Sau khi phi nước đại qua thung lũng suốt mấy tiếng đồng hồ, thung lũng đột nhiên mở rộng ra, họ đã có thể nhìn thấy cảnh vật phía trước. Con sông mà họ đi dọc theo nãy giờ, ở đây đã hợp lưu với một dòng sông lớn rộng và hung hãn hơn, con sông lớn chảy từ bên trái sang bên phải của họ, ầm ầm đổ về hướng đông. Phía sau con sông mới này là một đất nước tươi đẹp dễ chịu, những quả đồi cao dần lên, hết dãy sườn núi này đến dãy sườn núi khác, nối liền tận những ngọn núi ở phương bắc.
Bên phải có mấy khối đá nhọn hình tháp, phần nhô ra của hai ba khối trong đó vẫn còn đọng tuyết. Bên trái là sườn núi phủ kín thông, vách đá cau mày nhíu trán, thung lũng chật hẹp, những đỉnh núi xanh biếc kéo dài đến tận tầm mắt. Họ không thể nhận ra đỉnh Peter nữa rồi. Ngay phía trước mặt, dãy núi lõm xuống, tạo thành một yên ngựa rợp bóng cây, nơi này chắc chắn là đèo hiểm từ Archenland đi vào Narnia.
“Boro — hộc hộc, phương bắc, phương bắc xanh tươi.” Bri lẩm bẩm. Cả Hwin và Shasta đều lớn lên ở phương nam, nên những ngọn đồi thấp trông xanh tươi và mơn mởn hơn bất cứ thứ gì họ từng tưởng tượng trong đời. Khi họ lội lõm bõm đến nơi hợp lưu của hai con sông, tinh thần họ phấn chấn hẳn lên.
Con sông chảy về hướng đông trút xuống từ những ngọn núi cao ở cực tây, chảy quá nhanh, bị những bãi cạn ngắt quãng quá nhiều, khiến họ không dám bơi qua. Sau một hồi tìm kiếm đầy lo âu ở hai bên bờ, cuối cùng họ cũng tìm thấy một khúc nông có thể lội qua được. Tiếng nước lõm bõm, những xoáy nước đập vào lớp lông ở chân ngựa, bầu không khí mát mẻ, biến động, những chú chuồn chuồn bay lượn, tất cả đều lấp đầy lồng ngực Shasta sự kích động mới mẻ.
“Các bạn, chúng ta đã vào đến Archenland rồi!” Bri vừa tung bọt nước vừa lộc cộc bò lên bờ bắc, kiêu hãnh nói, “Ta nghĩ con dòng sông chúng ta vừa vượt qua gọi là sông Sũy Tiễn (Mũi Tên Xoay).”
“Ta hy vọng chúng ta đến kịp lúc.” Hwin thì thầm.
Thế là họ bắt đầu leo lên, đi rất chậm, ngoằn ngoèo vì đồi núi rất dốc. Đây là một vùng đồng quê hoang vu, giống như công viên, không nhìn thấy đường sá hay nhà cửa đâu cả. Cây cối thưa thớt mọc khắp nơi, nhưng không bao giờ dày đặc thành rừng. Shasta từ trước đến nay sống trên một thảo nguyên hầu như không có cây cối, chưa từng nhìn thấy nhiều cây đến thế, nhiều loại cây đủ kiểu đến thế. Nếu bạn cũng ở đó, có lẽ bạn sẽ biết (còn cậu ta thì không), cậu đang nhìn thấy cây sồi, cây dẻ gai, cây bạch dương, cây thanh lương trà, cây dẻ. Khi họ tiến lên, những chú thỏ rừng chạy trốn tứ tung, chẳng mấy chốc họ lại nhìn thấy một đàn hươu vàng nâu lớn tẩu thoát giữa các khóm cây.
“Cảnh này đẹp quá đi mất!” Aravis nói.
Đến sườn núi đầu tiên, Shasta xoay người trên yên ngựa nhìn lại đằng sau, thành phố Tashbaan đã biến mất tăm mất tích; Đại Sa Mạc mênh mông kéo dài tận chân trời, thứ duy nhất ngăn cách sa mạc chính là vết nứt xanh tươi hẹp ngủm mà họ vừa đi qua.
