Torchy Và Vee

Lượt đọc: 99 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
Torchy Gặp Ellery Bean

❊ ❊ ❊

Dĩ nhiên, tôi nói thế chủ yếu là để trêu Vee thôi. Tôi đoán mình cũng hào hứng với cái lối sống ngoại ô này chẳng kém gì cô ấy, nhưng cứ mỗi lần cô ấy đâm ra sướt mướt vì nó — cái kiểu dễ nổi lên vào những đêm như dạo gần đây, khi trăng sáng vằng vặc và mùa hè đang bước những bước đầu tiên — là y như rằng tôi lại tỏ ra dửng dưng.

Số là, cô ấy vừa lùa tôi ra hiên sau để hít hà hương thơm ngọt ngào của hoa kim ngân và ngắm ánh trăng từ từ nhô lên trên hàng cây cối xay cao vút phía bên kia khu vườn trồng rau.

"Anh Torchy, đêm nay tuyệt đẹp phải không?" cô ấy nói. "Và ngoài này mọi thứ trông thật bình yên, tĩnh lặng làm sao?"

"Trông thì có vẻ thế," tôi đáp, "nhưng ai mà biết trước được. Ban ngày thì tôi thích vùng quê này đấy, nhưng ban đêm, nhất là những đêm trăng thế này,— Chà, tôi chẳng biết bao giờ mình mới quen nổi nữa."

"Thật ngốc nghếch, Torchy!" Vee bảo.

"Làm mọi thứ trông cứ như có ma quái ấy," tôi tiếp tục. "Toàn những bóng râm là bóng râm. Làm sao cô biết đằng sau chúng là cái gì? Lại thêm bao nhiêu là âm thanh kỳ quái. Kìa! Lắng nghe xem kìa!"

"Đồ ngốc!" cô ấy nói. "Đó là một con cóc cây thôi. Mong là anh không sợ nó đấy nhé."

"Sợ gì nếu nó là con vật hiền lành," tôi bảo. "Nhưng làm sao cô biết nó không phải con hoang dã? Lại còn tiếng vo ve rít lên kìa."

"Ừ," cô ấy đáp. "Một chiếc ô tô đang chạy xuống đường nhựa kìa. Kìa, nó rẽ vào đường nhà mình rồi! Biết đâu có ai đến thăm chúng ta đấy, đồ ngốc ạ."

Quả nhiên đúng thế. Chỉ một phút sau, vợ chồng anh chị Robert Ellins đã cất tiếng gọi chào chúng tôi ở đằng trước. Hóa ra họ đến để rủ chúng tôi cùng sang thăm một vài người hàng xóm mới.

"Ai thế?" Vee hỏi.

"Cậu không đoán được đâu," bà Robert nói. "Nhà Zosco."

"Thật á!" Vee thốt lên. "Em cứ tưởng họ là——"

"Đúng vậy," bà Robert đệm vào, "chị cũng nghĩ thế. Hơi khó bề giao du đấy. Nhưng chị cứ muốn thử cái đàn ống lớn mà nghe nói họ mới lắp trong nhà. Bob nghĩ làm thế là tệ lắm. Cứ nhìn mặt anh ấy thì biết trông bối rối chưa kìa. Nhưng chị đã hứa là sẽ không ở lại quá nửa tiếng nếu ngài ông trùm điện ảnh không rơi vào trạng thái tĩnh lặng hơn là lúc vừa ăn tối xong, hoặc nếu nơi đó không bị chen chúc bởi quá nhiều ngôi sao màn bạc. Và chị nghĩ Bob muốn Torchy đi cùng để làm vệ sĩ. Thế hai vợ chồng có đi không nào? Các bạn nói sao?"

Cứ tin ở Vee đi, cô ấy chẳng bao giờ ngán lời thách thức. Thử cái gì cô ấy cũng muốn dấn thân một lần. Tôi đoán là từ nãy đến giờ cô ấy cũng hơi tò mò muốn biết cái bà Zosco mới đến này trông ra sao. "Anh bảo hồi trước người ta hay gọi cô ta là gì ấy nhỉ, Torchy?" cô ấy gặng hỏi.

"'Myrtle Mapes, Cô Gái Với Nụ Cười Triệu Đô,' đó là nghệ danh khi quảng cáo," tôi đáp. "Nhưng tụi làm truyền thông ấy à, nửa thời gian bọn chúng chẳng thèm bận tâm đến việc mình đang nói gì đâu. Và biết đâu cô ta chỉ cười kiểu đó khi máy quay đã được chỉnh để quay cận cảnh."

