sùng sục và tỏa ra mùi thơm ngào ngạt nức mũi; chỉ năm phút sau, cả ba chúng tôi đã cùng ngồi xúm xít quanh nồi thịt gà gô hầm, kèm theo món bia nhẹ sủi bọt làm thức uống đưa cay tuyệt hảo. Chúng tôi chén sạch bách món ăn với tốc độ nhanh như chớp giật đến nỗi chủ nhà phải luộc thêm cho chúng tôi một đống trứng, khiến chạn thức ăn của lão e rằng chẳng còn lại thứ gì.

Ngôi nhà là một túp lều tồi tàn gồm hai gian phòng thấp tè, dựng bằng những súc gỗ thông thô ráp, có cửa sổ kép chắn gió đông và một chiếc lò sưởi bằng gạch cao nghễu nghện. Sạch sẽ thì chắc chắn không phải là điểm nổi bật của nơi này, dẫu vậy tất cả chúng tôi đã trải qua một giờ đồng hồ vô cùng dễ chịu, và nhận được sự tiếp đón nồng hậu từ lão già cô độc sống cả đời cách biệt hẳn với nền văn minh châu Âu, người kể cho chúng tôi hay rằng ngôi nhà của lão thường xuyên bị tuyết phủ kín và cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài suốt ba đến bốn tháng liền.

Dùng bữa xong, tôi hỏi xin người đàn ông vạm vỡ ấy một cây bút chì, nhưng thứ gần nhất với bút mà lão có chỉ là một mẩu than củi dày cộp, và với thứ đó thì quả thực rất khó để trò chuyện với người bạn đồng hành kiều diễm của chúng tôi. Bởi vậy, nàng đứng dậy, đưa tay cho tôi, mỉm cười cúi đầu chào rồi bước vào gian buồng trong và khép cửa lại.

Lão tiều phu già cho chúng tôi một ít thuốc lá sợi thô, và sau khi hút thuốc trò chuyện chừng một tiếng đồng hồ, chúng tôi mệt mỏi ngả lưng xuống những chiếc ghế dài bằng gỗ và ngủ thiếp đi một giấc say nồng.

Nhưng bất thình lình, vào lúc tờ mờ sáng, chúng tôi giật thót mình tỉnh giấc bởi những tiếng đập cửa rầm rầm như trời giáng, tiếng vó ngựa dồn dập và những tiếng thét thị uy bằng tiếng Nga. Lão tiều phu già bật dậy, nhìn qua khe hở trên cánh cửa chớp nặng nề rồi quay lại nhìn chúng tôi với gương mặt không còn giọt máu, hổn hển thì thào—

“Cảnh sát! Họ muốn gì ở tôi cơ chứ?”

“Mở cửa!” toán kỵ mã bên ngoài quát lớn. “Nhân danh Hoàng đế bệ hạ, mở cửa mau!”

Felix và tôi bật dậy nhìn trừng trừng vào nhau.

“Chúng ta mắc bẫy rồi!”

Trong chớp mắt, Felix, người dẫn đường của chúng tôi, lao bổ về phía cửa gian buồng trong nơi Elma đã vào nghỉ ngơi, nhưng chỉ một giây sau gã đã quay ngoắt trở ra, thảng thốt thở không ra hơi bằng tiếng Nga—

“Thưa ngài! Trời đất ơi, cửa mở toang rồi! Tiểu thư đã biến mất!”

“Biến mất ư!” tôi thốt lên kinh hoàng, lao bổ vào căn buồng nhỏ, thấy chiếc chõng ọp ẹp trống trơn, và cánh cửa thông ra bên ngoài đang mở toang. Nàng thực sự đã biến mất không một dấu vết!

Lũ cảnh sát lại tiếp tục đập huỳnh huỳnh vào cánh cửa đối diện, lớn tiếng dọa dẫm sẽ phá tung cửa nếu không mở ra ngay lập tức; thấy vậy lão tiều phu đành rút then cài cho chúng vào. Hai gã to lớn, lực lưỡng trong những chiếc áo choàng cưỡi ngựa nặng trịch và lủng lẳng thanh gươm bên hông sải bước bước vào, trong khi hai tên khác vẫn cưỡi trên lưng ngựa bên ngoài để giữ ngựa.

