Chúa Tể Sao Hỏa

Lượt đọc: 217 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
Tới Miền Đất Của Người Da Vàng

❊ ❊ ❊

Thuvan Dihn không lâu sau đã xông vào ứng cứu. Tuy thứ vũ khí móc câu này vừa kỳ lạ vừa hung tợn, nhưng nhờ ba người chúng tôi đồng lòng, năm gã chiến binh râu đen chắn đường nhanh chóng bị hạ gục.

Trận chiến vừa dứt, người bạn mới quay sang phía tôi, tháo chiếc thuẫn đeo bên cổ tay ra rồi đưa bằng cả hai tay. Chưa hiểu ý nghĩa của hành động đó, tôi đoán đây có lẽ chỉ là một thức nghi lễ để bày tỏ lòng biết ơn.

Sau này tôi mới biết, hành động ấy tượng trưng cho việc dâng hiến mạng sống để đáp lại ơn cứu mạng đại thù; và việc tôi từ chối ngay lập tức lại chính là phản ứng đúng như mong đợi của anh ta.

“Vậy xin Hoàng tử Talu của xứ Marentina,” vị tộc nhân da vàng nói, “được dâng tặng ngài vật này để tỏ lòng thành kính.” Nói rồi, anh ta luồn tay vào trong ống tay áo rộng, rút ra một chiếc vòng tay và đeo vào cổ tay tôi. Tiếp đó, anh ta cũng thực hiện đúng nghi thức ấy với Thuvan Dihn.

Đoạn, anh hỏi tên tuổi cùng xứ sở của chúng tôi. Có vẻ rất am tường địa lý thế giới bên ngoài, anh nhướng mày ngạc nhiên khi nghe tôi đáp mình đến từ Helium.

“Ồ,” anh nói, “có phải ngài đang đi tìm vị quốc vương cùng đoàn người của ông ấy?”

“Ngài có tin tức gì về họ sao?” Tôi dồn dập hỏi.

“Tôi chỉ biết chút ít rằng họ đã bị bắt giữ bởi thúc phụ của tôi, Salensus Oll - Jeddak của các Jeddak, Quốc vương xứ Okar, xứ sở của người da vàng trên Barsoom. Còn về số phận của họ ra sao thì tôi hoàn toàn chịu, bởi tôi đang giao tranh với thúc phụ. Ông ta luôn tìm cách đập tan quyền lực của tôi tại lãnh địa Marentina.

Những kẻ mà các ngài vừa cứu tôi khỏi tay chúng chính là các chiến binh do ông ta phái đến để truy sát tôi. Chúng biết tôi thường một mình đi săn và hạ sát loài apt linh thiêng mà Salensus Oll vô cùng sùng kính. Một phần vì tôi căm ghét tôn giáo của ông ta nên ông ta mới thù hận tôi; nhưng phần nhiều là do ông ta khiếp sợ thế lực ngày một lớn mạnh của tôi, cùng một phe phái đông đảo trên khắp Okar đang khao khát đưa tôi lên làm Jeddak của các Jeddak thay thế vị trí của ông ta.

Ông ta là một bạo chúa độc ác mà ai ai cũng oán thán. Nếu không vì muôn dân quá kinh sợ ông ta, tôi đã có thể dấy binh chỉ trong một đêm để quét sạch chút tàn dư còn trung thành với lão. Dân chúng của tôi vô cùng trung thành, và thung lũng Marentina nhỏ bé này đã ngưng nộp cống cho triều đình Salensus Oll suốt một năm nay.

Ông ta cũng chẳng thể dùng vũ lực bức ép, bởi chỉ cần chừng một tá người là đủ canh giữ con đường độc đạo hẹp dẫn vào Marentina trước cả triệu quân thù. Nhược bằng chuyện của các ngài, tôi có thể ra tay giúp sức thế nào đây? Hoàng cung của tôi xin sẵn sàng rộng cửa đón tiếp, nếu các ngài hạ chiếu chiếu cố đến Marentina.”

“Khi đại sự hoàn thành, chúng tôi rất sẵn lòng nhận lời mời của ngài,” tôi đáp. “Nhưng lúc này, sự giúp đỡ lớn nhất ngài có thể dành cho chúng tôi là chỉ đường tới triều đình Salensus Oll, đồng thời gợi ý phương cách để chúng tôi có thể thâm nhập vào thành trì, hoàng cung, hoặc bất kỳ nơi nào đang giam giữ bằng hữu của chúng tôi.”

