Chuyện Ma Của Một Nhà Sưu Khảo Cổ Vật

Lượt đọc: 175 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Số 13

❊ ❊ ❊

Trong số các thị trấn ở Jutland, Viborg đường hoàng giữ một vị thế cao quý. Nơi đây là tòa giám mục; có một nhà thờ chính tòa lộng lẫy nhưng hầu như hoàn toàn mới, một khu vườn nên thơ, một hồ nước tuyệt đẹp và rất nhiều loài cò. Gần đó là Hald, được coi là một trong những thắng cảnh đẹp nhất Đan Mạch; và ngay sát bên là Finderup, nơi Marsk Stig đã ám sát Vua Erik Glipping vào Ngày lễ thánh Cecilia năm 1286.

Người ta tìm thấy năm mươi sáu vết lõm do dùi cui sắt đầu vuông trên hộp sọ của Erik khi lăng mộ của ông được mở ra vào thế kỷ XVII. Nhưng tôi không viết sách hướng dẫn du lịch.

Có những khách sạn tốt ở Viborg — Preisler và Phœnix là những lựa chọn hoàn hảo. Thế nhưng người họ hàng của tôi, người mà tôi sắp kể lại những trải nghiệm cho quý vị nghe, lại chọn trọ tại Sư Tử Vàng (Golden Lion) trong lần đầu tiên đến Viborg. Từ đó đến nay ông chưa từng quay lại, và những trang viết sau đây có lẽ sẽ lý giải nguyên nhân vì sao ông lánh xa nơi ấy.

Sư Tử Vàng là một trong số rất ít ngôi nhà trong thị trấn không bị phá hủy trong trận đại hỏa hoạn năm 1726, trận hoả hoạn đã gần như san phẳng nhà thờ chính tòa, Sognekirke, Raadhuus cùng bao công trình cổ kính và thú vị khác. Đó là một ngôi nhà lớn xây bằng gạch đỏ — chính xác hơn là mặt tiền bằng gạch, với phần mái giật cấp bậc thang ở hai đầu hồi và một câu kinh khắc trên cửa; thế nhưng khoảng sân trong mà chiếc xe buýt chở khách chạy vào lại làm bằng gỗ sơn đen trắng và vữa trát.

Mặt trời đang ngả về tây khi người họ hàng của tôi bước tới trước cửa, và ánh nắng chiếu rọi toàn bộ mặt tiền nguy nga của tòa nhà. Ông vô cùng thích thú trước vẻ cổ kính nơi đây, tự hứa sẽ có một kỳ nghỉ thật trọn vẹn và thú vị tại một quán trọ đậm chất vùng Jutland xưa.

Không phải công việc theo nghĩa thông thường đã đưa ông Anderson đến Viborg. Ông đang tiến hành một số nghiên cứu về lịch sử Giáo hội Đan Mạch, và ông được biết rằng trong Khố lưu trữ Quốc gia (Rigsarkiv) tại Viborg có những tài liệu, thoát khỏi vụ cháy, liên quan đến những ngày tháng cuối cùng của Công giáo Rô-ma tại đất nước này. Do đó, ông dự định dành một khoảng thời gian đáng kể — có lẽ khoảng hai hoặc ba tuần — để nghiên cứu và sao chép những tài liệu ấy, đồng thời ông hy vọng rằng Sư Tử Vàng có thể cung cấp một căn phòng đủ rộng để vừa làm phòng ngủ vừa làm phòng làm việc. Ý nguyện của ông được trình bày với chủ quán, và sau một hồi suy tính, ông chủ gợi ý rằng cách tốt nhất có lẽ là vị khách quý nên tự mình đi xem một hoặc hai căn phòng rộng rồi chọn lấy một phòng ưng ý. Xem ra đó là một ý hay.

Khu vực tầng trên cùng nhanh chóng bị gạt bỏ vì phải leo quá nhiều bậc thang sau một ngày làm việc mệt mỏi; tầng hai không có căn phòng nào đúng với kích thước yêu cầu; nhưng ở tầng một lại có sẵn hai hoặc ba phòng rất phù hợp về mặt diện tích.

Người chủ trọ hết sức ca ngợi Phòng số 17, nhưng ông Anderson chỉ ra rằng các cửa sổ của phòng này chỉ nhìn ra bức tường trống của ngôi nhà bên cạnh, và trời sẽ rất tối vào buổi chiều. Hoặc Phòng số 12 hoặc Phòng số 14 sẽ tốt hơn, bởi cả hai đều hướng ra phố, và ánh sáng rạng rỡ của buổi chiều cùng khung cảnh xinh đẹp sẽ dư sức bù đắp cho phần tiếng ồn tăng thêm.

Cuối cùng, Phòng số 12 đã được chọn. Giống như các phòng bên cạnh, nó có ba cửa sổ, tất cả đều nằm ở một bên tường; trần khá cao và phòng dài hơn mức bình thường. Đương nhiên là không có lò sưởi mở, bù lại chiếc lò sưởi bằng gang trông rất đẹp và khá cổ, trên mặt có chạm nổi tích Abraham hiến tế Isaac, bên trên khắc dòng chữ: “Sáng thế ký, Chương 22.” Không có gì khác đáng chú ý trong phòng; bức tranh thú vị duy nhất là một bản in màu cũ vẽ cảnh thị trấn, có niên đại khoảng năm 1820.

Giờ ăn tối đang đến gần, nhưng khi ông Anderson, sau khi đã rửa mặt mũi tỉnh táo, bước xuống cầu thang thì vẫn còn vài phút trước khi chuông reo. Ông dành thời gian ấy để xem danh sách những vị khách cùng trọ. Cũng như thường lệ ở Đan Mạch, tên của họ được viết trên một chiếc bảng đen lớn, chia thành các cột và hàng, với số phòng được sơn ở đầu mỗi dòng. Danh sách chẳng có gì ly kỳ. Gồm có một luật sư (Sagförer), một người Đức và vài tay buôn từ Copenhagen. Điểm duy nhất gợi lên chút suy ngẫm là sự vắng mặt của con số 13 trong dãy phòng, thế nhưng đây cũng là điều mà ông Anderson đã từng bắt gặp nửa tá lần trong các chuyến đi đến các khách sạn Đan Mạch của mình. Ông không khỏi tự hỏi liệu sự kỳ thị đối với con số đặc biệt ấy, dẫu phổ biến đến đâu, lại có sức ảnh hưởng sâu rộng và mạnh mẽ đến mức khiến người ta khó cho thuê một căn phòng mang số hiệu đó hay sao, và ông tự nhủ sẽ hỏi chủ nhà xem liệu ông ta và các đồng nghiệp trong ngành có thực sự gặp nhiều vị khách từ chối lưu trú ở căn phòng thứ mười ba hay không.

