Vãn Thanh Thất Thập Niên 4: Nghĩa Hòa Đoàn Và Bát Quốc Liên Quân

Lượt đọc: 14 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Liệt Cường Kích Thích, Thái Hậu Đùa Với Lửa, Đoan Vương Cướp Chính, Vận Quan Trật Đường

❊ ❊ ❊

2.1 Dân có thể dùng, Đoàn nên vỗ, Phỉ phải diệt

Cuộc nổi loạn của "Nghĩa Hòa Đoàn" xảy ra vào năm đầu tiên của thế kỷ hai mươi, tức năm Canh Tý 1900, từ một đốm lửa nhỏ bùng lên thành thế cháy lan cả cánh đồng, thực sự không thể tách rời khỏi ba nguyên tắc của Tuần phủ Sơn Đông lúc bấy giờ là Dục Hiền. Như đã đề cập sơ qua ở phần trước, ba nguyên tắc của Dục Hiền là: "Dân có thể dùng, Đoàn nên vỗ, Phỉ phải diệt". Nói thật lòng, ba nguyên tắc này vốn không sai, cái sai là ông ta đã biến nguyên tắc trừu tượng thành cách vận dụng cụ thể, không được thỏa đáng, thì tất sẽ xảy ra chuyện.

Lấy điều "Dân có thể dùng" mà nói! Năm đó, do hành vi xâm lược trần trụi của các liệt cường đối với Trung Quốc — đặc biệt là những gì người Đức làm ở Sơn Đông, người Nga làm ở Đông Bắc — đã kích động công phẫn của toàn thể nhân dân Trung Quốc.

Người Đức lấy cớ vụ án giáo hội để cưỡng chiếm vịnh Giao Châu ở Sơn Đông, đã là vô lý đến cực điểm. Đến khi Đức hoàng cử Hoàng đệ là Đô đốc Hoàng thân Heinrich (Admiral Prince Heinrich) dẫn hạm đội Viễn Đông viễn chinh Trung Quốc, trong bài diễn văn tiễn đưa tại Hamburg đã nói: "Nếu có ai thử thách, làm giảm bớt quyền lợi chính đáng của chúng ta, hoặc làm tổn thương chúng ta, thì hãy đứng lên dùng nắm đấm thép mà đập lại" (nguyên văn tiếng Anh được dẫn trong tờ "London Spectator" ngày 26 tháng 12 năm 1897). Lúc đó, Ông Đồng Hòa, một trong những đại thần đang chạy đôn chạy đáo thương lượng, đã dịch trong nhật ký của mình là "Nếu Trung Quốc ngăn cản việc của chúng ta, hãy dùng nắm đấm mà đập". Bài diễn văn "vung nắm đấm" này của Đức hoàng thời bấy giờ đã trở thành trò cười ở Âu Mỹ. Thế nhân vốn dĩ chê cười sự hung bạo của Đức hoàng, nhưng đối với sự không tự trọng của người Hoa chúng ta, cũng là vừa thương vừa khinh. Sự việc này khi đó đã kích thích đất nước và nhân dân ta vô cùng sâu sắc và đau đớn. Nhà sử học người Pháp Henri Cordier khi đó đang lạnh lùng quan sát ở Paris đã cho rằng, sự kích thích mà những kẻ người Đức này gây ra cho người Hoa "dù không phải là nguyên nhân toàn bộ của sự trỗi dậy của Nghĩa Hòa Đoàn, thì cũng là một trong những nguyên nhân chính". (Xem sách của Henri Cordier "Lịch sử quan hệ Trung - Tây", tập 3, trang 365. Dẫn lại từ cuốn "Lịch sử quan hệ quốc tế của Đại Thanh đế quốc" của Morse, tập 3, trang 111).

Về sự ngang ngược của quân Đức tại Sơn Đông thời bấy giờ, thì càng khó mà dùng bút mực kể hết. Bách tính địa phương nếu có chút kháng cự với bọn chúng, thì thường xuyên bị đốt sạch cả làng, già trẻ khó mà thoát khỏi. Có lần tại huyện Nhật Chiếu, tỉnh Sơn Đông, vì một xung đột nhỏ giữa dân và giáo, khi các sĩ thân địa phương ra mặt điều giải, năm vị sĩ thân có mặt tại đó đã bị quân Đức bắt đi, tống vào trại giam Thanh Đảo, buộc phải thực hiện những yêu cầu vô lý. Hành vi bắt cóc tống tiền như thế này khiến nhà ngoại giao Mỹ đang quan sát ở bên cạnh cũng cảm thấy phẫn nộ và báo cáo về Washington để lưu tâm. (Xem báo cáo của Công sứ Mỹ tại Trung Quốc là Conger gửi Bộ trưởng Ngoại giao John Hay. Đăng trong "Hồ sơ ngoại giao" của Bộ Ngoại giao, ngày 17 tháng 4 năm 1899).

Những tội ác mà người Nga phạm phải ở Đông Bắc Trung Quốc lại càng khó mà kể xiết. Một ngày tháng 3 năm 1899, người Nga vi phạm hiệp ước tại cảng Lữ Thuận, xâm nhập vào lãnh thổ Trung Quốc để thu thuế đất. Nông dân địa phương đã triệu tập đại hội quần chúng và viết đơn thỉnh nguyện xin miễn thuế, thái độ vô cùng hòa bình cung kính, nhưng quân Nga lại bất ngờ nổ súng vào đám đông, ngay tại chỗ đã bắn chết 94 nông dân cùng người già, trẻ em, làm bị thương 123 người. (Theo bài chuyên mục của phóng viên báo "Bắc Hoa Tiệp Báo" bằng tiếng Tây).

Ngày 15 tháng 7 năm 1900, khi quân Nga bắt đầu vượt biên giới tại Hải Lan Bào (tên Nga là Blagoveshchensk) bên bờ sông Hắc Long, quân Hoa có chút kháng cự, quân Nga liền một lúc thảm sát sạch 6.000 dân thường người Hoa bao gồm cả nam nữ già trẻ ở cả hai bờ, vứt xác xuống sông, khiến lòng sông bị tắc nghẽn. Về cuộc thảm sát này, Chính phủ Trung Quốc tuy không dám truy cứu, nhưng truyền thông Âu Mỹ lại đưa ra kháng nghị với Moscow, mà chính phủ Sa hoàng lại tuyên bố đó là do quân đóng ở biên viễn tự ý giết người, Sa hoàng "lực bất tòng tâm", đành thoái thác cho xong chuyện. (Xem sách của Arthur H. Smith, "Trung Quốc trong cơn chấn động" (China in Convulsion), xuất bản tại Edinburgh, Anh năm 1901, tập 2, trang 607). Sau đó, việc người Nga đốt giết ở khu vực "Giang Đông lục thập tứ đồn" và các thành phố khác, theo báo cáo của các bên, số người Hoa thương vong lên tới hơn hai mươi vạn, bài này cũng không thể kể chi tiết được. (Xem sách "Ghi chép sự việc lịch sử phong trào Nghĩa Hòa Đoàn" do Lý Văn Hải và cộng sự biên soạn, xuất bản tại Tế Nam năm 1986, trang 297).

Những điều ghi chép ở trên chỉ dựa trên báo cáo lẻ tẻ của quan viên và phóng viên phương Tây, không phải là sự phóng đại của người Hoa bị hại. Nếu lúc đó làm một cuộc điều tra nghiên cứu có hệ thống, thì sự tàn bạo của kẻ xâm lược còn khó mà kể xiết. Người viết kém cỏi, từng thử so sánh con số thương vong của hai bên trong các cuộc xung đột Trung - Ngoại cuối thời Thanh đầu thời Dân quốc, tỷ lệ thu được có thể nói đại khái là một nghìn một. Nói cách khác, trong xung đột Trung - Ngoại, nếu người phương Tây có một người thiệt mạng, thì dân thường vô tội người Hoa phải dùng một nghìn mạng để "bồi táng" (không phải là bồi thường). Như trong vụ án giáo hội Tào Châu, có hai giáo sĩ người Đức bị giết, người Đức lấy cớ xâm lược, số người Hoa bị giết, cộng thêm số người Hoa bị quan phủ giết dưới sự ép buộc của người phương Tây, cũng như thương vong do xung đột giữa dân và giáo gây ra, không dưới vài nghìn người. — Giả sử thuyết quỷ thần là có thể tin được, với hàng nghìn oan hồn chết oan, xuất hiện cùng lúc bên cạnh Chúa Jesus và trước mặt Thượng đế, cùng với linh hồn của hai vị thần phụ tử đạo tại Tào Châu, cùng nhau tố cáo nỗi oan ức, trong tình cảnh này, Thượng đế và Chúa Jesus biết chọn bên nào đây?

Không may là, những người phương Tây chết oan trong tình huống tương tự thường được vang danh thiên hạ, lưu danh hậu thế; nhưng hàng nghìn người Hoa bao gồm cả phụ nữ trẻ em chết cùng họ, thì cái chết của họ còn không bằng cả côn trùng. Stalin từng nói: "Chết một người là chuyện bi thảm; chết một triệu người chỉ là con số thống kê". Trong cái năm Canh Tý đó, chết bất cứ một người phương Tây nào, đều là "chuyện bi thảm" kinh thiên động địa; còn chết hàng vạn người Hoa, thậm chí đến cả "con số thống kê" cũng không có. Nhưng người Trung Quốc suy cho cùng không phải là một dân tộc tê liệt. Trong tiếng khóc của hàng nghìn gia đình góa phụ cô nhi đội khăn tang, những nam nhi có chút lương tri và huyết tính, đều sẽ rút đao đứng dậy liều mạng với kẻ địch, đây gọi là "dân phẫn". Khi toàn thể nhân dân cả nước cảm thấy đất nước sắp mất đến nơi, đều muốn liều mạng đánh một trận với kẻ xâm lược, đây gọi là "dân khí". Luồng dân khí này, thế hệ người viết đây trong những ngày "Kháng chiến 8 năm", đều là tự mình tham gia, tự mình trải nghiệm. Nói thật lòng, kháng chiến 8 năm chính là cuộc chiến mà nhân dân cả nước năm đó đã dùng thân thể máu thịt, liều mạng giằng co với lũ giặc xâm lược hung bạo, liều mạng mà vượt qua.

Bạn hữu ơi, vào cái năm Canh Tý đó, khi tám nước xâm lược, cảm giác đất nước sắp mất của đồng bào cả nước thực sự gấp nhiều lần so với một kẻ địch đơn độc đến trước thềm kháng chiến, nhất là ở Sơn Đông và Đông Bắc là nơi tình thế cấp bách nhất. Cho nên hai vùng này dân khí hăng hái nhất, Nghĩa Hòa Đoàn cũng lớn mạnh nhanh nhất. Dục Hiền, vị quan địa phương có thói quen giết chóc này, ông ta cũng cảm nhận sâu sắc luồng dân phẫn đồng lòng chống địch này, mà cảm thấy "dân có thể dùng". Ông ta cảm thấy thay vì giết dân nịnh Tây, chi bằng "dùng" dân để trừ giáo diệt Tây? Tâm thái này của Dục Hiền, thực ra cũng giống hệt tâm thái của đám tiểu quý tộc người Mãn vô tri, đột nhiên nắm quyền sau Mậu Tuất, đứng đầu là Từ Hi Thái hậu. Họ chỉ biết dân khí có thể dùng, muốn "dùng" nó để "phù Thanh". Họ đâu biết triều đình thối nát sau Giáp Ngọ, Mậu Tuất đã là một "A Đẩu" không thể "phù" nổi? Dùng nó để "diệt Tây", thì Tây há lại là thứ mà đám đồ đệ khí công "đao thương bất nhập" có thể "diệt" được?

Đối với dân khí, chỉ biết nó có mà không biết cách dùng; kích động dân khí rồi, lại không có chốt an toàn để bảo đảm an toàn, thì không nổ tung mới là lạ. Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn cũng chính là một trong vô số vụ nổ nồi hơi trong lịch sử Trung Quốc cận đại.

2.2 Chỉ có thể tạo phản, không thể bảo hoàng

Hơn nữa, Dục Hiền suy cho cùng là một gã mãng phu không xuất thân từ khoa bảng, chỉ quen với việc giết chóc. Chơi cờ không nhìn bước thứ hai; làm chính trị không suy nghĩ ba lần, cho nên nguyên tắc "Đoàn nên vỗ, Phỉ phải diệt" của ông ta, áp dụng vào cũng đầy rẫy sơ hở.

