Vãn Thanh Thất Thập Niên 4: Nghĩa Hòa Đoàn Và Bát Quốc Liên Quân

Lượt đọc: 14 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Đầu Đuôi Câu Chuyện Từ Hy Thái Hậu Tuyên Chiến Với Mười Một Nước.

❊ ❊ ❊

Năm Canh Tý 1900, giữa tháng sáu, khi thành Bắc Kinh bị mười vạn tiểu tướng Nghĩa Hòa Đoàn cùng chủ mưu của họ là Trang Vương, Đoan Vương đốt cháy rực trời, chém giết máu chảy đầy đất, chính sách "vỗ về hay tiêu diệt" Nghĩa Hòa Đoàn của Từ Hy Thái hậu vẫn còn nước đôi, chưa có quyết định rõ ràng. Bà càng không biết phải làm sao đối với các cường quốc phương Tây đang ngày đêm ép bà phải bày tỏ thái độ giữa hòa và chiến. Thái hậu không phải kẻ hồ đồ. Bà biết cái trò ma thuật của Nghĩa Hòa Đoàn chẳng thể giúp nhà Thanh, càng không thể diệt được ngoại bang. Dù chính bản thân bà cũng đang ngày đêm "niệm chú".

Về sự hung hãn của người Tây, bà đã được nếm mùi từ thời còn làm tỳ thiếp. Mùa thu năm 1860 (năm Hàm Phong thứ mười), Ý Quý phi khi đó mới hai mươi lăm tuổi đã bị liên quân Anh - Pháp đuổi khỏi Viên Minh Viên. Theo truyền thuyết phương Tây năm đó, bà chạy trốn trong cơn hoảng loạn và vội vã đến mức ngay cả chú chó Bắc Kinh nhỏ mà bà yêu quý nhất cũng trở thành tù binh của quân Anh. Chú chó nhỏ đâu biết hận nước mất nhà, khi bị những tên lính ngoại bang được lệnh đến phóng hỏa phát hiện, chúng vẫn còn đang mải mê đuổi bắt làm vui!

Câu chuyện này có lẽ là sự thêu dệt của truyền thông phương Tây. Nhưng chú thú cưng đáng yêu "chó sư tử" này (giá thị trường New York hiện nay ít nhất năm trăm USD một con), cùng nhiều loài chim thú trân quý phương Đông sau này được người Tây yêu thích, phần lớn đều là "di du" (dòng dõi sót lại) của những "liệt sĩ" không bị thiêu chết khi liên quân Anh - Pháp đốt Viên Minh Viên. Bản thân người viết thời trẻ du học Mỹ, từng nhìn thấy loài "tứ bất tượng" có nguồn gốc từ Viên Minh Viên tại vườn bách thú New York.

Ý Quý phi kiêu sa thuở đó, trong cơn binh lửa đã theo chồng đi săn phương Bắc. Chồng trẻ chết theo nước trong cơn giận. Độc giả đã từng xem mỹ nhân góa phụ trẻ do diễn viên Lưu Hiểu Khánh đóng trong phim của Đại Lục chưa? Cô ấy thật đáng thương. Thù chồng nợ nước chưa trả, thủ tiết nuôi con cô độc suốt bốn mươi năm, đến nay còn phải chịu nỗi nhục từ kẻ thù cũ. Nỗi hận của Thái hậu có thể hiểu được; nhưng sự sợ hãi trong lòng bà cũng không khó đoán. Bất hạnh thay, giờ đây bà đã rơi vào vòng vây của "Tứ nhân bang" quý tộc thân cận do chính tay bà vun đắp, mà lại không có ai làm quân sư. Bất hạnh hơn nữa là khi bà đang trong tình trạng cuồng loạn, tâm trí rối bời, bỗng như sấm sét giữa trời quang, nhận được một bức mật báo do "Tưởng Cán" trộm được, nói rằng người Tây muốn ép bà "quy chính" (trao trả quyền lực). Sau khi khóc lóc đau đớn, Thái hậu tự thấy đằng nào cũng chết, chi bằng cứ "đánh liều" một phen - đây chính là màn kịch giả thành thật kiểu "Tưởng Cán trộm thư" trong "Tam Quốc Diễn Nghĩa". Chính điều đó đã khiến Thái hậu quyết tâm tấn công khu sứ quán, giết sạch người Tây ở Trung Quốc. Muốn biết chi tiết, phải kể từ khi bà hồi cung từ Di Hòa Viên vào ngày mùng 9 tháng 6.

3.1 Cam quân thảm sát bí thư Nhật Bản

Thời kỳ Từ Hy lưu lại Di Hòa Viên, bà vốn có một đội cận vệ thân tín vài trăm người. Họ cũng sử dụng loại súng trường thép nạp hậu tân tiến nhất lúc bấy giờ. Thế nhưng, hàng trăm binh sĩ trẻ này nếu đảm nhận cảnh vệ trong hậu cung và ngự viên đầy rẫy mỹ nữ, mà lại là những thanh niên cường tráng không khiếm khuyết sinh lý thì quá nguy hiểm (sau này Mao Chủ tịch ở Trung Nam Hải, rõ ràng cũng có nỗi phiền muộn tương tự). Vì vậy, đội cận vệ này được cấu thành từ thái giám. Thái giám sao có thể cầm súng tác chiến? Do đó, ngay khi Từ Hy hồi cung, bà đã điều Cam quân của Đổng Phúc Tường vào nội thành Bắc Kinh để làm cận vệ cung đình.

Lúc này, cấm vệ quân đảm nhiệm việc phòng thủ chín cửa thành Bắc Kinh và Nghĩa Hòa Đoàn đại đao đội tuần tra trên phố ngày đêm, đều nằm trong sự kiểm soát của Đoan Vương và Trang Vương. Dù Thái hậu có muốn ngăn chặn "hành phỉ" đốt phá cướp bóc quanh vùng Bắc Kinh, cũng dần cảm thấy lực bất tòng tâm. - Mặc dù từ "quyền phỉ" vẫn xuất hiện bất cứ lúc nào trong "Thượng dụ" (dùng danh nghĩa hoàng đế) và "Ý chỉ" (dùng danh nghĩa Thái hậu).

Cam quân là đội quân tinh nhuệ có kinh nghiệm chiến trường thực tế và chiến công hiển hách, không phải là thứ Nghĩa Hòa Đoàn hay cấm quân chín cửa có thể sánh kịp. Cho nên Thái hậu từng nhiều lần triệu kiến Đổng Phúc Tường, ban lời an ủi khích lệ. Đổng Phúc Tường cũng đảm bảo với Thái hậu rằng ông ta vừa có thể "giết ngoại nhân", vừa có thể trấn áp Nghĩa Hòa Đoàn. - Khỏi phải nói, Cam quân chính là quân bài chủ lực của Từ Hy. Ai ngờ ngày đầu tiên vào thành, Cam quân đã giết nhầm (Đông) Dương nhân khiến Thái hậu không thể làm gì được. Hóa ra "Cam quân" của Đổng Phúc Tường cũng là một đội quân thổ phỉ kỷ luật kém nhất vùng Tây Bắc, coi giết người phóng hỏa như trò đùa. Nay trấn giữ kinh sư, được thiên ân độc sủng, lại càng vô pháp vô thiên. Cho nên khi Cam quân vâng lệnh tiến vào Vĩnh Định Môn ngày 11 tháng 6 (âm lịch 15 tháng 5), tình cờ gặp thư ký công sứ Nhật Bản tại Trung Quốc là Sugiyama Akira đang đi xe ra ngoài làm việc. Hai bên gặp nhau trên đường. Quan doanh Cam quân liền quát hỏi: "Kẻ nào?". Sugiyama tự biết mình là nhà ngoại giao nên khai báo sự thật. Nào ngờ kẻ gặp phải lại là đội quân thổ phỉ vô tri. Chưa kịp nói hết câu, tên quan doanh này đã rút đao xông tới, đâm thẳng vào bụng, giết chết Sugiyama. Những tên lính tàn bạo xông lên, không những phanh thây Sugiyama, còn mổ bụng moi nội tạng rồi nhét phân ngựa vào, vứt xác bên đường. (Xem "Canh Tân Kỷ Sự" của Sài Ngạc).

Cái chết của Sugiyama lập tức trở thành tin tức quốc tế. Nhân viên các sứ quán tại Bắc Kinh và các nhà truyền giáo trong các nhà thờ đều hoảng sợ, ai nấy đều tự cảm thấy nguy hiểm. Giáo dân Trung Quốc vốn bị quyền dân gọi là "Nhị Mao Tử", tội chỉ đứng sau "Lão Mao Tử" (người Tây tóc vàng), đương nhiên càng biết đại họa sắp tới. Còn một số quần chúng thù ghét đạo giáo lại vỗ tay tán thưởng vì hả giận.