“Tên họ là gì?” một tên trong số đó gặng hỏi, đưa mắt nhìn chúng tôi khi chúng tôi đang đứng tụ lại chờ đợi.

Chủ nhà xưng tên họ của mình, rồi hỏi vì sao chúng lại muốn xông vào nhà.

“Chúng tao đang truy lùng một mụ đàn bà vừa vượt ngục khỏi Kajana,” tên lính đáp. “Lão có thấy người đàn bà nào ở quanh đây không?”

“Không,” lão tiều phu đáp. “Ở chốn rừng sâu này chúng tôi chưa từng thấy bóng dáng người đàn bà nào cả.”

Viên sĩ quan cảnh sát sải bước vào gian buồng trong, đảo mắt nhìn quanh để chắc chắn không có ai lẩn trốn trong đó, rồi quay trở lại chỗ tôi hỏi: “Mày là ai?”

“Đó là việc riêng của tôi,” tôi đáp.

Bí ẩn về sự biến mất của Elma trong lúc chúng tôi đang say ngủ khiến tôi vô cùng bực bội. Nàng dường như đã lén lút trốn chạy khỏi tôi. Nhưng liệu nàng có nhận được lời cảnh báo nào đó rằng cảnh sát đang lùng sục nàng chăng? Nàng bị điếc, thành thử nàng không thể nào giật mình bởi tiếng đập cửa huỳnh huỳnh được.

“Lai lịch của mày là việc của tao,” gã có bộ râu hoe lởm chởm tuyên bố, một chân dung điển hình của loại sĩ quan cảnh sát thô lỗ, cộc cằn.

“Thủ trưởng của các người là ai?” tôi gặng hỏi khi một ý nghĩ bất chợt lóe lên trong đầu.

“Melnikoff, ở Helsingfors.”

“Vậy nơi này đâu thuộc địa hạt Abo?”

“Không. Nhưng điều đó thì can hệ gì? Mày là ai?”

“Gordon Gregg, công dân Anh,” tôi đáp.

“Còn mày là thằng đánh xe ngựa ở Abo,” gã quay sang Felix nhận xét. “Đúng hệt như tao nghĩ. Chúng mày chính là cái cặp đã đút lót cho con mụ xơ ở Kajana, rồi giải thoát thành công cho con ả người Anh. Nhân danh Sa hoàng, tao bắt giữ chúng mày!”

Lão tiều phu già mặt cắt không còn giọt máu. Chúng tôi thực sự đang lâm vào tình cảnh vô cùng nguy hiểm, bởi tôi lường trước được mối họa khi sa vào tay Nam tước Oberg, Kẻ bóp nghẹt Phần Lan. Song chúng tôi vẫn thấy an ủi phần nào khi biết rằng, dẫu bức màn bí ẩn kia có là gì đi chăng nữa, thì Elma cũng đã trốn thoát an toàn.

“Và xin hỏi, các người dựa vào tội danh gì mà dám bắt giữ tôi?” tôi bình tĩnh gặng hỏi hết mức có thể.

“Tội đồng lõa giúp tù nhân vượt ngục.”

“Vậy thì tôi xin nói cho các người hay, thứ nhất, các người không có thẩm quyền bắt giữ tôi; và thứ hai, nếu các người muốn tôi hợp tác làm rõ mọi chuyện, tôi hoàn toàn sẵn lòng, với điều kiện trước hết các người phải đi cùng tôi về Abo.”

“Nơi đó nằm ngoài địa hạt của tao,” gã càu nhàu, nhưng tôi nhận thấy sự ngập ngừng của gã bắt nguồn từ nỗi băn khoăn không biết thực chất tôi có thể là nhân vật cỡ nào.

“Tôi yêu cầu các người đưa tôi đến gặp Trưởng ty Cảnh sát Boranski, ông ấy sẽ đưa ra mọi lời giải thích cần thiết. Chừng nào chưa được diện kiến ông ấy, tôi từ chối cung cấp bất kỳ thông tin nào về bản thân,” tôi nói.