Sơn Đông lúc đó đang ở trong thời kỳ Hoàng Cân, Xích Mi của giai đoạn cuối triều đại. Dân đói khắp nơi, đạo phỉ đầy rẫy, tà giáo tràn lan. Biện pháp ban đầu của Dục Hiền là dùng giết chóc để chặn loạn. Nhưng dù ông ta có là đồ tể hiếu sát — ông ta có kỷ lục một tháng giết năm trăm người, một nhiệm kỳ giết năm nghìn người — thì cũng không giết hết nổi. Cuối cùng chuyển từ giết sang vỗ. Biện pháp vỗ của ông ta là hóa nhỏ thành lớn, chiêu nạp phỉ vào đoàn (dân đoàn). Ông ta dung túng, thậm chí ám thị, cho đến thẳng thắn khuyến khích và công nhận, rồi phát xuống đại kỳ chữ "Dục", để những tà giáo lớn có nhiều đồ đệ, có thể hô mưa gọi gió, thôn tính những tà giáo nhỏ chỉ có khí công cấp thấp, khả năng tổ chức thiếu sót, mà vàng thau lẫn lộn, quy về một cái tên, chỉnh đốn trang phục, thống nhất gọi là "Nghĩa Hòa Đoàn", để biểu thị các tổ chức này là dân đoàn tư nhân do Nha môn Tuần phủ của ông ta công nhận.

Phương pháp lấy lớn ăn nhỏ, hóa nhỏ thành lớn, tổ chức và chỉ huy thống nhất nông dân khởi nghĩa này, vốn không phải do Dục Hiền phát minh — đó là quốc bảo của chúng ta. Thử lật lại lịch sử khởi nghĩa nông dân các triều đại nước ta, hãy nhìn Trần Thắng, Ngô Quảng, Xích Mi, Hoàng Cân, Hoàng Sào, Chu Nguyên Chương, Trương Hiến Trung, Lý Tự Thành, Hồng, Dương cho đến sự trưởng thành và lớn mạnh của Hồng quân, Bát Lộ Quân, Tân Tứ Quân mà chúng ta tận mắt chứng kiến, đều là mạch lạc kế thừa. Nhưng điều Dục Hiền làm có một điểm cơ bản khác với tình huống trên. Các đại gia kể trên đều là làm cách mạng, tạo phản, lấy "đánh thiên hạ" làm hiệu triệu. Mục đích của Dục Hiền khi thống nhất tổ chức họ lại chính là "chiêu an", là "bảo thiên hạ" cho triều đại Đại Thanh. Như vậy thì thành ra ôm củi cứu lửa rồi.

Thứ nhất, Dục Hiền không thể thực sự biến "Nghĩa Hòa Đoàn" thành "dân đoàn". Đại quân tạo phản của khởi nghĩa nông dân, "kéo bè kéo cánh" càng lớn càng tốt; dung lượng của dân đoàn do quan lập thì có hạn. Hơn nữa, tạo phản đánh thiên hạ làm cách mạng là hành vi của nghĩa sĩ xả dân phẫn, chủ chính nghĩa, sĩ khí cực cao. Bảo vệ triều đại thối nát, giúp ác làm càn, thì nghĩa sĩ thoái lui, trí giả không làm. Cho nên phong trào Nghĩa Hòa Đoàn ở Sơn Đông trước sau không thể đi vào quỹ đạo. Nó không phải là một phong trào yêu nước của quần chúng đường hoàng chính chính, mà là một phong trào công nông binh, lấy đốt hương niệm chú, hoặc hỏi các sư phụ khí công có "công năng đặc dị" làm chủ đạo, cuối cùng đi vào đường tà. — Nó thiếu một đảng cách mạng "vĩ đại, quang vinh, chính xác" và trưởng thành hướng dẫn và hoạch định từ bên trong, cho nên khi nó giở trò "phù Thanh diệt Tây", "đốt nhà thờ, giết giáo sĩ", liền biến thành đập phá cướp bóc kiểu Hồng Vệ Binh, loạn xà ngầu cả lên. Nhưng Hồng Vệ Binh suy cho cùng vẫn phải nghe theo "chỉ thị tối cao" của một kẻ mưu mô thâm sâu, cũng có thể nói là lão gian cự hoạt: cuối cùng dưới sự bao vây của quân cảnh, rút cờ im hơi, đi về nông thôn hạ phóng học tập. Nghĩa Hòa Đoàn không có chỉ thị tối cao, đến khi quân cảnh cũng lũ lượt vào Đoàn, ngay cả "Lão Phật gia" cũng mất quyền kiểm soát, khiến nó thực sự biến thành "Quyền phỉ làm loạn". Phát triển đến mức này, ngay cả lão Thái hậu cũng chỉ đành vứt bỏ "giày đế chậu", búi tóc "bà bà", cải trang thành phụ nữ nông thôn, bỏ chạy mất dạng. "Quyền phỉ tạo phản" (boxer rebellion) thì chỉ có thể dựa vào binh lính phương Tây để "trợ tiễu". — "Quyền phỉ tạo phản" vốn là lời lẽ ngoại giao của Lý Hồng Chương để đùn đẩy trách nhiệm chiến phạm cho Từ Hi (xem phần sau).

Cho nên nguyên tắc "Phỉ phải diệt" của Dục Hiền cũng xảy ra vấn đề lớn. Ông ta không biết "Phỉ" là hóa thân của dân đói. Dân đói khi bị "diệt" đến đường cùng, liền vào "Đoàn" để chịu "vỗ". Sau khi chịu vỗ rồi vẫn không có cơm ăn, thì lại tiếp tục làm phỉ, cuối cùng vàng thau khó phân, đoàn và phỉ cùng tồn tại. Thêm vào đó, Dục Tuần phủ có thành kiến với giáo dân, lại không có kinh nghiệm xử lý ngoại vụ, không biết sự đáng sợ của người phương Tây; mà giáo dân, giáo sĩ với Công sứ phương Tây lại cậy mạnh bắt nạt. Trong các vụ xung đột giữa dân và giáo, dù chuyện lớn hay chuyện nhỏ, thường thường đều phải phiền đến các "Giám mục" ngang hàng với Tổng đốc, Tuần phủ, thậm chí "Công sứ" cao hơn nữa (trong văn thư gửi Trung Quốc tự xưng là "Bản đại thần"), đến kháng nghị, đe dọa triều đình và chính quyền địa phương Trung Quốc. Làm cho chính quyền Trung Quốc phiền không chịu nổi. Chỉ tính riêng các vụ án giáo hội, hồ sơ tại nha môn Tuần phủ đã chất cao như núi (hồ sơ gốc đến nay vẫn còn đầy giỏ đầy sọt), bận không xuể. Dục Hiền nổi giận liền thẳng thừng bảo quan lại phủ huyện thuộc quyền, coi các vụ giáo dân cáo buộc, giáo sĩ kháng nghị như "gió thoảng bên tai", "coi như giấy vụn". (Xem sách của Lý Hoành Sinh "Dục Hiền và Nghĩa Hòa Đoàn Sơn Đông" và vô số tài liệu lịch sử sơ cấp, thứ cấp khác).

Nhưng Dục Hiền không hề phớt lờ sự khác biệt giữa "Đoàn" và "Phỉ" trong tiêu chuẩn của mình. Trong Nghĩa Hòa Đoàn, nếu có phần tử bất hảo giết người, bắt cóc giáo dân, ông ta cũng trị tội, tàn sát hàng loạt. Thực tế, đại sư huynh nổi tiếng nhất thời kỳ đầu của Nghĩa Hòa Đoàn ở Sơn Đông là Chu Hồng Đăng, và hòa thượng Bản Minh đầy mình khí công, chính là vì giết oan giáo dân, cướp đoạt tài vật mà bị Dục Hiền bắt giết. — Một số nhà sử học hậu thế đối với sự thật chưa nghiên cứu sâu, lại đem cái chết của Chu Hồng Đăng và Bản Minh đổ lên đầu Viên Thế Khải, thực là nhầm lẫn. Nhưng Dục Hiền đã có những chỉ thị kiểu như "gió thoảng bên tai", "coi như giấy vụn", thì phỉ cướp bóc giáo dân nhiều; quan lại cấp dưới thỉnh thoảng dung túng, cũng là sự thật. Như vậy thì phải gây ra sự kháng nghị nghiêm trọng từ phía người phương Tây rồi. Quả nhiên vào mùa đông năm 1899, Công sứ Mỹ Edwin H. Conger liền kháng nghị liên tục với Tổng lý Nha môn Bắc Kinh, yêu cầu Chính phủ Trung Quốc cách chức Dục Hiền. Tổng lý Nha môn không dám đắc tội với Conger, liền vào ngày 5 tháng 12 năm đó tâu xin Thái hậu "bãi chức" Dục Hiền, lấy Công bộ Hữu thị lang Viên Thế Khải tạm quyền Tuần phủ Sơn Đông, và dẫn đội Tân Kiến Lục Quân 11.000 người của mình vào Sơn Đông trấn an. Dục đi Viên đến, phong trào Nghĩa Hòa Đoàn liền bước vào giai đoạn mới, từ Sơn Đông chuyển vào Trực Lệ (nay là tỉnh Hà Bắc) và khu vực Kinh - Tân.

2.3 Hai mặt đối lập của Dục Hiền và Viên Thế Khải

Dục Hiền vốn là sủng thần của Từ Hi, những việc làm của ông ta ở Sơn Đông đều được Thái hậu tán thưởng, nay chịu sự ép buộc của người phương Tây mà mất chức, Từ Hi cũng cảm thấy bất bình thay cho ông ta. Cho nên khi Dục Hiền phụng chỉ về kinh bái kiến, Thái hậu còn ban thưởng chữ "Phúc" do chính tay bà viết để khích lệ, và ngay lập tức điều sang làm Tuần phủ Sơn Tây. Dục Hiền đã chịu khí hậm hực từ đám người phương Tây này, lại được Thái hậu coi trọng, ông ta vừa đến Sơn Tây liền thực sự không còn kiêng dè gì nữa mà bắt tay vào trừ giáo diệt Tây, thậm chí không tiếc tự tay cầm đao đi chém đầu người phương Tây. Nhưng lúc này, Viên Thế Khải người tiếp nhận chức vụ thay Dục Hiền ở Sơn Đông, phong cách lại chính là mặt đối lập của Dục Hiền.

Viên Thế Khải là một quan lại già dặn và tháo vát hơn Dục Hiền nhiều. Trước chiến tranh Giáp Ngọ, ông ta đã có hơn mười năm kinh nghiệm làm ngoại vụ ở Triều Tiên. Nay dù nắm trong tay trọng binh, ông ta biết người phương Tây là không đắc tội được. Vì mấy chuyện vặt vãnh như truyền giáo mà đắc tội người phương Tây, thì lại càng được không bù mất, cũng không cần thiết. Hơn nữa dân chúng Nghĩa Hòa ở Sơn Đông cũng không chỉ là chống giáo, gây rối giáo vụ đơn thuần, họ là đám quần chúng thiển cận hễ gặp phương Tây là chống. "Tân Kiến Lục Quân" do Viên Thế Khải thống lĩnh là đội ngũ vũ trang hiện đại hóa duy nhất của Trung Quốc thời đó, trong mắt người đương thời cũng là một đội quân phương Tây — mặc quân phục Tây, tập luyện theo kiểu Tây, thổi kèn Tây, dùng súng Tây, hút thuốc lá Tây, dùng dầu Tây, thắp đèn Tây... không thứ gì là không Tây. Nay còn lo không xong việc phù Thanh học Tây, làm sao có thể hễ gặp phương Tây là diệt sạch được? Nhưng lúc đó quần chúng công nông binh trong tỉnh Sơn Đông, dưới sự kích thích của người phương Tây và giáo dân, và sự khuyến khích ngầm của ba vị tuần phủ Lý Bỉnh Hành, Trương Nhữ Mai, Dục Hiền, không những phản đối xây đường sắt, mở hầm mỏ, lập trường học, mở báo quán, mà còn muốn đập phá hải quan, nhổ cột điện, phong tỏa bưu cục... Cho nên Viên Thế Khải vừa đến là phải xoay chuyển hành vi quần chúng lạc hậu phản động này. Viên Thế Khải đặc biệt cho rằng sự mê tín vẽ bùa niệm chú, đao thương bất nhập của quyền dân Nghĩa Hòa là tà giáo mê hoặc quần chúng, tuyệt đối không thể phù Thanh diệt Tây. Vì vậy đối với "Quyền phỉ Nghĩa Hòa", ông ta chủ trương trấn áp toàn diện. Lúc này trong quân của ông ta, người anh ruột Viên Thế Đôn đang giữ chức "Doanh quan" với hàm Hậu bổ Tri phủ, ý chí tiêu diệt "Quyền phỉ" của ông ta xem ra còn tích cực hơn cả người em. Cho nên khi hai anh em ông ta dẫn quân vào Sơn Đông mùa đông năm 1899, Thế Đôn theo lệnh của em trai, mở cuộc tàn sát Nghĩa Hòa Đoàn dân, thực sự cạo sạch. Sau đó không lâu, Nghĩa Hòa Đoàn ở Sơn Đông đã bị Viên Thế Khải thanh trừ.