Ông chẳng có gì để kể lại với tôi (tôi đang thuật lại câu chuyện theo những gì nghe được từ ông) về bữa tối hôm ấy, và buổi tối — được dùng để dọn dẹp, sắp xếp quần áo, sách vở và tài liệu — cũng trôi qua bình thường không có biến cố gì. Khoảng mười một giờ, ông quyết định đi ngủ, nhưng cũng như rất nhiều người khác vào thời nay, điều kiện gần như bắt buộc trước khi ngủ đối với ông nếu muốn chợp mắt là phải đọc dăm ba trang sách, và giờ đây ông chợt nhớ ra rằng cuốn sách cụ thể mà ông đã đọc trên tàu, và là cuốn duy nhất có thể làm ông thỏa mãn vào lúc này, đang nằm trong túi chiếc áo khoác đại cán treo trên chiếc móc ngoài phòng ăn.

Chạy ù ra lấy lại cuốn sách chỉ là chuyện trong chớp mắt, và vì các hành lang hoàn toàn không tối nên ông tìm đường quay về phòng mình không mấy khó khăn. Ít nhất thì ông nghĩ vậy; thế nhưng khi bước đến nơi và vặn tay nắm cửa, cánh cửa nhất quyết không chịu mở, đồng thời ông nghe thấy tiếng động vội vã hướng về phía cửa từ bên trong. Dĩ nhiên là ông đã thử nhầm cửa rồi. Phòng của ông nằm bên phải hay bên trái nhỉ? Ông liếc nhìn con số: đó là số 13. Phòng của ông phải nằm bên trái; và quả thực là vậy. Phải mãi cho đến khi ông đã nằm trên giường được vài phút, đã đọc xong ba bốn trang sách quen thuộc, thổi tắt đèn và trở mình chợp mắt, ông mới sực nhớ ra rằng: trong khi trên bảng đen của khách sạn không hề có Phòng số 13, thì ở đây lại rành rành một căn phòng mang số 13. Ông đâm ra hơi tiếc vì đã không chọn nó cho mình. Biết đâu ông đã có thể giúp ích cho chủ khách sạn phần nào khi ở đó, và cho ông ta cơ hội khoe rằng một quý ông gốc Anh đã sống ở căn phòng ấy suốt ba tuần và vô cùng thích thú. Nhưng có lẽ nó được dùng làm phòng cho người hầu hoặc thứ gì đại loại thế. Suy cho cùng, rất có thể nó không rộng rãi hay tốt đẹp bằng phòng của ông. Và ông lơ mơ nhìn quanh căn phòng, lờ mờ nhận rõ trong ánh sáng leo lét hắt vào từ ngọn đèn đường. Quả là một hiệu ứng kỳ lạ, ông nghĩ. Các phòng thường trông có vẻ lớn hơn trong ánh sáng mờ ảo so với khi sáng trưng, thế nhưng căn phòng này hình như lại bị co lại về chiều dài và cao hơn hẳn một cách tương xứng. Thôi nào! Giấc ngủ vẫn quan trọng hơn những mủi lòng vơ vẩn ấy — và ông chìm vào giấc ngủ.

Vào ngày đầu tiên sau khi đến nơi, ông Anderson bắt đầu nghiên cứu tại Khố lưu trữ Quốc gia ở Viborg. Đúng như những gì có thể mong đợi ở Đan Mạch, ông được đón tiếp niềm nở và mọi lối đi đến những tài liệu ông muốn xem đều được tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể. Các văn bản được trưng bày trước mắt ông nhiều hơn và thú vị hơn rất nhiều so với những gì ông từng tưởng tượng. Bên cạnh các giấy tờ hành chính, còn có một bọc thư từ lớn liên quan đến Giám mục Jörgen Friis, vị Giám mục Công giáo cuối cùng cai quản giáo phận, và trong đó xuất hiện rất nhiều chi tiết thú vị, những thứ được gọi là “thân mật” về đời sống riêng tư cùng cá tính từng người. Người ta bàn tán rất nhiều về một ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của Giám mục nhưng ngài không ở, nằm ngay trong thị trấn. Người thuê nhà dường như là một nỗi chướng tai gai mắt và hòn đá ngáng đường đối với phe cải cách. Họ viết rằng ông ta là nỗi ô nhục của thành phố; hắn thực hành những tà thuật đen tối, và đã bán linh hồn cho ác quỷ. Thật đồng điệu với sự đồi bại và mê tín ghê tởm của Giáo hội Babylon khi một con độc xà và kẻ hút máu — một Troldmand — lại được Giám mục bảo trợ và dung túng. Đức Giám mục hiên ngang đối mặt với những lời quở trách ấy; ngài khẳng định sự ghê tởm của chính mình đối với mọi thứ tà thuật, đồng thời yêu cầu các đối thủ đưa sự việc ra trước tòa án thích hợp — dĩ nhiên là tòa án giáo hội — để điều tra cho ra ngô ra khoai. Không ai sẵn sàng và mong muốn lên án Mag Nicolas Francken hơn chính ngài nếu các bằng chứng cho thấy hắn thực sự có tội với những cáo buộc mập mờ kia.

Ông Anderson không có thời gian để làm gì hơn ngoài việc lướt qua lá thư tiếp theo của thủ lĩnh phái Tin Lành, Rasmus Nielsen, trước khi văn phòng lưu trữ đóng cửa trong ngày; thế nhưng ông cũng nắm bắt được đại ý của nó, rằng những người theo đạo Thiên Chúa giờ đây không còn bị ràng buộc bởi các quyết định của Giám mục Rô-ma nữa, và Tòa án của Giám mục không phải là, và không thể là, một cơ quan tài phán thích hợp hay có thẩm quyền để xét xử một vụ án nghiêm trọng và trọng đại nhường ấy.