“Này!” Cậu đột nhiên lên tiếng, “Kia là cái gì thế?”
“Cái gì?” Bri nói, nó quay đầu lại nhìn. Hwin và Aravis cũng quay đầu lại.
“Cái đó kìa,” Shasta chỉ tay nói, “Trông nó giống một đám khói. Là một trận đại hỏa hoạn ư?”
“Theo ta thấy, đó là bão cát.” Bri nói.
“Gió không lớn, không thổi nổi bão cát đâu.” Aravis nói.
“A!” Hwin kêu lên, “Nhìn kìa! Trong đó có thứ gì đang lấp lánh. Nhìn kìa! Là mũ sắt — áo giáp. Hơn nữa nó đang di chuyển — đang di chuyển về phía này.”
“Hỡi thần Tash!” Aravis thốt lên, “Đây là quân đội. Đây là Rabadash.”
“Đương nhiên là quân đội của Rabadash rồi,” Hwin nói, “Đây chính là điều ta vẫn luôn lo lắng. Mau! Chúng ta phải đến Anvard trước quân đội.” Hwin không nói hai lời, quay đầu lại, bắt đầu phi nước đại về hướng bắc. Bri lắc đầu, cũng lao nhanh về hướng bắc.
“Đuổi kịp đi, Bri, đuổi kịp đi.” Aravis ngoảnh đầu gọi với theo.
Đối với lũ ngựa, đây là một cuộc đua vô cùng căng thẳng. Khi chúng lên đến đỉnh của mỗi sườn núi, luôn phát hiện phía trước vẫn còn thung lũng hoặc sườn núi, mặc dù chúng biết hướng mình đi là đại khái chính xác, nhưng lại không biết cách Anvard bao xa. Shasta ngoảnh lại nhìn trên sườn núi thứ hai, thứ nhìn thấy bây giờ không phải là một làn bụi bốc lên từ Đại Sa Mạc, mà là một nhúm đen sì, trông hơi giống loài kiến, đang lúc nhúc trên bờ con sông gọi là "Mũi Tên Xoay". Không còn nghi ngờ gì nữa, bọn chúng đang tìm kiếm nơi có thể lội qua sông.
“Bọn chúng đến bờ sông rồi!” Cậu điên cuồng hét lên.
“Mau! Mau!” Aravis lớn tiếng hô, “Nếu chúng ta không đến Anvard kịp lúc, chúng ta đến cũng như không. Chạy đi, Bri, chạy đi. Hãy nhớ rằng, ngươi là chiến mã đấy.”
Những gì Shasta có thể làm, chỉ là kiềm chế bản thân, không thốt ra những lời chỉ dẫn tương tự, trong lòng cậu nghĩ “Cậu bạn tội nghiệp này đã dốc toàn lực rồi.” Nhưng cậu không thốt thành lời. Còn hai con ngựa, nếu không dốc hết sức thì cũng tự cho là mình đã dốc hết sức — hai chuyện này vốn không giống nhau. Bri đã bắt kịp Hwin, chúng song song nện bước rầm rầm qua lớp rễ cỏ. Xem ra Hwin không thể kiên trì như thế này lâu được.
Đúng vào thời điểm then chốt này, cảm giác của mọi người đều hoàn toàn thay đổi bởi tiếng gầm vang lên từ phía sau. Đây không phải là âm thanh mà họ dự liệu — tiếng móng ngựa lộc cộc và tiếng giáp trụ va vào nhau reng keng, hoặc xen lẫn tiếng hô khiêu chiến của người Calormen. Thế nhưng Shasta lập tức nhận ra đây là âm thanh gì. Khi họ gặp lại Aravis và Hwin lần đầu tiên vào đêm trăng sáng, thứ họ nghe thấy cũng là tiếng gầm giống hệt như vậy. Bri cũng lập tức hiểu ra. Đôi mắt nó sáng lên, đôi tai quặp ngược về phía sau đầu. Lúc này Bri mới phát hiện ra, nó vẫn chưa thực sự dốc hết sức lực để chạy nhanh nhất — chạy vẫn chưa quá nhanh. Bây giờ thì thật sự dốc sạch sức lực bayh chạy rồi. Chỉ trong vòng vài giây, nó đã vượt xa Hwin một đoạn lớn.