2.4 Từ Hi Thái hậu cũng có một "Tứ nhân bang"

Nhưng hành vi của anh em nhà Viên ở Sơn Đông lại đi ngược lại với khí hậu chính trị tại Bắc Kinh lúc bấy giờ. — Lúc này quyền quyết sách cao nhất của triều đình Mãn Thanh nằm trong tay một nhóm nhỏ vương công quý tộc người Mãn dưới sự bao che của Từ Hi. Đặc biệt là bốn anh em hoàng tộc cận chi và tông thất thuộc thế hệ chữ "Tái": Tái Liêm, Tái Y, Tái Lan, Tái Huân và những người bạn thân cận của họ càng là trọng tâm của vòng quyền lực này. Họ dựa vào dây mơ rễ má quyền lực vô biên của Tây Thái hậu, nắm giữ triều chính. Với đầu óc ngu dốt nhất, thủ đoạn hạ lưu nhất, vì mục đích ích kỷ nhất, lợi dụng một tổ chức quần chúng cơ sở xã hội thích bạo động nhất là "Nghĩa Hòa Đoàn" để "phù Thanh diệt Tây", cướp đoạt chính quyền. Hành vi cướp quyền này của họ, so với một nhóm nhỏ quý tộc vô sản do Mao Trạch Đông và "Lâm Tứ" bày ra ở Bắc Kinh 66 năm sau, muốn lợi dụng "Hồng Vệ Binh" thích đập phá cướp bóc để "hưng vô diệt tư", cướp quyền chuyên chính, quả là trước sau soi rọi, lịch sử tái diễn, giống hệt nhau.

Tái Liêm, Tái Y, Tái Lan ba anh em vốn là con trai của Đôn Thân vương Dịch Lượng. Dịch Lượng là con trai thứ năm của Hoàng đế Đạo Quang, chỉ kém người anh khác mẹ là Hoàng đế Hàm Phong Dịch Trữ sáu ngày. Sau khi Dịch Lượng chết năm 1889, Tái Liêm tập tước Đôn Quận vương; còn Tái Y do thừa kế cho một người chú là Thụy Thân vương Dịch Chí chết sớm không có con, cũng vào lễ mừng thọ sáu mươi của Từ Hi năm 1894 đã tập tước trở thành "Thụy Quận vương". Không ngờ chữ "Thụy" bị thư lại viết nhầm thành chữ "Đoan" trên thánh chỉ, sai thì sai luôn, ông ta liền biến thành "Đoan Vương" quyền khuynh nhất thời vào năm Canh Tý.

"Phụ chú" Thụy Vương mà Tái Y thừa kế là Dịch Chí hay Dịch Trí. "Thanh sử cảo" và sách "Danh nhân thời Thanh" tiếng Anh có ghi chép khác nhau, xin chờ khảo cứu thêm.

Quyền thế của Đoan Vương không chỉ ở việc thừa kế cha và chú, ông ta còn có "quan hệ dây mơ rễ má" với Tây Thái hậu, và kiêm nhiệm Tổng binh (Sư đoàn trưởng) Hổ Thần Doanh của cấm vệ quân — vợ ông ta là con gái của Quế Tường, em trai Tây Thái hậu, cho nên bà ta cũng là chị em con cô con cậu của Hoàng đế Tái Điềm (Quang Tự). — Quang Tự là do em gái Tây Thái hậu sinh ra. Cho nên sau Mậu Tuất chính biến, khi Tây hậu muốn "phế" Quang Tự, lập một Hoàng đế mới, bà ta cuối cùng đã chọn con trai của người cháu gái cận huyết, cũng là con trai của Tái Y là Phổ Nghi, lúc đó chín tuổi. Phổ Nghi cuối cùng được sách phong làm "Đại A Ca" (xem chi tiết ở phần sau). Với tư cách là cha của Đại A Ca, thì quyền lực của Đoan Vương Tái Y lại càng lên cao.

Nghe nói để tăng cường quyền lực cho nhóm bốn anh em họ Tái đứng đầu là Tái Y, lão Thái hậu còn ban tặng một thanh "Thượng phương bảo kiếm", giao cho hai anh em Tái Liêm, Tái Y cầm giữ. Khiến hai người họ trong triều có quyền chuyên sát "tiên trảm hậu tấu". — Câu chuyện "Thượng phương bảo kiếm" này, thời bấy giờ từng truyền khắp trong và ngoài nước. Tờ "Tự Lâm Tây Báo" (North-China Daily News) tiếng Anh (số ngày 31 tháng 10 năm 1898) cũng có ghi chép vẽ vời sống động. Nhưng thực hư thế nào, người viết vì không thể tra cứu kỹ mật tàng cung đình nhà Thanh, đành tạm thời nghi vấn, chờ bậc cao minh bổ chính.

Trên đây là câu chuyện của đại ca, nhị ca trong Tứ nhân bang. Người thứ ba là Tái Lan lúc đó cũng giữ chức "Phụ quốc công". Trong năm tước vị "Công, Hầu, Bá, Tử, Nam" đó, Tăng Quốc Phiên công cao không thưởng cũng chỉ được phong "Hầu"; Lý Hồng Chương khi còn sống chỉ là "Bá tước"; Lưu Minh Truyền chỉ là "Nhất đẳng Nam", đều đã hiển quý phi thường. Tứ nhân bang thân là "Vương", "Công", quyền lực địa vị khỏi phải bàn, huống chi họ lại nắm trong tay binh quyền, khi quyền dân vào kinh Tái Lan cũng giữ chức Hữu dực Tổng binh của cấm quân.

Còn về Tái Huân, ông ta tuy không phải là "cận chi" hoàng tộc, nhưng lại là một "Trang Thân vương" thế tập võng thế vô cùng tôn quý. Trang Thân vương là một trong những Thân vương thế tập võng thế, huân thần cận chi của Đại Thanh từ đầu đời Khang Hy. Tái Huân lúc này đã là Trang Thân vương đời thứ chín. Gia thế của ông ta ở trong thành Bắc Kinh đã hiển hách hơn hai trăm năm. Tái Huân lúc này thì thống lĩnh cấm quân, nắm giữ Bộ quân nha môn, cùng với ba người anh em tộc huynh đệ kể trên thông đồng một giuộc, quả thực là quyền khuynh triều dã.

Tóm lại, đám con cháu thân quý họ Tái này, đều là một đám công tử bột được nuông chiều từ bé, chí lớn tài hèn, giáo dục kém cỏi, không hiểu thế tình, lại không có kinh nghiệm quân chính. Loại công tử bột quý tộc này thời đó ở Bắc Kinh đâu đâu cũng có. Tứ nhân bang nhỏ bé của họ chẳng qua chỉ là một góc của tảng băng trôi mà thôi. Nhưng họ lại là hạt nhân quyền lực xoay quanh Thái hậu, hình thành nên một nhóm "hiệp thiên tử dĩ lệnh chư hầu". Họ không chỉ là nhân vật quyết sách, đồng thời cũng là người chấp hành chính sách — là sĩ quan đương chức, đại thần và quan lại tham dự ngoại giao thực tế. Để hiểu rõ tác dụng của họ trong chính phủ, hãy để tôi tóm lược cấu trúc quyền lực của chính phủ Mãn Thanh thời bấy giờ.

2.5 Cấu trúc quyền lực của chính phủ Thanh thời quyền loạn

Một, "Hai cung" ở đỉnh cao cực quyền

Từ Hi Hoàng thái hậu

Hoàng đế Quang Tự Tái Điềm

※ Theo chế độ nhà Thanh, Hoàng đế phải có quyền lực cao nhất. Nhưng lúc này số phận của Hoàng đế Quang Tự thực sự không khác gì "Trương thiếu soái" sống trong cảnh giam cầm sau này; còn quyền lực của Thái hậu thì vượt qua cả "Chủ tịch Mao" có quyền quyết sách cao nhất và quyền phủ quyết cuối cùng.

Hai, "Quân cơ xứ" và "Quân cơ đại thần" - cơ quan quyết sách cao nhất triều đình

Lễ Thân vương Thế Đạc (vị lão quý tộc người Mãn ôn hòa và không có nhiều chủ kiến)

Vinh Lộc (lãnh tụ phái quan lại bảo thủ nhất thời Mậu Tuất chính biến; nhưng khi biến loạn quyền Nghĩa Hòa Đoàn thời Canh Tý lại là người Mãn mạnh mẽ, thủ lĩnh đứng sau màn của phái khai minh)

Cương Nghị (quan lại lão thành người Mãn bảo thủ, cay nghiệt mà không thông thời vụ, chủ trương trọng dụng Nghĩa Hòa Đoàn)

Vương Văn Thiều (vị Đại học sĩ người Hán già nua mà tương đối thông đạt)

Khải Tú (sủng thần người Mãn tháo vát mà không thông thời vụ, ngoại tình)

Triệu Thư Kiều (quan lại lão thành người Hán bảo thủ, không thông thời vụ, ngoại tình)

Đoan Quận vương Tái Y (quý tộc người Mãn được Tây hậu sủng tín nhất, cha của "Đại A Ca", lãnh tụ phái bảo thủ dù đang trên đường tây thú vẫn được thăng tiến)

Lộc Truyền Lâm (đại thần người Hán không có nhiều chủ kiến)

※ Xem "Thanh sử cảo - Quân cơ đại thần niên biểu" và "Liệt truyện"

Ba, Nơi đóng quân quyền của Kỳ Phụ và Bắc Dương

◎ Hệ thống quân trấn giữ kinh kỳ (Cấm vệ quân):

Thống lĩnh Bộ quân doanh Trang Thân vương Tái Huân kiêm nhiệm (nắm giữ chìa khóa chín cửa thành kinh sư, thống soái cờ quân bộ, giữ gìn kinh ấp, Tổng binh phụ tá)

Tổng binh Hổ Thần Doanh Đoan Quận vương Tái Y kiêm nhiệm (nắm giữ quan binh bản doanh để phòng hộ tùng, xe giá săn bắn đi trước)

Tổng binh Thần Cơ Doanh Phụ quốc công Tái Lan kiêm nhiệm (chức trách tương tự như trên)

◎ Hệ thống quốc phòng quân Bắc Dương:

Tổng tiết chế Vũ Vệ năm quân - Quân cơ đại thần Vinh Lộc

Tổng thống Vũ Vệ trung quân - Vinh Lộc kiêm nhiệm (đội quân tinh nhuệ huấn luyện kiểu Đức, đóng ở ngoại ô phía nam kinh sư)

Vũ Vệ tiền quân - Nhiếp Sĩ Thành (tinh nhuệ kiểu Nhật, đóng ở Thiên Tân)

Vũ Vệ hậu quân - Đổng Phúc Tường (cải biên từ quân địa phương Cam Túc kiểu cũ, đóng trong nội thành Bắc Kinh)

Vũ Vệ tả quân - Tống Khánh (cải biên từ Nghị quân kiểu cũ, đóng vùng Sơn Hải Quan)

Vũ Vệ hữu quân - Viên Thế Khải (tân quân kiểu Đức đóng ở Tiểu Trạm, sau vào Sơn Đông)

※ Xem sách tiếng Anh "Danh nhân thời Thanh", "Thanh sử - Binh chí", "Nghĩa Hòa Đoàn hồ sơ sử liệu - Chính tục biên", tờ "Tự Lâm Tây Báo" tiếng Anh và bản truyện các tướng lĩnh.