"Em mặc kệ," Vee nói. "Em nghĩ đi chơi thế chắc sẽ vui lắm."

Còn tôi thì sao cũng được, thế nào cũng chẳng sao cả. Tôi đã chạm mặt cái tay Andres Zosco này khối lần khi ngồi tàu điện qua lại. Thậm chí có bận khi tôi đang đi bộ từ ga về, hắn còn ngỏ ý muốn đón tôi lên chiếc limousine của hắn để cho tôi đi nhờ một đoạn. Và tôi phải thừa nhận rằng hắn chẳng giống chút nào với hình dung của tôi về một nhà sản xuất phim giàu sụ.

Chẳng có gì gọi là uy nghi ở con người ông Zosco cả. Khó mà thế được. Trông hắn cứ thấp lùn, chân ngắn, mặt tròn trịa và nhẵn nhụi, đôi mắt nâu có vẻ hiền lành, và mái tóc được chải chuốt gọn gàng theo kiểu ép sát vào da đầu. Bạn sẽ chẳng bao giờ đời nào ngờ hắn là cái gã dám bỏ tiền ra mua một chiếc tàu thủy chạy trên sông Hudson rồi cho nổ tung nó chỉ để lấy một nghìn thước phim, hay dựng lên một cảnh quay đám đông với số lượng người đủ để lấp đầy Quảng trường Times trong đêm bầu cử cả. Không. Thường thì hắn chỉ cặm cụi đọc mấy cuốn catalogue hạt giống và nhấm nháp đậu phộng rang muối lấy từ trong một cái túi giấy.

Mới đầu mùa xuân năm ngoái là lúc hắn mua lại căn biệt thự Villa Nova này, cách nhà nhà Ellins chừng một dặm, rồi dọn về đây ở cùng với người vợ mà hắn đã tuyển chọn từ danh sách các ngôi sao màn bạc của mình. Tôi không biết hắn có mong tụi dân lưu trú hạng sang ở Piping Rock sẽ chào đón hắn hay không. Dù sao thì họ cũng chẳng làm thế. Họ chỉ rùng mình mỗi khi cái tên hắn được nhắc tới và cứ thế lánh xa Villa Nova y như cách họ từng làm khi cái gã đại gia đồng ở Duluth — kẻ đã xây cái dinh thự kỳ quái lai phong cách Moor — định làm trò tương tự. Nhưng có vẻ như nhà Zosco không định chịu thua dễ dàng thế đâu. Sau chừng một tháng cảm thấy buồn chán, họ bắt đầu lấp đầy hơn hai mươi căn phòng ngủ của mình bằng những vị khách do chính họ chọn lấy. Dĩ nhiên, một vài người trong số những vị khách mà tôi thấy đến đó trông có vẻ hơi lập dị, nhưng rõ ràng là nhà Zosco chẳng có ý định dựa dẫm vào đám hàng xóm để tìm kiếm bầu bạn. Biết đâu họ cũng chẳng muốn chúng tôi xông vào làm phiền, giống như ý của anh Robert gợi ý ấy.

Tuy nhiên, bạn chẳng thể nào khiến bà Robert phải bận tâm bởi những lời ám chỉ kiểu đó đâu. Bà ấy là một người rất giỏi xã giao. Hơn nữa, một khi bà ấy đã hạ quyết tâm muốn thử cái đàn ống mới kia thì bạn có thể cá chắc là bà ấy sẽ làm cho bằng được. Thế là chỉ chưa đầy ba phút sau, chúng tôi đã được tống gọn lên xe và phóng đi để đánh úp nhà Zosco.

Như bạn biết đấy, Villa Nova tọa lạc trên đỉnh của một ngọn đồi khá lớn, với con đường riêng uốn lượn ngược lên từ đường cái quan. Khi vừa rẽ vào, bạn sẽ đi ngang qua một tòa nhà hình thù kỳ dị phủ đầy dây leo mà tôi đoán vốn dùng làm nhà cho người gác cổng, dù trông nó giống một cái tháp bằng vữa bị rơi ra từ nhà kho nào đó hơn.