“Nhưng mày có hộ chiếu không?”

Tôi rút hộ chiếu trong túi ra và nói—

“Tôi nghĩ nó đủ chứng minh tên tôi đúng như những gì tôi vừa nói với ông.”

Gã đứng dạng chân ra đọc, rồi trả lại cho tôi.

“Con ả đàn bà đâu rồi?” gã quát hỏi. “Nói mau.”

“Tôi không biết,” tôi đáp ngắn gọn.

“Có lẽ lão sẽ nói cho tao biết chứ nhỉ,” gã quay sang lão tiều phu với vẻ mặt đầy nham hiểm. “Hãy nhớ cho, những kẻ đào tẩu này bị bắt ngay trong nhà lão, và lão hoàn toàn có thể bị tống giam đấy.”

“Tôi không biết—thực sự tôi không biết gì cả!” lão già run rẩy phân trần trước lời đe dọa của viên sĩ quan. Như bao người cùng tầng lớp, lão vô cùng sợ hãi cảnh sát và coi họ như một nỗi khiếp đảm.

“À, tao đồ là lão chẳng nhớ gì đâu nhỉ!” gã cười khẩy. “Thôi được, có lẽ một hai tháng bóc lịch trong tù sẽ giúp trí nhớ của lão phục hồi đấy. Lão cũng bị bắt luôn.”

“Nhưng bẩm quan lớn, tôi…”

“Đủ rồi!” viên sĩ quan râu xồm quát tháo om sòm. “Lão đã chứa chấp những kẻ phản loạn. Chắc hẳn lão biết rõ hình phạt cho tội đó ở Phần Lan là gì rồi chứ?”

“Nhưng những quý ông này chắc chắn đâu phải phường phản loạn!” người đàn ông già tội nghiệp phân trần. “Ngài đây là người Anh, mà người Anh thì đâu có mưu phản.”

“Rồi xem sau sẽ rõ,” gã cười khẩy. Đoạn, quay sang tên tay sai cảnh sát bên cạnh, gã ra lệnh cho hắn lục soát túp lều gỗ thật kỹ lưỡng, một cuộc khám xét có thêm một tên lính từ bên ngoài bước vào cùng tham gia. Chúng lục tung mọi thứ và dòm ngó khắp ngõ ngách.

“Chúng mày có thể tìm thấy giấy tờ hoặc thư từ đấy,” viên sĩ quan nói. “Hãy lục soát cho kỹ.” Và chúng sục sạo khắp mọi ngóc ngách, thậm chí còn cậy cả mấy tấm ván sàn trong gian buồng trong nơi Elma từng nằm nghỉ. Nhưng chúng chẳng tìm thấy bất cứ thứ gì.

Cả chục lần lão tiều phu già bị tra khảo, nhưng lão nhất quyết không chịu thừa nhận mình từng nhìn thấy Elma, trong khi tôi khăng khăng đòi thực hiện quyền được quay trở lại Abo để gặp Boranski. Dĩ nhiên, qua những gì tình cờ nghe lén được từ đám lính canh ngục, tôi biết rõ ngài Tổng toàn quyền đang vô cùng sốt sắng muốn bắt lại cô gái mà tôi xin thú thật là lúc này đã yêu nàng say đắm đến điên cuồng. Và dường như chúng không từ một nỗ lực nào để lùng sục chúng tôi. Quả thực, toàn bộ lực lượng cảnh sát ở hai tỉnh Abo và Helsingfors dường như đang ráo riết tiến hành lục soát từng nhà một.

Nhưng sự thật đằng sau sự biến mất của Elma là gì cơ chứ? Phải chăng nàng tự ý bỏ trốn, hay lại một lần nữa trở thành nạn nhân của một âm mưu thâm hiểm và đê hèn nào khác? Tôi chợt nhớ ra rằng bộ váy màu xám của nàng có thể sẽ tố cáo nàng nếu nàng dám bén mảng đến gần bất kỳ thị trấn nào, trong khi bản thân căn bệnh tật nguyền của nàng đã là một bằng chứng nhận dạng quá rõ ràng. Tất cả những gì tôi hy vọng là nàng đã chạy trốn và ẩn náu đâu đó trong cánh rừng gần đây để chờ cho đến khi mối nguy hiểm bị bắt lại qua đi.