Bốn, "Tổng lý các quốc thông thương sự vụ nha môn" (gọi tắt là "Tổng lý nha môn" hoặc "Tổng thự") và "Sự vụ đại thần" nắm giữ quyền ngoại giao và hành chính

Đoan Quận vương Tái Y (ngày 10 tháng 6 năm 1900 nhậm chức Tổng quản đại thần)

Khánh Thân vương Dịch Khuông (nguyên lão người Mãn tranh quyền với Vinh Lộc mà thông hiểu chút ít ngoại tình)

Khải Tú (xem bảng Quân cơ xứ, ngày 10 tháng 6 theo Đoan Vương vào Tổng thự)

Phổ Hưng (tông thất người Mãn, theo Đoan Vương đến Tổng thự, không thông ngoại tình)

Na Đồng (nguyên quan Thị lang các bộ, theo Đoan Vương vào Tổng thự, người Mãn, không thông ngoại tình)

Quế Xuân (Tam phẩm nhạc đường Tổng thự hành tẩu, người Mãn)

Dụ Canh (nguyên Thái bộc tự thiếu khanh, người Mãn)

Sùng Lễ (quan Hiệp biện Đại học sĩ, người Mãn)

Liêu Thọ Hằng (nguyên Lễ bộ Thị lang, Quân cơ xứ hành tẩu, đại thần dự bị người Hán)

Triệu Thư Kiều (xem bảng Quân cơ xứ phần trên)

Ngô Đình Phân (quan Hộ bộ Hữu thị lang, người Hán)

Liên Nguyên (Nội các Học sĩ, người Mãn, tấu bảo Hoàng đế, bị giết)

Viên Xưởng (Quang lộc tự khanh, người Hán, phản đối tuyên chiến, chủ trương tiễu Nghĩa Hòa Đoàn, bị giết)

Từ Dụng Nghi (Binh bộ Thượng thư, người Hán, phản chiến, chủ tiễu, bị giết)

Hứa Cảnh Trừng (nguyên Công sứ tại Nga, Đức và các nước khác, phản chiến, chủ tiễu, bị giết)

※ Xem sách Quách Đình Dĩ soạn "Nhật ký sự việc lịch sử Trung Quốc cận đại" bảng phụ, xem thêm bản truyện các đại thần trong "Thanh sử".

Năm, Tổng đốc, Tuần phủ, Tướng quân chính yếu Nam Bắc Dương

Trực Lệ Tổng đốc, Bắc Dương đại thần Dụ Lộc (người Mãn, xuất thân thân quý, tuổi trẻ đắc chí, về già thì quan sát thừa chỉ, đối với Nghĩa Hòa Đoàn ban đầu chủ tiễu, sau chủ vỗ, binh bại tự sát)

Sơn Tây Tuần phủ Dục Hiền (kỳ tịch, vỗ Đoàn, diệt Tây, thù giáo, không thông ngoại tình, binh bại chịu án)

Thiểm Tây Tuần phủ Đoan Phương (người Mãn, trong thời gian Tây thú, hộ giá có công)

Hắc Long Giang Tướng quân Thọ Sơn (người Mãn, kháng Nga binh bại tự sát)

Thịnh Kinh Tướng quân Tăng Kỳ (người Mãn, đóng ở Phụng Thiên, tức Thẩm Dương ngày nay, từng chiêu an Trương Tác Lâm)

Sơn Đông Tuần phủ Viên Thế Khải (người Hán, lực tiễu Nghĩa Hòa Đoàn, đuổi quyền dân từ Sơn Đông vào Trực Lệ)

Lưỡng Giang Tổng đốc, Nam Dương đại thần Lưu Khôn Nhất (người Hán, đóng ở Nam Kinh, chủ trương tiễu diệt Nghĩa Hòa Đoàn, phản đối tuyên chiến, ký hiệp ước với liệt cường, Đông Nam hỗ bảo)

Hồ Quảng Tổng đốc Trương Chi Động (người Hán, đóng ở Vũ Xương, tiễu Đoàn, phản chiến, Đông Nam hỗ bảo)

Lưỡng Quảng Tổng đốc Lý Hồng Chương (người Hán, đóng ở Quảng Châu, chủ trương trước hết ổn định nội bộ, sau nghị hòa)

Mân Chiết Tổng đốc Hứa Ứng Quỳ (người Hán, đóng ở Phúc Châu, chủ trương Đông Nam hỗ bảo)

An Huy Tuần phủ Vương Chi Xuân (người Hán, đóng ở An Khánh, chủ trương Đông Nam hỗ bảo)

Chiết Giang Tuần phủ Dư Liên Nguyên (thự lý, người Hán, đóng ở Hàng Châu, chủ trương Đông Nam hỗ bảo)

Giang Tô Tuần phủ Tùng Thọ (người Mãn, đóng ở Tô Châu, theo Lưu Khôn Nhất chủ trương Đông Nam hỗ bảo)

※ Xem "Thanh sử - Cương thần biểu" và "Liệt truyện".

2.6 Tứ nhân bang chí tại cướp quyền, Lão Thái hậu có âm mưu riêng

Độc giả nếu xem lướt qua năm bảng trên, lập tức sẽ thấy đặc điểm chính trị thời Canh Tý:

Thứ nhất chính là tình thế chính trị phân trị mà không đối lập giữa trung ương và địa phương, bảo thủ và khai minh, Mãn Bắc và Hán Nam.

Quyền quyết sách và phủ quyết cao nhất trung ương nắm chặt trong tay một mình Từ Hi. Quyền sinh sát mà bà ta nắm giữ trong triều, vượt xa Tưởng Trung Chính và Mao Trạch Đông sau này. Nhưng Hoàng đế Quang Tự trong lòng bàn tay bà ta lúc đó, số phận tuy không bằng Trương thiếu soái, nhưng linh hồn chính trị này lại là đối tượng đồng tình thậm chí sùng bái của Hoa kiều hải ngoại dưới ảnh hưởng của Khang, Lương, của các quan cương thần người Hán nắm quyền cao chức trọng ở phương Nam, và của Công sứ các nước đóng tại Trung Quốc. Cho nên Quang Tự sau Mậu Tuất là cái gai trong mắt, là cái dằm trên lưng Từ Hi. Bà ta không phế bỏ ông vua con này, thì ăn không ngon, ngủ không yên. Vì vậy câu "Nó (chỉ Quang Tự) muốn mưu hại ta" sau Mậu Tuất đơn giản đã trở thành câu cửa miệng của bà ta, và cảm giác khủng bố này cũng khiến bà ta mắc phải "chứng hoang tưởng" (paranoia) về mặt tâm lý. Cho nên nhiệm vụ chính trị hàng đầu của bà ta lúc đó chính là "vấn đề phế lập".

Chế độ nhà Thanh chỉ có Hoàng thái hậu mới có thể "thính chính", còn Thái hoàng thái hậu thì không có đặc quyền này. Cho nên đối tượng phế lập đầu tiên của bà ta vốn là dùng con trai cả mười bốn tuổi Tái Chấn của Khánh Thân vương để thay thế Hoàng đế Quang Tự Tái Điềm ba mươi tuổi. Tin thăm dò này vừa ra, không chỉ Lưu Khôn Nhất và các quan đốc phủ người Hán phản đối, Quân cơ đại thần người Mãn là Vinh Lộc cũng bày tỏ dị nghị (Khánh Vương là đối thủ chính trị của Vinh), ngay cả bản thân cha con Khánh Vương cũng không muốn hầu hạ, mà quan trọng nhất là Công sứ Anh cũng công khai bày tỏ không ủng hộ, cuối cùng khiến âm mưu này tan thành mây khói.

Sau một năm chuẩn bị, Tây hậu lui bước chọn cách thứ hai, không làm trò phế lập nữa. Bà ta chọn con trai Phổ Tuấn của Đoan Quận vương Tái Y, vào ngày 24 tháng 12 năm Quang Tự thứ 26 (24 tháng 1 năm 1900) sách phong làm "Đại A Ca" (Hoàng thái tử), để thừa kế Mục Tông Hoàng đế (Đồng Trị). Nếu sự cản trở của các bên không lớn, bà ta rõ ràng vẫn muốn phế bỏ Quang Tự. Lần này bà ta quả nhiên nhận được sự ủng hộ nhất trí của thân quý người Mãn (bao gồm Vinh Lộc), trong số người Hán ngoài một ítthân thương (hợp tác, doanh nhân có thế lực) ở Thượng Hải, các quan cương thần cũng phần nhiều im lặng. Nhưng điều đáng tiếc là, sự kiện trọng đại "sách phong Hoàng thái tử" như vậy, Công sứ các nước tại Trung Quốc lại từ chối vào chúc mừng. Thứ mà Tây Thái hậu sợ nhất lúc này không phải là Hoa kiều hải ngoại do Khang, Lương lãnh đạo hay các quan đốc phủ người Hán, tất nhiên càng không phải là lãnh tụ đảng cách mạng Tôn Văn. Điều bà ta sợ nhất chính là Công sứ các nước liệt cường tại Trung Quốc. Bà ta cho rằng chỉ có họ mới thực sự có sức mạnh này để ép bà ta "quy chính", ép bà ta "nghỉ hưu"; thậm chí giở trò âm mưu quỷ kế, âm thầm giúp Quang Tự làm "cuộc đảo chính" (coup d'état) (như Đàm Tự Đồng đã hoạch định), giam cầm bà ta, thậm chí chém đầu bà ta.

Dưới sự chi phối của tâm lý "hoang tưởng" này, điều lão Thái hậu nghĩ ngày đêm mơ chính là làm sao gỡ bỏ mối đe dọa lớn nhất do những người phương Tây đáng sợ này (đặc biệt là Công sứ liệt cường tại Trung Quốc) gây ra cho bà ta. Trạng thái tâm lý tương tự cũng khiến hành vi của bà ta đi đến cực đoan khác (xin phép tôi thử dùng khoa học hành vi để giải thích lịch sử) — bà ta bắt đầu tin rằng chỉ có vòng tròn nhỏ có quan hệ huyết thống cận huyết với bà ta mới là trung thành nhất. Chỉ có sống trong vòng tròn nhỏ này, bà ta mới có cảm giác an toàn: mỗi đêm bà ta mới có thể ngủ ngon, không xảy ra ác mộng.

Bạn hữu ơi, bà già Diệp Hách Na Lạp bị bệnh tâm thần à? Không phải. Đó là trạng thái tâm lý chung của tất cả những kẻ độc tài cô độc! Không tin, bạn thử phân tích "hành vi" của Tưởng Trung Chính, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, thậm chí các lãnh tụ Lý Quang Diệu, Lý Đăng Huy mà xem, bạn sẽ biết lập luận khoa học không lừa dối mình. Còn về hành vi không khác nhau mấy của các lãnh tụ phương Tây vốn là nguồn gốc của lý luận, thì không cần phải nói nữa.

Từ Hi lúc tuổi già chính là rơi vào cái bẫy tâm lý học này mà không thể tự thoát ra được. Bà ta không những có vẻ hoang tưởng đối với tất cả người phương Tây, ngay cả Lý Hồng Chương và Vinh Lộc, những con chim ưng trung thành nhất làm việc cho bà ta cả đời, bà ta cũng không tin nữa. Bà ta đẩy Lý Hồng Chương xuống Quảng Châu làm "thự lý" Lưỡng Quảng Tổng đốc; ở Bắc Kinh, bà ta cũng xây dựng thêm một nhóm Tứ nhân bang của tổ chức tiểu thân quý để cướp quyền của Vinh Lộc, ép Vinh Lộc vào thế dựa tường. Đồng thời đối với đội quân tinh nhuệ "Vũ Vệ trung quân" do Vinh Lộc nắm giữ, bà ta cũng không tin, mà đẩy cả quân tạp nham mà Vinh Lộc cũng nắm được — "Cam quân" của Đổng Phúc Tường vào kinh thành, để phối hợp bảo vệ Kỳ Phụ cùng với "Cấm vệ quân" do Tái Huân, Tái Y, Tái Lan thống lĩnh, và dùng để kiềm chế đội quân chính quy của Vinh Lộc. Khi cần thiết, chính lão Thái hậu cũng có thể trực tiếp chỉ huy các quân, để làm một trận phù Thanh diệt Tây.

Còn sự trỗi dậy nhanh chóng của Tứ nhân bang họ Tái tất nhiên càng là kiệt tác của lão Thái hậu. Không cần nói cũng biết, hàng vạn quân Kỳ giữ gìn kinh sư đều nằm trong tay họ — theo tin tức tờ "Tự Lâm Tây Báo" tiếng Anh có được từ trong phủ Tăng Hầu (Tăng Kỷ Trạch, con trai Tăng Văn Chính công), lúc đó Hổ Thần Doanh do Tái Y trực tiếp chỉ huy có 1 vạn quân súng. Thuộc sự chỉ huy của Khánh Thân vương Dịch Khuông thì có tới hơn 5 vạn quân. Khánh Vương là đối thủ chính trị của Vinh Lộc mà ai cũng biết thời bấy giờ. Lực lượng vũ trang mà ông ta tiết chế có thể bao gồm Cửu môn Đề đốc của Tái Huân và toàn bộ Cam quân. Ngay cả Cương Nghị chuyên nắm quyền tài chính cũng có thể nắm giữ 1 vạn 2 nghìn quân súng. (Xem chuyên mục của báo đó ngày 16 tháng 5 năm 1900).