Chà, chúng tôi vừa cua xong và anh Robert vừa chuyển sang số hai để lấy đà lên dốc thì tôi thoáng thấy có ai đó đang lủi nhanh vào lùm cây; một kẻ gã người gầy nhẳng, đội chiếc mũ ca-rô kéo sụp xuống tận mắt khiến đôi tai chìa ra hai bên như đôi cánh chim non. Điều khiến tôi thấy hơi kỳ lạ là việc hắn nhảymót tránh xa cánh cửa nhà gác khi chiếc xe vừa rẽ vào, cùng với chi tiết hắn đang cầm một chiếc giỏ được phủ một tấm vải trắng.

"Hừ!" tôi lẩm bẩm, coi như nói một mình.

"Sao thế?" Vee hỏi. "Lại thấy gì dưới ánh trăng à?"

"Tưởng thế thôi," tôi đáp. "Cô không thấy à, ngay chỗ cổng ấy!"

"À, có chứ," cô ấy bảo. "Mấy bụi tử đinh hương thôi mà."

Và vì chẳng chắc chắn lắm về những gì mình vừa nhìn thấy nên tôi cho qua chuyện đó. Hơn nữa, chẳng có thời gian để bàn tán dài dòng. Việc tiếp theo tôi biết là chúng tôi đã đỗ xe dưới mái hiên vòm và lục tục bước xuống. Chúng tôi thấy đôi cửa lớn đang mở toang và sảnh chính lát cẩm thạch hồng sáng rực ánh đèn. Quây quần ở chính giữa sảnh, ngay trước một đài phun nước được bao quanh bởi những chậu dương xỉ, là khoảng chừng một chục người có vẻ đang rôm rả trò chuyện đầy vẻ hào hứng và kích động.

"Ơ hay, lạ thật đấy!" bà Robert nói, tay ngập ngừng đặt trên nút bấm chuông.

"Trông như một buổi họp gia đình ấy nhỉ," tôi bảo. "Biết đâu họ nghe tin chúng ta đến nên đang bỏ phiếu xem có nên cho vào hay đuổi ra không chừng."

Tôi nhận ra Andres Zosco đang đứng ở giữa đám đông, mặc chiếc áo khoác dạ tiệc viền lụa và đang nhai ngấu nghiến một điếu xì-gà đen to ụ với vẻ đầy lo âu. Tôi cũng đoán được rằng người phụ nữ tóc vàng hoe rực rỡ đứng bên phải hắn chính là nàng Myrtle Mapes nổi tiếng từng nở nụ cười trên vô số tấm biển quảng cáo. Bên trái là một ả phụ nữ to béo phì nộn, được trang hoàng lộng lẫy với những chuỗi ngọc trai và hoa taiòng thòng. Xung quanh còn có một gã già kỳ cục mặc bộ đồ đuôi tôm thắt cà vạt màu tía, dăm mươi người phụ nữ lùn tịt, ngực nở nang diện đồ cầu kỳ hệt như một cặp ghế sô-pha nhung, vài cô hầu phòng, và một gã phục vụ có bộ mặt ngây ngô như cái bánh đa nướng trông có vẻ đầy sợ hãi. Mọi người mải nói chuyện rôm rả đến nỗi chẳng ai nghe thấy tiếng chúng tôi lục tục bước lên bậc thềm.

"Này," anh Robert thì thầm, "hay là chúng ta rút lui nhỉ?"

"Rồi chẳng bao giờ biết chuyện gì đang xảy ra á?" Vee phản đối. "Chắc chắn là không rồi. Tôi sẽ gõ cửa." Và cô ấy làm thế thật.

"Đấy!" tôi bảo. "Cô vừa làm nổ tung cả một sự hoảng loạn rồi đấy."

Chỉ trong một phút, trông có vẻ đúng là như thế thật, bởi phần lớn bọn họ đều giật nảy mình hoặc túm lấy tay nhau đầy hoảng hốt. Sau đó, họ lao nhao tràn về phía cửa, với Zosco đi đầu.

Tôi đoán chắc là hắn đã nhận ra vài người trong chúng tôi, thế nên hắn liền phát ra một tiếng cười khục khặc trong cổ họng rồi xua tay mời chúng tôi vào nhà đầy thân thiện. "Xin lỗi nhé," hắn nói. "Tôi—tôi cứ tưởng là người khác chứ. Anh Ellins phải không nhỉ? Rất vui được gặp anh. Mời tất cả vào nhà đi."

Và sau khi chúng tôi được giới thiệu qua loa với tất cả mọi người, anh Robert liền lên tiếng rằng anh ấy e là chúng tôi đã chọn nhầm thời điểm để sang thăm.