“Thật là xui xẻo,” Shasta thầm nghĩ, “Tôi còn tưởng ở đây khá an toàn, tránh xa sư tử chứ!”
Cậu quay đầu lại nhìn. Mọi thứ rõ mồn một. Một con thú lớn màu nâu vàng, thân mình sát sạt mặt đất, đang bám theo đuôi họ, giống như một con chó lạ xông vào vườn, một con mèo phi nhanh qua bãi cỏ để chồm lên cây vậy. Trong chớp mắt, con thú đó càng lúc càng áp sát.
Cậu nhìn về phía trước, nhìn thấy thứ mà cậu không hề chú ý đến hay thậm chí nghĩ tới. Con đường tiến bước của họ bị chặn lại bởi một bức tường xanh mướt phẳng lì cao mười thước. Ở giữa bức tường có một cái cổng lớn đang mở toang. Trong cổng đứng một người vóc dáng cao lớn, chân trần mặc một chiếc áo bào màu lá mùa thu, thân mình tựa nghiêng vào một chiếc gậy chống thẳng tắp. Râu của ông ta rất dài, gần như rũ xuống đến đầu gối.
Shasta liếc mắt liền nhìn thấy tất cả những điều này, cậu lại quay đầu nhìn ra sau. Sư tử bây giờ hầu như đã sắp tóm được Hwin. Sư tử đang chồm lên vồ lấy chân sau của Hwin, lúc này trên khuôn mặt đầy mồ hôi và trợn tròn mắt của Hwin đã lộ rõ vẻ tuyệt vọng.
“Dừng bước,” Shasta lớn tiếng hét bên tai Bri, “Phải quay lại. Phải cứu mạng thôi!”
Sau này Bri luôn miệng nói rằng nó chưa từng nghe thấy câu nói này, hoặc chưa từng hiểu được câu nói này; nhìn chung thì nó là một con ngựa vô cùng trung thành, chúng ta buộc phải tin lời nó.
Shasta rút cả hai chân khỏi bàn đạp, do dự một phần trăm giây đầy đáng sợ, rồi nhảy xuống khỏi lưng ngựa từ bên trái. Cậu bị thương nặng, suýt chút nữa thì trật hông, nhưng cậu còn chưa hiểu rõ mình bị thương thế nào, đã khập khiễng quay lại cứu Aravis. Cả đời cậu chưa từng làm việc gì tương tự, lúc này cũng không biết tại sao mình lại làm như vậy.
Âm thanh đáng sợ nhất trên thế giới, tiếng hí thảm thiết của một con ngựa, phát ra từ miệng Hwin. Aravis đang cúi người áp sát vào cổ Hwin, có vẻ như đang định rút dao ra. Giờ đây ba bọn họ — Aravis, Hwin và sư tử, hầu như ở ngay trên đầu Shasta. Bọn họ còn chưa đến gần cậu, con sư tử đó đã dùng chân sau đứng thẳng lên (thân hình nó to lớn đến mức bạn hoàn toàn không thể tin nổi), vươn móng vuốt bên phải của chân trước ra, vồ mạnh về phía Aravis. Shasta nhìn thấy toàn bộ những chiếc móng vuốt đang giương ra đó. Aravis hét lên chói tai, lảo đảo trên yên ngựa. Sư tử đang cào xé bã vai cô bé. Shasta hoảng sợ đến mức nửa điên nửa dại, cố gắng lao về phía con mãnh thú. Cậu không có vũ khí, ngay cả một khúc gỗ hay một hòn đá cũng không có. Cậu ngu ngốc hét lớn về phía con sư tử, giống như người ta la mắng chó vậy. “Về nhà đi! Về nhà đi!” Chưa đầy một giây, cậu trừng mắt nhìn cái miệng sư tử hung dữ đang mở to hoác. Tiếp theo, điều khiến cậu kinh ngạc tột độ là con sư tử vẫn đang đứng bằng chân sau bỗng nhiên kiềm chế bản thân, trở nên phục rạp xuống mặt đất, ngay sau đó nó ngẩng người dậy, nhanh chóng chạy biến đi.