Talu ái ngại nhìn gương mặt nhẵn nhụi của hai chúng tôi, rồi lại nhìn làn da đỏ của Thuvan Dihn và nước da trắng của tôi.

“Trước tiên các ngài phải về Marentina đã,” anh nói, “bởi cần phải cải trang toàn bộ diện mạo thì mới mong lọt vào bất kỳ thành phố nào ở Okar. Các ngài phải có nước da vàng, bộ râu đen tô điểm, cùng trang phục và khí giới sao cho ít gây nghi ngờ nhất. Trong cung điện của tôi có một người thừa sức biến các ngài thành những người da vàng chính hiệu chẳng khác gì chính Salensus Oll.”

Lời khuyên ấy thật vô cùng sáng suốt. Xét thấy dường như không còn con đường nào khác để đột nhập thành công vào Kadabra, thủ phủ của Okar, chúng tôi bèn lên đường cùng Talu, Hoàng tử xứ Marentina, trở về lãnh địa hẻm núi hiểm trở của anh.

Con đường trải qua những địa hình gian nan hiểm trở nhất mà tôi từng chứng kiến. Chẳng trách ở một vùng đất không có thoat cũng chẳng có phi thuyền này, Marentina lại ít phải lo sợ bị ngoại bang xâm lược đến thế. Nhưng cuối cùng chúng tôi cũng tới nơi, và cái nhìn đầu tiên về thành phố mở ra trước mắt từ một ngọn đồi nhỏ cách đó chừng nửa dặm.

Nằm gọn trong thung lũng sâu là một thành phố dựng bằng bê tông Martian, với mọi con đường, quảng trường và khoảng không đều được bao phủ bởi một mái trần bằng kính. Xung quanh bốn bề băng tuyết phủ đầy, nhưng trên mái vòm pha lê uốn cong ôm trọn cả thành phố lại chẳng vương một hạt tuyết nào.

Bấy giờ tôi mới hiểu cách cư dân nơi đây chống chọi với cái lạnh khắc nghiệt của vùng cực, sống trong nhung lụa và tiện nghi giữa lòng một vùng đất băng giá vĩnh cửu. Các thành phố của họ chẳng khác nào những nhà kính khổng lồ. Khi bước chân vào bên trong, lòng kính trọng và sự thán phục của tôi dành cho trình độ khoa học và kỹ thuật của dân tộc ẩn mình này đã vượt xa mọi giới hạn.

Ngay khi vào thành, Talu cởi bỏ lớp áo lông thú bên ngoài, chúng tôi cũng làm theo. Tôi nhận ra trang phục của anh chẳng khác mấy so với các chủng tộc da đỏ trên Barsoom. Ngoại trừ bộ dây đai bằng da đính đầy châu báu và kim loại, anh hoàn toàn để trần nửa thân trên, mà thực ra trong bầu không khí ấm áp và ẩm ướt này, chẳng ai có thể mặc áo quần sao cho dễ chịu được.

Trong ba ngày tiếp theo, chúng tôi lưu lại làm khách của Hoàng tử Talu. Suốt thời gian đó, anh ân cần nồng hậu chu đáo hết mức có thể, đích thân dẫn chúng tôi đi tham quan mọi danh thắng cùng công trình kỳ vĩ trong thành phố lớn của mình.

Nhà máy không khí Marentina có khả năng duy trì sự sống vô thời hạn cho các thành phố vùng Bắc Cực ngay cả khi toàn bộ sự sống trên phần còn lại của hành tinh Barsoom đang hấp hối này bị diệt vong do nguồn cung cấp không khí thất bại — như cái lần biến cố lịch sử từng trao cho tôi cơ hội khôi phục lại sự sống và hạnh phúc cho thế giới kỳ lạ mà tôi đã lỡ yêu tha thiết này.

Anh chỉ cho chúng tôi hệ thống sưởi ấm tích trữ tia nắng mặt trời vào các bể chứa khổng lồ dưới lòng đất, và giải thích chỉ cần một lượng năng lượng rất nhỏ là đủ để duy trì sức nóng mùa hè vĩnh cửu cho vùng vườn đồi thiên đường giữa lòng băng giá cực bắc này.