"Chúng tôi—chúng tôi đang làm gián đoạn một cuộc họp gia đình hay đại loại thế phải không nhỉ?" anh ấy hỏi.

"Ôi, rất vui khi các bạn đến," Zosco nói. "Chẳng có gì là bí mật cả, và biết đâu các bạn lại có thể giúp chúng tôi một tay. Thực tình là chúng tôi đang hơi rối trí đây. Chuyện là về thằng em trai Jake của tôi. Nó đang sang thăm vợ chồng tôi tuần này. Có lẽ các bạn đã thấy nó ngồi xe limousine đi lại quanh đây rồi — gã đàn ông người thấp, đậm người, trông khá giống tôi, chỉ trẻ hơn vài tuổi thôi."

Anh Robert lắc đầu. "Tiếc quá," anh ấy nói, "nhưng tôi không nhớ lắm——"

"À, chắc là các bạn chẳng để ý đến nó đâu," Zosco tiếp lời. "Jake thì chẳng có gì cầu kỳ cả, ăn mặc giản dị thế thôi. Nhưng điều khiến chúng tôi thắc mắc là sao nó lại có thể biến mất lâu thế được cơ chứ."

"Mất tích ư?" anh Robert lặp lại.

"Thì nó đi mất rồi còn gì," Zosco nói. "Biến mất tăm từ sau bữa tối hôm qua tới giờ và——"

"Ôi, anh Jake, anh Jake ơi!" người phụ nữ phì nộn đeo chuỗi ngọc trai cất tiếng gào khóc.

"Thôi nào, Matilda!" Zosco chen vào. "Đừng có giở cái trò sướt mướt ấy ra lúc này nữa. Chắc chắn là nó vẫn bình thường ở đâu đó thôi. Rồi nó sẽ xuất hiện lại đúng lúc ấy mà. Thế nào cũng thế. Nó có phải là tay chơi bời lêu lổng hung hăng gì đâu cơ chứ. Jake vốn ngoan đạo như đi lễ nhà thờ ấy. Chẳng có thói xấu gì đáng kể. Không phải kiểu người thích lẻn vào thị trấn để ăn chơi sa đọa đâu. Không đời nào. Lại chẳng bao giờ mang theo nhiều tiền mặt hay đồ trang sức bên người. Mà ngoài này thì làm gì có cướp giật."

"Nhưng—nhưng anh ấy biến mất rồi còn gì!" Matilda rên rỉ.

"Thì đúng thế rồi," Zosco thừa nhận. "Biết đâu nó lại quay về Saginaw rồi ấy chứ. Chắc có chuyện gì xảy ra ở cửa hàng rồi. Hoặc giả nó nghe ngóng được tin có tay buôn quần áo nào đó đang xả kho hàng thu đông với giá rẻ nên cắm cổ lao về thị trấn để chốt đơn đến nỗi quên bén mất việc báo tin cho chúng ta. Đúng là phong cách của Jake rồi, nếu hắn thấy cơ hội kiếm lời vài ngàn đô."

"Thế nó đi mà không đội mũ, lại chẳng mang theo cả thuốc đau dạ dày nữa à?" bà Jake gặng hỏi.

"Nếu đó là một món hời giống như lô áo mưa quân dụng lần trước, thì dù có mặc đồ ngủ nó cũng đi ấy chứ," Zosco bảo.

Nhưng Matilda vẫn lắc đầu. Chị ta chắc mẩm là có chuyện tồi tệ nào đó đã xảy ra với Jake. Giờ ngẫm lại thì chị ta tin rằng hẳn là Jake đang bận tâm điều gì trong lòng. Mấy ngày nay mọi người không thấy hắn có vẻ bồn chồn đứng ngồi không yên hay sao? Có chứ, cả hai người phụ nữ lùn tịt kia đều công nhận thế. Và gã đàn ông kỳ cục mặc chiếc áo đuôi tôm dài thượt còn nhắc lại chuyện Jake đã bỏ dở ván bida với hắn ta, thậm chí ngay cả khi hắn đã đề nghị cho Jake chấp trước tận 20 điểm.