Khi rời khỏi văn phòng, ông Anderson đi cùng vị lão ông đứng đầu nơi đó, và trên đường đi, câu chuyện tự nhiên chuyển sang những tập tài liệu mà ông vừa nhắc tới.

Herr Scavenius, viên Chánh lưu trữ của Viborg, tuy rất am hiểu về tổng quan các tài liệu dưới quyền quản lý của mình, nhưng lại không phải là chuyên gia về giai đoạn Cải cách. Ông tỏ ra vô cùng hứng thú với những gì ông Anderson kể cho mình nghe. Ông nói rằng ông rất mong đợi được nhìn thấy ấn phẩm mà ông Anderson đề cập đến nhằm đưa nội dung của những tài liệu đó vào. “Ngôi nhà này của Giám mục Friis,” ông nói thêm, “thật là một điều bí ẩn lớn đối với tôi không biết nó từng nằm ở đâu. Tôi đã nghiên cứu kỹ lưỡng địa lý lịch sử của Viborg xưa, nhưng thật quá xui xẻo — trong cuốn sổ điền sản của Giám mục được lập năm 1560, mà chúng ta đang lưu giữ phần lớn trong Khố lưu trữ, thì đúng ngay phần ghi danh mục tài sản trong thị trấn lại bị mất. Đừng bận tâm. Biết đâu một ngày nào đó tôi sẽ tìm ra nó.”

Sau khi đi dạo một lát — tôi quên mất chính xác là ở đâu và bằng cách nào — ông Anderson quay trở lại Sư Tử Vàng, ăn tối, chơi bài solitaire rồi đi ngủ. Trên đường về phòng, ông chợt nhớ ra rằng mình quên chưa nói chuyện với chủ khách sạn về việc bỏ sót Phòng số 13 trên bảng của khách sạn, và đồng thời ông cũng muốn chắc chắn rằng Phòng số 13 có thực sự tồn tại hay không trước khi đề cập đến vấn đề này.

Việc kiểm chứng chẳng có gì khó khăn. Cánh cửa với con số rành rành hiện ra trước mắt, và dường như có hoạt động nào đó đang diễn ra bên trong, bởi khi đến gần, ông có thể nghe thấy tiếng bước chân và tiếng nói, hoặc một giọng nói, vọng ra từ phía sau cánh cửa. Trong vài giây ông dừng lại để xác minh con số, tiếng bước chân chợt im bặt, dường như ở sát ngay cửa, và ông giật mình khi nghe thấy tiếng thở khò khè gấp gáp như của một kẻ đang bị kích động mạnh. Ông đi tiếp về phòng mình, và một lần nữa ông ngạc nhiên nhận ra căn phòng trông nhỏ hơn rất nhiều so với lúc ông chọn nó. Đó là một sự thất vọng nhỏ, nhưng chỉ là nhỏ thôi. Nếu thấy nó thực sự không đủ rộng, ông có thể dễ dàng chuyển sang phòng khác. Trong lúc này, ông đang cần một thứ — theo trí nhớ của tôi thì đó là một chiếc khăn tay — nằm trong chiếc va-li đã được người khuân vác đặt lên một chiếc giá đỡ hoặc ghế đẩu siêu nhỏ áp vào bức tường ở góc xa nhất của căn phòng tính từ giường ngủ. Và đây là một điều vô cùng kỳ lạ: chiếc va-li hoàn toàn biến mất. Nó đã bị mấy đứa ở dịch vụ dọn phòng táy máy chuyển đi; chắc chắn đồ đạc bên trong đã được cất vào tủ quần áo. Không, chẳng có cái nào ở trong đó cả. Thật là phiền phức. Ý nghĩ về một vụ trộm bị ông bác bỏ ngay lập tức. Những chuyện như thế hiếm khi xảy ra ở Đan Mạch, nhưng chắc chắn đã có một sự ngu ngốc nào đó diễn ra (điều này thì không hiếm), và cô hầu phòng (stuepige) phải bị quở trách nghiêm khắc mới được. Dù thứ ông cần là gì đi nữa, nó cũng không đến mức thiết yếu cho sự thoải mái của ông tới mức không thể đợi đến sáng mai, vì vậy ông quyết định không bấm chuông làm phiền người hầu. Ông bước ra cửa sổ — chính là cửa sổ bên phải — và nhìn ra con đường vắng lặng. Đối diện là một tòa nhà cao tầng với những mảng tường trống lớn; không một bóng người qua lại; một đêm tối mịt mờ; và chẳng thấy gì nhiều ngoài khung cảnh tịch mịch.

Ánh đèn chiếu từ phía sau lưng, giúp ông nhìn rõ cái bóng của chính mình hắt lên bức tường đối diện. Cả cái bóng của gã đàn ông để râu ở Phòng số 11 bên trái, người đi qua đi lại trong chiếc áo sơ mi vài bận, thoạt đầu thấy đang chải tóc, lát sau lại thấy mặc áo ngủ. Và cả cái bóng của người ở Phòng số 13 bên phía tay phải. Điều này có vẻ thú vị hơn đây. Phòng số 13 cũng giống như ông, đang tỳ khuỷu tay lên bệ cửa sổ nhìn ra đường. Hắn có vẻ là một người đàn ông cao gầy — hay biết đâu lại là phụ nữ nhỉ? — ít nhất, đó là một kẻ trùm đầu bằng một thứ vải vóc nào đó trước khi đi ngủ, và, ông thầm nghĩ, chắc phải có một chiếc chụp đèn màu đỏ — và ngọn đèn ấy hẳn đang nhấp nháy dữ dội. Có một vệt sáng đỏ đục hắt lên rồi chập chờn trên bức tường đối diện. Ông nhoài người ra một chút để xem có nhìn rõ thêm hình dáng kẻ đó hay không, nhưng ngoài một nếp vải sáng màu nào đó, có lẽ là màu trắng, trên bệ cửa sổ, ông chẳng thấy gì thêm.