3.2 Lý Hồng Chương, Viên Thế Khải là những nhân vật then chốt

Cái chết của Sugiyama tất nhiên gây chấn động khắp năm châu. Báo chí các đô thị lớn trên thế giới đưa tin, nếu không phải là tin đầu thì cũng là tin bên lề. Tin này cũng khiến nội cung Trung Quốc bất an. Rõ ràng là lúc này mực trên "Điều ước Mã Quan" còn chưa khô; vết sẹo do Lý Hồng Chương bị ám sát ở Nhật Bản vẫn còn đó, sao có thể giết thêm một nhà ngoại giao Nhật Bản nữa?

Lão Thái hậu luống cuống tay chân, ngoài việc phái Vinh Lộc và Khải Tú đến sứ quán Nhật Bản xin lỗi, bà còn triệu kiến Đổng Phúc Tường và Tái Y để quở trách. Thế nhưng, lời tâu của Phúc Tường và sự phụ họa của Tái Y cuối cùng khiến Từ Hy nội ngoại đều lo lắng mà không thể xử lý. Phúc Tường nói nếu ông ta bị phạt thì tội đáng phải chịu, nhưng nếu vì thế mà khiến Cam quân dưới trướng nổi loạn, thì trị an kinh thành sẽ rất đáng lo ngại. - Từ Hy thông minh tất nhiên hiểu rằng "bộ đội 8341" lúc này đang nằm trong tay hai kẻ đó. Nếu hai kẻ đó liên thủ không nghe lời "Lão Phật gia", thì Thích Ca Mâu Ni cũng bó tay! Dụ chỉ trừng phạt hung thủ vụ Sugiyama đành phải hạ rồi thôi.

Nghe nói khi Phúc Tường và Tái Y từ trong bệ kiến đi ra, Tái Y vỗ vai Phúc Tường, giơ ngón tay cái lên, tán dương Phúc Tường là anh hùng hào kiệt hiếm có. (Xem "Thanh Sử - Đổng Phúc Tường Truyện").

Thời cuộc phát triển đến mức này, Từ Hy rõ ràng biết, đối ngoại với người Tây, đối nội an định kẻ phản trắc, bà đã dần mất kiểm soát. - Lúc này ở Thiên Tân, Nhiếp Sĩ Thành vì ngăn cản "liên quân" Seymour xâm nhập Bắc Kinh, hai bên đã đánh nhau pháo lửa ngút trời, Nhiếp Sĩ Thành cuối cùng tử trận. Để cứu vãn cục diện mất kiểm soát này, bà dường như đã có mật nghị với Vinh Lộc. Hai người quyết định một kế sách vẹn toàn hiệu quả nhất! Khẩn cấp triệu Lý Hồng Chương và Viên Thế Khải đến kinh thành cùng giải quyết quốc nạn.

Lý Hồng Chương vốn là đối thủ chính trị của Vinh Lộc. Việc Lý bị đẩy xuống Quảng Châu chính là do Vinh Lộc bài xích mà đi. Thế nhưng Vinh Lộc không có bản lĩnh đối phó với người Tây. Hiện giờ tình thế ngoại bang cấp bách, ông ta và Từ Hy bó tay không kế sách, đành phải kích động lão Thái hậu mau chóng triệu Lý Hồng Chương hồi triều.

Còn Viên Thế Khải, ông ta vốn là đồng đảng chết sống của Vinh Lộc. Vốn luôn mang ơn huệ của Vinh, trung trinh không hai. Nay lại nắm giữ trọng binh, giết Nghĩa Hòa Đoàn như giết gà chó, rất được người Tây ưa thích. Vì vậy, nếu Lý và Viên có thể cùng về kinh, thì mọi vấn đề nội ngoại khiến Vinh Lộc và Từ Hy đau đầu đều có thể giải quyết dễ dàng.

Đây quả là nước cờ cao minh nhất. Vì vậy ngày 15 tháng 6, Quân cơ xứ truyền chỉ lệnh cho Lý Hồng Chương và Viên Thế Khải nhanh chóng đến kinh. - Lúc này do Nghĩa Hòa Đoàn nhổ cột điện, liên lạc điện báo giữa Bắc Kinh và bên ngoài đã cắt đứt. Tuy nhiên giữa Vinh Lộc và Viên Thế Khải, ngựa trạm truyền tin "trăm dặm cấp tốc" vẫn có thể chạy như thường; còn điện báo giữa Viên và ba vị tổng đốc phương Nam, đặc biệt là với Lý Hồng Chương ở Quảng Châu thì ngày đêm không dứt.

Nhìn lại quả cầu pha lê trăm năm sau, nếu lúc đó Lý và Viên phụng mệnh về triều, thì nỗi nhục quốc thể "Liên quân tám nước" đau thương nhất trong lịch sử cận đại Trung Quốc có lẽ đã tiêu tan vô hình. Bất hạnh thay, Tây Thái hậu ngay lập tức hủy bỏ mệnh triệu Viên, quay sang trọng thưởng Nghĩa Hòa Đoàn, quyết tâm tấn công sứ quán, giết sạch người Tây, đồng thời quyết định "tuyên chiến đồng thời" với mười một nước cường quốc.

Lão nhân gia sao lại phát điên trong một đêm, đảo ngược 180 độ kế sách vẹn toàn đã vạch sẵn, đẩy quốc gia dân tộc vào bước đường cùng không lối thoát? Điều này bắt nguồn từ sự kích thích của một bức tình báo giả do "Tưởng Cán" trộm được. - Dòng sông lịch sử phát triển vì một cảm xúc cá nhân nhỏ bé mà đổi hướng, há chẳng phải là cái hại cho sử sách sao! Mùa đông năm 1936, Trương Thiếu soái nổi cơn giận dỗi của một công tử bột, chẳng phải đã làm thay đổi hoàn toàn hướng đi vận mệnh của năm trăm triệu đồng bào, bạn bè, bao gồm cả bạn và tôi, cho đến tận ngày nay sao?

3.3 Màn kịch "Tưởng Cán trộm thư" giả thành thật

Ngay ngày hôm sau (16 tháng 6) khi Tây Thái hậu quyết định triệu hồi Lý, Viên, do tình hình căng thẳng, lão thái bà đã triệu tập một cuộc "Ngự tiền hội nghị" quy mô lớn bao gồm Lục bộ Cửu khanh, Quân cơ xứ, Tổng lý nha môn và các vương tôn bối lặc để bàn bạc đại kế hòa chiến cũng như quyết sách tiễu trừ hay vỗ về Nghĩa Hòa Đoàn. Hội nghị này rõ ràng bị các thành phần cực đoan do Đoan Vương cầm đầu kiểm soát. Trong hội nghị, phe chủ hòa như Viên Xưởng, Hứa Cảnh Trừng ngẫu nhiên giữ quan điểm tà thuật không thể dựa vào, liền bị Đoan Vương quát mắng. Từ Hy cũng cho rằng tà thuật tuy không thể dùng, nhưng lòng người thì có thể dùng. Thế nhưng ngay trong ngày hôm đó, Nghĩa Hòa Đoàn phóng hỏa ở Đại San Lan, đốt cháy hàng ngàn cửa hiệu khu phố Tiền Môn thành tro bụi, mất lòng dân. Do đó sau hội nghị, Từ Hy vẫn phải theo lời Cương Nghị, người vừa từ Trác Châu về kinh và hết lời ca ngợi quyền dân có thể dùng, cùng với Đổng Phúc Tường "khai đạo" (khuyên giải) quyền dân, "lệnh giải tán. Những kẻ tráng kiện có sức lực thì chiêu mộ thành quân, nghiêm ngặt quản thúc". (Xem "Nghĩa Hòa Đoàn Đăng Khoa Sử Liệu", tập thượng, trang 145).

Ai ngờ thượng dụ "lệnh giải tán" này ban xuống chưa đầy 24 giờ, triều lệnh đã làm ngược lại!

Hóa ra ngay đêm hôm đó, triều đình nhận được một bức mật báo, nói rằng các công sứ phương Tây đã quyết định hợp lực phò tá Quang Tự mà đuổi Từ Hy - đây là nước cờ Từ Hy sợ nhất sau Mậu Tuất, nay nước cờ đáng sợ nhất sắp trở thành sự thật, sao không khiến lão thái bà hồn bay phách lạc? Nguồn gốc tin tình báo là thế này:

Hóa ra đêm hôm đó, bỗng có người gõ cửa Vinh Lộc, nói có việc cơ mật khẩn cấp muốn báo. Vinh Lộc tiếp kiến mới biết đó là tâm phúc của mình, con trai của La Gia Kiệt - người đang giữ chức Lương đạo Giang Tô, vâng lệnh cha đến báo mật. Bức tình báo này tiết lộ các công sứ các nước đã cùng quyết định đưa ra bốn yêu cầu với triều đình Thanh: Một, chỉ định một nơi cho Hoàng đế Trung Quốc ở; Hai, các nước thu hộ tiền lương thực các tỉnh; Ba, thay nắm quyền binh thiên hạ; Bốn, ép Hoàng Thái hậu quy chính.