"Nhưng điều đó chẳng có nghĩa lý gì cả," Zosco nói. "Từ trước tới nay Jake có bao giờ biết chơi bida đâu cơ chứ. Hắn ghét cay ghét đắng ấy chứ. Hắn chẳng có máu thể thao chút nào, trừ phi là lúc chơi bài pinochle. Hắn chỉ cắm đầu vào công việc thôi. Chẳng biết cách tận hưởng một kỳ nghỉ thực sự ra trò như một quý ôg gì cả. Lúc nào tôi cũng la rầy nó chuyện đó."

Dần dần tất cả chúng tôi đã di chuyển vào phòng khách lớn, nhưng câu chuyện về Jake vẫn tiếp tục là chủ đề chung của mọi người. Thú thực là chúng tôi cũng bắt đầu thấy tò mò về hắn rồi đấy. Khi một chủ cửa hàng trung niên đến từ Saginaw rời khỏi bàn ăn, đi lang thang vào một khu cộng đồng yên tĩnh, đáng kính như chỗ chúng tôi, rồi biến mất tăm tích như thể vừa rơi xuống cống ngầm hoặc bị máy bay quắp đi thì quả thực đủ để khiến bạn phải đau đầu suy đoán. Qua vài câu hỏi, chúng tôi đã nắm được toàn bộ tiểu sử cuộc đời của Jake, từ lúc hắn rời Litva khi còn là một cậu bé cho đến lần cuối cùng người ta nhìn thấy hắn đang đứng xin lửa hút xì-gà từ gã quản gia. Chúng tôi được nghe kể tường tận về mọi thói quen của hắn; cách hắn luôn ngủ với một góc ga trải giường trùm lên tai phải, không thể ăn dâu tây nếu không bị nổi mẩn ngứa khắp người, và gần như chẳng bao giờ chịu lết thân đi xem biểu diễn hay dự tiệc tối nào có sự góp mặt của phụ nữ. Thế mà khi đến thăm Villa Nova này, hắn lại đi lang thang bỏ đi như thể bị mất trí, hoặc bị bắt cóc, hay tệ hơn thế nữa.

"Chà," anh Robert lên tiếng, "nghe cứ như một vụ án thực thụ ấy nhỉ, suýt nữa thì thành vụ việc dành cho Sherlock Holmes rồi."

Chẳng hiểu sao lúc đó anh ấy lại liếc nhìn tôi. "Ôi trời!" anh ấy nói tiếp. "Cậu đây rồi, Torchy. Cậu tính sao về vụ này đây?"

"Tôi á?" tôi đáp. "Chắc cũng chẳng khá hơn anh là mấy đâu."

"Ôi dào, thôi nào!" anh ấy bảo. "Hãy phát huy cái bộ óc nhạy bén như chớp giật của cậu đi chứ. Nhờ cậu ta đi, anh Zosco. Tôi từng chứng kiến cậu ta gỡ rối những vụ việc còn kỳ lạ hơn thế này nhiều. Thậm chí tôi dám cá là cậu ta đã tìm ra manh chúng ta vừa trò chuyện nãy giờ đấy."

Dĩ nhiên, phần lớn câu nói đó chỉ là lời trêu chọc của anh Robert. Lúc nào anh ấy cũng hay đùa cợt kiểu đó. Nhưng Zosco, sau khi nhìn tôi chăm chú từ đầu đến chân, bèn nhún vai đầy vẻ hoài nghi. Tuy nhiên, bà Jake thì sẵn sàng bấu víu vào bất cứ thứ gì.

Chị ta đăm đăm nhìn tôi và hỏi: "Cậu có tìm được anh ấy không? Cậu sẽ làm chứ, chàng trai trẻ?"

Tôi cũng nhận được một cái nhìn đầy ngưỡng mộ và khích lệ từ Vee. Thế là đủ quyết định rồi đấy. Sau cú đó thì thể nào tôi cũng phải làm một vố ra trò. Hơn nữa, quả thực trong đầu tôi cũng đang phảng phất một trực giác mơ hồ.

"Tôi không hứa trước điều gì đâu nhé," tôi bảo, "nhưng tôi sẽ thử một phen xem sao. Tuy nhiên, trước hết có lẽ anh chị có thể cho tôi biết thanh niên nào quanh vùng này hay đội chiếc mũ sọc ca-rô đen trắng không?"

Câu hỏi đó lập tức khiến cựu tiểu thư Myrtle Mapes — nay là bà Zosco — giật nảy mình. "Ơ—ơ," cô ta lắp bắp, "em trai tôi, Ellery có đấy."

"Đúng thế nhỉ," Zosco chen vào. "Thế thằng bé đâu rồi?"