Những đại lộ rộng lớn phủ lớp thảm thực vật lấy hạt giống từ đáy biển chết màu thổ hoàng lặng lẽ đón nhận các dòng xe bay mặt đất nhẹ nhàng, lướt êm ru — phương tiện di chuyển nhân tạo duy nhất được sử dụng phía bắc bức tường băng vĩ đại.

Bánh xe rộng của những chiếc xe bay độc đáo này thực chất chỉ là các túi khí giống như cao su chứa đầy tia Barsoom thứ tám, tức tia đẩy — phát minh kiệt xuất của người Martian đã tạo tiền đề cho những hạm đội không quân hùng mạnh giúp người da đỏ ở thế giới bên ngoài xưng hùng xưng bá. Chính tia này đẩy ánh sáng vốn có hoặc phản chiếu của hành tinh ra không trung, và khi bị nén lại sẽ tạo ra lực nổi bồng bềnh cho các khí tài Martian.

Các xe bay mặt đất ở Marentina chỉ duy trì một lực nổi vừa đủ ở các bánh xe kiểu ô tô để giữ độ bám đường cho việc bẻ lái; và mặc dù các bánh sau được nối với động cơ để hỗ trợ đẩy xe tiến lên, phần lớn lực đẩy vẫn do một chân vịt nhỏ ở phía đuôi xe đảm nhiệm.

Tôi chưa từng trải qua cảm giác nào tuyệt diệu hơn việc ngồi trên một trong những chiếc xe sang trọng ấy, lướt đi nhẹ như lông hồng trên những đại lộ phủ rêu mềm mại của Marentina. Chúng di chuyển hoàn toàn êm ái giữa những dải cỏ màu đỏ thắm, bên dưới những vòm cây rực rỡ sắc hoa kỳ diệu vốn là đặc trưng của các giống cây trồng công phu trên Barsoom.

Đến cuối ngày thứ ba, thợ thợ cắt tóc hoàng gia — tôi chẳng tìm được từ ngữ Trái Đất nào khác phù hợp hơn để mô tả anh ta — đã tạo ra một sự cải trang kỳ diệu cho cả Thuvan Dihn và tôi, đến mức e rằng ngay cả hiền nội của chúng tôi cũng chẳng thể nhận ra. Làn da của chúng tôi đã chuyển sang màu vàng chanh hệt như của Talu, cùng bộ râu quai nôn và ria vĩ đại màu đen tuyền được gắn khéo léo lên gương mặt nhẵn nhụi. Trang phục chiến binh Okar càng làm tăng thêm vẻ chân thực; còn để mặc bên ngoài các thành phố nhà kính, mỗi chúng tôi được trang bị một bộ giáp bằng da linh thú orluk vằn đen vàng.

Talu tỉ mỉ dặn dò chúng tôi đường đi tới Kadabra, thủ phủ của dân tộc Okar — tên gọi chung của chủng người da vàng. Người bạn tốt bụng này thậm chí còn tiễn chúng tôi một đoạn đường, rồi hứa sẽ dốc sức hỗ trợ bất cứ khi nào có thể trước khi nói lời chia tay.

Lúc chia ly, anh luồn vào ngón tay tôi một chiếc nhẫn chế tác tinh xảo, khảm một viên đá màu đen mù, không chút ánh kim, trông giống một mẩu than đá hơn là một viên ngọc Barsoom vô giá.

“Chỉ có đúng ba viên khác được cắt ra từ viên đá mẹ mà tôi đang cất giữ,” anh nói. “Ba viên đó do ba vị quý tộc được tôi tuyệt đối tin tưởng đeo giữ, và họ đều đã được phái đi làm mật mệnh tại triều đình Salensus Oll.

Nếu ngài đến gần bất kỳ ai trong số ba người họ trong phạm vi năm mươi feet, ngài sẽ cảm thấy ngón tay đeo nhẫn nhói lên nhanh chóng. Người đeo viên đá tương ứng cũng sẽ trải qua cảm giác hệt như vậy; đó là do phản ứng điện từ xảy ra ngay khi hai viên đá cắt từ cùng một viên đá mẹ đi vào bán kính tác động của nhau. Nhờ đó, ngài sẽ biết rằng có một bằng hữu đang ở gần kề để nương tựa khi lâm nguy.

Nếu một người đeo đá khác phát tín hiệu cầu cứu, xin ngài đừng từ chối; và nếu cái chết cận kề, hãy nuốt viên nhẫn vào bụng chứ quyết không để rơi vào tay kẻ thù. Hãy bảo vệ nó bằng cả tính mạng, John Carter, vì có ngày nó sẽ quý giá hơn cả mạng sống của ngài đấy.”