Vinh Lộc nhận được tin này, lập tức như sét đánh ngang tai. Ông ta biết những chuyện tốt mình đã làm khi làm ưng khuyển cho Từ Hy trong "Chính biến Mậu Tuất". Nay mười một nước cường quốc ép Thái hậu quy chính, ủng hộ Quang Tự phục xuất. Quang Tự phục xuất, Vinh Lộc còn giữ nổi cái đầu không? Cho nên Vinh Lộc nhận tin, bàng hoàng suốt đêm, đi vòng quanh phòng, biết đại họa sắp tới. Trời vừa sáng liền vào cung bệ kiến, dâng tình báo cho Từ Hy. Thái hậu xem xong, đương nhiên nước mắt tuôn rơi, bi phẫn đan xen.

Lão đàn bà chanh chua độc tài chuyên chế bốn mươi năm này; bà không sợ ai, chỉ sợ người Tây. Nay người Tây cuối cùng đã thực sự đến đòi mạng già của bà. Trong lúc sắp phải treo cổ tự vẫn đến nơi, bà còn quản nổi giang sơn Đại Thanh, tính mạng triệu dân? Bà liền giở quẻ, quyết sống mái với người Tây.

3.4 Từ "chính trị gia" thoái hóa thành "đàn bà"

Tây Thái hậu rõ ràng sau khi bàn bạc với Vinh Lộc, liền lập tức triệu tập "Ngự tiền hội nghị" lần thứ hai. Khi phát biểu trong hội, bà trước hết gọi "Chư đại thần"; trong cơn kích động, bà lại miệng gọi "Chư công". Trong lịch sử chuyên chế hai ngàn năm của Trung Quốc, chưa bao giờ có Hoàng đế và Thái hậu nào gọi quần thần là "Chư công"; kiêu ngạo bạo ngược như Diệp Hách Na Lạp thị thì đương nhiên càng chưa từng có, đủ thấy tình trạng kích động tâm trí rối bời, chân tay luống cuống của bà. Khi bà vừa khóc vừa kể công bố "bốn tin tình báo", cả hội trường kinh ngạc, không biết phải làm sao. Hơn hai mươi quý tộc thân cận cực đoan nhất từ Đoan Vương trở xuống, ôm nhau khóc thành một đoàn. Trong cơn kích động, họ nghiến răng nghiến lợi, thề trung thành với Thái hậu, không tiếc bất cứ giá nào để đánh một trận với người Tây. Thái hậu cũng nói người Tây đã quyết định khai chiến, Đại Thanh diệt vong ngay trước mắt. Đã là chiến cũng chết, không chiến cũng chết, "đợi chết, sao không chiến mà chết chẳng hơn sao". (Xem "Trung Quốc Cận Đại Sử Tư Liệu Tùng San - Nghĩa Hòa Đoàn" tập 1, trang 48-49. Các sách trích dẫn trong "Sử Sự Yếu Lục" cũng đủ tham khảo, xem trang 268-178).

Cứ khóc lóc làm loạn như vậy, lão Thái hậu liền xóa bỏ luôn thượng dụ lệnh giải tán Nghĩa Hòa Đoàn ngày hôm trước. Phe chủ hòa như Quang Tự, Lập Sơn, Liên Nguyên, Viên Xưởng, Từ Dụng Nghi, Hứa Cảnh Trừng, đều bị quở trách, cùng bị gạt sang bên, triều đình quyết nghị trọng dụng Nghĩa Hòa Đoàn không tiếc một trận chiến với mười một nước cường quốc; năm vị đại thần chủ hòa sau đó cũng lần lượt bị giết.

"Ngự tiền hội nghị lần thứ hai" ngày 17 tháng 6 (âm lịch 21 tháng 5) vì thế đã biến thành hội nghị động viên ngự tiền của Trung Quốc. Cương Nghị, Tái Huân, Tái Liêm, Tái Y, Tái Lan vâng mệnh thống lĩnh Nghĩa Hòa Đoàn. Tái Huân sau đó thay Sùng Lễ giữ chức Bộ quân thống lĩnh Cửu môn đề đốc. Từ đó chín cửa thành mở rộng, Nghĩa Hòa Đoàn ở bốn vùng ngoại ô ào ạt đổ vào Bắc Kinh. Ngày đêm không dứt (xem "Canh Tý Kỷ Sự"). Thật đúng là khéo không bằng sách vở, pháo đài Đại Cô cũng bị liên quân bảy nước chiếm đóng trong ngày này. (Khi trận Đại Cô xảy ra, Hải quân Mỹ từ chối tham gia, xem chi tiết ở bài sau).

3.5 Công sứ Đức Ketteler đổ máu trên phố

Tình thế Bắc Kinh đã căng thẳng như vậy, các công sứ mười một nước đương nhiên ngày đêm họp bàn đối sách. Mục tiêu đầu tiên của họ đương nhiên vẫn hy vọng chính phủ Trung Quốc tiễu trừ thổ phỉ, hòa hảo láng giềng. Sáng ngày 20 tháng 6 khi họp mặt, Công sứ Đức Ketteler chủ trương các công sứ dự họp hành động tập thể, cùng nhau đi tới Tổng lý nha môn yêu cầu bảo vệ. Các sứ khác không muốn đi cùng, Ketteler liền hành động đơn độc, ngồi lên chiếc kiệu xanh mạ vàng xa hoa của ông, mang theo một thông dịch viên ngồi kiệu nhỏ là Herr Cordes đi đến Tổng lý nha môn giao thiệp. Đi được nửa đường, ông bị Ân Hải (thuộc đội trưởng đội súng Đình tự của Thần cơ doanh do Tái Lan thống lĩnh) bắn một phát súng chết tươi. Phu kiệu hoảng sợ liền vứt kiệu bỏ chạy. Lúc đó ông Cordes đang ngồi trong kiệu nhỏ, cũng bị hất xuống đất, mông bị thương nặng. (Theo "Cảnh Thiện Nhật Ký" ghi lại, xác chết của Ketteler là do Viên Xưởng thu nhặt, còn Tái Lan muốn Tái Y hạ lệnh chém đầu xác chết, treo ở cửa Đông An thị chúng. Sử gia có thể nghi "Cảnh Thiện Nhật Ký" là Vinh Lộc ngụy tạo. Nhưng dù là ngụy tạo, câu chuyện trong sách phần lớn vẫn đáng tin. Xem thêm "Canh Tý Đại Sự Ký" và sách trước của Morse).

Công sứ Ketteler vừa chết, khu Đông Giao Dân Hạng ở Bắc Kinh liền biến thành "Trân Châu Cảng" của Từ Hy Thái hậu. Sự tình đến nước này, đã làm thì làm cho trót, lão Thái hậu phát điên bèn lấy ra mấy chục vạn lạng "Nội kho" (tiền riêng của lão nhân gia) trọng thưởng ba quân và Nghĩa Hòa Đoàn đang niệm chú đánh quyền ở cả hai nơi Thiên - Kinh, muốn họ tấn công tô giới ở Thiên Tân, vây đánh sứ quán ở Bắc Kinh, nhất định phải giết sạch người Tây ở Trung Quốc để xả nỗi hận trong lòng. (Xem "Đảng Án Sử Liệu Tục Biên" trang 615-618).

Ngày 21 tháng 6 (âm lịch 25 tháng 5), lão nhân gia dùng danh nghĩa ấu hoàng, viết mười hai bức thư tuyệt giao, tuyên chiến đồng thời với mười một nước cường quốc gồm Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Nga, Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan, Áo-Hung (bản thừa gửi cho Tổng thuế vụ tư người Anh là Hart đang bị vây trong Đông Giao Dân Hạng). - Một chiếu tuyên chiến với thiên hạ, Từ Hy Thái hậu trở thành người phụ nữ dũng cảm nhất, chưa từng có trong lịch sử nhân loại.

Từ Hy Thái hậu có kinh nghiệm cầm quyền bốn mươi năm đâu phải là người như vậy! Bà vốn là một "chính trị gia" làm việc gì cũng chừa đường lui mà! Sao lần này lại làm đến mức tuyệt tình như vậy? Thầy của Fairbank là Morse, người đứng ngoài quan sát lúc đó, có lời bình về bà thấm thía nhất. Morse nói: "Thái hậu trước nay làm việc đều chừa đường lui, chỉ lần này chính trị gia ấy chỉ còn là một người đàn bà." (The empress dowager had long avoided committing herself to any position from which she could not withdraw, but now the statesman was lost in the woman…… Xem sách trước của Morse, quyển 3, trang 219).