Hệ thống vệ thú này trong thời Quốc dân Đảng thuộc về Tư lệnh vệ thú thủ đô. Trong thời Mao Trạch Đông đó chính là bộ đội "8341". Ai nắm được lực lượng vũ trang này, ai ở thủ đô liền có quyền sinh sát. Cho nên Tây hậu và Tứ nhân bang của bà ta, sau này trong cơn giận dữ liền có thể lôi năm vị đại thần nói lời trái ý đi chém đầu ở Thái Thị Khẩu. Công sứ Đức Klemens von Ketteler cũng bị Chương kinh Ân Hải của Hổ Thần Doanh do Tái Y chỉ huy giết chết trên phố (xem chi tiết ở phần sau). Còn về hàng nghìn hàng trăm "giáo dân" và "Bạch Liên giáo" (bao gồm cả phụ nữ trẻ em) bị chém đầu ở quảng trường trước Trang Vương phủ, thì không cần phải bàn.

Đã có binh quyền, súng ống liền có thể xuất chính quyền. Từ tối ra sáng, hiệp thiên tử dĩ lệnh chư hầu, cơ quan quyết sách cao nhất là Quân cơ xứ cũng luôn nằm trong tay họ — Quân cơ đại thần vốn có quyền lực nhất là Vinh Lộc, vẫn luôn ở trong tình trạng "nghỉ bệnh", dưỡng già tại nhà. Xem (thư của Vinh Lộc gửi Tứ Xuyên Tổng đốc Khuê Tuấn), "Yếu lục" có trích lục, trang 13.)

Ngày 10 tháng 6 năm 1900 (Canh Tý), Đoan Vương Tái Y được phái vào "Tổng lý nha môn" làm Tổng quản sự vụ đại thần, ngay cả Khánh Thân vương cũng phải đứng sang một bên. (Xem "Thượng dụ" ngày 10 tháng 6 năm 1900, đăng trong "Sử liệu tục biên" tập 1, trang 596).

Quyền quân sự, chính trị, tài chính, ngoại giao đều tập trung vào tay một nhóm nhỏ thân quý người Mãn đứng đầu là Tây hậu, còn về cách nắm giữ chính sách phong trào "Nghĩa Hòa Đoàn", người khác càng không thể xen vào.

2.7 "Nghĩa Hòa Đoàn" và "Hồng Vệ Binh" soi rọi trước sau

Đại thể mà nói việc Từ Hi Thái hậu phù trì "Nghĩa Hòa Đoàn" và việc Chủ tịch Mao chơi đùa "Hồng Vệ Binh" 60 năm sau, quả là soi rọi trước sau, giống hệt nhau. Hai người họ tự cho rằng nắm được binh quyền chính quyền, đối với một phong trào quần chúng dân gian thì có thể phát có thể thu, cuối cùng thân quý kiêu ngạo, đại quyền rơi vào tay người khác, một phát khó thu, cuối cùng làm đến mức trời đất đảo lộn, toàn dân gặp họa, kết quả cũng không có gì khác biệt!

Từ Hi Thái hậu là nữ vương thống trị Đại Thanh đế quốc đến 48 năm dài. Trong lịch sử đế quốc Trung Hoa hai nghìn năm qua, ngoại trừ Khang Hy, Càn Long của triều đại bà ta và Vũ Đế thời Tây Hán, cũng không có nam chủ nào thống trị dài hơn bà ta. Cho nên bà ta tinh thông nghệ thuật thống trị. Bản lĩnh tung hoành hạp (hợp tung liên hoành) mà bà ta thể hiện trong chính phủ trung ương, có thể còn vượt trên cả hai ông Tưởng, Mao sau này, thời gian bà ta thống trị đại lục cũng là tổng cộng thời gian của hai ông Tưởng, Mao. Nhưng bà ta có một khuyết điểm cũng giống như hai ông Tưởng, Mao — bà ta không hiểu ngoại giao; nội giao thì thông thạo, ngoại giao thì ngoại đạo. Điều này không thể trách bà ta, vì chính phủ trung ương do bà ta chủ trì, cũng là chính phủ trung ương đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc có "Bộ Ngoại giao". Thời kỳ đầu gọi là "Tổng lý các quốc sự vụ nha môn", là sau khi liên quân Anh Pháp đốt phá Viên Minh Viên (1860) mới thành lập. Sau Tân Sửu điều ước (1901) đổi tên thành "Ngoại vụ bộ", dưới sự ép buộc của người phương Tây trở thành "Bộ đứng đầu nội các". Danh xưng bộ đứng đầu này mãi đến khi Chính phủ Quốc dân thành lập mới nhường chỗ cho "Bộ Nội chính" (thời Thanh gọi là "Lại bộ").

Bà chủ gia đình nữ này của chúng ta thời trẻ đã học thuộc lòng "Tam quốc diễn nghĩa" — có lẽ đều học từ các vở diễn của Kinh kịch. Nghe nói năm xưa khi Đa Nhĩ Cổn nhập quan, giáo trình chính trị của ông ta cũng là một cuốn (Tam quốc diễn nghĩa) được dịch sang "tiếng Thanh". Nhưng trong (Tam quốc diễn nghĩa) không thể học được ngoại giao quốc tế thế kỷ 19. Cho nên quyết sách ngoại giao thời kỳ đầu của Từ Hi đều dựa vào người chú chồng là Cung Thân vương Dịch Hân; thời kỳ sau thì dựa vào Bắc Dương đại thần Lý Hồng Chương. — Dịch Hân và Lý Hồng Chương hai người đều là xuất thân từ hàng ngũ ngoại giao, nhưng hai người họ đều không hổ danh là những nhà ngoại giao hạng nhất trong giới quốc tế thế kỷ 19. Sau khi Dịch Hân chết già năm 1898, Hồng Chương liền biến thành mưu chủ số một của Tây hậu trong ngoại giao. Đầu năm Canh Tý khi quyền loạn vừa mới nổi lên, lão Thái hậu không đáng làm nhất, không nên làm, không nên nghe lời gièm pha của thân quý mà đẩy Hồng Chương xuống Quảng Châu.

Lý Hồng Chương, chính là Chu Ân Lai của Từ Hi Thái hậu. Vào thời khắc mấu chốt này đem Chu Ân Lai đẩy xuống Quảng Châu làm "Bí thư tỉnh ủy", quyền quân chính ngoại giao Bắc Kinh rơi vào tay "Lâm Tứ" (Lâm Bưu và Tứ nhân bang). "Lâm Tứ" của Tây Thái hậu (Cương Nghị và bốn anh em nhà Tái Y) có quyền mà không biết, mức độ hoang đường và bạo ngược cũng không kém gì "Lâm Tứ" của Chủ tịch Mao. Bản lĩnh đốt giết cướp của "Nghĩa Hòa Đoàn" của bà ta và hành vi văn công võ vệ của "Hồng Vệ Binh" của Mao thị cũng giống hệt nhau. — Tóm lại, Từ Hi dùng thủ pháp chính trị cực kỳ cao minh để "an nội"; nhưng lại dùng đầu óc ngoại giao ngu xuẩn nhất để "nhương ngoại". Bà ta không những mù tịt về tình thế quốc tế, bà ta thậm chí ngay cả tin tức cơ bản nhất cũng không thể nắm bắt. Cuối cùng lại bị một tin tình báo giả làm vỡ mật (xem phần sau), liền hạ 12 đạo kim bài đến Quảng Châu tìm Chu Ân Lai của bà ta, mà Chu lại chậm chạp không về. Lão bà trong trạng thái tâm lý cuồng loạn, với hành vi phóng túng của mụ đàn bà thôn quê "Vương bà mắng gà", cùng với Tứ nhân bang, buông thả Nghĩa Hòa Đoàn để liều mạng với người phương Tây... treo giải giết sạch tất cả người phương Tây trên lãnh thổ Trung Quốc, và tuyên chiến với 11 nước cùng một lúc... Quậy phá như vậy, mà bà già này cuối cùng còn có thể toàn thây chuyển vào nhà tưởng niệm, cũng coi như là "mệnh lớn". Đây là chuyện về sau.

Bây giờ hãy xem Tứ nhân bang của bà ta làm loạn chính trị thế nào; Hồng Vệ Binh của bà ta đã lan tràn ra sao.

2.8 Thái hậu dương tiễu âm vỗ, Tổng đốc hậu vỗ tiên tiễu

Phần trước đã nói, Nghĩa Hòa Đoàn bị Viên Thế Khải đuổi đến Trực Lệ (nay là tỉnh Hà Bắc). Lúc mới đầu khi Nghĩa Hòa Đoàn lan tràn lên phía Bắc, chính sách xử lý quyền dân của Tây hậu vốn là nước đôi không quyết. Một mặt bà ta nghe lời khuyên nhủ của Dục Hiền "dân có thể dùng, Đoàn nên vỗ", muốn lợi dụng quyền dân để đuổi người phương Tây; mặt khác bà ta lại chột dạ sợ người phương Tây can thiệp, không dám công khai che chở quyền dân, vì vậy chính sách triều đình biến thành cục diện dương tiễu âm vỗ. Trong một loạt thượng dụ, triều đình liên tục khuyên bảo các quan cương thần nói rằng quyền hội sẽ có "sự phân biệt giữa thiện và ác". Đối với "đồ vô lại" đương nhiên nên tiễu trừ, nhưng đối với "dân lành an phận hoặc luyện kỹ nghệ để tự vệ thân gia, hoặc liên kết dân làng để cùng bảo vệ xóm làng, là nghĩa thủ vọng tương trợ". Cho nên quan phủ tiễu phỉ, chỉ có thể hỏi xem họ "có là phỉ hay không, có gây hấn hay không. Không kể họ có hội hay không, có giáo hay không". (Xem "Thượng dụ" ngày 11 tháng 1 năm 1900, ngày 11 tháng 12 âm lịch năm Quang Tự thứ 25, đăng trong "Nghĩa Hòa Đoàn hồ sơ sử liệu" tập thượng, trang 56.) Như vậy, triều đình liền công khai biểu thị dân gian tổ chức Đoàn là hợp pháp rồi.

Nhưng trước tháng 6 năm 1900, hai vị quan địa phương đứng mũi chịu sào đó: Tuần phủ Sơn Đông Viên Thế Khải và Tổng đốc Trực Lệ Dụ Lộc, đều một lòng chủ tiễu. Trong hai người, Viên Thế Khải đặc biệt kiên quyết. Phái cầm quyền triều đình không dám động nhẹ đến Viên. Vì giết gà dọa khỉ, liền gán cho anh trai Viên Thế Giao của Thế Khải tội "túng dũng nhiễu dân" để cách chức, và đuổi về quê quán.

Nhưng Viên Thế Khải không bị triều đình làm cho sợ hãi. Ông ta kháng sớ biện bạch rằng quyền hội "thường cướp đoạt tài vật cách xa hàng trăm dặm, không thể gọi là bảo đảm thân gia. Đốt phá bắt cóc, kháng quan cự binh, không thể gọi là không làm điều gian ác phạm tội. Cướp hại bình dân, quấy rối địa phương, không thể gọi là chuyên thù giáo Tây". Ông ta cho rằng đám người ác luyện tập tà thuật, không kể là hội hay Đoàn, tất sẽ gây họa lớn. Đoàn tư quan luyện (như biện pháp Dục Hiền đã tấu trình), tuyệt đối không thể làm. Cho nên ông ta chủ trương tiễu trừ triệt để. (Xem sách trước, trang 95)

Viên Thế Khải có gan gì mà dám trái chỉ kháng mệnh như vậy, vì Nghĩa Hòa Đoàn lúc bấy giờ đã làm loạn đến mức Công sứ 11 nước tại Trung Quốc liên hợp kháng nghị. Chết hai giáo sĩ người Đức đã làm đến mức Giao Áo không bảo toàn, cả nước hoang mang. Đêm giao thừa năm 1899, lại có một giáo sĩ người Anh là Brooks (Rev. S. M. Brooks) bị quyền dân giết ở Sơn Đông, há chẳng phải là đổ thêm dầu vào lửa? Cho nên Viên không dám chậm trễ. Liền trấn áp toàn diện Nghĩa Hòa Đoàn. Thêm vào đó ông ta nắm trong tay trọng binh, tướng ở ngoài, lệnh vua có thể không nhận. Quan trọng nhất vẫn là ông ta có khí đồng thanh với ba vị đốc ở Hoa Nam lực chủ tiễu phỉ. Ông ta không nhận lệnh, triều đình cũng không làm gì được ông ta. Tất nhiên trong hành động tiễu quyền, ông ta cũng nể mặt phái cầm quyền trong triều, nói rằng những kẻ ông ta tiễu đều là "ngụy Nghĩa Hòa Đoàn" do đạo phỉ mạo danh, không phải là "Nghĩa Hòa Đoàn thật" chân chính yêu nước phản giáo.