Suốt gần nửa tiếng đồng hồ, tôi tranh luận nảy lửa với viên sĩ quan cảnh sát, kẻ nung nấu ý định giải tôi về Helsingfors dưới danh nghĩa tù nhân bị bắt giữ. Tuy nhiên, một khi đã đến đó, tôi thừa hiểu rằng quyền tự do của mình rất có thể sẽ vĩnh viễn mất đi. Dù động cơ của viên Nam tước trong việc giam giữ cô gái tội nghiệp là gì, thì đó cũng sẽ là động cơ để ông ta bịt miệng tôi. Tôi đã biết quá nhiều điều vượt quá mức ông ta mong muốn.

“Tôi từ chối đến Helsingfors,” tôi lớn tiếng thách thức. “Tôi là công dân Anh, và tôi yêu cầu phải được đưa trở lại hải cảng nơi hộ chiếu của tôi được thị thực.” Luận điểm này tôi lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác, cho tới khi cuối cùng tôi cũng thuyết phục được gã rằng tôi thực sự có quyền được đưa về Abo, và có quyền tìm kiếm sự trợ giúp của Phó Lãnh sự Anh nếu cần thiết.

Tôi đã cố tình trì hoãn cuộc khởi hành của chúng tôi lâu hết mức có thể, nhưng cuối cùng, đúng lúc vầng thái dương vàng vọt bắt đầu vật lộn nhô lên qua những đám mây xám xịt, cả ba chúng tôi buộc phải cất bước trong một đoàn người đầy ảo não.

Chúng tôi tự hỏi, điều gì đã thực sự xảy ra với Elma? Rõ ràng là nàng chưa rơi vào tay cảnh sát; dẫu vậy, việc cánh cửa của căn buồng trong mở toang đã khiến chúng nhìn nhận lời khai của lão tiều phu với sự nghi ngờ và không tin tưởng ra mặt.

Những kẻ bắt giữ chúng tôi dường như nắm rất rõ mọi tình tiết trong vụ vượt ngục của chúng tôi khỏi Kajana, và do đó chúng vô cùng cay cú khi Elma, nhân vật mà chúng khao khát bắt lại nhất, đã vuột khỏi tay chúng. Trong khi đám cảnh sát cưỡi ngựa, chúng tôi buộc phải đi bộ phía trước mũi ngựa của chúng, và sau khi lê bước chừng mười dặm qua cánh rừng, chúng tôi bắt gặp một toán cảnh sát nhỏ khác dường như cũng đang ráo riết lùng sục chúng tôi, bởi chúng tỏ ra vô cùng hân hoan khi thấy chúng tôi đã bị bắt.

“Con ả đàn bà đâu rồi?” một viên sĩ quan hỏi tên kia.

“Vẫn đang trốn thoát,” tên đang áp giải chúng tôi đáp. “Tôi nghĩ ả đang ẩn náu cách đây khoảng hai mươi dặm.”

“À, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ tìm ra ả thôi,” tên kia tự tin nói. “Trong vòng mười hai tiếng nữa chúng ta sẽ lùng sục khắp cả cánh rừng này. Ả không thể nào thoát khỏi tay chúng ta đâu.”

Những kẻ áp giải giải thích lai lịch của chúng tôi, rồi chúng tôi lại bị xua đi tiếp, men theo một hồ nước rộng lớn mênh mông có tên là Nasjarvi; chúng tôi đi bộ suốt cả ngày dài dọc theo bờ hồ rợp bóng cây cối cho tới khi hoàng hôn buông xuống, chúng tôi đến một thị trấn nhỏ xinh xắn xây bằng gỗ nhìn ra mặt nước, có tên là Filppula. Tại đây chúng tôi lót dạ vội vã, rồi sau đó đáp chuyến tàu hỏa xuôi về Abo; chúng tôi đến nơi vào sáng hôm sau, sau một chuyến hành trình vô cùng khó chịu và mất ngủ triền miên.