Shasta trong giây lát vẫn cho rằng con sư tử không thực sự chạy mất. Cậu quay người chạy về phía bức tường xanh mướt kia, lúc này cậu mới nhớ ra mình từng nhìn thấy bức tường ấy. Hwin khập khiễng bước đi, sắp ngất đến nơi, vừa vặn đi vào trong cổng; Aravis vẫn ngồi trên yên ngựa, nhưng sau lưng cô bé toàn là máu.
“Vào đi con gái của ta, vào đi.” Vị lão nhân râu dài mặc áo bào lên tiếng. Khi Shasta thở hổn hển chạy về phía ông ta, ông lại nói “Vào đi con trai của ta.” Shasta nghe thấy cánh cổng lớn sau lưng mình khép lại, người xa lạ râu dài đã bắt đầu giúp Aravis xuống ngựa.
Họ đang ở trong một cái sân tròn rộng rãi, được bảo vệ bởi một bức tường cao màu xanh lục kết bằng thảm cỏ. Trước mặt họ là một mặt hồ tĩnh lặng, mặt nước gần như phẳng lì với mặt đất. Ở đầu bên kia hồ mọc những cái cây to lớn đẹp đẽ nhất mà Shasta chưa từng thấy bao giờ, cành lá sum suê che khuất mặt hồ. Phía sau ao là một ngôi nhà đá thấp lè tè, mái tranh dày và cũ kỹ. Lại vang lên tiếng kêu meo meo của cừu, có mấy con dê đang ở phía xa của cái khoảng sân. Mặt đất phẳng lì trải đầy cỏ tươi ngon.
“Ông là —” Shasta thở hổn hển hỏi, “Ông là vua Lune của Archenland phải không?”
Lão nhân lắc đầu. “Không,” ông đáp, giọng dịu dàng, “Ta là ẩn sĩ Nam Chinh. Nghe đây con trai của ta, đừng lãng phí thời gian dò hỏi nữa, hãy làm theo lời ta nói đi. Vị tiểu thư này bị thương rồi. Ngựa của các ngươi đã kiệt sức. Rabadash lúc này trên sông Sũy Tiễn đã tìm được nơi có thể lội qua rồi. Nếu con bây giờ lập tức phi nước đại rời đi, không nghỉ ngơi một phút nào, con vẫn sẽ kịp thời báo động cho vua Lune.”
Shasta nghe thấy lời này thì lòng lạnh ngắt tới nửa đoạn, bởi vì cậu cảm thấy sức lực của mình đã cạn kiệt, không còn sót chút nào nữa. Trong lòng cậu buồn rầu, cảm thấy yêu cầu đối với cậu có vẻ quá lạnh lùng, quá bất công. Cậu vẫn chưa hiểu rằng nếu bạn làm một việc tốt, phần thưởng dành cho bạn thường là kêu bạn đi làm một việc khác khó khăn hơn, cao cả hơn. Nhưng Shasta chỉ lớn tiếng hỏi:
“Nhà vua ở đâu?”
Ẩn sĩ quay người lại, dùng gậy chống chỉ một cái. “Nhìn kìa,” ông nói, “Còn có một cái cổng nữa, đối diện với cái cổng mà các ngươi vừa bước vào. Mở cái cổng đó ra, cứ đi thẳng về phía trước. Luôn đi thẳng về phía trước, qua những nơi bằng phẳng hay dốc đứng, qua những nơi khô ráo hay ẩm ướt. Ta dùng phép thuật của mình suy tính ra rằng nếu con cứ đi thẳng về phía trước thì sẽ tìm thấy vua Lune. Nhưng con phải phi nước đại, phi nước đại, mãi mãi phi nước đại.”
Shasta gật đầu, chạy về phía cánh cổng ở hướng bắc, rồi biến mất ngoài cửa.