[Phụ chú] Từ Hy Thái hậu trong một đêm, biến từ một "chính trị gia" thành một "người đàn bà" đanh đá, các nhà quan sát, nhà bình luận chính trị và sử gia đương thời và hậu thế đều cho rằng bà trong tình trạng khẩn cấp này đã cuồng loạn mất lý trí. Người viết tuy cơ bản đồng ý với cách nói này, nhưng cũng có cách giải thích khác. Đó chính là Tây Thái hậu tâm trí rất xảo quyệt, trong tình cảnh tuyệt vọng này, bà lấy tiểu tướng Nghĩa Hòa Đoàn làm bình phong, đối với công sứ mười nước (công sứ Đức đã chết), chơi trò "bắt cóc tống tiền". "Tiền chuộc" hay "điều kiện thả người" của bà chính là mười một nước thay đổi chính sách với Trung Quốc, đừng bắt bà "quy chính". Nếu không "băng cướp" Nghĩa Hòa Đoàn sẽ "xé vé", mọi người cùng chết chung! Tây Thái hậu không phải kẻ hồ đồ. Ngược lại, bà là nữ chính trị gia đầy mưu mô. Người viết đưa ra "giả thuyết táo bạo" này, tuy khó "cẩn thận cầu chứng", nhưng trong tâm lý học hiện đại và khoa học hành vi, thì có thể nói là có lý.

3.6 "Trân Châu Cảng" của Tây Thái hậu

Hành vi ném bom "Trân Châu Cảng" này của lão bà Diệp Hách Na Lạp đã làm hại quốc gia dân tộc chúng ta thảm hại. Cuối cùng làm mất đi hơn mười vạn mạng người, còn đền bù hàng ngàn vạn báu vật vô giá của cung đình và thị dân Bắc Kinh, cộng thêm 450 triệu lạng bạc trắng. Các độc giả người Hoa hãy biết rằng, tổ tông bạn và tôi thời đó mỗi người đều phải bồi thường một lạng đấy! Khó mà tin được, "Sự biến Trân Châu Cảng" này của Từ Hy Thái hậu từ đầu đến cuối đều bắt đầu từ một bức tình báo giả do Tưởng Cán tiên sinh tự cho là thông minh trộm được. Nào ngờ mười một công sứ các nước tại Trung Quốc lúc đó, vốn dĩ mỗi người một bụng, đố kỵ lẫn nhau, để thực hiện hành động tập thể "liên quân bảy nước" đã chẳng phải chuyện dễ dàng, đừng nói đến việc đưa ra "bốn yêu cầu lớn" liên quan đến nội chính Trung Quốc. Trong bốn yêu cầu này nếu thực sự có thể thực hiện được việc Thái hậu quy chính, Quang Tự phục vị, đối với cục diện chính trị Trung Quốc thời đó có lẽ thực sự có sức cải tử hoàn sinh đấy! Nhưng đế quốc Đại Thanh cải tử hoàn sinh thì liên quan gì đến mười một đế quốc chủ nghĩa bọn họ? Họ mới không đưa ra yêu cầu đó đâu! Đến khi sự việc qua đi phía Trung Quốc mới phát hiện các cường quốc không hề có yêu cầu này, mọi người mới nghi ngờ bức tình báo này do Đoan Vương Tái Y ngụy tạo, cố ý kích thích Thái hậu. Thực ra phe nhóm Đoan Vương làm gì có tài như Chu Du? Họ không tạo ra nổi bức tình báo giả cao minh như vậy đâu! Nguồn gốc bức tình báo giả này thực sự xuất phát từ một bài xã luận của tờ báo tiếng Anh "North-China Daily News" (Bắc Hoa Tiệp Báo) do thương nhân Anh tại Thượng Hải điều hành, ngày 19 tháng 6 năm 1900 (lịch Thanh 23 tháng 5). Bài viết này được đăng lại vào tuần san của báo đó là "North-China Herald" (Tự Lâm Tây Báo) vào ngày hôm sau. Bài xã luận này trước khi đăng có lẽ đã được nhân viên người Hoa của tòa soạn nắm được, truyền qua truyền lại đến tai Lương đạo La Gia Kiệt. Ông ta liền dựa trên báo cáo sai sự thật hoặc dịch sai của nhân viên tình báo, hoặc cũng có thể là chính ông ta vì muốn lập công mà cải biên, thêm mắm dặm muối, dịch sang Hán văn, rồi đi báo mật cho Vinh Trung đường. - Vị Lương đạo tiên sinh này đã giở một trò đùa lớn khiến chúng ta mất giá trị 450 triệu lạng bạc và hàng vạn mạng người. Nếu chúng ta quy đổi 450 triệu lạng bạc một trăm năm trước ra giá trị thị trường lúc đó thành giá tiền mặt USD hiện nay, đáng giá vài chục tỷ USD, sai lầm "Tưởng Cán" này của chúng ta thực sự quá lớn.

Trong bài xã luận này, tác giả quả thực đề cập "Thái hậu và bè lũ của bà" ngu xuẩn cố ý tuyên chiến với "toàn bộ cường quốc", và nhấn mạnh nếu bè lũ này không tự diệt vong thì nên bị đuổi khỏi Bắc Kinh. "Chúng ta hy vọng khiến Quang Tự hoàng đế phục vị. Chúng ta nên bày tỏ chắc chắn với nhân dân Trung Quốc rằng, cuộc chiến tranh này hoàn toàn do Tây Thái hậu phát động. Chúng ta chỉ chiến đấu với chính phủ cướp quyền ở Bắc Kinh, chứ không phải là kẻ thù của Trung Quốc".

Đây chỉ là một bài xã luận của báo chí. Việc lấy Quang Tự phục vị thay thế Từ Hy thậm chí còn trái với chính sách đối với Trung Quốc của Anh lúc bấy giờ. Còn về thu hộ tiền lương thực, cùng quản quân sự, hoàn toàn do nhân viên tình báo tự ý thêm vào. Lúc này Anh Mỹ hai nước vì phòng ngừa Nga Đức các nước giở trò chia cắt, gây bất lợi cho mình. Họ chỉ muốn khiến chính phủ bất năng nhất này của Trung Quốc được toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền độc lập. Để có thể chia phần lợi ích, duy trì nguyên trạng. Anh Quốc lúc đó nắm giữ hơn 70% ngoại thương của Trung Quốc, vận tải xuất nhập khẩu gần 90%; Mỹ lúc đó không có nửa tấc thuộc địa nào ở Trung Quốc để phát triển ra ngoài, nên "duy trì nguyên trạng" (maintaining status quo) - là cái gọi là "chính sách Môn hộ rộng mở" (Open Door Policy) có lợi nhất cho Anh Mỹ họ.

Trên thực tế, sau liên quân tám nước, Mỹ Anh hai nước hợp sức duy trì quyền lực của tội phạm chiến tranh hàng đầu Từ Hy Thái hậu đang sụp đổ, tâm địa đó cũng giống hệt như sau Thế chiến II, Mỹ Anh hợp sức duy trì ngôi vị của tội phạm chiến tranh hàng đầu Nhật Bản là Thiên hoàng Hirohito. Lão Thái hậu bị một bức tình báo giả làm cho rối bời tâm trí, thực sự là do kiến thức không đủ, trong triều không người, dẫn đến. Lúc đó nếu Lý Hồng Chương vẫn giữ chức tể tướng, bảo nhân viên người Tây dưới trướng ông như Timothy Richard, Robert Hart hoặc Martin đi sứ quán hỏi một câu, tất cả chẳng phải đã sáng tỏ rồi sao? Đâu cần lão Thái hậu phải treo cổ tự vẫn?

Lúc đó các vị tổng đốc phương Nam của Trung Quốc đều thuê "Dương viên" (nhân viên người Tây), trong các sự kiện ngoại giao để sẵn sàng tư vấn, cung cấp người chạy việc, nên tình báo khá thông suốt, giao thiệp cũng nắm được trọng điểm. Những Dương viên này như Timothy Richard, phần lớn đều trung thành, làm việc hết lòng cho chủ, rất được lòng trong quan trường Trung Quốc. Dịch vụ mà loại Dương viên này cung cấp, đến đầu thời Dân quốc dần dần bị "đảng tiến sĩ" du học trở về thay thế. Trong thời đại quân phiệt đầu Dân quốc, các quân đầu xỏ lớn từ mặc âu phục, đi ô tô, đánh quần vợt đến mua quân hỏa, ký điều ước đều không thể thiếu họ. Tiếp theo đó đảng Quốc, Cộng vốn dĩ đa số lấy du học sinh về nước làm nòng cốt, sự kiện ngoại giao ít phiền người ngoài; nhưng trong "Sự biến Tây An", chẳng phải còn có Donald chạy tới chạy lui sao? Đến khi Mao Trạch Đông lên đài, tự cậy mình có thiên tư anh minh, mọi thứ khôi phục lại thổ pháp luyện thép, trong khi chĩa mũi nhọn sang cả Mỹ, Xô, đồng minh vĩ đại chỉ còn lại một Albania. Sau đó Giang (Thanh) Thái hậu lên đài, "quan hệ hải ngoại" đơn giản chính là "thông đồng với nước ngoài". Giang lão thái hậu và Tứ nhân bang của bà nếu thực sự nắm quyền, bà không chừng cũng sẽ giở trò "tuyên chiến đồng thời với 11 nước" đấy! Sự chanh chua và ngu dốt của mụ Giang đâu kém gì Diệp Hách Na Lạp thị?