Vào lúc chín giờ sáng, tôi đứng trong gian văn phòng rộng lớn và trơ trọi của Michael Boranski, nơi chỉ vài ngày trước chúng tôi vừa có một cuộc tranh cãi nảy lửa. Ngay khi Trưởng ty Cảnh sát bước vào, ông ta nhận ra tôi đang bị bắt giữ, và chỉ với một cái phẩy tay, ông ta đã đuổi hết lính canh ra ngoài—chỉ giữ lại viên sĩ quan đã áp giải tôi đến đây. Gã đánh xe người Phần Lan và lão tiều phu già đang ở một căn phòng khác, bởi thế tôi đứng đơn độc cùng viên sĩ quan cảnh sát của Helsingfors và Trưởng ty Cảnh sát Abo. Vị Trưởng ty lắng nghe câu chuyện về vụ bắt giữ tôi từ miệng viên sĩ quan mà không hé răng một lời.

“Bẩm quan lớn, tên tù nhân này yêu cầu được đưa đến đây gặp ngài trước khi bị giải về Helsingfors. Hắn bảo ngài sẽ nắm rõ toàn bộ sự việc.”

“Và đúng là ta nắm rất rõ,” Boranski mỉm cười nhận xét. “Chẳng có âm mưu phản loạn nào ở đây cả. Ngươi phải lập tức trả tự do cho quý ông này cùng hai người tù nhân kia.”

“Nhưng bẩm quan lớn, Tổng toàn quyền đã ban lệnh bắt giữ và áp giải tên tù nhân này về Helsingfors.”

“Có thể là vậy. Nhưng ta là Trưởng ty Cảnh sát ở Abo, và ta trả tự do cho ông ấy.”

Viên sĩ quan trố mắt nhìn tôi với vẻ kinh ngạc tột độ đến mức tôi không thể nhịn được cười.

“Ta biết rất rõ lý do chuyến đi lên phương bắc của quý ông người Anh này,” Boranski nói thêm. “Không cần phải dài dòng thêm nữa. Đã bắt được người phụ nữ đó chưa?”

“Bẩm quan lớn, chưa ạ. Người ta đang dốc toàn lực để truy tìm ả. Đại tá Smirnoff đã bị cách chức Thống đốc Kajana, và nhiều lính gác đã bị bắt giữ vì tội đồng lõa trong âm mưu để người phụ nữ trốn thoát.”

“À, phải rồi. Ta có thấy trong các công văn báo cáo rằng người ta treo thưởng rất lớn để bắt lại cô ấy.”

“Tổng toàn quyền quyết tâm không để ả trốn thoát,” tên kia nhận xét.

“Có lẽ cô ấy đang ẩn náu đâu đó trong rừng thôi.”

“Chắc chắn rồi ạ. Họ đang lục soát kỹ lưỡng từng dặm đất một. Nếu ả ở đó, nhất định sẽ bị tóm cổ.”

“Không nghi ngờ gì nữa,” Boranski nói, ngả người ra sau chiếc ghế bọc nệm và đưa mắt nhìn tôi đầy ẩn ý qua chiếc bàn làm việc bừa bộn giấy tờ. “Và bây giờ ta muốn nói chuyện riêng với quý ông người Anh này, xin mời ngươi ra ngoài cho. Đồng thời hãy thông báo cho hai tù nhân kia biết rằng họ đã được tự do.”

“Nhưng bẩm quan lớn, ngài làm việc này hoàn toàn trên trách nhiệm cá nhân của ngài đấy nhé,” gã lo lắng nói. “Xin ngài nhớ cho là tôi đã áp giải họ đến đây dưới danh nghĩa tù nhân.”

