Điềm Báo Tai Ương

Lượt đọc: 43 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii

❊ ❊ ❊

Ánh nắng mùa hè dội xuống thành phố trắng Washington, D. C. như thể nó nhầm lẫn đôi chút về chỉ dẫn, và đinh ninh rằng thành phố này đã được đặt đâu đó giữa sa mạc Sahara. Malone thầm nghĩ, mặt trời có vẻ bối rối thật. Nếu đây là Sahara, hiển nhiên chẳng có lý do gì để sông Potomac lại chảy qua đây cả. Tuy nhiên, mặt trời vẫn đang cố gắng hết sức để sửa chữa sai lầm nhỏ này bằng cách phả ra bầu nhiệt lượng dữ dội hơn trong một nỗ lực đầy quả cảm nhằm làm cạn khô dòng sông.

Nỗ lực ấy ít nhiều đang mang lại kết quả. Sông Potomac vẫn ở đó, nhưng phần lớn lượng nước của nó thì không còn nằm trong lòng sông nữa. Thay vào đó, chúng đã bay hơi vào bầu không khí – nơi giờ đây ẩm ướt đến mức Malone sẵn sàng thề rằng mỗi lần hít vào là anh lại hít phải từng ngụm nước bắn tung tóe vào phổi. Cưỡng lại một thôi thúc muốn thử bơi ếch, anh đứng dưới ánh chói chang của vầng thái dương đang gồng mình thiêu đốt, ngay sát Tòa nhà Văn phòng Thượng viện. Anh nheo mắt nhìn sang tòa nhà Điện Capitol với vẻ đầy nam tính để chống lại thứ ánh sáng chói lọi hắt lên từ mái vòm của nó.

Dù sao đi nữa, nhìn Điện Capitol vẫn dễ chịu hơn là trông thấy Thomas Boyd cùng một nhóm điệp viên đang bận rộn khảo cung hai kỹ thuật viên. Việc đó diễn ra ngay trong Tòa nhà Văn phòng Thượng viện, và Malone sang đây để theo dõi tiến trình vụ việc. Mọi thứ được dàn dựng theo cái cách mà Malone cho là rắc rối nhất có thể. Một căn phòng lớn đã được biến thành phòng chiếu phim, và những thước phim cứ lặp đi lặp lại không ngừng. Được quay bởi các camera ẩn theo dõi nhóm thư ký máy tính, những cuộn phim đã bắt quả tang hai kỹ thuật viên đang cố tình nhập lỗi vào các cỗ máy. Nhanh chóng chớp lấy bằng chứng này, Boyd cùng ê-kíp của mình đang chiếu lại đoạn phim cho các kỹ thuật viên xem và thẩm vấn họ dưới ánh đèn sáng rực nhằm bẻ gãy ý chí kháng cự.

Nhưng có vẻ như họ chẳng thành công hơn chút nào so với nỗ lực biến Washington thành Sahara của mặt trời. Rốt cuộc, Malone tự nhủ khi lau vầng trán đang đầm đìa mồ hôi, ở Washington làm gì có Kim tự tháp nào. Anh cố tìm xem điều đó có ý nghĩa gì không, nhưng quá sức để suy nghĩ. Anh quay lại với việc ngẫm nghĩ về Boyd.

Các kỹ thuật viên vẫn bám chặt lấy lời khai ban đầu của họ rằng những lỗi đó hoàn toàn là do sơ suất. Với Malone, điều đó nghe có vẻ hợp lý; suy cho cùng, con người ta ai mà chẳng có lúc lầm lẫn. Và FBI thì chẳng có lấy một mảnh bằng chứng nào để chứng minh rằng những kỹ thuật viên ấy nhúng tay vào vụ phá hoại có chủ đích. Thế nhưng Boyd quyết không từ bỏ. Hết lần này đến lần khác, anh ta bắt các kỹ thuật viên phải lặp lại lời khai, săm soi từng điểm bất đồng hay sơ hở. Hết lần này đến lần khác, anh ta cho chiếu lại những cuộn phim ghi lại lỗi lầm của họ, ráo riết tìm kiếm một manh mối, một chút bằng chứng dù là nhỏ nhất.

Malone buồn bã tự nhủ, thà ngắm nhìn tòa Điện Capitol còn hơn phải chịu đựng thêm bất kỳ kỹ thuật điều tra đao to búa lớn nào của Boyd.

Anh bước ra ngoài để suy ngẫm đôi điều. Bất chấp rất nhiều bằng chứng trái ngược, anh vẫn tin rằng những ý tưởng tuyệt vời nhất thường đến với mình khi đi dạo. Dù sao đi nữa, đó cũng là cách để trốn tránh bốn bức tường cùng những ánh mắt soi mói và vẻ lo âu của cấp trên. Anh khẽ thở dài, sụp chiếc mũ lên đầu và bắt đầu cất bước.

Anh thầm nghĩ, chỉ có kẻ điên mới đội mũ vào cái ngày thời tiết đang lội bì bõm thế này. Nhưng những người đi ngang qua khi anh lầm lũi tiến bước chẳng hướng về đâu có vẻ như không hề để ý; họ đi tránh anh một khoảng khá xa và tỏ ra rất lịch sự, nhưng Malone thừa biết đó không phải vì họ nghĩ anh bị khùng. Lý do là bởi họ nhận ra anh là một điệp viên FBI.