Đúng lúc ấy vang lên tiếng bước chân ở đằng xa, và tiếng bước chân đến gần hình như nhắc nhở người ở Phòng số 13 nhớ ra vị trí hở hang của mình, bởi rất nhanh chóng và đột ngột, hắn rụt người khỏi cửa sổ và ngọn đèn đỏ vụt tắt. Ông Anderson, người đang hút dở một điếu thuốc lá, đặt mẩu tàn thuốc lên bệ cửa sổ rồi lên giường đi ngủ.

Sáng hôm sau, ông bị đánh thức bởi cô hầu phòng mang theo nước nóng, v.v. Ông chồm dậy, và sau khi cố suy nghĩ để nhớ ra những từ tiếng Đan Mạch chính xác, ông nói rõ ràng nhất có thể:

— Cô không được di chuyển chiếc va-li của tôi. Nó đâu rồi?

Cũng như thường lệ, cô hầu phòng mỉm cười rồi bước đi mà không đưa ra bất kỳ câu trả lời rõ ràng nào.

Ông Anderson, cảm thấy hơi bực mình, ngồi bật dậy trên giường với ý định gọi cô ta lại, thế nhưng ông cứ ngồi nguyên thế, trân trân nhìn thẳng về phía trước. Chiếc va-li của ông đang nằm yên vị trên chiếc giá đỡ, chính xác ở nơi mà ông thấy người khuân vác đặt nó khi mới đến. Đây quả là một cú sốc phũ phàng đối với một người vẫn luôn tự hào về khả năng quan sát chuẩn xác của mình. Làm sao mà ông có thể bỏ sót nó vào tối hôm qua cho được, ông hoàn toàn không hiểu nổi; dẫu sao thì bây giờ nó đang ở đó.

Ánh ban mai phơi bày nhiều thứ hơn là chiếc va-li; nó cho thấy tỷ lệ thực sự của căn phòng với ba ô cửa sổ, đồng thời làm cho vị khách thuê thỏa mãn rằng sự lựa chọn của mình suy cho cùng không đến nỗi tệ. Khi đã gần thay đồ xong, ông bước đến ô cửa sổ ở giữa để ngắm thời tiết. Một cú sốc nữa lại đang chờ ông. Hẳn là tối qua ông đã cực kỳ lơ đễnh. Ông dám thề độc mười lần rằng tối qua lúc trước khi đi ngủ, ông đứng hút thuốc ở cửa sổ bên phải, thế mà mẩu thuốc lá của ông lại đang nằm trên bệ của ô cửa sổ ở giữa.

Ông bắt đầu đi xuống ăn sáng. Khá muộn, nhưng Phòng số 13 còn muộn hơn: đôi giày của hắn vẫn đang để ngoài cửa — giày của một quý ông. Vậy ra Phòng số 13 là đàn ông, chứ không phải phụ nữ. Ngay lúc đó, ông bắt gặp con số trên cửa. Đó là số 14. Ông nghĩ chắc mình đã đi qua Phòng số 13 mà không để ý. Ba sai lầm ngớ ngẩn trong vòng mười hai tiếng là quá nhiều đối với một người có óc ngăn nắp, cẩn trọng, thế nên ông quay ngược lại để cho chắc ăn. Số liền kề với số 14 là số 12, phòng của chính ông. Hoàn toàn không có Phòng số 13 nào cả.

Sau vài phút dành để suy ngẫm kỹ lưỡng về mọi thứ mình đã ăn và uống trong suốt hai mươi bốn giờ qua, ông Anderson quyết định từ bỏ việc thắc mắc. Nếu đôi mắt hay bộ óc của ông đang có vấn đề thì ông sẽ có khối cơ hội để xác thực điều đó; còn nếu không, thì rõ ràng ông đang được trải nghiệm một thứ vô cùng thú vị. Dù trong trường hợp nào đi nữa, sự phát triển của các sự kiện chắc chắn cũng rất đáng để theo dõi.

Ban ngày, ông tiếp tục công việc nghiên cứu đống thư tín của giám mục mà tôi đã tóm tắt ở trên. Đem lại chút thất vọng cho ông là chúng không đầy đủ. Chỉ tìm thấy thêm một bức thư duy nhất đề cập đến vụ việc của Mag Nicolas Francken. Đó là thư từ Giám mục Jörgen Friis gửi Rasmus Nielsen. Ngài viết:

“Mặc dù chúng ta không hề có ý định đồng tình với phán quyết của các ông về tòa án của chúng ta, và sẽ sẵn sàng, nếu cần thiết, chống trả các ông đến cùng trong vấn đề đó, thế nhưng vì vị Mag Nicolas Francken đáng kính và trung thực của chúng ta — kẻ mà các ông cả gan đưa ra những cáo buộc sai lệch và hiểm độc — đã đột ngột bị bứt khỏi trần thế, thiết tưởng vấn đề cho đến nay coi như khép lại. Nhưng vì các ông còn cáo buộc thêm rằng Tông đồ kiêm Nhà truyền giáo Thánh Gioan trong sách Khải Huyền thiên đàng của ngài đã miêu tả Giáo hội Công giáo La Mã dưới lớp vỏ bọc và biểu tượng của Người đàn bà Mặc áo Đỏ, nên xin cho các ông được biết…” v.v.

Dù có lục lọi thế nào, ông Anderson cũng không thể tìm thấy phần tiếp theo của bức thư này hay bất kỳ manh mối nào về nguyên nhân hoặc cách thức “bứt khỏi trần thế” của cái gọi là nguyên nhân gây chiến (casus belli). Ông chỉ có thể đoán rằng Francken đã chết thốt; và vì chỉ có vỏn vẹn hai ngày kể từ ngày bức thư cuối cùng của Nielsen — thời điểm Francken rõ ràng vẫn còn sống — cho đến ngày bức thư của Giám mục, cái chết ấy hẳn là hoàn toàn bất ngờ.

Vào buổi chiều, ông có chuyến viếng thăm ngắn đến Hald và uống trà tại Baekkelund; dẫu đang trong tâm trạng khá căng thẳng, ông cũng không nhận thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy sự suy giảm của thị lực hay trí não như những trải nghiệm buổi sáng từng khiến ông lo sợ.

Vào bữa tối, ông thấy mình ngồi cạnh chủ khách sạn.

— Tại sao, — ông hỏi sau vài câu chuyện xã giao, — ở hầu hết các khách sạn người ta ghé thăm tại đất nước này, con số mười ba lại bị bỏ quên trong danh sách các phòng vậy? Tôi thấy ở đây anh cũng không có phòng nào như thế.