Ẩn sĩ vẫn dùng cánh tay trái đỡ Aravis, lúc này ông liền nửa dìu nửa kéo cô bé đưa vào trong nhà đá. Mãi lâu sau, ông mới từ trong nhà đá đi ra.
“Ồ các bạn trẻ,” ông nói với lũ ngựa, “Bây giờ đến lượt các ngươi rồi.”
Cũng không đợi chúng trả lời — thực tế thì chúng đã mệt đến mức không nói nên lời — ông liền tháo dây cương và yên ngựa trên người chúng ra, dùng sức xoa bóp toàn thân cho hai con ngựa, cho dù là hầu cận trong ngự uyên của nhà vua cũng không xoa bóp giỏi bằng.
“Nghe đây các bạn,” ông nói, “Hãy quên tất cả những chuyện này đi, thả lỏng tâm trạng đi. Ở đây có nước, đằng kia có cỏ. Đợi ta vắt sữa cho những người bạn khác của ta — bấy nhiêu con dê — xong, các ngươi sẽ có thức ăn nóng để ăn thôi.”
“Thưa ngài,” Hwin lên tiếng, cuối cùng nó cũng hồi sức lại, “Tính mạng của Takhina không gặp nguy hiểm chứ? Sư tử đã giết cô ấy sao?”
“Ta biết rất nhiều chuyện hiện tại bằng phép thuật của mình,” ẩn sĩ mỉm cười đáp, “Còn về chuyện tương lai thì ta chưa thể biết được. Liệu đêm nay khi mặt trời lặn, bất kỳ nam nữ hay súc vật nào trên toàn thế giới này có còn sống hay không, ta không thể biết chắc. Nhưng, các ngươi phải ôm ấp hy vọng. Tiểu thư có lẽ sẽ sống rất thọ, có thể sống hết tuổi trời.”
Khi Aravis tỉnh lại, cô phát hiện mình đang nằm sấp trên một chiếc giường đặc biệt mềm mại, trong phòng không có đồ đạc gì cả, những bức tường đá cũng thô ráp, chưa được gọt giũa. Cô không hiểu tại sao người ta lại sắp xếp cho mình nằm sấp; nhưng khi cô muốn trở mình và cảm nhận được toàn bộ phần lưng nóng rát, cực kỳ đau đớn, cô đã nhớ ra, hiểu được nguyên nhân bắt buộc phải nằm sấp. Cô không hiểu chiếc giường này làm bằng chất liệu thoải mái và có độ đàn hồi nào, bởi vì chiếc giường này được làm bằng cỏ hoang thạch nam (loại đệm lót tốt nhất), mà cô chưa từng nhìn thấy hay nghe nói đến loại cỏ này.
Cửa mở ra, ẩn sĩ bước vào, trên tay cầm một chiếc bát gỗ lớn. Sau khi đặt chiếc bát xuống một cách cẩn thận, ông đến bên mép giường, hỏi:
“Con gái của ta, con thấy trong người thế nào?”
“Thưa cha, lưng con rất đau,” Aravis nói, “Nhưng không có vấn đề gì khác.”
Ông quỳ xuống bên mép giường, đặt tay lên trán cô, còn bắt mạch cho cô.
“Không bị sốt,” ông nói, “Con sẽ mau lành thôi. Thực ra, ngày mai là con có thể xuống giường được rồi. Nhưng bây giờ phải uống cái này.”
Ông cầm chiếc bát gỗ lên, đưa đến bên môi cô. Khi uống, cô không kìm được mà nhăn mặt, bởi vì sữa dê khi chưa quen uống luôn khiến người ta thấy sợ. Cô rất khát, cố gắng uống hết bát sữa dê đó, uống xong liền cảm thấy dễ chịu hơn nhiều.
“Nghe này con gái, con muốn ngủ thì cứ việc ngủ,” ẩn sĩ nói, “Bởi vì vết thương của con đã được rửa sạch, bôi thuốc và băng bó rồi, vết thương tuy đau đớn nhưng không nghiêm trọng hơn những vết roi quất đâu. Đây chắc chắn là một con sư tử rất kỳ lạ, nó không hề dùng răng cắn vào thịt con, lôi con xuống khỏi yên ngựa, mà chỉ dùng móng vuốt cào một cái trên lưng con. Mười vết thương, đau đấy, nhưng không sâu, không nguy hiểm.”
“Hừm!” Aravis nói, “Tôi may mắn thật!”
“Con gái ạ,” ẩn sĩ nói, “Ta sống trên thế giới này đã một trăm linh chín mùa xuân rồi, nhưng chưa từng gặp phải chuyện gì giống như may mắn cả. Trong tất cả những chuyện này, có một số thứ ta không hiểu, nhưng nếu chúng ta thực sự cần phải hiểu rõ, con có thể tin chắc rằng chúng ta nhất định sẽ hiểu được.”
“Tình hình của Rabadash và hai trăm quân của hắn ta thế nào rồi ạ?” Aravis hỏi.
“Bọn chúng sẽ không đi con đường này đâu, ta nghĩ vậy.” Ẩn sĩ nói, “Giờ phút này chắc chắn bọn chúng đã tìm được một nơi có thể lội qua sông, ở tận phía đông của chúng ta. Bọn chúng sẽ mưu tính từ đó tiến thẳng đến Anvard.”
“Shasta tội nghiệp!” Aravis nói, “Cậu ấy phải chạy một đoạn đường rất xa nhỉ? Cậu ấy sẽ đến Anvard trước chứ?”
“Hy vọng rất lớn.” Lão nhân nói.
Aravis nằm xuống lại (lần này là nằm nghiêng), cô nói “Em ngủ lâu lắm phải không? Trời hình như đang tối dần kìa.”
Ẩn sĩ nhìn ra ngoài từ cái cửa sổ duy nhất — cửa sổ hướng bắc. “Đây không phải là bóng tối ban đêm,” ông lập tức nói, “Mây mù đang cuồn cuộn từ đỉnh Bão Táp tràn xuống, thời tiết khắc nghiệt ở những chốn của chúng ta đều bắt nguồn từ nơi đó. Đêm nay sẽ có sương mù dày đặc đấy.”
Ngày hôm sau, ngoại trừ lưng vẫn còn đau, Aravis cảm thấy cơ thể rất khỏe khoắn, thế nên sau bữa sáng (món cháo và bơ), ẩn sĩ nói cô có thể xuống giường được rồi. Dĩ nhiên là cô lập tức đi nói chuyện với hai con ngựa. Trời chuyển nắng, toàn bộ khoảng sân giống như một cái chén xanh khổng lồ, bên trong chứa đầy ánh nắng mặt trời. Đây là một nơi vô cùng yên bình, vừa cô quạnh lại vừa tĩnh lặng.
Hwin lập tức chạy tới nhỏ nhẹ, dành cho cô một nụ hôn của loài ngựa.
Sau khi hỏi thăm sức khỏe và giấc ngủ của nhau, Aravis nói “Nhưng Bri đâu rồi?”
“Ở đằng kia kìa.” Hwin nói, dùng mũi chỉ về phía bên kia vòng tròn, “Ta hy vọng em đến nói chuyện với nó; nó có chút dở chứng, ta chẳng thể nặn ra nổi một câu nửa lời từ miệng nó cả.”
Họ chậm rãi bước qua, phát hiện Bri đang nằm úp mặt vào tường, mặc dù nó rõ ràng nghe thấy họ đến nhưng hoàn toàn không thèm ngoảnh đầu lại hay nói một câu nào.
“Chào buổi sáng, Bri,” Aravis nói, “Sáng nay cơ thể cậu khỏe chứ?”
Bri lẩm bẩm gì đó, nhưng chẳng ai nghe rõ.
“Ẩn sĩ nói, Shasta có lẽ đã đến kịp chỗ nhà vua Lune rồi,” Aravis tiếp tục nói, “Thế nên xem như mọi khó khăn của chúng ta đều đã được giải quyết. Cuối cùng cũng được đến Narnia rồi, Bri!”