Đó là hệ quả từ một quy định của FBI. Tất cả các điệp viên đều phải đội mũ. Malone không chắc tại sao lại thế, và suy nghĩ của anh về vấn đề này chỉ cào xới ra được một ý rằng bạn phải có mũ để phòng hờ trường hợp ai đó bảo bạn giữ điều gì dưới đó. Nhưng FBI rất kiên định với các quy định của mình. Bất kể thời tiết ra sao, một điệp viên vẫn phải đội mũ. Malone cay đắng nghĩ rằng thà anh đeo một tấm biển phát sáng xanh, đỏ, trắng với dòng chữ FBI chớp nháy liên hồi, kèm theo cả một còi hú thì còn hơn. Dù vậy, Cục Điều tra Liên bang vốn dĩ không phải là một tổ chức bí mật — bất chấp những lời chỉ trích thỉnh thoảng vẫn vang lên từ đâu đó. Và những chiếc mũ, ít nhất là khi thời tiết còn đang oi bức thế này, chính là bằng chứng đủ rõ ràng cho bất cứ ai.

Malone có thể cảm thấy nước đọng lại dưới vành mũ và đang ngấm vào da đầu. Anh vội vàng cởt mũ ra, dùng khăn tay lau đầu rồi đội lại, có cảm giác như mình vừa được ẩn danh trong vài giây ngắn ngủi. Chiếc mũ đã nằm yên trên đầu, mang lại cảm giác chuẩn mực đến phát sợ, và điều tương tự cũng đúng với khẩu súng lục Smith & Wesson .44 Magnum đầy đạn đang đeo ở bao da dưới cánh tay. Quai đeo cứ cọ xát vào vai và ngực, còn bản thân trọng lượng của khẩu súng lại là một gánh nặng thêm phần phiền toái.

Nhưng ngay cả khi không có súng và mũ, Malone cũng chẳng thấy khá khẩm hơn là bao. Áo sơ mi và áo lót của anh giờ đây không còn là hai món đồ riêng biệt nữa, mà đã hòa làm một, được hàn gắn bởi mồ hôi đầm đìa và dán chặt một cách nặng nề, vụng về lên da thịt anh. Ống quần dính bết vào bắp chân và đùi, cọ xát theo từng bước đi, và cứ mỗi bước chân, ống quần lại dính vào rồi dứt ra với cái nhịp điệu khó chịu chẳng khác nào những roi đòn ướt át. Bên trong đôi giày của Malone, tất đã sũng nước hoàn toàn, khiến mỗi bước đi của anh phát ra tiếng lép nhép. Thật khó để xác định chắc chắn, nhưng dường như có một con cá nhỏ đang bơi trong chiếc giày bên trái của anh. Anh tự nhủ, biết đâu đó chỉ là một viên sỏi hay một nếp gấp của tất. Nhưng anh sẵn sàng thề rằng nó đang bơi ngược dòng.

Và anh cay đắng tự nhủ, bản dự báo thời tiết cho biết trời sẽ tiếp tục oi bức.

Anh tự ép mình gạt bỏ những rắc rối cá nhân sang một bên để quay lại với các rắc rối chung của FBI, chẳng hạn như vấn đề trước mắt. Đó là một sự cố gắng, nhưng anh nhíu mày tiếp tục sải bước, và chỉ trong vòng một dãy nhà, anh đã có thể tập trung trở lại vào năng lực tâm linh.

Anh tự nhủ, năng lực tâm linh chính là thủ phạm đứng sau toàn bộ mớ hỗn độn này. Bất chấp việc Boyd kịch liệt từ chối tin vào điều đó, Malone vẫn vô cùng chắc chắn. Tất nhiên, ba năm trước thì anh sẽ chẳng thèm cân nhắc đến ý tưởng này. Nhưng kể từ đó đến nay, rất nhiều chuyện đã xảy ra và tầm nhìn của anh đã được mở rộng. Suy cho cùng, việc tóm gọn một nắm những kẻ tâm linh hoàn toàn điên rồ nhưng lại là dị nhân chính hiệu từ khắp các nhà thương điên trên cả nước cũng đủ để mở rộng tầm mắt cho bất kỳ ai vốn đang choáng váng rồi. Và sau đó, không lâu sau, lại là băng nhóm tội phạm vị thành niên. Chúng vốn chỉ là những đứa trẻ phạm tội vị thành niên hoàn toàn bình thường, chuyên đi ăn cắp ô tô và đấm đá dăm tên cảnh sát đi tuần. Chỉ có điều, chúng lại vô tình khám phá ra cả bí mật dịch chuyển tức thời. Điều đó khiến chúng trở nên khác thường hơn một chút.

Khi bắt giữ chúng, Malone cũng đã học được bí mật dịch chuyển tức thời. Khác với Boyd hay Burris, anh nghĩ vậy, ý tưởng về năng lực tâm linh chẳng làm anh bận tâm mấy. Rốt cuộc, phổ năng lực tâm linh — nếu thực sự có cái gọi là phổ — cũng chỉ là một hiện tượng tự nhiên giống như trọng lực hay từ tính mà thôi.

Chỉ là hơi khó để một số người làm quen với nó mà thôi.

Và tất nhiên, anh cũng không hiểu rõ hoàn toàn cách thức hay lý do nó hoạt động. Điều đó đặt anh vào hoàn cảnh của một thổ dân Úc, anh tự nhủ. Anh cố tưởng tượng ra cảnh một thổ dân Úc đội mũ giữa trời nắng gắt, rồi kết luận rằng người thổ dân đó hẳn phải khôn ngoan hơn thế, và thế là anh lại lái suy nghĩ ra khỏi chủ đề đó.

Tuy nhiên, anh thầm nghĩ với vẻ mặt nghiêm nghị, vẫn có một thổ dân Úc như thế. Và anh ta có một chiếc kính lúp nhặt được từ xác tàu đắm nào đó. Sử dụng nó — giả sử rằng kinh nghiệm, hoặc một vị truyền giáo thân thiện, đã dạy anh ta cách dùng — anh ta có thể tạo ra lửa bằng cách tận dụng các quá trình nhiệt hạch của mặt trời. Malone hoài nghi việc liệu người thổ dân đó có biết gì về các quá trình nhiệt hạch hay không, nhưng anh ta vẫn có thể châm lửa nhờ chúng.

Thực tế mà nói, anh tự nhủ, thổ dân đó cũng chẳng hiểu gì về sự ô-xi hóa. Nhưng anh ta vẫn có thể dùng ngọn lửa ấy khi đã nhóm lên được. Bất chấp việc thiếu kiến thức, người thổ dân ấy vẫn có thể sử dụng ngọn lửa đẹp đẽ, nóng rực và bùng cháy đó...

Malone vội vã dứt suy nghĩ của mình khỏi những thổ dân và cái nóng, rồi cố tập trung tâm trí sang hướng khác. Anh không hiểu các quá trình tâm linh, anh nghĩ; nhưng suy cho cùng, chẳng ai thực sự hiểu cả, theo như anh biết. Dù vậy, anh vẫn có thể sử dụng chúng.

Và hiển nhiên là người khác cũng có thể sử dụng chúng.

Chỉ là thứ sức mạnh nào đang được vận dụng đây? Phải cần đến loại sức mạnh tâm linh nào mới khiến ngần ấy con người trên khắp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hành động lú lẫn như vậy?

Malone tự nhủ, đó là một câu hỏi hay, một câu hỏi cơ bản và vô cùng quan trọng. Anh thấy tự hào về bản thân vì đã nghĩ ra nó.

Đáng tiếc là anh không có câu trả lời.

Nhưng anh nghĩ mình biết cách để tìm ra nó.

Quả thực là chẳng mấy ai hiểu rõ về cơ chế hoạt động của năng lực tâm linh. Cũng giống như việc chẳng ai hiểu tường tận về trọng lực vậy. Thế nhưng vẫn có những thông tin tồn tại — và trong trường hợp của năng lực tâm linh, Malone biết nó nằm ở đâu.

Nó nằm ở Yucca Flats, Nevada.

Tất nhiên, Nevada có lẽ còn nóng hơn cả Washington, D. C. Nhưng chẳng thể làm khác được, Malone buồn bã tự nhủ; vả lại, sự lạnh lùng đến gai người của chính vị chuyên gia kia có lẽ sẽ làm dịu bớt bầu không khí một cách nhanh chóng. Malone nghĩ đến Tiến sĩ Thomas O'Connor, chuyên gia tâm linh học của hãng Westinghouse và nhíu mày. O'Connor không hẳn là một người có thể gọi là thân thiện.

Nhưng ông ta thực sự hiểu biết về năng lực tâm linh hơn bất kỳ ai mà Malone có thể nghĩ tới. Và sự giúp đỡ của ông ta đã vô cùng vô giá trong việc giải quyết hai vụ án tâm linh trước đó mà Malone từng tham gia.

Có giây lát anh nghĩ đến việc gọi cho O'Connor, nhưng rồi anh dũng cảm gạt phắt ý định đó đi. Bất chấp cái nóng ở Yucca Flats, anh vẫn phải trực tiếp đến nói chuyện với con người đó. Anh lại nhớ đến tính cách băng giá của O'Connor và tự hỏi liệu nó có thực sự phát huy tác dụng trong việc chống lại cái nóng này không. Nếu có, anh thầm nghĩ, anh sẽ áp tải thẳng người đàn ông đó về Washington cùng mình và cắm luôn ông ta vào hệ thống điều hòa không khí.

Anh thở dài sườn sượt, nghĩ đến một điếu xì-gà nhưng rồi đầy tiếc nuối gạt đi khi nhận ra mình đang đứng giữa đường phố công cộng nơi ai cũng có thể nhìn thấy. Thay vào đó, anh nhìn xung quanh, phát hiện ra mình chỉ cách một cửa hiệu thuốc lớn rực rỡ ánh đèn neon có đúng một dãy nhà và liền rảo bước tiến về phía đó. Chưa đầy một phút sau, anh đã chui vào trong một bót điện thoại.

Các tổng đài viên trên khắp cả nước dường như đều đang kiệt sức vì trời nắng nóng, và Malone chẳng buồn trách họ. Dù vậy, anh vẫn mất tới vài phút mới kết nối được với văn phòng của Tiến sĩ O'Connor, và thêm khoảng một phút nữa để thuyết phục một cô thư ký đang mụ mẫm vì vấn đề bảo mật rằng, suy cho cùng, anh khó lòng mà cho O'Connor nổ tung thành trăm mảnh qua đường điện thoại đường dài.

Cuối cùng, cô thư ký với tiếng thở dài đầy miễn cưỡng cũng đồng ý xem liệu Tiến sĩ O'Connor có rảnh không. Malone đứng đợi trong bót điện thoại, cứ vài giây lại đẩy cửa ra để thở một hơi. Bót điện thoại có gắn điều hòa, nhưng vì một lý do huyền bí nào đó, nhiệt độ bên trong vẫn cao hơn hẳn mười độ so với mức sôi trong cơn giận dữ của Malone.

Cuối cùng thì khuôn mặt gầy gò, tái nhợt của Tiến sĩ O'Connor cũng xuất hiện trên màn hình. Ông ta chẳng thay đổi gì mấy kể từ lần cuối Malone gặp. Trông ông ta vẫn y như, và hành xử y như, một trong những giáo sư luật mà Malone ghét cay ghét đắng.

Vị khoa học gia cất giọng lạnh lùng, chuẩn xác: "À. Chào anh Malone. Tôi lấy làm tiếc vì những biện pháp phòng ngừa của chúng tôi, nhưng anh cũng hiểu là vấn đề bảo mật phải được đặt lên hàng đầu."