Chủ khách sạn có vẻ thích thú.

— Thật không ngờ ngài lại để ý đến một chuyện như thế đấy! Nói thật là bản thân tôi cũng từng nghĩ về nó đôi ba lần. Một người có học thức, tôi vẫn tự nhủ, thì không việc gì phải bận tâm đến mấy thứ mê tín dị đoan ấy. Bản thân tôi lớn lên ở trường trung học Viborg này, và người thầy cũ của chúng tôi luôn là người tỏ thái độ cứng rắn chống lại bất kỳ điều gì tương tự. Thầy đã mất từ lâu lắm rồi — một người cao lớn đường hoàng, tay chân nhanh nhẹn chẳng kém gì đầu óc. Tôi nhớ hồi bọn tôi còn là học sinh, có một ngày tuyết rơi nọ…

Đến đây, ông ta chìm đắm trong những ký ức.

— Vậy anh không nghĩ có điều gì bất ổn đặc biệt khi sở hữu một Phòng số 13 chứ? — ông Anderson hỏi.

— À! Chắc chắn rồi. Vâng, ngài hiểu đấy, tôi được người cha đáng kính của mình truyền nghề cho. Trước tiên ông quản lý một khách sạn ở Aarhuus, rồi khi chúng tôi ra đời, ông chuyển đến Viborg này — quê hương của ông — và quản lý khách sạn Phœnix cho đến khi qua đời. Đó là vào năm 1876. Sau đó tôi bắt đầu kinh doanh ở Silkeborg, và mãi tận năm ngoái tôi mới chuyển đến ngôi nhà này.

Tiếp theo là những chi tiết về tình trạng của ngôi nhà và việc kinh doanh khi ông mới tiếp quản.

— Và khi anh đến đây, đã có sẵn Phòng số 13 chưa?

— Không, không. Tôi đang định kể cho ngài nghe chuyện đó đây. Ngài thấy đấy, ở một nơi thế này, tầng lớp thương gia — các lữ khách — là đối tượng mà chúng ta phải phục vụ nói chung. Và nhét họ vào Phòng số 13 ư? Hừm, thà họ ngủ ngoài đường còn hơn, hoặc sớm hơn thế. Về phần cá nhân tôi, con số phòng là gì chẳng ảnh hưởng đến tôi dù chỉ một xu, và tôi cũng hay nói thế với họ; nhưng họ cứ khăng khăng rằng nó mang lại vận rủi. Họ có vô số câu chuyện truyền tai nhau về những người từng ngủ ở Phòng số 13 để rồi không bao giờ trở lại là chính mình nữa, hoặc mất đi những khách hàng ruột, hoặc… chuyện nọ xọ chuyện kia, — chủ khách sạn nói, sau khi vắt óc tìm kiếm một cách diễn đạt hình ảnh hơn.

— Thế anh dùng Phòng số 13 của mình vào việc gì? — ông Anderson hỏi, vừa thốt ra những lời đó vừa cảm thấy một mối lo âu kỳ lạ hoàn toàn không tương xứng với tầm quan trọng của câu hỏi.

— Phòng số 13 của tôi ư? Chẳng phải tôi vừa nói với ngài là không có căn phòng nào như thế trong nhà sao? Tôi cứ ngỡ ngài để ý thấy điều đó chứ. Nếu có thì nó phải nằm ngay cạnh phòng của ngài.

— Ờ, đúng vậy; chỉ là tôi chợt nghĩ — nghĩa là tối qua tôi tưởng mình nhìn thấy một cánh cửa đánh số mười ba ở hành lăng đó; và thực tình, tôi gần như chắc chắn mình đã đúng, vì tối hôm trước tôi cũng thấy nó.

Dĩ nhiên là Herr Kristensen cười trừ trước ý nghĩ đó, đúng như những gì ông Anderson đã dự đoán, và liên tục nhấn mạnh thực tế rằng không có và chưa từng có bất kỳ Phòng số 13 nào tồn tại trước thời của ông trong khách sạn ấy.

Ông Anderson phần nào cảm thấy nhẹ nhõm trước sự quyết đoán của chủ nhà, thế nhưng ông vẫn hoang mang, và ông bắt đầu nghĩ rằng cách tốt nhất để xác định xem bản thân có thực sự bị ảo giác hay không là mời chủ khách sạn vào phòng mình hút xì gà vào lúc tối muộn. Một vài bức ảnh chụp các thị trấn nước Anh mà ông mang theo là một cái cớ hoàn toàn hợp lý.

Herr Kristensen cảm thấy vinh hạnh vì lời mời và vui vẻ chấp nhận. Khoảng mười giờ, ông ta sẽ có mặt, nhưng trước đó ông Anderson còn vài bức thư phải viết, nên lui về phòng để hoàn thành. Ông suýt đỏ mặt khi tự thú nhận điều đó, nhưng không thể phủ nhận rằng thực tế là ông đang trở nên khá lo lắng về vấn đề sự tồn tại của Phòng số 13; đến mức ông tiến về phòng mình bằng ngả Phòng số 11, để không phải đi ngang qua cánh cửa — hoặc cái vị trí đáng lẽ phải là cánh cửa ấy. Ông liếc nhanh và đầy nghi ngờ quanh phòng khi bước vào, nhưng ngoài cái cảm giác mơ hồ khó tả là phòng nhỏ hơn bình thường ra, chẳng có gì để biện minh cho những mối lo âu cả. Tối nay thì không có chuyện chiếc va-li biến mất hay xuất hiện nữa. Chính tay ông đã lấy hết đồ đạc ra và nhét nó xuống dưới gầm giường. Với chút ít cố gắng, ông gạt phắt ý nghĩ về Phòng số 13 ra khỏi đầu và ngồi vào bàn viết thư.

Những người hàng xóm của ông khá yên tĩnh. Thỉnh thoảng có cánh cửa mở ra ở hành lăng và một đôi giày được vứt ra ngoài, hay một tay thương gia đi ngang qua vừa đi vừa huýt sáo nho nhỏ, còn ở bên ngoài, thỉnh thoảng lại có chiếc xe ngựa rầm rộ lăn bánh qua lớp đá cuội lởm chởm, hoặc tiếng bước chân vội vã lướt qua trên thềm đá.