Những lời này tất nhiên là xa đề quá, nhưng trên sân khấu lớn Trung Quốc cận đại nơi vở kịch lịch sử không ngừng tái diễn, thi thoảng sắp xếp cho Lưu Hiểu Khánh đóng Ý Quý phi và Vương Oánh đóng Tái Kim Hoa ngồi cạnh nhau so sánh, có lẽ cũng không hẳn là lãng phí bút mực. - Mao Chủ tịch và Tứ nhân bang của ông ta với Tây Thái hậu và Tứ nhân bang họ Tái của bà, việc làm thổ pháp luyện thép, thật sự giống hệt nhau.

Hơn nữa, việc Tây Thái hậu quyết định tuyên chiến với 11 nước, có lẽ cũng xuất phát từ mưu đồ quyền lực ngu xuẩn tự cho là thông minh của bà - bà có lẽ muốn lợi dụng Nghĩa Hòa Đoàn để bắt cóc công sứ các cường quốc, nhằm ép các cường quốc thực hiện chính sách buộc bà "quy chính". Không thành thì lấy Nghĩa Hòa Đoàn làm vật tế thần! Thủ đoạn đó giống hệt cách Mao Trạch Đông 70 năm sau lợi dụng Hồng vệ binh. Sẽ bàn tiếp.

3.7 Lưu Khôn Nhất và "Đông Nam hỗ bảo"

Tây Thái hậu đã mượn danh ấu hoàng tuyên chiến đồng thời với mười một cường quốc, chính sách thời chiến của bà và Tứ nhân bang của bà, đầu tiên là chỉnh biên Nghĩa Hòa Đoàn thành "Bát kỳ", do Đoan Vương thống nhất chỉ huy bảo vệ cấm thành. Sau ngày 22 tháng 6 dụ chỉ cũng do Thụy Vương ban bố. Cấm quân cũng chỉ tuân theo lệnh Đoan Vương (xem các kỳ sau ngày 24 tháng 6 báo "Tự Lâm Tây Báo"). Đoan Vương còn thông lệnh toàn quốc, gây quỹ điều binh, cần vương kháng địch. Vì vậy triều đình nhiều lần hạ chỉ đốc thúc tổng đốc, tuần phủ, hạ thần toàn quốc "nay trung ngoại đã khai chiến, quyết không có thế nghị hòa ngay... các vị tướng quân, tổng đốc, tuần phủ, phải quét sạch chữ "hòa" ra khỏi lòng mình... "nhất định phải diệt ngoại bang đến cùng"... (xem "Nghĩa Hòa Đoàn Đăng Khoa Sử Liệu", tập thượng, trang 221-222). Ngày 14 tháng 7 Thiên Tân thất thủ, đình dụ lại đốc chiến, nhấn mạnh "Thiên Tân thất hãm, kinh sư giới nghiêm, quyết không có lý lẽ không chiến mà hòa" (xem cùng tập trên, trang 366). Đồng thời họ còn thông lệnh toàn quốc phế bỏ dương thao, dương phục, mà khôi phục lại võ khảo dùng đao cung đá!

Nhưng triều đình Thanh lúc này có sức mạnh gì để chống lại liên quân tám nước xâm lược? Đây rõ ràng là châu chấu đá xe. Chiến sự vừa nổ ra, Lý Hồng Chương liền cho rằng viện quân cần vương các tỉnh vô ích. Bởi không đợi quân cần vương đến, Bắc Kinh đã thất thủ, triều đình đã phải "di cư phương Tây". (Xem "Lý Hồng Chương Niên (Nhật) Phổ" trang 413, dẫn "Lý Văn Trung Công Điện Cảo" gửi điện cho Viên Thế Khải).

Lý Hồng Chương không phải là nhà tiên tri duy nhất! Hai Giang tổng đốc Lưu Khôn Nhất, Hồ Quảng tổng đốc Trương Chi Động, Mân Chiết tổng đốc Hứa Ứng Quỳ, đặc biệt là Đường sắt đại thần Thịnh Tuyên Hoài lúc bấy giờ đều nhìn thấu suốt. Đây vốn là thường thức, không đợi kẻ trí mới hiểu; chỉ là chính phủ trung ương dưới sự khống chế của Đoan Vương quá ngu muội vô tri mà thôi. Cho nên tổng đốc người Hán ở vùng Đông Nam mượn cớ đình dụ là "kiểu chiếu", không tuân theo "loạn mệnh". Họ đã ký kết các điều ước riêng với chủ nghĩa đế quốc đang nhìn ngó chằm chằm để thực hiện "Đông Nam hỗ bảo".

Sử gia hậu thế tinh thần cách mạng rất dồi dào, có người còn phê phán "Đông Nam hỗ bảo", nào ngờ lúc đó không thực hiện "hỗ bảo", thì vùng hạ lưu Trường Giang cũng đã chìm trong biển lửa chiến tranh rồi. Bởi khi chiếu tuyên chiến chưa hạ, người Anh đã lớn tiếng (Open talk) với Tổng lãnh sự Mỹ tại Thượng Hải là Goodnow muốn chiếm pháo đài Giang Âm, xưởng đóng tàu Giang Nam và toàn bộ khu vực Ngô Tùng. Để thăm dò phản ứng của Mỹ. Lưu Khôn Nhất nhận tin, liền mật phái Dương viên người Mỹ là J.C. Ferguson thông đồng với Goodnow, mật báo Washington tìm cách ngăn chặn. Ngoài ra còn điều binh khiển tướng quyết tâm kháng cự vũ trang, người Anh mới biết khó mà lui. (Xem "Hồ sơ gốc lưu trữ mật của Cục Hồ sơ quốc gia Mỹ", báo cáo mật của Goodnow gửi Thứ trưởng Bộ Ngoại giao ngày 29 tháng 6 năm 1900).

Ở phía Vũ Hán, Trương Chi Động cũng hết sức duy trì ổn định địa phương, giảm bớt cớ xâm nhập cho người Tây (xem phụ lục cùng trên). Đồng thời các vị đại quan các phương nghị sự, nếu Bắc Kinh thất thủ, hai cung bất trắc, họ sẽ chọn Lý Hồng Chương làm tổng thống để chống đỡ cục diện nguy nan (lúc này Tôn Trung Sơn cũng chung đường, từng đưa ra đề nghị tương tự). Hồng Chương đối với ngôi vị "Tổng thống" cũng khá hứng thú. Sau đó Từ Hy và Quang Tự an toàn chạy thoát đến Tây An, đề nghị này liền bãi bỏ. (Xem "Niên Phổ" trang 432, dẫn "Quốc Văn Chu Báo").

Trương, Lưu, Lý mấy vị tổng đốc này, nói thật, đều là những chính trị gia truyền thống đọc sách thánh hiền đấy! Đáng hận vận nước thế này. Thế lớn hơn người mà tài năng không được thi triển.

3.8 Treo thưởng bắt giết người Tây

Tuyệt chiêu thứ hai của Tây Thái hậu sau khi tuyên chiến chính là treo thưởng bắt người Tây, giết sạch không chừa một ai.

Trong các câu chuyện lịch sử Trung Quốc vốn có lời đồn "15 tháng 8 giết quân Thát Đát", nói rằng khi quân Mông Cổ xâm nhập Trung Nguyên, mỗi nhà đều có đặc vụ Thát Đát ở. Một năm nào đó vào ngày Tết Trung Thu, dân gian dùng bánh trung thu làm truyền tin, toàn quốc đồng loạt ra tay giết sạch quân Thát Đát trong một ngày. Lần này Trung - Ngoại đã tuyên chiến, Đại học sĩ Từ Đồng cũng tấu xin Tây Thái hậu hạ chiếu "bất luận tỉnh nào, nơi nào, thấy người Tây ở đâu, cho phép dân chúng diệt trừ" (xem "Nghĩa Hòa Đoàn Đăng Khoa Sử Liệu", tập thượng, trang 196). Bộ quân thống lĩnh Trang Thân vương Tái Huân cũng dán bố cáo khắp phố phường Bắc Kinh, treo thưởng bắt giết người Tây. Thưởng quy định, "giết một người Tây thưởng 50 lạng; phụ nữ Tây 40 lạng; trẻ em Tây 30 lạng." (Xem cùng sách, tập hạ, trang 842). Cho nên khi Ân Hải bắn một phát súng chết Đức công sứ Ketteler, hắn không những thú nhận hành vi hung ác, hắn còn đang đợi lĩnh thưởng.