Malone đáp: "Chắc chắn rồi."

Tiến sĩ O'Connor nói tiếp, nét mặt biến đổi đôi chút và giọng điệu ấm lên suýt soát đến điểm sôi của nitơ: "Là một người của FBI, đương nhiên là anh hiểu rồi." Rõ ràng câu nói đó là cách pha trò của Tiến sĩ O'Connor, và Malone mỉm cười lịch sự rồi gật đầu. Vị khoa học gia có vẻ dành chút thiện cảm cho Malone, dù rất khó để xác định chính xác. Nhưng Malone đã mang đến cho ông ta những mẫu vật tuyệt vời để nghiên cứu — những kẻ thấu thị và dịch chuyển tức thời, dẫu mang thân xác con người thì đối với một bộ óc khoa học chuẩn mực như vậy cũng chẳng khác nào những mẫu vật — và ông ta có vẻ biết ơn sự chăm chỉ cũng như nỗ lực của Malone trong việc tìm kiếm những đối tượng nghiên cứu vô cùng hấp dẫn đó.

Và có vẻ như việc Malone không hề có ý định tìm kiếm chúng từ đầu chẳng tạo ra sự khác biệt nào đáng kể.

O'Connor quay trở lại với giọng điệu nghiêm túc thường ngày: "Vậy thì, tôi có thể giúp gì cho anh, anh Malone?"

Malone cung kính nói: "Nếu bác sĩ có thời gian, tôi muốn trao đổi với ông vài phút." Anh có cái cảm giác vô lý là O'Connor sắp bảo mình ở lại sau giờ học, nhưng vị khoa học gia chỉ gật đầu.

Ông nói: "Cuộc gọi của anh rất đúng lúc. Tình cờ là, anh Malone ạ, tôi đang có vài giây rảnh rỗi ngay lúc này đây."

Malone đáp: "Tuyệt quá."

O'Connor nói, dù vẻ mặt chẳng hề tỏ ra vui mừng hơn thường lệ: "Tôi rất sẵn lòng trò chuyện với anh."

Malone nói: "Tôi đến ngay đây." O'Connor gật đầu lần nữa rồi tắt ngấm màn hình. Malone ngắt kết nối và hít một hơi thật sâu cái không khí ngập tràn hơi nóng trong bót điện thoại. Trong giây lát, anh cân nhắc đến việc bắt đầu chuyến đi ngay từ bên ngoài bót điện thoại, nhưng điều đó quá nguy hiểm — nếu không nguy hiểm cho Malone thì cũng nguy hiểm cho những người đứng xem vô tội. Năng lực tâm linh hoàn toàn không phải là một thứ quen thuộc trong các gia đình, và cảnh tượng Malone biến mất đến Nevada có thể khiến vài vị công dân ngất xỉu tại chỗ. Anh một cách vô cùng sáng suốt cho rằng đó không phải là nơi mà bất kỳ ai nên đến vào một ngày nóng nực thế này.

Anh nhắm mắt lại trong tích tắc. Trong khoảng thời gian đó, anh tái tạo lại từ ký ức một hình ảnh chi tiết, ba chiều và đầy đủ màu sắc về văn phòng của Tiến sĩ O'Connor trong tâm trí. Nó hoàn hảo đến từng chi tiết; anh kiểm tra lại trong đầu rồi bằng một nỗ lực ý chí đặc biệt, anh tạo ra cú hích tâm lý giúp việc dịch chuyển trở nên khả thi.

Khi mở mắt ra, anh đã có mặt trong văn phòng của O'Connor, đứng trước chiếc bàn làm việc rộng rãi của vị khoa học gia. Anh hy vọng không có ai nhìn vào bót điện thoại vào khoảnh khắc anh biến mất; nhưng anh tương đối chắc chắn là mình đã không bị phát hiện. Suy cho cùng, chẳng ai rảnh rỗi đi dòm ngó vào các bót điện thoại, và anh cũng chẳng thấy ai cả.

O'Connor ngẩng lên mà không hề tỏ ra ngạc nhiên. Ông nói: "À. Ngồi đi, anh Malone." Malone đảo mắt tìm chiếc ghế — vốn là một chiếc ghế tựa thẳng đứng vô cùng khó chịu — rồi rón rén ngồi xuống đó. Nhớ lại những lần đến thăm O'Connor trước đây, anh thấy biết ơn dù chỉ là chút ít sự thoải mái ít ỏi mà món đồ gỗ cứng nhắc đó mang lại. Mới gần đây O'Connor mới chịu buông lỏng đến mức bố trí thêm một chiếc ghế phụ trong phòng làm việc để đón tiếp khách, và có lẽ là đặc biệt dành cho Malone. Malone thầm nghĩ, có lẽ đó là sự biết ơn nhiều hơn dành cho những mẫu vật đáng yêu kia.

Malone vẫn thấy không thoải mái, nhưng dũng cảm cố gắng không để lộ điều đó. Anh cũng cảm thấy hơi chột dạ, như vẫn thường thế mỗi khi đột nhập vào văn phòng của O'Connor mà không buồn đi theo đường chính thống. Suy cho cho cùng, theo luật, anh biết mình phải làm thủ tục ra vào tại cổng chính của khu đất chính phủ được bảo mật siêu cấp tối mật này bất cứ khi nào anh đến thăm Yucca Flats. Nhưng điều đó đồng nghĩa với việc lãng phí rất nhiều thời gian và vướng vào vô số phiền phức. Malone đã tự lý giải mọi chuyện theo cách đó, và anh chỉ làm vừa đủ để mọi việc diễn ra nhanh chóng, dễ dàng, chứ chưa đủ để cảm thấy hoàn toàn thản nhiên về nó. Suy cho cùng, anh thầm nghĩ với vẻ mặt nghiêm nghị, bất cứ điều gì tiết kiệm được thời gian và rắc rối đều làm tăng hiệu quả làm việc của FBI, thế nên đó đều là những điều tốt đẹp.