"Ellery á?" Myrtle vừa nói vừa ném ra cái nhìn ngây thơ vô số tội kiểu búp bê. "Ồ, chắc nó ở trong phòng thôi. Em—em sẽ đi xem sao."

"Thôi khỏi cần," tôi nói. "Chắc nó ở đấy đấy. Không quan trọng đâu. Cũng đang ở thăm nhà này phải không? Được bao lâu rồi? Khoảng hai tuần chứ gì. Và nó đến từ——"

"Từ quê cũ của tôi, Shelby, Bắc Carolina," cô ta đáp. "Nhưng ngài biết đấy, nó đâu phải là người bị mất tích."

"Đúng thế nhỉ," tôi bảo. "Lại đi lạc đề mất rồi phải không? Đúng là thể hiện tôi là một thám tử tồi đến thế là cùng. Giờ thì nếu tôi được mượn chiếc mũ của người mất tích, tôi sẽ ra ngoài lượn lờ do thám một chút."

"Mũ của nó á!" Zosco càu nhàu. "Cậu cần cái đó để làm gì cơ chứ?"

"Chà," tôi bảo, "nếu tôi tìm thấy ai đó mà đội vừa chiếc mũ này thì khả năng cao đó chính là Jake, đúng không nào?"

"Dĩ nhiên rồi," Matilda nói. "Nó đây này," rồi chị ta trao cho tôi một chiếc mũ phớt cứng cỡ bảy ba phần tư với mấy chữ cái viết tắt của hắn được dập nổi trên phần viền lót thấm mồ hôi.

Dù sao thì động thái đó cũng cho họ khối thứ để bàn tán, và phần nào đánh lạc hướng họ khỏi những điều tôi vừa gặng hỏi về Ellery. Bởi vì sau khi nghe kể về hắn, tôi thừa biết mình không hề nhầm lẫn khi trông thấy kẻ nào đó ở khu nhà gác cổng. Đó chính xác là nơi tôi sẽ hướng đến.

Khi đến chân đồi, tôi lách qua hàng rào rồi bước trên thảm cỏ để nếu có ai ở cổng thì cũng không nghe thấy tiếng bước chân mình. Và này, phán đoán của tôi quả thực chuẩn không cần chỉnh. Đứng đó dưới ánh trăng chính là cậu thanh niên đội chiếc mũ ca-rô.

Theo những gì tôi nhận ra thì hắn là một tên nhà quê 19 hoặc 20 tuổi ngực lép, cằm trễ, ăn mặc trông hệt như một gã dân chơi làng xã. Bạn biết đấy — túi áo khoác xẻ tà, quần cạp cao đét, giày mũi hếch, và chiếc cà vạt chắc được thiết kế bởi một tay họa sĩ vẽ giấy dán tường vừa bị sang chấn tâm lý. Trên tay trái hắn ôm một chiếc giỏ được che một phần bằng chiếc khăn ăn. Hắn cũng đang với tay đưa thứ gì đó qua một ô cửa sổ nhỏ nằm cao hơn đầu hắn chừng một gang tay.

Dĩ nhiên, chẳng cần phải có bộ óc siêu việt gì để đoán rằng có một kẻ khác đang ở bên trong nhà gác. Nếu không thì Ellery chuyền đồ qua cửa sổ làm gì? Mà kẻ ở bên trong thì chẳng đời nào trốn ra được, bởi lối đi duy nhất là cánh cửa nặng nề nạm sắt được khóa ổ khóa móc ở bên ngoài, còn ô cửa sổ nhỏ thì lại được che chắn bởi một khung lưới sắt trang trí. Hơn nữa, khi tôi rón rén bước lại gần hơn, tôi nghe thấy tiếng nói chuyện vang lên. Nghe có vẻ như kẻ ở bên trong đang lầm bầm phàn nàn chuyện gì đó. Giọng hắn khàn khàn và đầy vẻ bất bình, nhưng tôi không thể nghe rõ hắn đang cẩu thả nói cái quái gì. Tuy nhiên, khi gã thanh niên đội mũ ca-rô đáp trả thì nghe rõ mồn một.

"Ái chà, ngậm cái mõm lại đi, đồ đần độn!" hắn quát lên. "Được ăn bánh mì kẹp thịt gà nguội với mứt là may lắm rồi đấy. Mày nghĩ tao moi đâu ra cà phê nóng cho mày hử? Tao đang phải liều mạng lén lút cuỗm thứ này trong tủ lạnh sau khi lũ gia nhân về phòng đấy, mày biết không? Thế là quá tử tế với mày rồi đấy, đồ quân trộm cắp."