Dưới sự đốc thúc của Viên, các bộ tướng Trương Huân, Tào Côn của ông ta lấy việc giết chóc làm năng sự. Trương Huân, vị "Biện soái" từng ủng hộ Phổ Nghi phục tích thời đầu Dân quốc, có kỷ lục giết hơn 500 "Quyền phỉ" "Khăn vàng túi đỏ" trong một ngày mà được Viên Tuần phủ trọng thưởng. (Xem "Bẩm của Huyện lệnh Dương Tín", đăng trong "Sơn Đông Nghĩa Hòa Đoàn án quyển", do Viện Khoa học xã hội Bắc Kinh biên tập, Tế Nam Tề Lỗ thư xã xuất bản năm 1980, tập hạ, trang 659, 661.)

Nghĩa Hòa Đoàn ở Sơn Đông bị Viên Thế Khải giết sạch rồi. Nhưng quyền chúng chạy trốn lên phía Bắc vào Trực Lệ, Tổng đốc Trực Lệ Dụ Lộc lại theo tay chân. Dụ Lộc vốn đã hẹn với Viên Thế Khải sẽ kẹp kích "Quyền phỉ" từ hai đầu Nam Bắc. Đầu xuân Canh Tý ông ta quả nhiên từng ra lệnh cho "Tiền quân" của Nhiếp Sĩ Thành đóng ở Thiên Tân xuất tiễu, giết chết không ít "Quyền phỉ". Nhưng dần dần ông ta nhìn ra Tứ nhân bang trong triều trỗi dậy, Thái hậu hộ Đoàn chuyển hướng tích cực, chỗ dựa cũ của ông ta là Vinh Lộc đã dần dần đứng sang một bên, chính sách "tiễu phỉ" của ông ta liền bắt đầu dao động — từ tiễu trừ đến dung túng, đến bao che, cuối cùng ông ta liền thẳng thừng đầu quân. Sau khi đầu quân rồi, Tổng đốc nha môn của ông ta liền biến thành trạm chiêu đãi Nghĩa Hòa Đoàn. Hai vị đại sư huynh xuất thân thảo mãng là Trương Đức Thành, Tào Phúc Điền cũng tụ tập 3 vạn đồ chúng, dựng lên "Thiên hạ đệ nhất đàn", tế Quan Công, Chu Thương, Gia Cát Khổng Minh; đốt hương niệm chú, biểu diễn đao thương bất nhập. Dụ Lộc vì lấy lòng triều đình, còn cấp ngân lượng 20 vạn lượng (sau đó Tây Thái hậu cũng thưởng thêm 10 vạn lượng), mời chúng sư huynh dẫn Đoàn tới Thiên Tân, phù Thanh diệt Tây. Hai tên cầm đầu Trương, Tào còn được Dụ Lộc bảo tiến, treo hàm nhất phẩm, chia nhau ngồi "kiệu xanh" của quan nhất phẩm, đàng hoàng tiến thẳng vào Tiết thự, uống rượu hoan hỉ, phân đình kháng lễ với Trực Lệ Tổng đốc Bắc Dương đại thần. Dụ Lộc còn mở kho quân khí, mặc cho đám ô hợp này tự chọn những vũ khí hiện đại mà chúng thích. Dưới sự phù hộ của hai vị sư huynh Trương, Tào, người dân Thiên Tân cũng lập đàn dọc phố, đầu quấn khăn vàng, thắt lưng đỏ, lũ lượt quy y. Đêm đêm nhà nhà đều treo đèn đỏ, phụng nghênh tiên cô hạ phàm, giết giáo diệt Tây. Đốt nhà thờ, giết giáo dân, lùng bắt "nhị mao tử", tấn công tô giới, nhất thời đều đến.

Sự chuyển biến này của Dụ Lộc dẫn đến việc quyền dân Sơn Đông lũ lượt đổ vào Trực Lệ. Đông vào Thiên Tân, Tây chiếm Trác Châu, Nam chiếm Bảo Định. Đốt hương niệm chú, đốt nhà thờ giết quỷ Tây, phá đường sắt nhổ cột điện, thậm chí giở trò "quân lương", "ăn đại hộ", loạn cả lên. Đoàn ở Sơn Đông đã tới, Đoàn ở Trực Lệ cũng nổi lên. Quần chúng nhập Đoàn ngoại trừ công nông binh, sĩ thương quan lại cũng đều lũ lượt tham gia — trong đó đặc biệt là thanh thiếu niên mười mấy tuổi là tích cực nhất. Các châu các huyện, các làng các trấn, đều đua nhau tổ chức Đoàn, lập đàn luyện kỹ. Các tiểu tướng Nghĩa Hòa Đoàn lại càng xâu chuỗi bốn phương, "náo giáo", "đánh giáo" rồi. — Cái này trong miệng các tiểu tướng Hồng Vệ Binh sau này gọi là "tạo phản", "náo cách mạng"!

2.9 Nghĩa Hòa Đoàn lan tràn ở Bảo Định và Trác Châu

Ngay lúc khu vực Thiên Tân và vùng Bảo Định, Trác Châu đã làm loạn thành một màu cờ đỏ, những "người phương Tây" đang bị treo giải bắt giữ sống trong khu sứ quán "Đông Giao Dân Hạng" (Nghĩa Hòa Đoàn sau đó đổi tên nó thành "Cát Kê Hạng" - hẻm giết gà) của Bắc Kinh và trong tô giới Thiên Tân, tất nhiên cũng trở nên căng thẳng. Công sứ, kiều dân và giáo sĩ 11 nước giữa họ đương nhiên càng là thư điện tới tấp. Hội nghị hiệp thương, điều binh khiển tướng, bận rộn cả lên. Họ vừa muốn tự bảo vệ, cũng muốn đục nước béo cò, thì "Bát quốc liên quân" liền sắp sửa xuất hiện. Phần sau sẽ bàn chi tiết.

Trong thời kỳ hỗn loạn này, người đang ngồi ở "tướng vị" là Vinh Lộc, tuy đang dưỡng bệnh (nghe nói là bệnh chân, do bác sĩ phương Tây phẫu thuật), tất nhiên đối với ý chỉ của Thái hậu, không khí trong triều, nhìn càng rõ ràng hơn. Cho nên khi Nghĩa Hòa Đoàn lan tràn nhanh chóng đến vùng Bảo Định, Trác Châu, những người hưởng ứng trong thành Bắc Kinh cũng đang rục rịch, ông ta liền điều động lực lượng chủ lực của Vũ Vệ trung quân đang đóng quân tại các địa phương đó đi, lấy danh nghĩa bảo vệ đường sắt, để tránh xung đột với quyền dân.

Quân Thanh các lộ thời bấy giờ (bao gồm cả "Cam quân" của Đổng Phúc Tường), do sự đối lập về mặt lịch sử cùng lòng đố kỵ nghề nghiệp, họ và Nghĩa Hòa Đoàn, Đại Đao Hội cùng các giáo môn khác đều đứng trên lập trường không đội trời chung. Nay chủ lực phòng quân vừa rút, đoàn giáo liền mọc lên như nấm sau mưa, nhất thời nổi dậy khắp nơi. Một số ít bộ đội phòng quân còn sót lại ngược lại trở thành đối tượng bị họ truy sát. Ngày 24 tháng 5, một vị Phân thống (Lữ trưởng) của Vũ Nam trung quân là Dương Phúc Đồng dẫn theo hơn trăm bộ kỵ binh đi tuần tra quanh vùng huyện Lại Thủy, thì sư huynh Nghĩa Hòa Đoàn là Mãn Lập hòa thượng dẫn theo ngàn người mai phục vây đánh. Phúc Đồng chạy không thoát, bị đám quyền chúng dùng súng và giáo thương đâm chết, "nội tạng trào ra hết". (Xem "Sử sự yếu lục" trang 110, trích dẫn bản chép tay "Nhàn kiến lục" và "Kỳ nam tế biến kỷ lược"). Qua đây cũng có thể thấy tình hình ngang ngược của quyền dân lúc bấy giờ.

Ngay khi Phân thống Dương bị giết, một cánh quyền dân khác hơn vạn người đã xâm nhập Bảo Định. Lúc này "đường sắt Lư - Hán" (từ Lư Câu Kiều đến Hán Khẩu, cũng chính là đoạn phía Bắc của đường sắt Kinh - Quảng ngày nay) đang trong quá trình thi công. Tại địa phương có mấy chục chuyên gia nước ngoài cùng giáo sĩ và gia đình họ. Nghĩa Hòa Đoàn vừa liên kết tới nơi này, quan phủ không hề ngăn cản, thanh thiếu niên địa phương liền nổi lên hưởng ứng. Nhất thời khăn vàng đai đỏ bay rợp trời, trật tự đại loạn. Nhóm chuyên gia phương Tây cùng phụ nữ trẻ em nghe tin liền hoảng sợ. Quan lại địa phương Trung Quốc không muốn cũng chẳng đủ sức bảo vệ, lính tráng vốn được phái đi hộ tống lại nửa đường gia nhập Nghĩa Hòa Đoàn, quay giáo lại đối đầu. Họ lâm vào đường cùng, tản ra bỏ chạy giữ mạng. Nhóm chuyên gia phương Tây này cùng gia quyến phụ nữ trẻ em ban đầu có 41 người. Cuối cùng trốn được vào tô giới Thiên Tân chỉ còn 9 người sống sót: 23 người bị thương nặng nhẹ; 9 người còn lại thì bặt vô âm tín. Theo hồi ức của những người sống sót, thảm cảnh lánh nạn đó, thật không đành lòng kể lại. (Xem "Tự Lâm Tây Báo" ngày 6 và 13 tháng 6 năm 1900, bài báo chuyên mục).

Quan phủ đối với quyền vận đã mất kiểm soát, hành vi quần chúng của quyền dân cũng trở nên vượt quá khuôn khổ. Ngày 27 tháng 5, ba vạn quyền dân xông vào phủ Trác Châu. Sau khi nha môn tri phủ bị chiếm đóng, tri phủ Trác Châu là Cung Ấm Bồi thủ thành không nổi, bỏ thành không dám, tuẫn thành không cam, thế là ông ta nghĩ ra một kế thông minh – tuyệt thực chống đối. Trong thời đại chuyên chế đó, quan địa phương có trách nhiệm giữ đất. Thành trì thất thủ, bất kể là rơi vào tay địch hay tay phỉ, người giữ đất theo lệ đều phải tuẫn chức. Mất đất mà không chết vì tiết nghĩa, kết cục cũng là bị hành quyết. Nay chính sách triều đình đã không rõ ràng giữa tiễu trừ hay vỗ về, chết vì tuẫn thành hay chết vì bị hành quyết đều cảm thấy oan uổng. Cung đại nhân giở trò tuyệt thực kháng nghị dở sống dở chết, có thể chết mà cũng có thể sống, đối với triều đình, đối với quyền phỉ, cũng không mất đi cách giả ngây giả dại để tự bảo toàn. — Làm quan làm chính trị, phải có chút khôn vặt chứ!

Trác Châu là cửa ngõ của kinh sư thời bấy giờ. Càn Long gia khi xuống Giang Nam từng hứa cho là "Thiên hạ đệ nhất châu". Truy ngược về cổ xưa, nó là quê hương của "Đào viên tam kết nghĩa"; nhìn về dân quốc, nó cũng là thành cổ lịch sử mà tướng Phó Tác Nghĩa tử thủ, thiếu soái Trương Học Lương mãnh liệt tấn công. Lúc này cũng là yếu điểm yết hầu có thể cùng tồn vong với thành Bắc Kinh. Nay đã bị ba vạn khăn vàng chiếm giữ. Lữ trưởng quân quan bị giết; quan giữ đất cũng đang tuyệt thực đợi lệnh. Trên thực tế họ đều đang ngả bài với phe đương quyền trong triều đình; vương triều Đại Thanh các người đối với người phương Tây, rốt cuộc là muốn hòa hay muốn chiến, đối với nghĩa dân phù Thanh diệt Dương, rốt cuộc là muốn tiễu hay muốn vỗ về? Tổng phải có một sự lựa chọn, một câu trả lời! Chính sách nước đôi hỗn loạn của triều đình bấy lâu nay, tổng phải có một dấu chấm hết!

