GIỜ ANNA RỜI NHÀ theo một hướng khác với các anh chị mỗi buổi sáng và trở về nhà muộn hơn họ vào buổi tối. Em nói rất ít về trường học và những điều ít ỏi ấy em cũng chỉ nói khi bị hỏi thẳng.
“Nó thế nào, cái lớp học của con ấy?” Mama muốn biết.
“Ổn cả ạ,” Anna nói.
Mama giơ hai tay lên trong vô vọng.
“Cứ như cố vắt đá ra nước vậy,” mẹ phàn nàn.
“Em đọc được chưa, Anna?” chị Frieda hỏi.
Anna cúi đầu xuống để chị không nhìn thấy được mặt em.
“Một ít,” em nói.
Nó vẫn chưa đọc được, Frieda nghĩ, và chị ước mình đã không hỏi.
Tuần đầu tiên trôi qua. Rồi tuần tiếp theo. Gia đình Anna vẫn hoàn toàn không hay biết chuyện gì đang xảy ra với em ở trường. Họ cũng không ngạc nhiên. Họ đã quen với Anna và tâm tính của em, Anna và sự im lặng của em. Họ hy vọng về những điều tốt nhất.
Papa thấy nhiều ở em hơn những người khác vì em đến tiệm gần như mỗi buổi chiều. Cha có nhiều việc phải làm, nên ông không thể dành thời gian để động viên em chia sẻ. Nhưng một chiều nọ ông nghe thấy em hát một mình. Ông tiếp tục xếp chồng những lon xúp, lưng quay về phía em.
“Ôi Canada, nhà của tôi, mảnh đất quê hương tôi,” Anna luyện tập khe khẽ.
Papa suýt làm rơi một lon. Chuyện gì đang xảy ra với Anna của ông vậy?
Bernard đã giúp đỡ rất nhiều. Ben hẳn nhiên cũng góp một phần trong đó. Isobel, người vẫn luôn che chở Anna, đã tạo ra một số thay đổi. Nhưng chủ yếu vẫn là cô Williams, người đã tìm kiếm và bắt đầu tìm thấy một Anna mới.
Việc đó không hề dễ dàng. Việc đó mất nhiều tuần lễ.
“Tốt lắm, Anna!” cô giáo nói mỗi khi cô có thể làm vậy một cách thật lòng. Một ngày nọ, cô nói thêm, “Em nhanh thật đấy!”
Mới đầu, Anna nghĩ cô Williams đã nhầm em với một học sinh khác. Ai cũng biết rằng Anna Ấm ớ siêu, siêu, siêu chậm. Nhưng khi cô giáo nói thế một lần nữa, Anna nhận ra sự thật. Giờ đây khi mắt kính của em đã giúp chữ và số trở nên sắc nét và dễ phân biệt, giờ đây khi em có thể nhìn thấy những gì được in trên bảng, thì em, Anna, là người nhanh nhẹn. Có đôi lúc, em còn nhanh hơn cả Ben.
Em sung sướng ngồi nhìn bài kiểm tra toán học điểm tuyệt đối đầu tiên của mình. Đột nhiên em nghe cô Williams nói dịu dàng, “Anna, em có một nụ cười thật đẹp.”
Nụ cười của Anna tan biến. Cô bé đợi những lời tiếp theo, những lời như, “Sao em không cười thường xuyên hơn thay vì cứ xị mặt như thế?” Nhưng cô Williams đã quay sang Isobel và bắt đầu giải thích bài chia số lớn của bạn sai chỗ nào. Cô có vẻ không hề nghĩ rằng cô đã nói ra điều gì đáng ngạc nhiên.
Anna đã tập cười sau chuyện đó. Để bắt đầu, em cười một cách thẹn thùng và hiếm hoi. Tuy vậy cô Williams luôn cười đáp lại, và trước cả khi em nhận ra, các bạn học cũng cười với em. Nụ cười toe toét của Ben trông quá bắt mắt khiến Anna không thể không đáp lại bằng một nụ cười tương tự. Những nụ cười của em vẫn không kéo dài nhưng chúng đến ngày càng thường xuyên hơn.