Bản thân người viết khi phục vụ tại Đại học Columbia năm xưa, người bạn già tiền bối là Giáo sư Luther Carrington thường tự cười hồi nhỏ mạng mình chỉ đáng 30 lạng bạc. Vì năm Canh Tý ông từng theo cha mẹ truyền giáo bị vây trong Đông Giao Dân Hạng. Lúc đó ông mới sáu tuổi. Nhà họ Carrington vốn truyền giáo ở Thông Châu. Khi sự việc xảy ra liền chạy gần trốn vào sứ quán Bắc Kinh, thoát được một kiếp. Các nhà truyền giáo Âu Mỹ bất hạnh truyền giáo ở Sơn Tây thì toàn bộ bị nạn.

Sơn Tây tuần phủ Dục Hiền lúc đó, khi vâng lệnh truy bắt nhà truyền giáo và giáo dân, ông ta nói dối là "tập trung bảo vệ", lừa hoặc bắt toàn bộ hơn 40 nhà truyền giáo nước ngoài gồm cả nam nữ già trẻ trong tỉnh, tập trung vào nha môn tuần phủ của ông ta. Ngày 9 tháng 7, ông ta cởi trần hết quần áo họ, phạt quỳ ở quảng trường trước nha môn, từng người một chặt đầu. Có một vị lão giám mục râu trắng kiểu Marx đứng dậy chất vấn Dục Hiền tại sao giết người vô tội. Dục Hiền rút đao đeo bên mình, không nói hai lời liền chém tới. Máu trên đầu và mặt lão giám mục phun ra như suối, râu trắng tức thì biến thành râu đỏ. Dục Hiền bồi thêm vài nhát đao, giết chết vị lão nhân này. Ngày đó ông ta tổng cộng giết 46 nhà truyền giáo và gia quyến, bao gồm 15 đàn ông, 20 phụ nữ và 11 trẻ em. Thật sự hơn cả hổ lang, tàn nhẫn tột cùng. (Xem "Sơn Tây Tỉnh Canh Tý Giáo Nạn Tiền Hậu Kỷ Sự" của Quản Hạc và "Lý Hồng Chương Niên (Nhật) Phổ" trang 450 cùng sách "Canh Tý Niên Tuẫn Nạn Trung Quốc Liệt Sĩ Khảo" (The China Martyrs of 1900) của Robert C. Forsyth, trang 30 trở đi.) Dục Hiền giết bao nhiêu nhà truyền giáo ở tỉnh Sơn Tây, ý kiến không thống nhất. Vì giáo sĩ đến từ các nước phương Tây khác nhau. Con số thống kê không dễ đầy đủ. Còn về ông ta giết bao nhiêu "Nhị Mao Tử" (giáo dân) và người liên quan đến ngoại sự. Thì càng không thể tính toán được.

3.9 Lấy "Hai rồng hai hổ mười ba cừu" làm vật tế thần lập uy

Trong khi giết sạch người Tây và Nhị Mao Tử, bè lũ Tứ nhân bang họ Tái - những kẻ muốn cướp chính quyền, phò Thanh diệt ngoại - còn muốn lập uy trong triều, lấy "Hai rồng hai hổ mười ba cừu" do Nghĩa Hòa Đoàn chỉ đích danh làm vật tế thần.

Bốn ngày sau khi tuyên chiến với các cường quốc, bốn anh em Tái Y, Tái Huân, Tái Liêm, Tái Oánh (con thứ của Cung Thân vương Dịch Hân đã mất) dẫn đầu hơn 60 tên đao phủ Nghĩa Hòa Đoàn xông thẳng vào Doanh Đài, muốn giết chết Tái Điềm (Hoàng đế Quang Tự). Hành vi "Thí đế", "giết rồng" này tuy bị Tây Thái hậu ngăn cản, nhưng con "rồng" này cũng sống không bằng chết. Ông không những thường xuyên bị Đoan Vương, Trang Vương sỉ nhục trong Ngự tiền hội nghị, nghe nói ngay cả một "Đại A Ca" (con trai Tái Y) mới 14 tuổi cũng chỉ vào ông gọi là "Nhị Mao Tử". Như vậy, thì nhân vật quyền uy trên vạn người dưới một Thái hậu là ai, khỏi cần nói cũng biết. (Xem "Cảnh Thiện Nhật Ký" và nhiều tạp lục, câu chuyện phần lớn đáng tin).

Còn "Hai hổ" - Lý Hồng Chương và Dịch Khuông - Lý bị đẩy xuống Quảng Châu, đi xa bay cao, roi không vươn tới được, Tứ nhân bang không thể làm gì được ông. Nghe nói Hồng Chương khi nghe tin bị đẩy xuống, vui sướng không kể xiết. Vì rời xa hang cọp, cảm thấy thân tâm đều sảng khoái. Nay "việc phía Bắc hỏng bét", thu dọn tàn cuộc, "nếu không phải là ta thì ai" (lời hào sảng của Hồng Chương, đều xem trong "Niên (Nhật) Phổ"), không giết được. Tội của Dịch Khuông chỉ là đối với người Tây "quá mềm" (xem "40 Năm Trung Quốc Đại Sự Chí"), chưa đủ để giết. Kẻ thực sự xui xẻo chính là "Mười ba cừu".

Danh sách "Mười ba cừu" rốt cuộc là những ai, người nói không thống nhất. Nhưng họ cũng giống như các kiểu "Mười ba thái bảo", "Mười tám la hán", "Hai mươi tám Bolshevik" v.v... những cái tên đầu tiên luôn cố định. Năm "cừu" đầu tiên của "Mười ba cừu" hẳn là năm vị "Ngũ đại thần" bị giết vì chủ trương tiễu trừ quyền dân, nghị hòa. Cựu công sứ tại Đức, Nga v.v., sau nhậm Lại bộ tả thị lang Hứa Cảnh Trừng và Thái thường tự khanh Viên Xưởng, bị giết ngày 28 tháng 7. Binh bộ thượng thư Từ Dụng Nghi, Nội các học sĩ Liên Nguyên, cựu Hộ bộ thượng thư Lập Sơn, thì bị giết ngày 11 tháng 8, cái gọi là trong mười ngày liên tiếp giết năm đại thần (xem "Sử Liệu Tùng San - Nghĩa Hòa Đoàn" tập 1, trang 22), mà khi chưa đầy mười ngày, Bắc Kinh cũng đã bị liên quân chiếm đóng.

Tại sao Từ Hy trong thời kỳ tuyệt vọng bỏ thành chạy trốn, lại giết sạch đại thần chủ hòa? Đây chính là điểm tàn độc nhất của những kẻ độc tài lớn (bất luận nam nữ). Mọi bạo chúa độc tài đều báo thù từng chút một với những kẻ bất đồng ý kiến. Lần này bà bại vong bỏ chạy, sống chết chưa biết. Nhưng bà tuyệt đối không để mình chết trước những kẻ dị kỷ, khiến những kẻ dị kỷ có dư địa giao thiệp với kẻ thù. Bà "ném chuột sợ vỡ đồ", trước khi đi chỉ giết Trân phi không giết Quang Tự. Nhưng nếu người Tây thực sự ép bà đến mức không thể không treo cổ tự vẫn, thì việc Thái hậu treo cổ, cũng tất nhiên sẽ ở sau khi Hoàng đế treo cổ. Bạn à, lạ không? Tưởng công của chúng ta khi bại lui từ đại lục, giết Dương Hổ Thành mà giữ lại Trương Học Lương, chẳng phải cũng là một vở kịch diễn hai lần sao, lúc đó nếu Bảo đảo không giữ được, Tưởng công chạy sang Thụy Sĩ, thì Thiếu soái còn sống đến hôm nay không? - Lý này là một!

Tác giả "Sùng Lăng Truyền Tín Lục" là Uẩn Dục Đỉnh, không hiểu lý này, ông đổ hết nồi đen giết liên tiếp năm đại thần cho Đoan Vương Tái Y. Uẩn nói: "Trước đó Tái Y chủ trương ngoại nhương, nhiều lần tấn công chiến, không đạt được, muốn bắt chước trí cũ của Hoàn Ôn Phương Đầu, giết nhiều đại thần, để lập uy và ép trên."

Đây hoàn toàn là chuyện nhảm nhí. Xin hỏi sư trưởng của công tử bột Tái Y này, từng "tấn công chiến" cái gì? Đúng, hắn từng đánh Đông Giao Dân Hạng. Người viết năm ngoái từng ở Đông Giao Dân Hạng (Nhà khách Viện Khoa học Xã hội) hai tuần. Đi vòng quanh trong hẻm ngoài hẻm không biết bao nhiêu lần. Xem kỹ tình thế mới biết năm xưa Đổng Phúc Tường, Tái Y bọn họ tấn công Đông Giao Dân Hạng, thực sự chỉ là một trận "hỗn chiến" dân gian thôi. So với quy mô "võ đấu" của Hồng vệ binh có lẽ còn kém xa nữa! Thế mà còn gọi là "tấn công chiến" gì? Còn về giết đại thần để ép trên, so với câu chuyện Hoàn Ôn phế Hải Tây công lập Giản Văn đế, cũng là không cùng loại. Xin hỏi "trên" của Tái Y là Quang Tự? Hay là Tây Thái hậu? Là Quang Tự thì sao phải "ép"? Là Tây Thái hậu, hắn dám à?