2.10 Hòa chiến phải quyết định, tiễu vỗ không thể trì hoãn nữa

Thực ra đến nước này, về sự lựa chọn giữa hòa hay chiến, tiễu hay vỗ, giữa địa phương và trung ương, giữa người Mãn và người Hán, đã sớm phân định rạch ròi. Các vị Đốc phủ người Hán ở phương Nam như Viên Thế Khải, Lưu Khôn Nhất, Trương Chi Động, Lý Hồng Chương; các đại thần người Hán trong triều có miệng mà không có quyền như Binh bộ Thượng thư Từ Dụng Nghi, Quang lộc tự khanh Viên Xưởng, Lại bộ Thị lang (cựu công sứ tại Nga, Đức) Hứa Cảnh Trừng — ba người sau đều kiêm nhiệm đại thần sự vụ Tổng lý nha môn — đều kiên quyết phản chiến chủ trương tiễu trừ. Về sau ba vị đại thần này đều bị phe chủ chiến sát hại.

Lúc này các quý tộc người Mãn trong triều (ngoại trừ Vinh Lộc cáo bệnh không muốn bày tỏ thái độ) dưới sự lãnh đạo của bè lũ bốn tên hàng chữ "Tái", đặc biệt là Đoan vương Tái Y và Hiệp biện Đại học sĩ Cương Nghị, thậm chí đến Đại học sĩ Từ Đồng (thuộc Hán quân kỳ) tuổi 82 và con trai đều kiên quyết chủ trương vỗ về đoàn giáo, khai chiến. Trong đó, đám quý tộc thiếu niên như Bối lặc lại càng hung hăng hô hào vỗ về đoàn giáo, diệt trừ phương Tây, đã đến mức độ điên cuồng.

Người viết ở đây nói về sự phân chia Hán - Mãn, hòa - chiến, không có nghĩa là trong phe chủ chiến không có người Hán. Lý Bỉnh Hành, Triệu Thư Kiều đều là đại thần người Hán. Trong phe chủ hòa cũng có người Mãn. Trong số năm đại thần chủ hòa bị giết, Nội các Học sĩ Liên Nguyên chính là người thuộc Tương Hồng kỳ (Hán quân), xuất thân tiến sĩ. Trong cuộc tranh luận hòa chiến, Liên Nguyên kiên trì "dân khí có thể dùng, phỉ khí không thể dùng". Lại nói: "Trong chiến tranh Giáp Ngọ, một nước Nhật còn không thắng nổi, huống chi là tám cường quốc?". Thế là bị Tái Y sát hại. Một vị chủ hòa khác là Hộ bộ Thượng thư Lập Sơn (người Mông Cổ), vì phản bác luận điểm "dân có thể dùng" của Tái Y trước mặt Thái hậu, nói rằng: "Quyền dân tuy không có gì khác, nhưng thuật của họ phần nhiều không linh nghiệm", cũng vì lời nói mà bị sát hại. (Những điều trên đều xem trong "Thanh sử" bản truyện). Đây đều là số ít không có quyền trong số đông, lời nói hành động của họ không đủ trọng lượng.

Cho nên trong thời gian tri phủ Trác Châu Cung đại nhân tuyệt thực đợi lệnh, người còn đang do dự giữa hai sách lược hòa chiến, chỉ có một mình Từ Hi lão thái hậu mà thôi. Chỉ một ý niệm trong đầu bà ta có thể quyết định ngay lập tức sự nặng nhẹ của cán cân hòa chiến này.

Từ Hi không phải kẻ ngốc. Về mặt lý trí, bà ta không phải không nghĩ đến danh ngôn của Liên Nguyên. Một nước còn không địch nổi, huống chi là tám nước. Trên thực tế, điện báo của bốn vị Đốc phủ miền Nam Hoa, và lời can gián trung thành khi còn sống của ba vị đại thần bị giết, đều nói triệt để và đáng sợ hơn lời Liên Nguyên. Nhưng dù sao bà ta cũng chỉ là một bà già có kiến thức hạn hẹp. Lý tính sợ phương Tây của bà ta, rốt cuộc vẫn không địch lại được cảm tính hận phương Tây. Thêm vào đó, bà ta luôn ôm ảo tưởng về khả năng "đao thương bất nhập" của Nghĩa Hòa Đoàn. Khi Trác Châu bị quyền dân chiếm đóng, bà ta liền phái Quân cơ đại thần Triệu Thư Kiều, Thuận Thiên phủ doãn (Thị trưởng Bắc Kinh ngày nay) Hà Nãi Oánh cùng Cương Nghị lần lượt đến Trác Châu thị sát vào đầu tháng 6, để dò xét thực hư. Triệu vốn là người có học vấn cao xuất thân tiến sĩ, ông cùng Thị trưởng Hà do đó đều hoài nghi về việc các vị sư huynh có thể "diệt Tây" bằng các bài giảng mang công lực hay không. Thế nhưng Cương Nghị đến sau lại cực kỳ tâm phục khẩu phục màn trình diễn khí công đao thương bất nhập, cho rằng đó là thần thuật có thể sử dụng. (Xem "Thanh sử - Cương Nghị truyện", và các tạp lục khác).

Cương Nghị là người được Thái hậu sủng ái, cũng từng là ân nhân của Triệu Thư Kiều. Triệu về triều làm sao dám chống lại Cương tướng quốc. Thị trưởng Hà thông minh tất nhiên càng biết chiều theo ý gió. Một khi Thái hậu hơi thừa nhận hoặc cho phép kết quả điều tra như "quyền dân trung trinh, thần thuật có thể dùng", nếu ban cho "quân khí hạng nhất, để luyện tập", thì có thể biến thành quân đội thiện chiến, chống lại binh lính phương Tây, phong trào Nghĩa Hòa Đoàn liền tiến vào Bắc Kinh.

2.11 Đội Hồng vệ binh của Từ Hi thái hậu

Nghĩa Hòa Đoàn xuất hiện trong thành Bắc Kinh là chuyện của tháng 4 năm Canh Tý (trừ khi có chú thích khác, bài này đều dùng dương lịch). Nhưng đó là các tổ chức hưởng ứng từ bên ngoài của cư dân trong thành. Nhàn nhã cũng có một số ít người từ các phủ, châu, huyện bên ngoài vào kinh liên kết, nhưng số lượng có hạn. Quân cảnh giữ thành cũng từng nhận lệnh truy bắt nghiêm ngặt. Thế nhưng từ sau khi Cương Nghị hồi kinh phục mệnh vào giữa tháng 6, Nghĩa Hòa Đoàn ở các châu huyện bên ngoài liền ồ ạt kéo vào kinh. Một làn sóng đều cho rằng việc đoàn chúng kéo đến là do triều đình dẫn dắt. Bản thân Nghĩa Hòa Đoàn cũng cho rằng mình "phụng chỉ" vào kinh "náo giáo". Vì Thái hậu ban thưởng, họ phải vào kinh nhận thưởng!

Ngày Nghĩa Hòa Đoàn bắt đầu ồ ạt tiến vào Bắc Kinh đại khái là ngày 10 tháng 6 năm 1900 (âm lịch 14 tháng 5). Ngày này không hề tầm thường. Ngày này Đoan quận vương Tái Y cũng phụng chỉ nhậm chức đại thần "Quản lý Tổng lý các quốc sự vụ nha môn". Phe cánh của ông ta là Khải Tú, Phổ Hưng, Na Đồng cũng đồng thời được bổ nhiệm (xem "Thượng luận" ngày hôm đó, đăng trong "Nghĩa Hòa Đoàn đương án sử liệu tục biên" tập thượng, trang 596). Điều này cho thấy bè lũ bốn tên đã giành quyền lực, hoàn toàn chiếm lĩnh bộ Ngoại giao của đế quốc Đại Thanh. Phe chủ hòa đã không còn đường xoay xở trong chính sách ngoại giao (chi tiết xem phần sau).

Thứ hai, các lãnh sự và tướng lĩnh hải quân các nước đóng tại Thiên Tân cũng tổ chức một "Liên quân" sở hữu 2.066 người — đây là đội quân tiên phong của "Liên quân tám nước" sau này, do Đội trưởng Thủy quân lục chiến Anh là Seymour dẫn đầu, cũng vào ngày này đi tàu hỏa từ Thiên Tân tới Bắc Kinh. Tuyên bố là tăng cường phòng vệ Đông Giao Dân Hạng, bảo vệ công sứ 11 nước. Họ đi đến Dương Thôn, do đường sắt bị Nghĩa Hòa Đoàn phá hoại, tiến thoái lưỡng nan, liền bị quân đội của Nhiếp Sĩ Thành nhận lệnh ngăn chặn, cùng với đoàn dân địa phương bao vây. Đây là cuộc tiếp xúc vũ trang đầu tiên giữa Trung và ngoại. Cuộc xung đột này bất kể bên nào thắng bại đều không còn đường lui. Quân Thanh nếu bại, thì liên quân sẽ thẳng tiến vào Bắc Kinh, thì không xong rồi; binh lính phương Tây nếu bại, thì viện quân chắc chắn sẽ tới, thì càng không xong nữa. Trên thực tế cuối cùng chính là cái kết cục "càng không xong nữa" này (xem sách trước của Morse, quyển 3, trang 222, 214), phần sau sẽ từ từ kể lại. Về phía Bắc Kinh, Nghĩa Hòa Đoàn ở bốn ngoại ô, chính là vào ngày này tràn vào Bắc Kinh từng đợt lớn.

Hảo hán Nghĩa Hòa Đoàn là những người như thế nào? Chúng ta có thể đứng lại trên đường phố, xem náo nhiệt một chút. Tác giả của "Canh Tý kỷ sự" là Trọng Phương thị có một đoạn mô tả sinh động. Chép lại cho độc giả cùng thưởng lãm như sau:

... Đoàn dân từ bên ngoài tới, một ngày mấy chục đợt, hoặc là nhóm 20, 30 người, nhóm 40, 50 người, trẻ con chưa đủ tuổi đặc biệt nhiều, đều là người quê mùa chất phác. Đều dùng vải thô màu đỏ thẫm quấn đầu, chính giữa giấu hình ngựa thần Quan Đế. Áo yếm vải thô đỏ thẫm, mặc bên ngoài áo lót. Xà cạp vàng, dải buộc chân vải đỏ. Tay cầm đao lớn giáo dài,yêu đao bảo kiếm các loại vũ khí không giống nhau, tùy theo người sử dụng, nhưng trang phục thì đều giống nhau...

Bạn bè à, bạn đã từng xem phim thời kỳ Cách mạng Văn hóa ở Đại lục chưa? Nghĩa Hòa Đoàn của Mao Chủ tịch, và Hồng vệ binh của Tây thái hậu, có gì khác nhau? Thực ra những gì ông Trọng Phương nhìn thấy chỉ là một nhánh của Vũ Thanh đoàn, Thủy Thanh đoàn, Hương Hà đoàn, Cố An đoàn, Hồng kỳ, Tỉnh Cương Sơn, phe gian, phe lười... Nhánh này là "Khảm tự quyền" khăn đỏ cờ đỏ. Nhánh "Càn tự quyền" khăn vàng yếm vàng bị Trương phiên soái giết sạch, còn có màu đen, màu trắng, ông ta còn chưa nhìn thấy đâu! (Tham khảo "Quyền phỉ kỷ sự"). Ông Trọng Phương cũng cười họ là người mặc quần áo thô kệch chất phác. Nhưng ông ta còn chưa nhìn thấy "Nghĩa Hòa Đoàn" bản địa Bắc Kinh do những người đứng đầu như Khoái Đại Phú, Nhiếp Nguyên Tử lãnh đạo đâu! Họ là con em cán bộ cao cấp, khắp người lụa là gấm vóc, mày thanh mắt tú. Bạn cười họ thô kệch?

Hồng vệ binh chẳng phải có tổ Cách mạng văn hóa, Bộ tư lệnh và người đứng đầu lãnh đạo nổi loạn các cấp sao?... Đối tượng nổi loạn của họ chẳng phải là "Khrushchev", những kẻ đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Lưu - Đặng sao? Các phái của họ đấu văn đấu võ, chẳng phải cũng từng đánh nhau với Giải phóng quân sao? Nghĩa Hòa Đoàn cũng rập khuôn theo, cái gì cũng đầy đủ.