Lại những tiếng lầm bầm phát ra từ bên trong.

"Ừ, tao mang xì-gà đây rồi," gã kia nói tiếp, "nhưng mày đừng hòng chạm vào chúng cho đến khi mày chuyền mấy cái đĩa này ra đây. Mày tưởng tao rảnh rỗi đứng lì ở đây suốt đêm à? Nên nhớ đấy, chỉ cần mày hé một lời với lũ bạn của mày, hay với bất kỳ ai khác, là đội vệ sĩ trung thành của tao sẽ nã đạn xuyên qua cửa sổ đấy. Hả? Đến bao giờ á? Cho đến khi chúng tao tóm gọn tất cả bọn chúng vào lưới. Thế nên tốt hơn là mày đừng có kêu ca rên rỉ nữa mà mau cúi đầu khai nhận đi."

Đó là một màn đối thoại khá thú vị, nhưng tôi nghĩ mình sẽ tận hưởng nó hơn nếu được nghe âm thanh từ cả hai phía. Thế nên tôi vừa vạch đám bụi râm lách tới, căng tai nghe ngóng cho đến khi chỉ cách ô cửa sổ chưa đầy một thước thì vô tình dẫm phải một cành cây khô kêu rắc một tiếng to như pháo nổ. Chỉ trong tích tắc, gã thanh niên đã vứt chiếc giỏ xuống và quay phắt lại về phía tôi với một con dao lọc thịt dài trên tay. Và đó chính là hiệu lệnh để tôi hành động chớp nhoáng.

"'Sall right, Ellery," tôi nói. "Bạn đây mà."

"Bạn nào?" hắn gặng hỏi, nhìn tôi đầy vẻ ngờ vực.

"Cậu biết mà," tôi đáp, thì thầm đầy vẻ bí hiểm.

"Ồ!" hắn thốt lên. "Từ Tổng hành dinh tới à?"

"Chuẩn không cần chỉnh," tôi nói.

"Nhưng—nhưng làm sao tôi biết được," hắn tiếp tục, "anh không phải là——"

"Nhìn đây!" tôi nói, vung áo khoác ra sau rồi lùa ngón tay cái vào viền nách áo ghi-lê.

Quả nhiên chiêu đó hiệu nghiệm. Này nhé, nếu bạn nhanh tay chớp nhoáng khua khoắng cái khóa dây nợ mạ kiken, bạn hoàn toàn có thể qua mặt người ta để biến nó thành huy hiệu ngay cả giữa ban ngày.

"Tôi không ngờ các anh nhận được thư của tôi sớm thế đấy," Ellery nói. "Dù sao thì tôi cũng rất mừng vì anh đã tới. Nhìn này, tôi đã tóm được một tên trong băng đảng rồi đấy. Hắn chính là kẻ cầm đầu."

"Làm tốt lắm!" tôi khen. "Nhưng mấu chốt của vụ này là gì thế? Cậu chưa giải thích rõ lắm. Đây có phải là vụ——" "Suỵt!" Ellery ra hiệu. "Tôi chưa khai thác được hết những gì hắn biết đâu. Ra chỗ nào khuất để hắn không nghe thấy đã. Vào lùm cây đằng kia kìa."

Và khi chúng tôi đã vòng qua ngôi nhà gác và dùng mấy bụi cây che khuất tầm nhìn giữa chúng tôi với con đường, Ellery mới chịu mở miệng khai thông.

"Bọn chúng đang định thủ tiêu chị Maggie đấy," hắn nói. "Anh biết chị ấy là ai không — chị vợ của Andres Zosco ấy?"

"Nhưng tôi cứ tưởng chị ta là Myrtle Mapes cơ mà," tôi nói.