Sau lời dặn dò cuối cùng ấy, người bạn tốt quay trở về Marentina, còn chúng tôi hướng thẳng về phía thành phố Kadabra và triều đình của Salensus Oll, Jeddak của các Jeddak.

Ngay chiều hôm đó, thành phố Kadabra với tường cao hào sâu và mái vòm bằng kính đã hiện ra trước mắt chúng tôi. Nó nằm trong một lòng chảo thấp gần cực, bao quanh bởi những ngọn đồi đá phủ đầy tuyết. Từ con đèo dẫn vào thung lũng, chúng tôi có một tầm nhìn tuyệt đẹp toàn cảnh đại đô thị vùng bắc cực này. Những mái vòm pha lê lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời rực rỡ, tỏa sáng phía trên bức tường thành bao quanh phủ băng giá có chu vi lên tới một trăm dặm.

Cứ theo từng khoảng cách đều đặn lại có những cổng thành lớn dẫn vào trong; nhưng dù đứng từ xa nhìn vào khối kiến trúc sừng sững ấy, chúng tôi vẫn thấy mọi cổng thành đều đóng chặt. Theo đúng gợi ý của Talu, chúng tôi hoãn việc tìm cách thâm nhập sang sáng hôm sau.

Đúng như lời anh nói, chúng tôi tìm thấy vô số hang động trên các sườn đồi xung quanh, và chui vào một trong số đó để trú qua đêm. Bộ giáp da orluk ấm áp giúp chúng tôi hoàn toàn dễ chịu, và sau một giấc ngủ hồi sức tuyệt vời, chúng tôi tỉnh giấc ngay sau khi trời vừa hờ hạng sáng.

Thành phố đã bắt đầu nhộn nhịp. Từ một vài cổng thành, chúng tôi thấy nhiều tốp chiến binh da vàng kéo ra. Làm theo từng chi tiết nhỏ trong lời dặn của người bạn Marentina, chúng tôi tiếp tục ẩn nấp suốt nhiều giờ cho đến khi một toán khoảng sáu chiến binh đi qua con đường mòn bên dưới chỗ nấp và đi vào vùng đồi theo con đèo mà chúng tôi đã đi qua tối hôm trước.

Chờ cho họ đi khuất tầm mắt của hang động, Thuvan Dihn và tôi mới rón rén bò ra đuổi theo, và bắt kịp họ khi đã vào sâu trong núi.

Khi đến khá gần, tôi cất tiếng gọi vị thủ lĩnh của họ. Cả toán lập tức dừng lại và quay người về phía chúng tôi. Thử thách quyết định đã đến. Chỉ cần lừa được những kẻ này, phần còn lại sẽ tương đối dễ dàng.

“Kaor!” Tôi hô lớn khi lại gần.

“Kaor!” Viên sĩ quan chỉ huy cất tiếng đáp lại.

“Chúng tôi đến từ Illall,” tôi tiếp lời, xướng tên thành phố hẻo lánh nhất của Okar, nơi vốn hèn mạt và hầu như không có sự giao thương với Kadabra. “Mới tới đây ngày hôm qua, sáng nay viên sĩ quan gác cổng bảo chúng tôi rằng các vị đang lên đường đi săn orluk — một môn thể thao mà quê nhà chúng tôi không có. Chúng tôi vội vã đuổi theo để xin các vị cho phép cùng đi.”

Viên sĩ quan hoàn toàn bị mắc lừa, lịch thiệp chấp thuận cho chúng tôi đi cùng trong ngày. Cú đoán mò rằng họ đi săn orluk hoá ra lại trúng phóc, bởi Talu từng bảo khả năng mười mươi là bất kỳ toán người nào rời Kadabra qua con đèo này cũng đều đi làm nhiệm vụ đó, vì con đường ấy dẫn thẳng tới những đồng bằng bao la nơi loài thú săn mồi khổng lồ này hay lui tới.

Về phần cuộc săn, ngày hôm đó là một thất bại hoàn toàn vì chúng tôi chẳng giáp mặt một con orluk nào. Nhưng điều này lại hóa ra vô cùng may mắn cho chúng tôi, bởi những gã da vàng thấy bẽ màng vì xui xẻo nên nhất quyết không chịu trở vào thành bằng chính cái cổng họ đã đi ra hồi sáng, do trước đó họ đã lỡ huênh hoang với viên sĩ quan gác cổng về tài săn bắn thứ thú dữ nguy hiểm này.