“Cô ước gì mình có lúm đồng tiền như em đấy, Anna Solden,” cô Williams thở dài. Ai cũng có thể thấy đó là tiếng thở dài ganh tị thực sự. “Cô luôn muốn có một cái lúm đồng tiền.”
Anna không hề biết em có lúm đồng tiền. Em không biết lúm đồng tiền là gì. Khi Isobel giải thích, Anna chọc đầu ngón tay vào cái lúm trên má phải của em. Em cười; nó xuất hiện. Em thôi cười; nó biến mất. Nhanh chóng và vui vẻ, nó cứ thế đến và đi. Anna hơi đỏ mặt.
Và mình có những hai cái, em nghĩ.
Tối hôm đó, trong bữa tối, em quan sát chị Frieda và chị Gretchen. Cuối cùng chị Frieda cũng cười vì một chuyện đùa của anh Fritz. Rồi chị Gretchen cũng mỉm cười. Không ai có cái lúm đồng tiền nào cả.
Rồi, khoảng giữa tháng Mười, một buổi sáng nọ cô Williams đến bên bàn của Anna cùng một quyển sách.
“Cô có một món quà cho em, Anna,” cô nói. “Nó là của riêng em. Phần lớn nội dung là quá khó với em ngay lúc này nhưng cô nghĩ em vẫn sẽ thích nó. Nó sẽ là một thử thách cho em.”
Nghe đến từ “thử thách”, khuôn mặt Anna sáng bừng lên. Em nhận quyển sách về tay mình. Ở trên bìa có hình một cái cổng cao. Xuyên qua chấn song, em có thể thấy hai đứa bé trong một khu vườn.
“Vư… ơ… n…” em bắt đầu chậm chạp, cau mày nhìn các chữ.
“Vườn,” cô giáo giúp em.
“Vườn thi ca… của một đứa trẻ,” Anna nói một cách đắc thắng. “Mà ‘thi ca’ là gì ạ?”
“Là thơ,” Ben nói với em. “Nhìn này.”
Cậu với lấy quyển sách, mở ra và chỉ cho em thấy.
“Àaa, Gedichte,” Anna nói, giờ đã hiểu.
“Người đàn ông đã viết những bài thơ này không có anh chị em,” cô giáo nói trong lúc kéo một chiếc ghế lại và ngồi xuống cạnh bàn Anna. “Ông ấy tên là Robert Louis Stevenson.”
“Có phải ông ấy là người viết bài thơ về cái xích đu không ạ?” Jane hỏi.
Cô Williams gật đầu và mỉm cười với Jane. Cô nói tiếp như thể cô đang kể cho họ nghe một câu chuyện. Cả lớp lắng nghe.
“Ông ấy thường hay bị ốm bệnh. Thật ra là trong cả cuộc đời ông. Và cô nghĩ ông ấy thường cảm thấy rất cô đơn khi còn nhỏ. Nhưng ông ấy chơi rất nhiều trò với trí tưởng tượng của mình.”
Trí tưởng tượng là một từ dài nhưng Anna biết nó có nghĩa là gì. Cô Williams yêu thích trí tưởng tượng. Chỉ mới hôm trước thôi, cô đã xem những bức tranh Anna vẽ một người khổng lồ đang sải bước bên ngoài lâu đài của gã, đầu gã cao hơn cả mây và cô đã nói, “Em có một trí tưởng tượng thật phong phú, Anna.” Trước nay Anna chưa bao giờ nghĩ xem em có trí tưởng tượng loại nào, nhưng em không thể nghi ngờ cô Williams. Trí tưởng tượng là một thứ mà cô Williams rất rành.
Chị Gretchen có trí tưởng tượng phong phú không nhỉ? Anna tự hỏi. Em nghĩ là không.
Lúc này em giở quyển sách của mình ra và bắt đầu lật qua các trang. Cô giáo đã đi chỗ khác và để em lại.
“Thử giải những bài này đi, Ben,” cô nói. Ben bận rộn.
Cô Williams cho bốn bạn lớp Ba lắng nghe nhau tập đọc bảng cửu chương.
Không ai quấy rầy Anna. Không ai bảo em phải cất sách đi hay bắt em phải đứng lên đọc bài trong đó. Cả buổi sáng em được ở một mình với món quà của em, một mình để nghiền ngẫm nó và khám phá ra những kho tàng của nó cho chính mình.
Phần lớn quyển sách đúng là quá khó với em. Nhưng bài thơ đầu tiên em cố gắng đọc thì em hiểu. Nó viết về việc thức dậy khi trời vẫn còn tối vào mùa đông và phải đi ngủ khi trời vẫn còn sáng vào mùa hè. Mama rất nghiêm khắc về giờ đi ngủ. Anna biết chính xác Robert Louis Stevenson đã cảm thấy như thế nào. Em đọc khổ thơ cuối một lần nữa, gật gật đầu.
Và bạn không thấy thật khó khăn sao,
Khi cả bầu trời trong xanh như thế,
Và tôi muốn chơi đùa vô kể,
Mà lại phải đi ngủ vào ban ngày?
Em cũng tìm thấy một bài thơ khác nữa, trong buổi sáng hôm ấy, bài thơ đã vĩnh viễn trở thành bài thơ yêu thích của em. Nó tên là “Người thắp đèn”.
Isobel không chắc người thắp đèn là gì nên cô Williams phải đến giúp các em. Cô mô tả những ngọn đèn thắp bằng khí đốt chạy dọc con đường khi Stevenson còn là một đứa trẻ, và kể cho họ nghe về người thắp đèn - người sẽ đến thắp sáng chúng vào mỗi buổi tối.
“Cô cũng thích bài thơ đó, Anna ạ,” cô mỉm cười nói khi cô quay trở lại giúp lớp Sáu xử lý môn địa.
Anna đọc khổ thơ giữa một lần nữa.
Giờ Tom sẽ là tài xế và Maria thì đi biển,
Papa là chủ ngân hàng và giàu có vô biên,
Nhưng tôi, khi khỏe hơn và chọn được việc cho mình,
Leerie hỡi, tôi sẽ đi vòng quanh buổi tối và thắp đèn lung linh.
“Ai là Tom và Maria ạ?” em hỏi, cắt ngang bài học địa lý.
Cô Williams không bảo em rằng xen ngang như thế là bất lịch sự. “Có lẽ là anh em họ của ông ấy,” cô đáp. “Ông ấy thỉnh thoảng có chơi cùng họ.”
Anna cười khi nghĩ đến việc Maria muốn đi biển. Em đã nghĩ đến việc hỏi cô Williams xem liệu ông Stevenson có trở thành một người thắp đèn thật hay không. Bằng cách nào đó, em không cần phải hỏi nữa. Ông ấy đã làm thơ còn gì.
Em đọc tiếp đến đoạn em thích nhất:
Và này! Trước khi vội lướt qua cùng thang và ánh sáng;
Leerie hỡi, hãy nhìn một đứa trẻ và gật đầu chào nó tối nay!
Lần này em đợi đến lúc cô giáo chú ý đến em. Cô Williams dường như cảm nhận được rằng em đang chờ đợi.
“Sao vậy, Anna?” cô hỏi.
“Cô có nghĩ người thắp đèn đã nhìn thấy ông ấy ở đó không, cô Williams?” tim Anna đập theo từng lời.
“Có, cô nghĩ vậy,” cô Williams đáp. “Cô nghĩ đó chính là điều đã khiến ông Stevenson nhớ đến anh ta sau chừng ấy năm. Để cô đọc bài thơ đó cho các bạn nhé?”
Anna chìa quyển sách ra.
“Có lẽ em sẽ giúp cô,” cô giáo nói. “Em nghĩ em có thể đọc khổ thơ cuối không?”
Anna chưa bao giờ được mời đọc thành tiếng trước đây. Frau Schmidt chỉ có ra lệnh, không có mời.
“Cô sẽ giúp nếu em bị vướng,” cô Williams trấn an em, rồi bắt đầu:
“Trà sắp sẵn sàng và mặt trời đã khuất dạng
Đã tới lúc đến cửa sổ nhìn Leerie ghé ngang,”
Cả lớp đều lắng nghe, kể cả các nam sinh và nữ sinh lớp Bảy.
“Được rồi, Anna,” cô Williams nói. Anna nuốt khan một cái và bắt đầu đọc khổ cuối. Em đã đọc đi đọc lại nó vài lần rồi. Em gần như không bị vấp.
“Vì chúng ta rất… may mắn, với một ngọn đèn ngay trước cửa,…
Và Leerie… dừng lại thắp nó… cũng như thắp thêm nhiều… hơn nữa;…”
Thêm hai dòng nữa là xong rồi. Cô Williams vẫn chưa phải giúp một lần nào. Anna ngước lên, khuôn mặt em sáng rỡ.
“Làm tốt lắm, Anna,” cô Williams nói.
Trưa hôm đó, Anna đi đến bàn giáo viên, cầm quyển sách trên tay.
“Đây là sách của em thật ạ?” em hỏi, không thể tin nổi về món quà.
“Của riêng em đấy. Em có thể mang sách về nhà.”
“Tớ đã nói rồi mà, Anna,” Ben nhắc em. “Cô tặng sách cho tất cả mọi người. Cô đã tặng tớ quyển Phù thủy xứ Oz.”
“Em cảm ơn cô,” Anna nói.
Lẽ ra em phải nói thế ngay từ lúc nãy, giờ em mới nhớ ra. Sự xấu hổ khiến lời lẽ cứng ngắc và trịnh trọng. Nhưng cô giáo vẫn mỉm cười.
Rồi cô không cười nữa. Anna đang cất quyển sách vào ngăn bàn của em.
“Anna, cô đã nói là em có thể mang sách về nhà mà,” cô nhắc lại.
Anna quay qua. Mặt em cứng đơ.
“Em để sách ở đây không được ạ?”
“Em không thích mang nó về hơn sao?” cô giáo hỏi.
“Không ạ,” Anna nói.
“Được rồi. Em có thể làm bất kỳ điều gì em thích. Đó là sách của em mà,” cô Williams khẳng định với em.
Một lần nữa cô lại thắc mắc ở nhà Anna có vấn đề gì. Cô đã hỏi Franz Schumacher về gia đình Solden, nhưng chính anh cũng bối rối.
“Họ có vẻ là một gia đình hạnh phúc ngoại trừ Anna,” anh đã nói. “Cô bé là con út, dĩ nhiên, nhưng chuyện đó đáng ra không thể khiến cô bé quá… quá gai góc đến vậy. Có lẽ chuyện đã bắt đầu từ khi không ai hiểu được cô bé có vấn đề về thị lực.”
Anna sải bước ra khỏi phòng học để về nhà ăn trưa. Quyển sách mới nằm đợi trong hộc bàn của em. Cô Williams cũng đợi. Liệu cô có phải bắt đầu lại từ đầu để dần chiếm được lòng tin của Anna, để dỗ cho em cười nụ cười thẹn thùng đó không?
Nhưng khi Anna quay lại, lông nhím của em đã biến mất hết. Em vội vã đến chỗ ngồi, khuôn mặt em hào hứng và đầy sức sống. Ngay lập tức em lấy quyển sách mới ra.
Đầu tiên em đọc lại những bài thơ em đã hiểu rõ sáng nay. Sau đó em bắt đầu đọc một bài thơ mới. Nó khó hơn. Em thậm chí còn không đọc được tựa đề. Em đọc lên từng từ một cách chậm chạp, mấp máy môi, thì thầm từng âm tiết thành tiếng.
“ ‘Tẩu… thoát… giờ… đi… ngủ.’ ”
Em quay sang cầu cứu Isobel nhưng chỉ một chút thôi. Em muốn tự mình đọc nó.
Quyển sách rất dễ thương, những bài thơ như âm nhạc, những bức hình đẹp tuyệt vời. Và nó là một thử thách.
“Giống mình vậy,” Anna Solden tự nhủ một cách mãn nguyện.