“Ta sẽ không bao giờ được nhìn thấy Narnia nữa.” Bri cất giọng trầm buồn nói.
“Cậu không khỏe à, Bri thân yêu của tôi?” Aravis nói.
Bri cuối cùng cũng quay người lại, khuôn mặt nó mang vẻ đau buồn tột độ, chỉ có loài ngựa mới có thể có biểu cảm như vậy.
“Ta muốn quay về Calormen.” Nó nói.
“Cái gì?” Aravis nói, “Trở về làm nô lệ á?”
“Đúng vậy,” Bri nói, “Ta chỉ xứng đáng làm nô lệ thôi. Ta còn mặt mũi nào để đi gặp những chú ngựa tự do của Narnia chứ? Ta, lại bỏ lại một con ngựa cái, một cô gái, một cậu bé, để mặc họ bị sư tử ăn thịt, còn bản thân thì vì giữ mạng mà dốc hết sức lực chạy trốn!”
“Tất cả chúng ta đều cắm cổ chạy thục mạng mà.” Hwin nói.
“Shasta không chạy trốn!” Bri phì khò khò qua mũi, “Ít ra thì thằng bé đã chạy theo đúng hướng — nó chạy quay lại. Đây là điều khiến ta cảm thấy xấu hổ nhất. Ta, tự xưng là một chiến mã, khoác lác trải qua trăm trận chiến, lại bị một đứa nhóc vắt mũi chưa sạch vượt qua — một đứa trẻ, chẳng qua chỉ là một con ngựa con, đời này chưa từng cầm kiếm, cũng chưa từng nhận được bất kỳ sự giáo dục tốt đẹp nào hay nhìn thấy bất kỳ tấm gương mẫu mực nào?”
“Tôi hiểu,” Aravis nói, “Tôi cũng có cảm giác tương tự. Shasta thật đáng nể. Tôi cũng tồi tệ không kém gì cậu, Bri. Từ khi các cậu gặp chúng tôi đến nay, tôi vẫn luôn lạnh nhạt với cậu ấy, coi thường cậu ấy, thế mà giờ đây cậu ấy lại biến thành người xuất sắc nhất trong số chúng ta. Nhưng tôi nghĩ, ở lại để bày tỏ sự xin lỗi vẫn tốt hơn là quay về Calormen nhiều.”
“Cách này đối với cô thì rất hay đấy,” Bri nói, “Cô không làm mất mặt chính mình.”
“Tôi thì mất sạch mặt mũi rồi còn gì.”
“Ngựa ngoan của ta,” ẩn sĩ cất lời, mọi người không hề phát hiện ra sự xuất hiện lặng lẽ của ông, bởi vì đôi bàn chân trần của ông đạp lên thảm cỏ thơm ngát đẫm sương không hề phát ra âm thanh nào, “Ngựa ngoan của ta, ngoài việc tự cao tự đại ra, ngươi chẳng đánh mất thứ gì cả. Không, không, lão bằng hữu của ta. Đừng quặp tai về phía ta làm gì, cũng đừng lắc cái chùm lông đuôi nữa. Nếu ngươi thực sự khiêm tốn như những gì ngươi nói cách đây một phút, thì ngươi nên lắng nghe tiếng nói của lý trí. Ngươi vẫn luôn sống giữa những con ngựa câm tội nghiệp, nên mới tự cho mình là con ngựa phi thường; kỳ thực không phải vậy. Đương nhiên, ngươi dũng cảm và thông minh hơn chúng. Ngươi vô tình trở thành một con ngựa ưu việt hơn chúng thôi. Nhưng tình huống này không thể suy diễn rằng ngươi sẽ trở thành một con ngựa có gì đó vô cùng xuất sắc nổi trội ở Narnia. Thế nhưng, chỉ cần ngươi nhận thức được rằng bản thân không phải là kẻ nổi trội, thì nhìn chung, ngươi cơ bản vẫn thuộc về một loại ngựa khá tốt đẹp. Bây giờ, nếu ngươi và người bạn bốn chân kia của ta chịu vòng ra cửa bếp, chúng ta sẽ xem xét phần thức ăn thừa còn lại nhé.”