Anh nuốt khan một cái. Anh mở lời: "Tiến sĩ O'Connor..."

O'Connor lại ngẩng lên. "Vâng?" ông đáp. Ông đã có thừa kinh nghiệm trong việc chứng kiến mọi người xuất hiện rồi biến mất, giữa Malone và những mẫu vật mà Malone mang đến; đến giờ thì ông đã vượt qua cả sự ngạc nhiên hay bàng hoàng rồi.

Malone lại bắt đầu: "Tôi đến đây để nói chuyện với ông."

O'Connor gật đầu, có chút thiếu kiên nhẫn. "Vâng," ông nói. "Tôi biết điều đó."

Malone vắt óc suy nghĩ nhanh: "Chà..." Việc trình bày trực tiếp vụ án với O'Connor là bất khả thi; nó quá phức tạp, và đâu đó có thể vi phạm các quy định bảo mật của chính phủ. Anh quyết định bọc nó lại trong một tình huống giả định. Anh nói: "Bác sĩ, tôi biết rằng tất cả các biểu hiện đa dạng của năng lực tâm linh đã được nghiên cứu và đặt tên từ rất lâu trước khi các nhà khoa học chân chính quan tâm đến chủ đề này."

O'Connor miễn cưỡng đáp: "Điều đó... đúng vậy." Trông ông có vẻ buồn bã, như thể ông ước gì họ đợi đến khi ông ra đời và bắt đầu nghiên cứu rồi hãy đặt tên cho các hiện tượng tâm linh đó. Malone cố tưởng tượng ra cảnh một người làm việc gì đó gọi là "o'connor-hóa", và thầm quyết định rằng mình phải biết ơn lịch sử.

Anh tiếp tục: "Vậy thì..."

O'Connor cắt lời: "Ít nhất... điều đó đúng theo một cách khá mơ hồ và chung chung. Anh thấy đấy, anh Malone, bất kỳ mô tả chính xác nào về một hiện tượng tâm linh cũng phải chờ cho đến khi một thứ ngôn ngữ siêu cấp hình thành để bao trùm lấy nó; nghĩa là, cho đến khi sự hiểu biết và tri thức đạt đến điểm mà người ta có thể đưa ra những mô tả cẩn thận và chuẩn xác."

Malone bất lực thốt lên: "Ồ. Chắc chắn rồi." Anh tự hỏi những điều O'Connor vừa nói có nghĩa lý gì không, rồi quyết định rằng có lẽ là có, nhưng bản thân anh thì chẳng muốn tìm hiểu về chúng làm gì.

O'Connor nói: "Dù chúng ta chưa đạt tới điểm đó, nhưng các thí nghiệm của chúng tôi đang tiến đến gần nó. Tôi hy vọng rằng, trong tương lai gần..."

Malone tuyệt vọng ngắt lời: "Vâng. Dĩ nhiên rồi. Đương nhiên."

Tiến sĩ O'Connor có vẻ phật ý. Nhiệt độ trong phòng dường như giảm xuống vài độ, Malone nuốt khan một cái, cố gắng nặn ra vẻ mặt cầu thị và dễ mến, giống như một học sinh chỉ toàn điểm A trong học bạ.

Trước khi O'Connor có thể tóm lại mạch câu nói của mình, Malone tiếp tục: "Ý tôi là thế này. Việc nắm bắt hoạt động tinh thần của người khác gọi là thấu thị. Lơ lửng trên không trung gọi là bay lơ lửng. Di chuyển đồ vật gọi là di chuyển đồ vật bằng ý nghĩ. Đi từ nơi này đến nơi khác ngay lập tức gọi là dịch chuyển tức thời. Cứ thế như vậy."

O'Connor vẫn tỏ vẻ phật ý, cất giọng: "Ngôn từ anh dùng quá lỏng lẻo. Tôi thậm chí có thể nói rằng những phát ngôn của anh, về cơ bản, chẳng có nghĩa gì sất do thiếu đi tính chặt chẽ."

Malone hít một hơi thật sâu. "Tiến sĩ O'Connor," anh nói, "ông hiểu ý tôi mà, phải không?"

O'Connor đáp, với vẻ mặt của một vị vua ban ơn cho một kẻ thuộc tầng lớp hạ đẳng có ngoại hình vô cùng ghê tởm: "Tôi tin là vậy."

Malone nói: "Vậy thì. Đúng hay sai?"

O'Connor nhíu mày. "Đúng hay sai cái gì?" ông hỏi.

Malone chớp mắt. Cuối cùng anh cũng thốt lên: "Ý tôi là, mọi thứ đều có tên gọi. Tất cả các hiện tượng tâm linh khác nhau đều có tên."

O'Connor đáp: "À. Chà. Tôi phải nói là có." Ông chụm các đầu ngón tay lại và đăm đăm nhìn vào một điểm trên trần nhà trắng toát trong giây lát. Cuối cùng ông nói: "Đúng vậy."

Malone thở phào nhẹ nhõm. "Tốt quá," anh nói. "Đó là điều tôi muốn biết." Anh chồm người về phía trước. "Và nếu tất cả chúng đều có tên," anh nói tiếp, "thì người ta gọi là gì khi một nhóm lớn người bị buộc phải hành động theo một cách nào đó?"

O'Connor nhún vai. "Buộc?" ông hỏi.

Malone đáp: "Buộc bằng sức mạnh tinh thần."