Nhờ vậy, chúng tôi tiếp cận Kadabra ở một điểm cách xa vài dặm so với nơi toán người đã rời đi buổi sáng, và thế là trút bỏ được mối lo về những câu hỏi hóc húa cùng lời giải thích phiền thoái từ viên gác cổng — kẻ mà chúng tôi dối là đã chỉ đường cho chúng tôi đến toán săn này.

Khi đã đến rất gần thành phố, sự chú ý của tôi bị thu hút bởi một trụ cột màu đen sừng sững vươn cao hàng trăm feet lên không trung từ một đống đổ nát ngổn ngang phế liệu, nay đã bị tuyết phủ một phần.

Tôi không dám mạn phép hỏi e làm dấy lên sự nghi ngờ bởi thái độ ngơ ngác trước một thứ mà đáng ra một người da vàng phải biết rõ; nhưng trước khi tới được cổng thành, tôi đã hiểu ra mục đích của trụ cột đáng sợ ấy cùng ý nghĩa của đống phế thải khổng lồ bên dưới.

Chúng tôi đã đến gần sát cổng thành thì một người trong toán cất tiếng gọi đồng đội, đồng thời chỉ tay về phía chân trời xa xăm phía nam. Nhìn theo hướng tay gã, mắt tôi nhận ra thân một chiếc phi thuyền lớn đang lao đến rất nhanh từ phía trên đỉnh các ngọn đồi bao quanh.

“Lại mấy kẻ ngốc muốn khám phá những bí mật của miền bắc cấm địa,” viên sĩ quan nửa như tự ngôn tự ngữ. “Liệu sự tò mò chết người của chúng có bao giờ chấm dứt không nhỉ?”

“Cứ hy vọng là không đi,” một chiến binh đáp, “bởi nếu không thì lấy đâu ra nô lệ và trò tiêu khiển cho chúng ta?”

“Đúng thế; nhưng đám thú vật đó ngu đần thật, cứ tiếp tục mò đến một vùng đất mà chưa một ai từng trở về.”

“Hay là dừng lại xem kết cục của chiếc này thế nào đi,” một gã đề xuất.

Viên sĩ quan nhìn về phía thành phố.

“Lực lượng gác đài đã nhìn thấy nó rồi,” anh ta nói; “chúng ta cứ ở lại đây, biết đâu lại có việc cần đến.”

Tôi nhìn về phía thành phố và thấy hàng trăm chiến binh đang kéo ra từ cổng thành gần nhất. Họ thong thả bước đi như thể chẳng có gì phải vội — mà quả thực là không cần vội thật, như tôi sắp sửa chứng kiến.

Tôi lại hướng mắt về phía chiếc phi thuyền. Nó đang lao nhanh về phía thành phố, và khi nó đến đủ gần, tôi bàng hoàng nhận ra các chân vịt của nó hoàn toàn bất động.

Nó lao thẳng về phía trụ cột đáng sợ kia. Đến phút cuối cùng, tôi thấy những cánh quạt lớn chuyển động để lùi lại, nhưng nó vẫn cứ lao tới như thể bị một sức mạnh vô hình kinh thiên động địa kéo đi.

Sự hỗn loạn tột cùng diễn ra trên thong lanh. Kẻ chạy ngược người chạy xuôi, vận hành súng ống và chuẩn bị phóng các phi thuyền nhỏ một người đi điều khiển — vốn là trang bị tiêu chuẩn của mọi chiến hạm Martian. Con tàu lao ngày càng gần đến trụ cột màu đen. Trong khoảnh khắc nữa thôi nó sẽ đâm sầm vào, và rồi tôi thấy tín hiệu quen thuộc phát ra ra lệnh phóng dàn thuyền nhỏ thành một đàn lớn rời khỏi boong tàu mẹ.

Ngay lập tức, hàng trăm chiếc phi thuyền nhỏ bé vút lên từ boong tàu như một đàn chuồn chuồn khổng lồ; nhưng vừa vặn rời khỏi chiến hạm, mũi của mỗi chiếc liền quay phắt về phía trụ cột, và chúng cũng lao đi với tốc độ kinh hoàng về cùng một kết cục thảm khốc tưởng chừng không thể tránh khỏi đang đe dọa con tàu lớn.