Ông Anderson viết xong thư, gọi whisky pha soda, rồi bước ra cửa sổ nghiên cứu bức tường trống đối diện và những chiếc bóng in trên đó.

Theo trí nhớ của ông, Phòng số 14 do viên luật sư thuê, một người điềm đạm, ít nói trong các bữa ăn, thường bận rộn nghiên cứu một xấp tài liệu nhỏ đặt bên cạnh đĩa ăn. Thế nhưng có vẻ như ông ta có thói quen xảhết năng lượng động vật của mình khi ở một mình. Nếu không thì tại sao ông ta lại nhảy múa? Cái bóng hắt ra từ phòng bên cạnh rõ ràng cho thấy ông ta đang làm thế. Hết lần này đến lần khác, bóng dáng gầy gò của ông ta lướt qua cửa sổ, đôi tay vung vẩy, và một cẳng chân khẳng khiu tung lên với sự nhanh nhẹn đáng kinh ngạc. Hắn có vẻ đi chân trần, và sàn nhà chắc phải được lát rất khéo, bởi chẳng có âm thanh nào lọt ra làm lộ động tác của hắn. Sagförer Herr Anders Jensen, nhảy múa lúc mười giờ đêm trong một phòng khách sạn, trông chẳng khác nào một đề tài thích hợp cho bức tranh lịch sử theo trường phái hoành tráng; và những suy nghĩ của ông Anderson, giống như nhân vật Emily trong tiểu thuyết “Những bí ẩn xứ Udolpho”, bắt đầu “sắp xếp thành những dòng thơ sau đây”:

Khi tôi trở lại khách sạn,

Lúc mười giờ đêm thâu,

Mấy bồi bàn tưởng tôi bệnh nặng;

Mặc kệ họ, tôi có màng đâu.

Nhưng khi đã khóa chặt phòng mình,

Và đặt đôi giày ra cửa ngõ,

Tôi nhảy múa suốt đêm trên sàn gỗ.

Dù hàng xóm có chửi mắng om sòm,

Tôi vẫn nhảy say sưa nhiều hơn nữa,

Bởi tôi thông thuộc luật pháp trong ngoài,

Mọi lời ong tiếng ve của họ,

Tôi đời nào thèm chấp, dẹp đi hai!

Nếu chủ khách sạn không gõ cửa vào thời khắc đó, rất có thể một bài thơ dài dằng dặc nữa đã được trình bày trước mắt bạn đọc. Đánh giá qua vẻ mặt ngạc nhiên khi bước vào phòng, Herr Kristensen cũng bị ấn tượng, giống như ông Anderson trước đó, bởi một điểm gì đó bất thường trong diện mạo của căn phòng. Nhưng ông ta chẳng thốt ra lời nào. Những bức ảnh chụp phong cảnh nước Anh của ông Anderson khiến ông ta vô cùng thích thú và trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều câu chuyện tự truyện. Và cũng chẳng rõ cuộc trò chuyện có thể lái sang hướng Phòng số 13 hằng mong muốn bằng cách nào, nếu như vị luật sư không cất giọng ca vào lúc ấy — hát theo cách không còn nghi ngờ gì nữa rằng ông ta hoặc là đang say khướt, hoặc là đã phát điên. Đó là một giọng ca cao, mỏng và nghe có vẻ khàn đượt, như thể đã lâu không cất lên. Chẳng thể nhận ra lời ca hay giai điệu nào. Nó vút lên tới một cao độ đáng kinh ngạc, rồi tụt xuống với tiếng rên rỉ tuyệt vọng như gió đông bắc thổi qua chiếc ống khói trống hoác, hoặc tiếng đàn phong cầm bị cạn hơi đột ngột. Đó thực sự là một âm thanh kinh hoàng, và ông Anderson cảm thấy nếu lúc đó chỉ có một mình, thể nào hắn cũng đã bỏ chạy sang phòng mấy tên hàng xóm buôn bán để tìm kiếm sự an ủi và bầu bạn.

Chủ khách sạn ngồi há hốc miệng.

— Tôi không hiểu nổi, — cuối cùng ông ta lên tiếng, lau mồ hôi trên trán. — Thật khủng khiếp. Tôi từng nghe thấy tiếng này một lần trước đây, nhưng cứ đinh ninh đó là mèo.

— Anh ta điên rồi ư? — ông Anderson hỏi.

— Chắc chắn là vậy; thật là đáng buồn! Một khách hàng tốt thế cơ mà, lại làm ăn rất thành đạt qua những gì tôi nghe được, và còn có một bầy con thơ phải nuôi nấng.

Đúng lúc đó vang lên tiếng gõ cửa đầy số nóng, và người gõ bước thẳng vào mà không đợi mời. Đó là vị luật sư, trong bộ trang phục lôi thôi lếch thếch, tóc tai bù xù và vẻ mặt vô cùng giận dữ.

— Xin lỗi ngài, — ông ta nói, — nhưng tôi rất lấy làm biết ơn nếu ngài vui lòng dừng ngay cái trò…

Đến đây ông ta khựng lại, bởi rõ ràng là không ai trong hai kẻ đang đứng trước mặt mình chịu trách nhiệm cho mớ âm thanh hỗn độn kia; và sau một khoảng lặng ngắn ngủi, tiếng gào thét lại trào lên dữ dội hơn trước.

— Nhưng rốt cuộc nhân danh Thiên Chúa, chuyện này có nghĩa là gì? — vị luật sư bùng nổ. — Nó ở đâu ra vậy? Ai thế chứ? Tôi sắp phát điên rồi sao?

— Thưa Herr Jensen, chẳng phải nó phát ra từ phòng kế bên của ông đấy chứ? Không có con mèo hay thứ gì bị kẹt trong ống khói sao?

Đó là điều hay ho nhất mà ông Anderson nghĩ ra để nói, và ông nhận ra sự vô ích của nó ngay khi thốt ra; thế nhưng thà làm gì đó còn hơn là đứng yên lắng nghe cái giọng điệu kinh hoàng ấy và nhìn khuôn mặt trắng bệch, đổ đẫm mồ hôi và run lẩy bẩy của ông chủ khách sạn khi ông ta bám chặt lấy hai tay ghế.