Có một thoáng im lặng.

O'Connor nói: "Thoạt đầu, tôi có thể nghĩ đến nhiều ví dụ khác nhau: hành vi của một đám đông chẳng hạn, hoặc các màn biểu diễn trong trò Thục Phá Xà, hay có lẽ là việc tiêu thụ một sản phẩm vô tích sự thông qua truyền hình hoặc các hình thức quảng cáo khác." Lại một lần nữa khuôn mặt ông chuyển động, nhẹ đến mức tối đa, trong cái mà rõ ràng ông tin là một nụ cười. Ông nói: "Tên gọi thông thường cho hiện tượng đó là 'thôi miên đám đông', anh Malone ạ. Nhưng nói một cách chính xác thì đó hoàn toàn không phải là hiện tượng tâm linh. Các nghiên cứu về lĩnh vực đó thuộc về tâm lý học đám đông; chúng không nằm trong phạm vi chuyên môn của tôi." Trông ông tỏ ra vô cùng bề trên trước bất cứ thứ gì và mọi thứ nằm ngoài phạm vi chuyên môn của mình. Malone tập trung thể hiện vẻ mặt tiếp thu và thấu hiểu.

Anh nói: "Vâng?"

O'Connor nhìn anh bằng ánh mắt khiến Malone có cảm giác mình vừa bị bắt quả tang đang quay cóp trong một kỳ thi, nhưng vị khoa học gia chẳng nói gì để củng cố cho ánh mắt đó. Thay vào đó, ông tiếp tục: "Tôi thừa nhận rằng trong những trường hợp như vậy có thể có sự khuếch đại năng lực thấu thị ở một cá nhân bình thường."

Malone hoài nghi đáp: "Tốt."

O'Connor nói tiếp như thể chẳng hề nghe thấy gì: "Sự khuếch đại như vậy sẽ lý giải cho cái gọi là... ừm... sự liên kết tinh thần khiến một đám đông dường như hành động như một thể thống nhất trong những giai đoạn... ừm... căng thẳng." Ông tỏ ra đăm chiêu trong giây lát rồi gật đầu. Tuy nhiên, ông nói tiếp: "Ngoài điều đó ra, tôi nghi ngờ việc có bất kỳ sức mạnh tâm linh nào can thiệp vào."

Malone mất chừng một hai giây để tiêu hóa câu trả lời của O'Connor. Cuối cùng anh nói: "Chà, tôi không chắc đó là điều tôi muốn nói. Ý tôi là, tôi không chắc mình định hỏi câu hỏi đó." Anh hít một hơi và quyết định bắt đầu lại từ đầu. "Nó không giống như một đám đông," anh nói, "nơi mọi người cùng làm một việc vào cùng một thời điểm. Nó giống một nhóm đàn ông hơn, tất cả đều bị tách rời, không có bất kỳ mối liên hệ rõ ràng nào giữa họ với nhau. Và tất cả bọn họ đều đang hướng tới một mục tiêu chung. Mọi người làm những việc khác nhau, nhưng đều chung một mục tiêu. Hiểu chứ?"

O'Connor lạnh lùng đáp: "Tất nhiên là tôi hiểu chứ. Nhưng điều anh đang ám chỉ..." Ông nhìn thẳng vào Malone. "Anh đã có kinh nghiệm gì về hiện tượng... này chưa?"

Malone thốt lên: "Kinh nghiệm?"

O'Connor nói: "Tôi tin là anh có rồi. Một khái niệm như thế không thể đến với anh theo cách lý thuyết được. Anh hẳn phải vướng vào một tình huống thực tế rất giống với cái mà anh vừa mô tả."

Malone nuốt khan. "Tôi á?" anh nói.

O'Connor nói: "Anh Malone. Tôi xin nhắc lại rằng đây là Yucca Flats? Rằng các biện pháp kiểm tra an ninh ở đây nghiêm ngặt nhất trên thế giới? Rằng chính bản thân tôi có quyền giải mật cấp độ cao nhất cho các dự án đặc biệt của mình? Anh không cần phải rào trước đón sau khi ở đây."

Malone đáp: "Không phải vấn đề bảo mật. Dù sao thì, không chỉ là bảo mật. Nhưng mọi chuyện khá rắc rối."

O'Connor nói: "Tôi đảm bảo với anh rằng tôi có thể hiểu được ngay cả những sự việc mà anh cảm thấy là phức tạp."

Malone lại nuốt khan một cái thật mạnh. Anh mở lời: "Ý tôi không phải..."

O'Connor cắt lời: "Làm ơn đi, anh Malone." Giọng ông lạnh hơn bình thường. Malone có cảm giác ông sắp cất chiếc ghế phụ đi rồi. O'Connor nói tiếp: "Nói tiếp đi. Giải thích cho tôi nghe xem nào."

Malone hít một hơi thật sâu. Anh bắt đầu từ những sự thật mà Burris đã kể cho mình, rồi kể thẳng một mạch cho đến những buổi phỏng vấn hai kỹ thuật viên thư ký máy tính do Boyd và đồng sự thực hiện.

Mất khá nhiều thời gian. Đến khi anh dứt lời, O'Connor trông không còn vẻ đông đá nữa; rõ ràng ông đã quên mất việc duy trì hoạt động cho các dàn cuộn lạnh. Thay vào đó, khuôn mặt ông hiện lên sự bối rối rõ mười mươi cùng niềm hứng thú lớn lao. Ông nói: "Tôi chưa bao giờ nghe thấy chuyện như thế này bao giờ. Chưa bao giờ. Chưa từng có ở bất kỳ thời điểm nào."

Malone đáp: "Nhưng..."