Một khoảnh khắc sau, cú va chạm xảy ra. Người bị hất văng khắp mọi hướng từ boong tàu, trong khi con tàu bị bẻ cong và đè nát, thực hiện cú lao đao cuối cùng xuống đống phế liệu dưới chân trụ cột.

Cùng rơi với nó là một cơn mưa những chiếc phi thuyền nhỏ của chính nó, bởi mỗi chiếc đều đã va chạm dữ dội với trụ cột vững chắc.

Tôi nhận ra những chiếc phi thuyền gặp nạn quẹt dọc theo thân trụ cột trượt xuống, và sự rơi của chúng không nhanh như người ta tưởng; rồi đột nhiên, bí mật của trụ cột bừng sáng trong tâm trí tôi, giải thích cho nguyên do khiến bất kỳ phi thuyền nào vượt quá sâu qua bức tường băng không bao giờ có thể trở về.

Trụ cột ấy chính là một nam thạch khổng lồ, và một khi con tàu đã đi vào bán kính lực hút mãnh liệt của nó đối với loại thép nhôm vốn chiếm phần lớn cấu trúc của mọi khí tài Barsoom, thì không một sức mạnh nào trên đời có thể ngăn cản một kết cục như chúng tôi vừa chứng kiến.

Sau này tôi mới biết trụ cột ấy nằm ngay trên cực từ của Barsoom, nhưng liệu điều đó có làm tăng thêm sức hút vô lượng của nó hay không thì tôi không rõ. Tôi là một chiến binh, không phải nhà khoa học.

Và đây, cuối cùng đã có lời giải thích cho sự mất tích biệt tít của Tardos Mors và Mors Kajak. Những chiến binh dũng cảm và bất khuất ấy đã dám đương đầu với những bí mật và hiểm nguy của miền bắc băng giá để truy tìm Carthoris — người mà sự mất tích lâu ngày đã khiến người mẹ xinh đẹp của chàng, Dejah Thoris, Công chúa xứ Helium, phải cúi đầu trong đau thương.

Ngay khi chiếc phi thuyền cuối cùng nằm bất động dưới chân trụ cột, những chiến binh da vàng râu đen liền tràn lên đống đổ nát, bắt giữ những người không bị thương và thỉnh thoảng lại vung kiếm kết liễu một người thương hại có ý phản kháng lại những lời nhạo báng và xúc phạm của chúng.

Một vài người da đỏ không bị thương đã chiến đấu quả cảm chống lại kẻ thù dũng mãnh, nhưng phần lớn họ dường như quá bàng hoàng trước thảm họa kinh hoàng vừa ập xuống nên đành cam chịu nhẫn nại để chúng xiềng xích bằng những dây xích vàng.

Khi người tù binh cuối cùng đã bị khống chế, toán người quay trở lại thành phố. Tại cổng thành, chúng tôi gặp một đàn thú apt hung tợn đeo vòng cổ bằng vàng, mỗi con đi giữa hai chiến binh đang dắt chúng bằng những sợi xích sắt dầy cùng chất liệu với vòng cổ.

Vừa qua khỏi cổng thành, những kẻ chăn giữ liền thả toàn bộ đàn thú dữ tợn ra. Khi chúng chồm lao về phía trụ cột đen đúa kia, tôi chẳng cần hỏi cũng biết sứ mệnh của chúng là gì. Nếu không phải vì trong thành phố Kadabra tàn bạo này đang có những người cần được giải cứu gấp hơn nhiều so với những kẻ bất hạnh đã chết và đang hấp hối ngoài kia trong giá lạnh trên thân xác dập nát của hàng ngàn chiếc phi thuyền, tôi đã chẳng thể kiềm chế nổi khao khát được lao ra chiến đấu với những sinh vật ghê tởm được phái đi để xé xác và ngấu nghiến họ.

Dẫu vậy, tôi chỉ biết cúi đầu bước theo các chiến binh da vàng, thầm tạ ơn trời đất vì cơ hội đã giúp Thuvan Dihn và tôi lọt vào thủ phủ của Salensus Oll một cách dễ dàng đến thế.

Khi đã vào trong cổng thành, chúng tôi không gặp khó khăn gì trong việc cắt đuôi những người bạn quen hồi sáng, và nhanh chóng tìm thấy mình đang dừng chân trong một khách sạn Martian.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.