— Không thể nào, — vị luật sư đáp, — không thể nào. Chẳng có ống khói nào cả. Tôi đến đây vì đinh ninh rằng tiếng động đó phát ra từ phòng này. Nó chắc chắn nằm ở phòng sát vách phòng tôi.

— Chẳng lẽ không có cánh cửa nào nối giữa phòng ông và phòng tôi sao? — ông Anderson hồi hộp hỏi.

— Không, thưa ngài, — Herr Jensen đáp có phần gay gắt. — Ít nhất là sáng nay thì không.

— À! — ông Anderson thốt lên. — Thế còn tối nay?

— Tôi không chắc lắm, — vị luật sư đáp với vẻ chần chừ.

Đột nhiên, tiếng khóc hoặc tiếng hát ở phòng bên cạnh nhỏ dần, và người ca sĩ dường như bật cười khúc khích một mình. Cả ba người thực sự rùng mình trước âm thanh đó. Rồi tất cả rơi vào tĩnh lặng.

— Nào, — vị luật sư nói, — ngài Kristensen có gì để giải thích đây? Chuyện này nghĩa là thế nào?

— Trời đất ơi! — Kristensen thốt lên. — Tôi biết giải thích sao đây! Tôi chẳng biết gì hơn các ngài đâu. Cầu trời tôi không bao giờ phải nghe thấy thứ âm thanh đó một lần nào nữa.

— Tôi cũng vậy, — Herr Jensen nói, và lẩm bẩm thêm điều gì đó trong miệng. Ông Anderson thấy nó giống như những lời cuối cùng của sách Thánh vịnh, “omnis spiritus laudet Dominum” (hỡi các thần linh, hãy ngợi khen Chúa), nhưng ông không chắc chắn lắm.

— Nhưng chúng ta phải làm gì đó chứ, — ông Anderson nói, — cả ba chúng ta cơ mà. Hay là chúng ta sang phòng bên cạnh điều tra đi?

— Nhưng đó là phòng của Herr Jensen mà, — chủ khách sạn rên rỉ. — Chẳng ích gì đâu; chính ngài ấy vừa từ đó bước ra cơ mà.

— Tôi không chắc lắm, — Jensen nói. — Tôi nghĩ vị quý ông này nói đúng: chúng ta phải đến xem thế nào.

Vũ khí tự vệ duy nhất có thể vơ quội được lúc ấy là một chiếc gậy và một cái ô. Cuộc thám hiểm bước ra hành lăng trong bầu không khí không mấy yên ả. Bên ngoài tĩnh mịch đến chết người, nhưng có một vệt sáng chiếu ra từ khe cửa phòng bên cạnh. Ông Anderson và Jensen tiến lại gần. Vị luật sư vặn tay nắm cửa rồi tung một cú đẩy mạnh mẽ. Vô ích. Cánh cửa vẫn trơ trơ bất động.

— Herr Kristensen, — Jensen nói, — anh có thể đi gọi tên đầy tớ khỏe mạnh nhất ở đây đến được không? Chúng ta phải làm cho ra ngô ra khoai chuyện này.

Chủ khách sạn gật đầu rồi vội vã chuồn lẹ, mừng rỡ vì được thoát khỏi hiện trường. Jensen và Anderson tiếp tục đứng canh bên ngoài cánh cửa.

— Ngài thấy đấy, đó chính là Phòng số 13, — người kia nói.

— Vâng; cửa của ngài kìa, và cửa của tôi đây, — Jensen đáp.

— Ban ngày phòng tôi có ba cửa sổ đấy, — ông Anderson nói, chật vật kìm nén một tiếng cười hồi hộp.

— Chúa tôi, phòng tôi cũng vậy! — vị luật sư nói, quay lại nhìn ông Anderson. Lúc này lưng ông ta đang quay về phía cánh cửa. Ngay khoảnh khắc ấy, cánh cửa bật mở, một cánh tay thò ra cào cấu vào vai ông ta. Nó mặc một bộ đồ vải lanh rách rưới, ngả màu vàng ố, và ở phần da thịt trần trụi có thể nhìn thấy, mọc đầy những sợi lông dài màu xám.

Ông Anderson vừa kịp kéo Jensen ra khỏi tầm với kèm theo một tiếng kêu đầy ghê tởm và sợ hãi, thì cánh cửa sập lại, theo sau là một tiếng cười khúc khích trầm đục.

Jensen chẳng nhìn thấy gì cả, thế nhưng khi ông Anderson hớt hải kể lại cho ông ta nghe mối hiểm nguy vừa suýt trải qua, ông ta lâm vào trạng thái hoảng loạn tột độ và đề nghị hai người nên rút lui khỏi cuộc thám hiểm rồi tự nhốt mình vào một trong hai phòng.

Tuy nhiên, trong lúc ông ta đang vạch ra kế hoạch đó, chủ khách sạn cùng hai gã lực lưỡng đã có mặt tại hiện trường, tất cả đều mang gương mặt đăm chiêu và đầy lo lắng. Jensen đón tiếp họ bằng một tràng miêu tả và giải thích chẳng những không giúp ích gì mà còn khiến họ thêm chùn bước trước trận chiến.

Mấy gã đầy tớ thả chiếc xà beng vừa mang theo xuống, thẳng thừng tuyên bố rằng họ không đời nào đem cái cổ của mình ra đánh đổi trong cái hang quỷ quái đó. Chủ khách sạn thì vô cùng hoảng sợ và do dự, vừa ý thức được rằng nếu không đối mặt với hiểm nguy thì khách sạn của ông ta coi như tiêu đời, lại vừa vô cùng ngợ ngợ không dám tự mình đối mặt. May thay, ông Anderson nghĩ ra cách sốc lại tinh thần lực lượng đang suy sụp.

— Đây có phải là, — ông nói, — lòng dũng cảm của người Đan Mạch mà tôi vẫn hay nghe đồn đại không? Đâu phải có tên Đức nào trong đó đâu, và giả sử có đi chăng nữa, chúng ta đông gấp năm lần cơ mà.

Hai gã đầy tớ và Jensen bị châm chọc bởi câu nói đó liền xốc lại tinh thần, lao bổ về phía cánh cửa.