Đầu tháng 6 có vạn người "Nghĩa Hòa Đoàn" chỉnh tề đội ngũ tiến vào thành. Cửu môn đề đốc hoảng sợ, đóng cửa không cho vào. Hai bên đang giằng co không hạ, đột nhiên có sai quan mang tới "Lệnh tiễn" của "Phụ quốc công" Tái Lan, ra lệnh mở cửa, người giữ thành không dám trái lệnh, quyền chúng liền ùa vào. Phụ quốc công chẳng phải cũng là người đứng đầu tổ Cách mạng văn hóa sao? Từ đó chín cửa mở toang. Quyền chúng từ bốn phương ùa vào Bắc Kinh, ngày đêm không dứt. Trong vòng mười ngày, số người vào lên tới hơn mười vạn. Nhà nhà niệm chú, nơi nơi lập đàn. Cuối cùng là "Trên từ vương công khanh tướng, dưới đến ca kỹ nô bộc, hầu như không ai là không thuộc đoàn". (Tham khảo "Trung Quốc cận đại sử tư liệu tùng san - Nghĩa Hòa Đoàn" tập 1, trang 306 và "Yếu lục" trang 144).

Lúc này Đoan vương, Trang vương đều có đại sư huynh theo hầu, tùy thời biểu diễn công năng đặc dị. Nghe nói Lý Liên Anh từng dẫn quyền sư vào Di Hòa Viên biểu diễn, và hộ giá hồi cung vào ngày 9 tháng 6. Thái hậu vô cùng tâm phục khẩu phục quyền nghệ, và đích thân vẽ "Linh phù" v.v... (Rải rác trong "Nghĩa Hòa Đoàn văn nghệ tuyển tập" do A Anh biên tập, các tạp lục như thơ văn tùy bút).

Phụng ý chỉ của Thái hậu, toàn bộ mười vạn Nghĩa Hòa Đoàn vào thành, đều do Trang vương Tái Huân, Đại học sĩ Cương Nghị thống nhất chỉ huy; do ba anh em Tái Y, Tái Lan, v.v... ở giữa hỗ trợ. Bước đầu tiên khi Nghĩa Hòa Đoàn vào thành chính là đến phủ Trang vương để "báo danh", "đăng ký". Về địa điểm và thời gian tác chiến, phải đợi lệnh "chuyển bài điều khiển" của cấp trên (xem "Canh Tý kỷ sự"). Lúc đó "Khảm tự quyền đại sư huynh" liền ở trong phủ Trang vương, trên nghe sự điều khiển chỉ huy của Trang vương, dưới phát lệnh cho đồ đệ tụ tập (xem "Quân cơ xứ tạp kiện", "Thông tri" ngày 25 tháng 6 của Khảm tự lão đoàn đại sư huynh Đức, đăng trong "Sử liệu tục biên" tập thượng, trang 618). Khi đó loại "đao lớn" có hình dạng kỳ lạ mà các vị sư huynh dùng để giết người, hoa văn của nó sau này bị người phương Tây xếp thành chữ cái ABC, dùng làm biểu tượng sỉ nhục người Hoa. Ai ngờ dùng lâu dần lại biến thành một loại "chữ nghệ thuật phương Đông". Trên các biển hiệu, quảng cáo, danh thiếp của các khu dân cư người Hoa ở hải ngoại ngày nay, vẫn có thể thấy ở khắp nơi. Nhưng người sử dụng đã không còn biết nguồn gốc lịch sử của nó nữa rồi.

2.12 Kết cục của việc giết người phóng hỏa

Thử hỏi mười vạn tiểu tướng Nghĩa Hòa Đoàn, nay đang xoa tay múa chân, chen chúc trong thành Bắc Kinh, định làm gì đây? Đáp: Họ tới đây là để "náo giáo"; là để "phù Thanh diệt Dương".

Sáu mươi năm sau, mười vạn tiểu tướng Hồng vệ binh cũng chen chúc ở chỗ cũ, là để "nổi loạn", là để "hưng vô diệt tư". Hồng vệ binh chia đối tượng cách mạng đại khái thành mười hạng. Dưới Địa, Phú, Phản, Hoại, Hữu, những ông thầy giáo như người viết đây được xếp hạng "Xú lão cửu". Bảy, tám trăm năm trước, giai cấp thống trị Mông Cổ cũng xếp hạng xã hội của chúng ta là trên ăn mày, dưới kỹ nữ — bát xương, cửu nho, thập cái, cũng là hạng thứ chín.

Nghĩa Hòa Đoàn chia đối tượng trấn áp của họ, nghe nói thành "thập mao". Mao tử (tóc vàng), đại mao là người phương Tây tóc vàng, giết không tha. Nhị mao tử là giáo dân. Giáo dân cho phép bỏ đạo, không bỏ đạo cũng giết không tha. Từ tam mao trở xuống là dùng hàng Tây, hành lễ Tây, sùng Tây, nhượng Tây... cứ thế mà suy ra.

Hồng vệ binh năm đó muốn đánh đổ Chủ tịch nước "Khrushchev" (chỉ Lưu Thiếu Kỳ), lôi đấu Lưu - Đặng "những kẻ đi theo con đường tư bản chủ nghĩa", v.v... Nghĩa Hòa Đoàn cũng muốn giết "một rồng hai hổ" của họ. Một rồng chính là Quang Tự gia; hai hổ là Lý Hồng Chương, Dịch Khuông làm việc Tây học. Cho nên Tái Y nhanh chóng đoạt chính quyền, liền muốn tự mình nắm giữ hệ thống ngoại giao, khiến chú già Dịch Khuông phải đứng sang một bên. Theo tin đồn thì âm mưu của Trang vương Tái Huân còn lớn hơn, hắn ta dự định dẫn các vị sư huynh vào cung để diệt trừ một rồng.

Đó vẫn là tầng lớp trên văn minh hơn. Những đám lập đàn trên đường lớn, mười vạn người chen vai thích cánh, bọn côn đồ lại nhân cơ hội gây sự, một tiếng hô trăm tiếng hưởng ứng, thú tính của quần chúng bộc phát, đốt giết dâm cướp, nhất thời ùa tới, thành Bắc Kinh trật tự đại loạn.

Việc đốt phá của Nghĩa Hòa Đoàn tại Bắc Kinh, ban đầu là hễ thấy "Tây" là đốt. Ngày 16 tháng 6, đoàn chúng tại Đại San Lan đốt "Lão Đức Ký" tây dược phòng. Nhất thời ngọn lửa bốc cao mất kiểm soát, xung quanh trước sau, lửa cháy lan ba ngày không tắt, thiêu rụi khu vực sầm uất nhất là phố Tiền Môn, hơn ngàn cửa hàng lớn nhỏ (một thuyết nói bốn ngàn), biến thành phế tích. Cửa Chính Dương cũng bị thiêu hủy. 24 xưởng đúc bạc của kinh sư cũng bị thiêu hủy toàn bộ. Tất cả các tiền trang ngân hàng ở Bắc Kinh vì thế mà buộc phải đóng cửa. Tiền tệ không lưu thông, giao dịch thị trường đình trệ hoàn toàn, chỉ trong một đêm, Bắc Kinh không còn là Bắc Kinh nữa. (Xem "Thượng luận về ổn định thị trường" ngày 18 tháng 6, đăng trong "Sử liệu tục biên" trang 604).

Việc giết chóc của Nghĩa Hòa Đoàn tại Bắc Kinh, bắt đầu từ việc giết giáo dân, lò sát sinh mà họ tập thể tàn sát giáo dân chính là khoảng sân lớn trước phủ Trang thân vương. Trên quảng trường trống trải này, họ một lần giết ngàn người. Thật là đầu rơi lăn lóc, xác chất như núi, máu chảy thành sông vậy. (Xem "Nghĩa Hòa Đoàn sử liệu" tập thượng, trang 50).

Đợi khi giáo dân bị đuổi cùng giết tận, người sống sót thì trốn vào khu sứ quán và nhà thờ Tây Thập Khố, nương tựa người phương Tây, xây lũy tự bảo vệ. Giáo dân đã tuyệt tích, Nghĩa Hòa Đoàn liền bắt chém kẻ thù riêng, bừa bãi giết hại người vô tội. Thị dân bị họ chém đầu vì vụ án "Bạch Liên giáo" ba chữ, bị đám quyền dân nhân lúc cháy nhà hôi của mà giết chết thiêu chết, quân đoàn đánh nhau, quân quân giết nhau, đoàn đoàn võ đấu mà phơi xác đầy đường, lại càng không đếm xuể. Trời nóng xác phân hủy, mùi hôi thối bốc lên tận trời, toàn thành quỷ khóc thần gào.

Trong thời kỳ Cách mạng Pháp, trẻ em Paris từng làm mô hình "máy chém" (guillotine) làm đồ chơi — thực sự là "coi giết người là trò đùa". Thành Bắc Kinh mùa hè năm Canh Tý, đặc biệt là quảng trường trước phủ Trang vương, ngày ngày giết người, dù là phụ nữ trẻ em cũng không tha, thực sự là lò sát sinh nhân loại lớn nhất thế giới lúc bấy giờ vậy! So với lò sát sinh Bắc Kinh này, Paris còn kém xa.

Còn về chuyện dâm và cướp xảy ra tại Bắc Kinh mùa hè năm Canh Tý, thì cấm quân, Cam quân cũng là kẻ ác đầu sỏ! Phụ nữ bị cưỡng hiếp bị giết hại không thể thống kê. Còn các thương hộ bị cướp bị đoạt, thì vụ bạo động Los Angeles lớn nhất trong lịch sử Mỹ năm 1992, so sánh ra, cũng chỉ là trò nhỏ mà thôi! Nghĩa dân và quân nhân của chúng ta, sau khi cướp sạch thương dân Bắc Kinh, còn bày ra "chợ trời" hưng thịnh, đem đồ bẩn ra bán đấu giá công khai đấy! (Xem "Yếu lục" trang 190, trích dẫn "Sử liệu tùng biên" và "Đương án sử liệu" thượng, trang 20).

Cướp sạch thương hộ chưa tính, những phủ đệ sâu kín như của Lại bộ Thượng thư Tôn Gia Nãi và Đại học sĩ Từ Đồng cũng không thoát khỏi. Từ Đồng vốn là một trong những bảo mẫu của Nghĩa Hòa Đoàn. Khi ông ta bị cướp, tiểu tướng Nghĩa Hòa Đoàn còn lôi vị "Lão Đạo" (biệt danh của Từ) này ra công thẩm. Vị tiến sĩ già 80 tuổi chỉ còn biết quỳ xuống cầu xin mới thoát được đòn roi! Tiểu tướng Nghĩa Hòa Đoàn năm xưa, dường như văn minh hơn tiểu tướng Hồng vệ binh sau này một chút. Hồng vệ binh đánh người giết người, "Thái thượng lão quân" của "Lão Đạo" cũng không ngăn cản nổi!

Tóm lại, phong trào Nghĩa Hòa Đoàn phát triển đến mức này, là hoàn toàn đi chệch đường ray; đi chệch đến mức chính bè lũ bốn tên cũng nơm nớp lo sợ; người thân của chính họ cũng tính mạng khó bảo toàn. Đầu tháng 7, Phó đô thống quân Thanh (quan cao cấp thứ hai trong một "kỳ") Dực trưởng Thần cơ doanh là Khánh Hằng cùng gia đình 13 người, lại vì Nghĩa Hòa Đoàn tìm thù trả oán mà bị giết sạch. Khánh Hằng là quan cao cấp nhị phẩm, lại là người Mãn, và là bạn tốt của Tái Huân, Tái Y, mà cả nhà bị giết, hai vị vương gia đều không dám truy cứu sâu. Cuối cùng vì hung thủ là "ngụy Nghĩa Hòa Đoàn" mà xóa án, có thể thấy thanh thế của Nghĩa Hòa Đoàn lúc này. Nếu không phải quân Thanh đánh thua trận, "Liên quân tám nước" vào kinh "trợ tiễu", thì mặc cho Nghĩa Hòa Đoàn phát triển tiếp như vậy, thì liệu chính Lão thái hậu và bè lũ bốn tên có khống chế được hay không, vẫn còn là một ẩn số.

Nghĩa Hòa Đoàn và quân Thanh các lộ cướp đủ rồi, giết đủ rồi, lại chia nhau tấn công Đông Giao Dân Hạng và nhà thờ Tây Thập Khố để góp vui. Họ đã biến một nửa Bắc Kinh thành bình địa, nửa còn lại thì chờ "Liên quân tám nước" đến tiếp quản, mà tiếp tục di họa của việc dâm cướp đốt giết! Than ôi! Người viết sử chúng tôi, cầm bút bi lo lắng suông. Nhìn lịch sử từng màn từng màn lặp lại, lại biết bắt đầu từ đâu đây?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.