Giết đại thần, Tái Y cũng không dám. Đại thần là Thái hậu giết; tiếng xấu là Đoan Vương gánh mà thôi.

3.10 Vở kịch và tâm cơ tấn công sứ quán

Còn việc tấn công sứ quán, "không đạt được", đúng là sự thật. Nhưng đây tuy là sự vô dụng của tướng chiến, sự thật vẫn là Thái hậu chừa đường lui. Hãy nghe lão Thái hậu hồi ức lại một đoạn lịch sử khẩu thuật sau khi chạy nạn về tấn công sứ quán. Lão thái bà nói:

"Ta vốn kiên quyết không trở mặt với người Tây. Có một khoảng thời gian giữa chừng, vì người Tây bắt nạt quá đáng, cũng không tránh khỏi có chút tức giận. Nhưng tuy không ngăn cản (Tái Y, Tái Huân, Tái Lan) bọn họ, từ đầu đến cuối vẫn chưa gọi họ làm loạn hết ý. Hết giận ta cũng quay đầu lại, chỗ nào cũng chừa đường lui. Ta nếu thực sự để mặc họ làm loạn, chẳng lẽ một sứ quán lại không có lý nào không đánh hạ được sao?!" (Xem "Canh Tý Tây Thú Tùng Đàm")

Lời này của Lão Phật gia nói là sự thật, nhưng nghe vào tai người lính làm lịch sử khẩu thuật như chúng tôi, bà vẫn chưa đủ thành thật và thẳng thắn. - Bà không nhắc đến việc bà bị đoạn kích thích "Tưởng Cán trộm thư" kia. Lúc đó bà quyết tâm là sống mái với người Tây, chết chung. Nhưng trong "một trận chiến" "chết chung" đó, con cáo già này vẫn chừa lại một đường lui. Bà bảo những đại tướng bề ngoài nắm trọng binh như Vinh Lộc, Tái Y, Tái Huân v.v. thay bà sống mái với người Tây. Nếu mạng của công sứ người Tây đều bị liều chết, mà giao thiệp vẫn còn dư địa xoay chuyển, thì bà lấy cớ "Thiếp ở thâm cung đâu có biết", "tướng ở ngoài quân lệnh có khi không nhận", đẩy trách nhiệm lên đầu bọn mãnh tướng. Giết hung thủ để tạ lỗi, bà vẫn có thể làm Thái hậu của bà. - Thực tế, kết quả sau đó chính là như vậy.

Ai ngờ Vinh Lộc cũng là một Tào Tháo. Ông ta không dám không tuân lệnh Thái hậu tấn công sứ quán. Nhưng nếu thực sự san phẳng sứ quán, giết chết mấy vị công sứ người Tây, sau này người Tây truy cứu hung thủ, Thái hậu bị ép bắt hung thủ, cái đầu của ông ta chẳng phải muốn chuyển nhà sao. Cho nên ông ta trước hết giả bệnh xin nghỉ, giao ra binh quyền. Đến sau này ý chỉ khó trái, ông ta không xuất đầu không được khi, ông ta chỉ đành làm bộ tích cực, tam lệnh ngũ thân đốc thúc Cam quân của Đổng Phúc Tường sống mái đi đánh. Đổng Phúc Tường là một kẻ thô kệch, dưới nghiêm lệnh của Trung đường, ông ta liền đánh thật. Từ ngày 20 tháng 6 liền trong bốn ngày, Cam quân mỗi ngày bắn pháo nhiều tới hơn 300 phát. Khói mù mịt, tiếng pháo rung trời. Bắc Kinh và bên ngoài giao thông hoàn toàn đoạn tuyệt. Trong tình trạng này, một Đông Giao Dân Hạng nhỏ bé chẳng phải đã sớm san bằng thành bình địa sao? Công sứ và giáo sĩ các nước, tuyệt không có lý lẽ sinh tồn. Cho nên báo chí London đã đăng "cáo phó" báo tang của Công sứ Anh và Tổng thuế vụ tư v.v.

Nhưng lúc này Lý Hồng Chương xem báo quan chiến ở Quảng Châu, ông và Vinh Lộc tuy là đối thủ chính trị, nhưng anh hùng biết anh hùng. Ngày 22 tháng 6 Hồng Chương ở Quảng Châu liền tiết lộ với truyền thông, sứ quán vô sự, xin các giới yên tâm, vì ông biết người biết ta. Vinh Lộc vốn chưa điều dụng "Võ vệ trung quân" có trang bị kiểu Đức của ông ta, chỉ dựa vào quân thổ phỉ của Đổng Phúc Tường là không đánh hạ được sứ quán, vì "Cam quân không có pháo lớn". Đổng Phúc Tường sử dụng toàn là mấy thứ pháo đất. Chỉ nghe tiếng pháo vang, không thấy đạn rơi xuống. (Xem cột báo "Tự Lâm Tây Báo").

Lý Hồng Chương nói đúng rồi. Sứ quán bị tấn công, thương vong không ít, nhưng cũng không hề bị đánh hạ. Quả nhiên ngày 25 tháng 6 Vinh Lộc liền vâng ý chỉ Thái hậu ngừng tấn công sứ quán, và an ủi công sứ các nước. Đình dụ cũng giải thích nhiều lần với tổng đốc phương Nam không chịu phụng loạn mệnh về nỗi khổ tâm phải tuyên chiến (xem các sách "Nghĩa Hòa Đoàn Đăng Khoa Sử Liệu"). Trong thời gian ngừng tấn công, một thời gian dưa hấu rau xanh v.v. quà an ủi xe đầy xe kéo đến, gửi vào sứ quán. Cam quân sĩ binh đứng xem bên cạnh mà khát như đốt trong lòng tức giận không thôi. Ý chỉ Thái hậu mâu thuẫn trước sau như vậy, Vinh Lộc nếu thực sự san phẳng sứ quán, thì làm sao được? Cho nên Vinh Lộc không những lén lút thông đồng với kẻ địch bị vây, ông ta còn thực sự "thông đồng với nước ngoài", sai người giả trang kẻ trộm buôn lậu, tiếp tế lượng lớn thuốc súng đạn dược cho quân thủ sứ quán, để tăng cường phòng ngự. Ông ta sợ người Tây nếu thực sự "đạn tận lương tuyệt" bị Cam quân của Đổng Phúc Tường đánh hạ, thì triều đình và Lão Phật gia, đặc biệt là Vinh Lộc chính mình, đều không xong. Phải biết đạn dược Vinh Lộc tiếp tế cho người Tây lúc đó không phải là thuốc súng đất mà Cam quân sử dụng đâu! Ông ta buôn lậu đi có lẽ đều là "đạn thép 79" (của súng trường nạp hậu Đức?) sắc bén vô cùng. Cho nên ngày 28 tháng 6 thời hạn đình chiến hết, Cam quân lại khôi phục tấn công. Sau đó "vừa đàm vừa đánh", hai bên lại hỗn chiến hơn 50 ngày, sứ quán luôn đứng vững không nhúc nhích. Mà Cam quân và Nghĩa Hòa Đoàn vây đánh thì thương vong hơn ngàn, đều là kết quả của việc Vinh Lộc thông đồng với nước ngoài.

Giáo sư Luther Carrington, người bạn cũ của tôi kể ở tiết trên, lúc đó mới sáu tuổi. Ông thường trái lệnh cha mẹ, trèo lên tường đầu "xem chiến". 50 năm sau ông vẫn dùng giọng Thông Châu chuẩn xác của mình cười kể chuyện cũ Canh Tý với chúng tôi. Thật là vẽ hình vẽ tiếng.