O'Connor lắc đầu. Ông nói: "Tôi chưa từng nghe nói về một hiện tượng tâm linh nào theo cái trật tự đó." Có vẻ đó là một sự thừa nhận đầy cay đắng. "Thứ gì đó có thể khiến một nhóm người ngẫu nhiên hợp tác với nhau theo cách đó — chà, nó hoàn toàn mới mẻ."

Malone nói: "Thế á?" tự hỏi không biết khi mọi thứ đã được điều tra và mô tả rõ ràng, liệu người ta có gọi nó là "o'connor-hóa" hay không. Sau đó, anh tự hỏi làm thế nào mà người ta có thể tiến hành điều tra và mô tả nó, rồi lại chìm sâu hơn nữa vào nỗi buồn rầu.

O'Connor nói: "Hoàn toàn mới mẻ. Anh có thể tin lời tôi." Sau đó, từ từ, khuôn mặt ông bắt đầu bừng sáng trở lại, với tất cả sự lấp lánh của lớp băng vừa được hình thành. Ông cất giọng giống với bình thường hơn: "Thực ra mà nói, anh Malone, tôi không nghĩ điều đó là khả thi."

Malone phản bác: "Nhưng nó đã xảy ra rồi. Nó vẫn đang xảy ra. Khắp nơi luôn."

Môi O'Connor mím lại. Ông nói: "Tôi đã đưa ra ý kiến của mình rồi. Tôi không tin là một chuyện như thế lại khả thi. Nhất thiết phải có lời giải thích nào khác chứ."

Malone vui vẻ đáp: "Được thôi. Tôi xin phép hỏi vậy. Đó là gì nào?"

O'Connor nhíu mày. "Sự cợt nhả của anh," ông nói, "là hoàn toàn không đúng lúc."

Malone nhún vai. Anh khựng lại: "Tôi không có ý..." Rồi anh nói tiếp: "Dù sao thì, tôi không có ý đùa cợt đâu. Nhưng tôi rất muốn có một ý tưởng khác về nguyên nhân gây ra tất cả chuyện này."

O'Connor nghiêm nghị đáp: "Các lý thuyết khoa học không được phát minh ra chỉ trong một phút ngẫu hứng. Chúng chỉ ra đời sau một quá trình suy ngẫm lâu dài và cẩn trọng..."

Malone đáp: "Ý ông là ông chẳng nghĩ ra được cái gì."

O'Connor nói: "Nhất định phải có lời giải thích nào đó khác. Đương nhiên, vì các sự việc vừa mới được trình bày trước mặt tôi, tôi không thể ngay lập tức đưa ra một lý thuyết được cấu trúc hoàn chỉnh ngay được."

Malone chậm rãi gật đầu. "Được rồi," anh nói. "Vậy ông có gợi ý nào không? Bất kỳ ý tưởng nào cũng được?"

O'Connor lắc đầu. "Không có," ông đáp. "Nhưng tôi đề nghị kiên quyết rằng, anh Malone, anh nên kiểm tra lại dữ liệu của mình. Rất có thể lỗi nằm chính trong cách anh diễn giải các sự thật thực tế."

Malone đáp: "Tôi không nghĩ vậy."

O'Connor nhăn mặt. "Tôi thì có," ông khẳng định chắc nịch.

Malone khẽ thở dài. Anh cựa quậy trên ghế và lần đầu tiên nhận ra chiếc ghế này thực sự khó chịu đến mức nào. Anh cũng cảm thấy hơi lạnh, và cái lạnh ấy đang dần lan rộng. Anh tự nhủ, đó là hiệu ứng do Tiến sĩ O'Connor mang lại. Anh không còn hối hận vì đã đội chiếc mũ của mình nữa. Thậm chí, anh còn ngẩn ngơ ao ước có được một chiếc áo khoác nhẹ trong giây lát.

Anh tự nhủ, O'Connor quả thực không phải là kiểu người ấm áp, thân thiện.

Vượt qua cảm giác lạnh lẽo trong giây lát, anh nói: "Chà, vậy thì... biết đâu còn có ai khác thì sao. Người biết nhiều hơn về năng lực tâm linh, và có thể có những ý tưởng khác về..."

O'Connor cắt lời: "Làm ơn đi, anh Malone. Chính phủ Hoa Kỳ sẽ khó lòng chọn tôi nếu tôi không sở hữu những phẩm chất độc nhất vô nhị trong lĩnh vực của mình."

Malone lại thở dài. Anh nhỏ nhẹ nói: "Ý tôi là... biết đâu có vài cuốn sách viết về chủ đề này. Biết đâu có thứ gì đó tôi có thể tra cứu."

Malone nhận ra nhiệt độ trong phòng đang giảm xuống rõ rệt. Các dàn cuộn lạnh được tích hợp sẵn trong người O'Connor đang phải làm việc quá tải, anh tự nhủ. O'Connor lạnh lùng nói: "Anh Malone. Lĩnh vực tâm linh học còn non trẻ đến mức tôi có thể khẳng định không chút do dự rằng mình đã quen thuộc với mọi thứ được viết về chủ đề này. Dĩ nhiên, ý tôi ở đây là các công trình khoa học. Tôi không hoài nghi việc Hiệp hội Nghiên cứu Siêu tâm lý học châu Mỹ chẳng hạn, sở hữu hàng trăm cuốn sách nhảm nhí mà tôi chưa từng đọc, hay thậm chí chưa từng nghe tới. Nhưng trong lĩnh vực thuần túy khoa học, tôi phải nói rằng..."

Ông bỏ dở câu nói, nheo mắt nhìn chằm chằm vào Malone với vẻ có vẻ như là sự quan tâm, nhưng trông giống sự nản lòng và chán ngấy hơn.