— Khoan đã! — ông Anderson nói. — Đừng có mất bình tĩnh. Chủ khách sạn đứng ngoài này giữ đèn, còn một trong hai anh phá cửa vào đi, và nhớ là đừng có bước vào ngay khi nó sập xuống nhé.

Mấy người đàn ông gật đầu, gã trẻ tuổi hơn bước lên trước, giơ xà beng giáng một cú trời giáng vào tấm pa-nô phía trên. Kết quả hoàn toàn trái ngược với dự tính của bất kỳ ai. Không hề có tiếng gỗ nứt hay rách — chỉ có một âm thanh đục ngầu, hệt như người ta vừa nện vào bức tường đặc. Gã đàn ông buông rơi dụng cụ kèm theo một tiếng thét, rồi ôm lấy khuỷu tay xoa bóp. Tiếng kêu của hắn thu hút ánh mắt của mọi người trong giây lát; rồi ông Anderson nhìn lại cánh cửa. Nó đã biến mất; bức tường trát vữa của hành lăng trơ ra trước mắt với một vết lõm khá lớn ở chỗ nhát xà beng vừa giáng xuống. Phòng số 13 đã vĩnh viễn biến mất khỏi cõi đời này.

Trong chốc lát, họ đứng sững người, trân trân nhìn bức tường trống trơn. Tiếng một chú gà trống sớm vang lên từ cái chuồng dưới sân; và khi ông Anderson liếc nhìn theo hướng âm thanh, ông thấy qua ô cửa sổ cuối hành lăng dài rằng bầu trời phía đông đang nhạt dần đón bình minh.

— Có lẽ, — chủ khách sạn ngập ngừng lên tiếng, — hai vị quý ông muốn đổi sang phòng khác cho đêm nay — một phòng đôi chẳng hạn?

Cả Jensen và Anderson đều không phản đối gợi ý đó. Sau những trải nghiệm vừa qua, họ cảm thấy có xu hướng thám hiểm theo cặp đôi hơn. Khi mỗi người về phòng mình để thu dọn những vật dụng cần thiết cho đêm nay, việc người kia đi cùng và cầm nến hộ tỏ ra vô cùng tiện lợi. Họ nhận thấy cả Phòng số 12 và Phòng số 14 đều có ba cửa sổ.

Sáng hôm sau, nhóm người đó tụ họp lại ở Phòng số 12. Chủ khách sạn tất nhiên rất lo lắng việc phải thuê người bên ngoài, thế nhưng việc làm sáng tỏ bí ẩn gắn liền với khu vực đó của ngôi nhà là điều bắt buộc. Do đó, hai gã đầy tớ được thuyết phục đảm nhận luôn công việc của những người thợ mộc. Đồ đạc được dọn sạch, và dẫu phải hy sinh kha khá tấm ván bị phá hủy không thể cứu vãn, phần sàn nhà nằm sát Phòng số 14 nhất đã được cạy lên.

Bạn tự nhiên sẽ đoán rằng một bộ xương — giả sử như của Mag Nicolas Francken — đã được phát hiện. Sự thật không phải vậy. Thứ mà họ tìm thấy nằm giữa những thanh xà đỡ sàn nhà là một chiếc hộp đồng nhỏ. Trong đó có một tài liệu bằng da thuộc (vellum) được gấp gọn gàng, với khoảng hai mươi dòng chữ viết. Cả Anderson và Jensen (người hóa ra lại có đôi chút am hiểu về cổ tự học) vô cùng phấn khích trước phát hiện này, thứ hứa hẹn sẽ mang lại chìa khóa cho những hiện tượng kỳ lạ vừa rồi.

Tôi đang sở hữu một bản sao của một tác phẩm chiêm tinh mà tôi chưa bao giờ đọc. Nó có trang minh họa bìa (frontispiece) là một bản khắc gỗ của Hans Sebald Beham, vẽ một nhóm các hiền triết ngồi quanh một chiếc bàn. Chi tiết này có thể giúp những người sành sỏi nhận diện cuốn sách. Bản thân tôi không thể nhớ nổi tựa đề của nó, và lúc này nó cũng không ở trong tầm với; thế nhưng những trang giấy trắng đầu sách chi chít chữ viết, và trong suốt mười năm sở hữu tập sách, tôi vẫn chưa thể xác định được chiều nào là chiều đúng để đọc những dòng chữ này, chứ đừng nói đến việc biết nó thuộc ngôn ngữ gì. Tình cảnh của Anderson và Jensen sau buổi nghiên cứu kéo dài đối với tài liệu trong chiếc hộp đồng cũng chẳng khác là bao.

Sau hai ngày ngắm nghía nó, Jensen, kẻ có gan lỳ hơn trong hai người, đưa ra phỏng đoán bạo dạn rằng ngôn ngữ đó hoặc là tiếng La-tinh, hoặc là tiếng Đan Mạch cổ.

Ông Anderson chẳng dám phỏng đoán điều gì, và rất sẵn lòng giao nộp chiếc hộp cùng tấm da thuộc cho Hội Lịch sử Viborg để đưa vào bảo tàng của họ.

Tôi được nghe toàn bộ câu chuyện từ ông ấy vài tháng sau đó, khi chúng tôi ngồi trong một khu rừng gần Uppsala, sau chuyến viếng thăm thư viện ở đó — nơi chúng tôi — hay đúng hơn là tôi — đã cười ngất trước bản hợp đồng mà Daniel Salthenius (về sau là Giáo sư tiếng Do Thái tại Königsberg) đã bán mình cho quỷ dữ. Ông Anderson không hề thấy buồn cười chút nào.

— Tên ngốc trẻ tuổi! — ông nói, ám chỉ Salthenius, kẻ lúc dấn thân vào hành động dại dột đó mới chỉ là một sinh viên đại học, — hắn biết quái gì về việc mình đang kết giao với loại bạn bè nào chứ?

Và khi tôi đưa ra những suy luận thông thường, ông chỉ càu nhàu. Buổi chiều hôm đó, ông kể cho tôi nghe những gì bạn vừa đọc; nhưng ông từ chối đưa ra bất kỳ kết luận nào từ câu chuyện, cũng như không đồng tình với bất kỳ suy luận nào mà tôi rút ra cho ông.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.