Tiên sinh Carrington là một vị tiền bối Hán học đáng yêu đáng kính nhất mà người viết gặp được trong 25 năm ở Columbia. Tiếng Hán của ông còn chuẩn hơn tôi nói nhiều. Ông tinh thông Hán tịch, cũng rất yêu Trung Quốc. Cách đối nhân xử thế cũng đơn giản là một vị tiền bối Nho gia trong Trung Quốc truyền thống. Ông là bạn chí thân của Tiên sinh Hồ Thích. Cũng là bạn đồng hành trong lễ nhận bằng tiến sĩ của Hồ Thích khi trở về Columbia năm 1927. Ông ngưỡng mộ Hồ Thích cả đời. Vì ông không có sự tinh khôn và nghịch ngợm như Tiên sinh Thích Chi. Ông thuần hậu như một lão nông trong nông thôn Trung Quốc truyền thống. Tiên sinh Carrington là vị tiền bối duy nhất người viết quen biết từng nhìn thấy "Nghĩa Hòa Đoàn" - một học giả già. Trước khi nghỉ hưu ông là "Giáo sư chức danh Đinh Long" (Dinglong Chair Professor) trong Khoa ngôn ngữ văn học Đông Á (tên cũ là "Khoa tiếng Trung Nhật") của Đại học Columbia. Chức danh này được lập ra để tưởng nhớ một công nhân Hoa kiều đáng kính là Đinh Long. Người viết từng có bài viết riêng về câu chuyện của Đinh Long, không kể lại nhiều. Nhưng theo tôi biết, vị "Giáo sư" ngồi trên "ghế chức danh" này, chỉ một mình Luther Carrington là xứng đáng về đạo đức học vấn; kẻ kế nhiệm ông thì là một kẻ lưu manh không ra gì.

Người viết nay nhân cơ duyên nghiên cứu lại lịch sử quyền loạn, nhắc lại một chút về vị tiền bối chứng kiến tận mắt vụ quyền loạn này, cũng coi như là một kỷ niệm tư thục nhỏ đối với ông. (Về đoạn lịch sử quyền loạn này, tư liệu ghi chép bằng tiếng Trung rất nhiều; tư liệu sử học tiếng Tây như sách trước của Morse, hồi ức lục của Hart, tác phẩm của R.C. Forsyth và A.H. Smith cùng với "Canh Tý Sứ Quán Bị Vây Ký" do Bertram L. Simpson dịch sang Hán văn và lấy bút danh B.L. Putham Weale, đều đủ để mồ hôi bò không kể xiết).

3.11 Sứ quán sống sót, thủ đô thất thủ

"Hành vi" Từ Hy hoặc lỏng hoặc chặt, hoặc thật hoặc giả, vây đánh Đông Giao Dân Hạng hơn 50 ngày, có lẽ còn một tầng động cơ không muốn cáo nhân - chính là cái gọi là "kích thích - sinh cơ - phản ứng" trong khoa học hành vi. Bà muốn dùng khủng hoảng sinh tử quan đầu, dụ ép "Khâm sai đại thần" mười nước (lúc này khâm sai Ketteler đã chết) đảm bảo không bắt bà "quy chính"; tức là hủy bỏ bốn yêu cầu bí mật mà Tưởng Cán tiên sinh trộm được. Đáng tiếc bốn yêu cầu này vốn không tồn tại, mà mười công sứ cũng không phải là giun trong bụng lão Thái hậu, không biết phản ứng thế nào. May mà họ trong có lương thảo, ngoài có cứu binh. Họ liền bất chấp nguy hiểm tính mạng, cố thủ đợi viện.

Còn lão thái bà nói: "Chẳng lẽ một sứ quán lại không có lý nào không đánh hạ được sao?!" Bà nói câu này quả thật là ngực có trúc trong lòng (tự tin), vì bà còn đại pháo do xưởng Krupp Đức chế tạo chưa động đến đấy! Hơn 30 năm sau, khi "năm lần vây tiễu" sắp thắng lợi, phóng viên "Đại Công Báo" là Phạm Trường Giang thay chính quyền gửi lời đến "Chu Mao", chẳng phải cũng nói Tưởng ủy viên trưởng đối với họ "thủ hạ lưu tình" (nương tay) sao? Vì vũ khí kiểu Đức mới nhất trong quân chính phủ đều chưa sử dụng đối với họ! Đã thủ hạ lưu tình, sao lại nhất định phải đánh? Độc giả hiền minh, tự mình đi trả lời nhé!

Khẩu đại pháo chế tạo kiểu Đức của Lão Thái hậu đang ở đâu? Hóa ra nó được trang bị trong đội pháo binh thuộc "Vũ Vệ Trung quân", đội quân hệ chính quy của Vinh Lộc. Khi Đổng Phúc Tường tấn công dữ dội vào khu sứ quán hơn mười ngày mà không hạ được, Đoan Vương bèn lấy thánh chỉ điều quân phân thống (cấp bậc gần tương đương lữ trưởng) của Trung quân là Trương Hoài Chi phái "pháo khai hoa" đến trợ chiến. Vị Trương phân thống này là học viên tốt nghiệp "Thiên Tân Võ bị học đường", đồng môn với Tào Côn. Võ bị học đường này vốn là nơi Lý Hồng Chương ủy mệnh cho Gordon (Charles George Gordon) chủ trì, là trường quân sự kiểu mới đầu tiên của Trung Quốc. Lúc bấy giờ, loại đại pháo "khai hoa" (đầu đạn nổ) chế tạo kiểu Đức mà Vũ Vệ Trung quân sử dụng, ngay cả sĩ quan Đức sau này cũng tự than hiếm thấy. Cho nên, khi mới nhận lệnh, Trương Hoài Chi tự thấy đây là cơ hội lập công. Y bèn dựng đại pháo trên thành, nhắm thẳng vào khu sứ quán, chỉ cần bắn ba năm phát xuống là các sứ quán sẽ trở thành một đống tro tàn ngổn ngang thi thể.

Ngay khi y định hạ lệnh khai hỏa, vị sĩ quan ba mươi chín tuổi này bỗng nhiên nảy ra một ý – y biết rằng một khi tiếng pháo vang lên, hậu quả sẽ khó mà thu dọn được. Y lại đổi lệnh hoãn bắn. Ngay lập tức, chính mình xuống thành đi thẳng đến tư dinh của Vinh Lộc để xin chỉ thị, muốn cấp trên trực tiếp của mình viết tay một đạo lệnh bắn pháo để làm bằng chứng. Vinh Lộc không dám đích thân phát lệnh, mà cũng không dám không phát lệnh. Hai bên giằng co hồi lâu. Thế này thì Hoài Chi càng không dám rời phủ Vinh Lộc. Y tự quyết định, cứ lì lợm ở lại phủ Vinh Lộc không chịu đi. Cuối cùng, Vinh Lộc bị y quấy rầy không chịu nổi, bèn ấp úng nói: "Dù sao thì tiếng pháo vang lên, bên trong (trong cung) đều nghe thấy cả." – Đây là một câu danh ngôn bất hủ của Vinh Trung đường trong lịch sử cận đại Trung Quốc; mà Trương Hoài Chi – vị đại quân phiệt sau này làm quan đến chức Tuần phủ An Huy, thời Dân quốc từng được Viên Hoàng đế phong tước Nam tước nhưng không nhận; sau đó lại làm đến Đốc quân Sơn Đông, và Tổng tham mưu trưởng dưới thời Từ Thế Xương – cũng không phải kẻ ngốc. Nghe xong, y chợt hiểu ra. Thế là vội vã quay lại trên thành, nói dối rằng vị trí đặt pháo không chuẩn, cần đo đạc lại phương vị, rồi chuyển hướng mục tiêu sang khu đất trống phía sau khu sứ quán. Các pháo đồng loạt khai hỏa, oanh tạc suốt một ngày một đêm không ngừng, cho đến khi có thánh chỉ ra lệnh ngừng tấn công mới thôi. Sứ quán tuy chịu một phen kinh hoàng nhưng trong cung ngoài phủ đều vô cùng nhẹ nhõm. (Xem "Nghĩa Hòa Đoàn sử liệu" tập hạ, trang 562, dẫn "Xuân Băng Thất dã thừa". Thầy Thượng Xương Lộ Đức và các sử liệu phương Tây khác cũng có những thuật thuật kinh người; câu chuyện về Trương Hoài Chi rải rác trong các tiểu sử tiếng Trung và tiếng Anh, cùng "Dân quốc nhân vật tiểu truyện" tập 5, trang 280).

Vở kịch bao vây sứ quán năm Canh Tý cứ thế mà lỏng lẻo rồi lại căng thẳng, vừa thật vừa giả, kéo dài đến ngày mười bốn tháng Tám. Người Tây bị vây trong sứ quán và giáo dân Trung Quốc chợt nghe tiếng súng máy ngoài Cáp Đức Môn, biết rằng quân Tây đã phá được Bắc Kinh, vì lúc bấy giờ quân đội Trung Quốc vẫn chưa có súng máy. Chiều hôm đó vào lúc hai giờ, trong tiếng reo hò của hàng trăm người Tây, một đội quân lớn lính Sikh Ấn Độ (Sikhs, người Thượng Hải thường gọi là "Hồng Đầu A Tam") giương cờ Anh, một hơi xông thẳng vào trong ngõ. Cuộc bao vây sứ quán năm mươi ngày thế là kết thúc; thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc cũng từ đó mà thất thủ.

*Nguyên đăng trên tạp chí "Truyền ký văn học" (Đài Bắc), tập 62, kỳ 1.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.