Ông cất giọng hỏi: "Anh Malone, anh bị ốm à?"

Malone ngẫm nghĩ về điều đó. Anh nhận ra mình không chắc lắm. Cái lạnh trong phòng đang làm phiền anh ngày một nhiều hơn, và khi nó lan rộng, anh bắt đầu nghi ngờ việc tất cả là do ảnh hưởng từ O'Connor. Bỗng nhiên, một cơn rùng mình rõ rệt bắt đầu xuất hiện ở vùng quanh vai rồi lan tỏa dọc xuống cơ thể anh.

Một cơn khác nối tiếp theo sau, rồi đến cơn thứ ba.

Malone đáp: "Tôi á? Tôi... tôi ổn."

O'Connor nhận xét: "Trông anh có vẻ nhiễm lạnh rồi đấy."

Cơn rùng mình thứ tư nối tiếp ba cơn trước.

Malone đáp: "Tôi... chắc thế. T-tôi... dường như tôi kh-khá lạnh."

O'Connor gật đầu. "À," ông nói. "Tôi nghĩ thế mà. Dù rằng bị nhiễm lạnh ở nhiệt độ bảy mươi hai độ F quả thực là chuyện kỳ lạ." Ông nhìn chiếc nhiệt kế ngay ngoài cửa sổ văn phòng rồi quay lại nhìn Malone. "Xin lỗi anh," ông nói. "Bảy mươi mốt phẩy sáu độ."

Malone thốt lên: "Chỉ... chỉ có thế thôi à?" Bảy mươi mốt phẩy sáu độ, hay thậm chí là bảy mươi hai độ, nghe chẳng giống với cái sa mạc Nevada oi bức mà anh từng tưởng tượng chút nào.

O'Connor đáp: "Dĩ nhiên rồi. Vào lúc chín giờ sáng, người ta khó lòng mong chờ mức nhiệt độ cao được. Sa mạc trở nên rất nóng vào ban ngày nhưng sẽ hạ nhiệt rất nhanh; tôi cho rằng anh đã quen thuộc với các quy luật chi phối hệ thống này rồi chứ."

Malone đáp: "Chắc chắn rồi. Ch-chắc chắn."

Những cơn rùng mình chẳng hề thuyên giảm chút nào. Chúng tiếp tục chạy dọc lên xuống cơ thể anh với nhịp điệu uy nghi đều đặn của các chuyến tàu hỏa đi làm tuyến Pennsylvania.

O'Connor nhíu mày trong giây lát. Rõ ràng đôi mắt mang nhãn quan khoa học sắc sảo của ông đang đánh giá hiện tượng và báo cáo sự việc về cho bộ óc khoa học sắc sảo của mình. Chỉ trong một giây hoặc ngắn hơn thế, bộ óc khoa học sắc sảo đã đưa ra câu trả lời, và Tiến sĩ O'Connor cất giọng bằng chất giọng khoa học sắc sảo nhất của ông.

Ông nói, chẳng mang theo chút tiếc nuối nào có thể nghe thấy được: "Lẽ ra tôi nên cảnh báo anh. Câu trả lời đơn giản đến mức trẻ con, anh Malone ạ. Anh rời Washington vào buổi trưa."

Malone đáp: "Chỉ trước trưa một chút thôi." Nhớ lại ánh nắng thiêu đốt, anh nói thêm: "Giữa trưa. Nắng gắt lắm."

O'Connor nói: "Chính xác là vậy. Và không chỉ nhiệt độ gay gắt; tôi cho rằng độ ẩm lúc đó cũng rất cao."

Malone nhớ lại rồi đáp: "Rất cao." Anh lại rùng mình một cái.

O'Connor nói: "Ở Washington lúc đó là giữa trưa. Còn ở đây là chín giờ sáng, và chẳng ấm áp gì cho cam. Bầu không khí khá khô cằn, và thấp hơn khoảng hai mươi độ so với mức nhiệt ngoài Washington."

Malone ngẫm nghĩ, cố phớt lờ những cơn rùng mình. Cuối cùng anh nói: "Ồ. Thế mà suốt từ nãy đến giờ tôi cứ tưởng là do ông."

O'Connor chồm người về phía trước: "Cái gì?"

Malone vội vã đáp: "Không có gì."

O'Connor vừa nói vừa lại chụm các đầu ngón tay vào nhau: "Đề nghị của tôi là anh nên cởi bộ quần áo chắc chắn là đang ẩm ướt của mình ra, và..."

Đương nhiên là Malone chẳng mang theo bộ quần áo nào đến Yucca Flats để thay cả. Và khi anh cố tưởng tượng ra cảnh mình mặc một bộ đồ sơ cua của Tiến sĩ O'Connor, hình ảnh đó tuyệt đối không tài nào hiện lên nổi. Hơn nữa, ý tưởng thực hiện màn múa thoát y phiên bản cải tiến ở trong hoặc gần văn phòng của O'Connor là một điều hoàn toàn kém hấp dẫn.

Anh chầm chậm đáp: "Chà, cảm ơn bác sĩ rất nhiều, nhưng thôi, tôi xin miễn. Thực ra tôi có ý tưởng hay hơn."

O'Connor hỏi: "Hay hơn ư?"

Malone hít một hơi thật sâu rồi nhắm mắt lại: "Chà, tôi..."

Anh nghe thấy tiếng Tiến sĩ O'Connor cất lên: "Chà, anh Malone — tạm biệt. Và chúc may mắn."

Rồi căn phòng làm việc ở Yucca Flats biến mất, và Malone đang đứng trong phòng ngủ thuộc căn hộ của chính mình, ở vùng ngoại ô Washington, D. C.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Randall Garrett And Laurence M. Janifer

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.