“Và ta trả tự do cho họ hoàn toàn dựa trên thẩm quyền của ta,” ông nói. “Với tư cách là Trưởng ty Cảnh sát của tỉnh này, ta được phép thực thi quyền hạn tài phán của mình, và ta thực thi nó trong vụ việc này. Ngươi cứ việc báo cáo điều đó lên Helsingfors nếu muốn, nhưng ta khuyên ngươi tốt nhất đừng hé răng lời nào trừ phi vạn bất đắc dĩ—ngươi hiểu chứ?”

Thái độ dứt khoát của Boranski dường như đã khiến kẻ áp giải tôi phải chùn bước, bởi sau một thoáng ngập ngừng, gã giơ tay chào và nói:

“Nếu đó thực sự là ý muốn của ngài, thì tôi xin tuân lệnh.” Đoạn gã bước ra ngoài.

“Thưa ngài!” Trưởng ty Cảnh sát thốt lên, vội đứng dậy bước nhanh về phía tôi ngay khi cánh cửa vừa khép lại và chỉ còn hai chúng tôi với nhau, “ngài vừa thoát chết trong gang tấc đấy—thực sự là gang tấc. Tôi đã làm hết sức mình để hỗ trợ ngài. Tôi đã thành công trong việc mua chuộc toán lính tuần tra đường thủy ở Kajana để ngài có thể giải cứu tiểu thư. Nhưng dường như đúng vào khoảnh khắc các ngài chuẩn bị tẩu thoát, một tên lính gác đã trở cờ mật báo và đánh thức viên Thống đốc lâu đài dậy, kết quả là cả ba người suýt nữa thì mất mạng. Toàn bộ sự việc đã được báo cáo chính thức lên tôi, và,” ông ta nói thêm với một nụ cười u ám, “người của tôi lúc này đang lùng sục khắp nơi để tìm ngài đấy.”

“Nhưng tại sao Nam tước Oberg lại ráo riết muốn bắt lại cô Heath đến thế?” tôi tha thiết hỏi.

“Tôi hoàn toàn không biết,” ông ta đáp. “Mật lệnh từ Helsingfors gửi cho tôi là phải bắt sống hoặc giết chết cô ấy bằng mọi giá.”

“Nghĩa là viên Nam tước sẽ chẳng lấy làm tiếc nếu nàng phải bỏ mạng,” tôi nhận xét, và đáp lại, ông ta khẽ gật đầu xác nhận.

Tôi kể cho ông ta nghe về sự tận tụy trung thành của Felix, người dẫn đường Phần Lan, nghe xong ông ta chỉ nói ngắn gọn:

“Tôi đã bảo ngài là có thể tin tưởng gã tuyệt đối rồi mà.”

“Nhưng giờ đây khi ông đã chứng tỏ mình là bạn của tôi,” tôi nói, “liệu ông có thể giúp cô Heath thoát khỏi nanh vuốt của kẻ muốn giam cầm nàng trong chốn địa ngục trần gian ấy không? Chúng đang dồn nàng đến chỗ phát điên.”

“Tôi sẽ cố gắng hết sức,” ông ta đáp, nhưng lắc đầu vẻ đầy hoài nghi. “Nhưng ngài phải nhớ rằng Nam tước Oberg là Tổng toàn quyền Phần Lan, nắm trong tay toàn bộ quyền lực chẳng khác nào chính Sa hoàng.”

“Và nếu Elma Heath lại rơi vào bàn tay tàn độc của ông ta một lần nữa, nàng chắc chắn sẽ chết,” tôi quả quyết tuyên bố.

“Than ôi!” ông ta thở dài, nhìn thẳng vào mặt tôi, “tôi e rằng những điều ngài nói là hoàn toàn chuẩn xác. Rõ ràng cô ấy đang nắm giữ một bí mật nào đó mà ông ta sợ cô ấy sẽ tiết lộ ra ngoài. Ông ta muốn bắt lại cô ấy cốt để… à thì…” ông ta hạ giọng nói thêm, “cốt để bịt miệng cô ấy vĩnh viễn. Ở Kajana này, đây chẳng phải lần đầu tiên có những kẻ bị ngấm ngầm làm cho câm lặng mãi mãi đâu. Ngài biết đấy, có rất nhiều tai nạn chết người đã xảy ra trong pháo đài đó rồi.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.