"À, đó chỉ là nghệ danh trên màn ảnh thôi," Ellery đáp. "Hồi còn ở Shelby, quê tôi, chị ấy tên là Maggie Bean. Và chị ấy vẫn là Maggie Bean khi đến New York và kiếm được công việc thư ký trong văn phòng của lão Zosco. Chính lão đã cho chị ấy cơ hội đóng phim điện ảnh đấy, anh biết không. Đoán xem chị ấy làm ăn khá chứ? Rồi lão Zosco mê mẩn chị ấy đến mức cưới làm vợ luôn. Chà, thế thì cũng chẳng có gì sai trái. Dù sao thì lão ta cũng là một lão già dở hơi, nhưng lão có đống tiền chất cao như núi. Tiêu không hết. Maggie cũng đã làm khối việc cho gia đình đấy chứ. Giáng sinh năm ngoái chị ấy mua tặng tôi hẳn một chiếc xe hơi tự lái; giúp tôi nghỉ việc ở chợ đầu mối và cho tôi quay lại học trung học đấy. Maggie tay cầm sẵn séc chi tiền thoải mái."

"Đó chính là lý do khiến bọn nhà Zosco kia tức tối — cái gã anh trai Jake và vợ hắn ấy. Hiểu chứ? Từ trước đến nay bọn chúng đã lên kế hoạch thâu tóm phần lớn khối tài sản của lão. Rất có thể bọn chúng định loại bỏ lão ấy chứ. Nhưng khi bọn chúng đến đây và phát hiện ra người vợ mới — Chà, thế là hỏng bét ván bài. Khối tài sản sẽ rơi vào tay chị ấy. Thế nên bọn chúng bắt đầu ra tay tống khử Maggie. Chỉ mới chân ướt chân ráo vào nhà này một ngày là tôi đã đánh hơi ra điều đó rồi. Tôi biết có một âm mưu hãm hại Maggie."

"Thế cơ à!" tôi bảo. "Bằng cách nào?"

"Chắc là thuốc độc từ từ," Ellery nói. "Trong cà phê của chị ấy chẳng hạn. Dù sao thì nó cũng bắt đầu phát huy tác dụng rồi. Maggie cứ thừ người ra buồn bã. Tôi bắt gặp chị ấy đang khóc. Tôi liền nhắm trúng Jake Zosco ngay lập tức. Nhìn mặt hắn là đủ biết hắn thuộc loại người nào rồi. Hơn nữa, hành tung của hắn rất đáng ngờ. Lúc nào cũng lảng vảng bồn chồn. Lại thêm gã quản gia nữa. Hắn ta cũng nhúng chàm. Tôi bắt gặp hắn và Jake thì thầm to nhỏ với nhau. Chẳng biết còn bao nhiêu tên nữa. Mấy cô hầu phòng nữa chứ, và rất có thể là vài tên bợm ngoài đời. Bọn chúng có thể đang lên kế hoạch dàn dựng một vụ cướp trang sức kèm theo một vụ án mạng kép rồi đổ tội lên đầu những tên trộm vãng lai nào đó. Hiểu ý tôi không?"

"Ừ hứ!" tôi đáp. "Nhưng cậu đã nắm thóp được gì ở gã anh trai Jake chưa? Và làm sao cậu tóm được hắn nhốt ở đây thế?"

"Ồ, tôi đã tóm được tang chứng vật chứng của Jake rồi còn gì," Ellery nói. "Sau khi nhìn thấy hắn thậm thà thậm thụt bàn mưu tính kế với tên quản gia gian xảo kia tối nọ, tôi bèn bám sát hắn không rời. Tôi đã đuổi theo dấu vết khi hắn lén lút lẻn xuống đây sau bữa tối. Tôi tận mắt thấy hắn mở khóa nhà gác. Tôi nghe thấy hắn lúi húi lục lọi bên trong. Thế là tôi rón rén sáp lại rồi khóa nhốt hắn ở trỏng luôn. Nửa tiếng sau thì gã quản gia và hai tên khác trong băng đảng mò xuống, nhưng vừa thấy bóng tôi là chúng chuồn mất dép. Tôi đoán là chúng sẽ tìm cách giải cứu cho hắn nếu chúng biết hắn ở trong này. Và có khi chúng phát hiện ra bất cứ phút nào cũng nên."

"Đúng thế đấy," tôi bảo. "May mà tôi ra kịp lúc. Bây giờ chỉ còn một cách duy nhất phải làm thôi."

"Là gì thế?" Ellery hỏi.

"Áp giải Jake lên nhà chính, đối chất với gã quản gia, tuyên bố bắt giam cả hai đứa rồi tra khảo đến cùng," tôi nói. "Cậu cứ chờ mà xem. Trước sau gì thì một trong hai đứa cũng sẽ sụp đổ và khai ra toàn bộ âm mưu cho mà xem."

"Trời ạ!" Ellery thốt lên đầy kinh ngạc. "Thế thì đỉnh quá nhