Kishimoto Masayoshi và Fujie Nao cứ thế đi ra ngoài, không gặp phải vấn đề gì lớn. Giả sử cả hai không biết một chút tiếng Hàn nào đi nữa thì cũng chẳng sao cả.
Trong số người Hàn Quốc, có không ít người biết chút tiếng tiếng Nhật, đặc biệt là những người lớn tuổi thì lại càng nhiều. Nếu không được nữa, nói tiếng Anh là có thể giải quyết được tất cả các vấn đề.
Tình cảm của người Hàn Quốc đối với Nhật Bản rất phức tạp, vừa yêu lại vừa hận. Nhìn gần lại, tâm lý mâu thuẫn này của người Hàn Quốc cũng là vì từng bị Nhật Bản thống trị bán đảo Triều Tiên suốt 35 năm dài đằng đẵng.
Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng cai trị bán đảo Triều Tiên, tự nhiên sẽ đàn áp mọi thứ mang tính dân tộc của họ. Trong số những người Hàn Quốc (người Triều Tiên) từng nhận được nền giáo dục tốt vào thời đó, thậm chí là từng học đại học, đều có thái độ hợp tác với người Nhật Bản.
Ngay cả sau khi bán đảo Triều Tiên quang phục, nó cũng bị chia thành hai nước. Thực tế mà nói, từ lịch sử bán đảo Triều Tiên, thời gian tồn tại như một quốc gia thống nhất không dài cho lắm. Nơi này cơ bản là hoặc chia thành hai nước, hoặc là ba nước.
Phía Hàn Quốc, dù là bị triều tiên hay một số người trong nước Hàn Quốc coi là nhóm người phản quốc (Hán gian), cũng không hề bị thanh toán triệt để, mà chỉ làm một cách mang tính hình thức.
Họ vẫn tiếp tục đảm nhận các chức vụ quan trọng ở đủ mọi lĩnh vực. Kỳ thực, đạo lý rất đơn giản. Không dùng những người này, thì còn có thể dùng ai?
Trong 35 năm Nhật Bản thống trị bán đảo Triều Tiên, thời kỳ đó cũng được gọi là thời kỳ Nhật trị Triều Tiên (từ ngày 29 tháng 8 năm 1910 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, Triều Tiên sa vào cảnh thuộc địa của Nhật Bản, là thời kỳ chịu sự thống trị của Nhật Bản).
Người Triều Tiên bình thường tối đa cũng chỉ được phép học hết tiểu học. Hàng loạt người mù chữ, bán mù chữ,... tràn ngập đất nước Hàn Quốc sau khi độc lập. Dưới áp lực của hiện thực bất đắc dĩ, phía Mỹ cũng chỉ đành để những người này tiếp tục làm việc.
Thời gian lâu dần, tự nhiên họ đã hình thành nên một thế lực kiên cố ở Hàn Quốc, dù sao thì "động một phát là ảnh hưởng đến toàn thân".
Người Hàn Quốc cũng chỉ có thể xả giận trên mạng, trong phim ảnh... Luôn có câu nói thế này, giá như đất nước này có thể kiên quyết hơn trong việc xử lý những kẻ phản quốc (Hán gian) thì tốt biết mấy.
Nhìn xa hơn, thời đại Toyotomi Hideyoshi thống trị Nhật Bản từng xuất binh xâm lược bán đảo Triều Tiên hai lần. Trận đánh này đã kéo dài rất nhiều năm. Xa hơn nữa, chính là trận chiến Bạch Giang Khẩu vào thời nhà Đường.
Trên thực tế trong quá khứ, thái độ của các nhà cai trị trên bán đảo Triều Tiên từ trước đến nay đều là vừa cống nạp cho Trung Quốc, lại vừa cống nạp cho Nhật Bản.
Cho dù Hàn Quốc đã trở thành một quốc gia hiện đại độc lập, lấy "Kỳ tích sông Hàn" mà họ tự hào làm biểu tượng cho sự trỗi dậy kinh tế, thì cho đến nay vẫn không thể triệt để thoát khỏi ảnh hưởng của Nhật Bản đối với mình.
Tuyên truyền của Hàn Quốc đối với người dân đều là tự chủ nghiên cứu phát triển các thứ, nhưng trên thực tế, không ít công nghệ vẫn là của Nhật Bản. Trước khi tạo ra cái gọi là kỳ tích sông Hàn, Park Chung-hee đã phối hợp với Mỹ xuất binh sang Việt Nam, chính là muốn Mỹ hỗ trợ kinh tế cho Hàn Quốc.
Vấn đề này từ trước đến nay vẫn luôn có tranh cãi? Một thuyết cho rằng, Mỹ đã đồng ý. Hàn Quốc lúc đó mới có sự chuyển giao công nghệ của Mỹ và Nhật Bản, sản xuất cũng bắt đầu từ việc xây dựng công nghiệp thâm dụng lao động, tiếp theo là đủ loại hàng nhái, cuối cùng bắt đầu bước lên con đường tự nghiên cứu phát triển.
Trong quá trình này, người Hàn Quốc cũng đã trải qua không ít đau đớn, hàng trăm nghìn, hàng trăm nghìn người được đưa sang Trung Đông để cung cấp lao động giá rẻ.
Sớm hơn nữa, Hàn Quốc còn đưa một lượng lớn lao động giá rẻ trong nước sang Đông Đức để đào than. Tất cả các quốc gia vào giai đoạn đầu phát triển kinh tế, đều có một lịch sử đầy máu và nước mắt.
Đàn ông thường được xuất khẩu như những lao động chân tay vất vả để kiếm tiền, trong khi phụ nữ nhìn chung lại được xuất khẩu làm gái mại dâm để kiếm tiền. Nhật Bản cũng không ngoại lệ.
Điều này có thể truy nguyên về thời điểm trước Minh Trị Duy Tân của Nhật Bản, khi họ đưa kỹ nữ sang Nam Dương, tức là Đông Nam Á. Bộ phim nổi tiếng nhất "Hướng Vọng Khương Nam" (Nhìn về quê cũ) chính là phản ánh một số tình hình chân thực lúc bấy giờ.
Họ gửi một lượng lớn tiền kiếm được từ việc bán thân về lại Nhật Bản, nhưng cuối cùng lại không nhận được sự tôn trọng đáng có. Sau cuộc Duy Tân Minh Trị, kinh tế Nhật Bản trỗi dậy, và họ không thèm đếm xỉa đến chút tiền ít ỏi đó của những người phụ nữ ấy nữa.
Cho dù trong giai đoạn đầu, họ đã đóng vai trò không nhỏ, thì người ta vẫn cực lực phủ nhận đủ điều, dẫu sao thì đó cũng được coi là vết nhơ của quốc gia tồn tại trên đời.
Thuyết thứ hai cho rằng, Mỹ đã đồng ý. Cho dù có sự chuyển giao công nghệ và sản xuất của Mỹ và Nhật Bản, nhưng chủ yếu vẫn là sự chuyển giao các ngành công nghiệp thâm dụng lao động từ hướng Đông Nam Á, dù sao thì cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đâu chỉ giới hạn ở mỗi nước Việt Nam, mà còn lan sang cả các nước láng giềng xung quanh.
Dù là Hàn Quốc hay Nhật Bản, điều may mắn là sự hy sinh của những thế hệ đi trước không hề uổng phí, dưới sự nỗ lực chung của giới tinh anh trong nước mỗi quốc gia, mới giúp cho đất nước có được sự phát triển lớn chưa từng có.
Hàn Quốc chỉ dùng ba mươi năm để đạt được mức tăng trưởng GDP gấp một trăm lần, từ đó có thể chính thức trở thành một trong những quốc gia thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) vào năm 1996.
Kishimoto Masayoshi và Fujie Nao đi không xa, liền tìm thấy một quán gà rán kiểu Hàn trên một con phố cách khách sạn không xa.
Họ bước vào, chọn một chiếc bàn trống rồi đối mặt ngồi xuống. Fujie Nao chủ động gọi món bằng tiếng Hàn.
"Không nhìn ra đấy, em lại biết cả tiếng Hàn cơ à." Kishimoto Masayoshi dù biết cô chỉ biết một chút, nói cũng ngọng nghịu, nhưng điều đó cũng không cản trở việc giao tiếp cơ bản giữa người của hai quốc gia.
"Anh quên thân phận nữ tiếp viên câu lạc bộ của em rồi sao? Đã là nữ tiếp viên, ít nhiều gì cũng phải nắm được một chút ngoại ngữ chứ."
"Những người giàu có trong số những người Hàn Quốc khi đến Tokyo Nhật Bản, vẫn sẽ chọn đến các câu lạc bộ ở khu Ginza để giải trí. Lúc này, nếu anh biết một chút tiếng Hàn, thì sẽ có thêm một ưu thế so với người khác."
"Còn những thứ nghe không hiểu, cách thức chung trên trường quốc tế chính là dùng tay, dùng cử chỉ cơ thể để khua khoay múa máy thôi!" Fujie Nao nghiêm túc nói.
"Có lý. Thời gian em không có ở câu lạc bộ Đom Đóm (Hôotaru) thì phải làm sao?" Kishimoto Masayoshi bình thản hỏi.
"Cho dù mấy ngày nay em không có mặt ở quán, thì quán cũng chẳng thể sập được đâu. Em đã sớm dặn dò người ta rõ ràng từ trước rồi." Fujie Nao mỉm cười rạng rỡ.
"Chúng ta nói trước với nhau rồi đấy nhé. Trong thời gian ở Hán Thành, Hàn Quốc, anh không thể cứ mãi bồi em đi chơi thế này được. Nhưng mà, bồi em ngủ thì hoàn toàn không thành vấn đề. Mọi chi phí của em đều tính cho anh." Kishimoto Masayoshi cười nói.
"Em tự có tiền, thèm vào mà tiêu tiền của anh! Bằng không, lại khiến em trông giống như mấy nữ tiếp viên vì tính chất công việc nên mới phải đi ra ngoài đi chơi cùng khách hàng vậy." Fujie Nao thẳng thắn nói.
"Tùy em thôi." Kishimoto Masayoshi không kiên trì nữa, dù sao cách thức và phương pháp anh có thể bù đắp cho cô thì có rất nhiều. Bọn họ cũng chẳng phải kiểu làm ăn chộp giật một lần rồi thôi.
"Bữa này cũng do em mời anh." Fujie Nao cố tình vỗ ngực nói.
"Được chứ." Kishimoto Masayoshi không từ chối, càng lúc càng trở nên bất lịch sự hơn mà nói: "Được. Đợi anh ăn no uống say rồi, tối nay mới có thể phục vụ em thật tốt."
"Đồ xấu xa." Fujie Nao hoàn toàn nghe hiểu ý nghĩa thực sự trong lời nói của anh, mím môi cười khẽ.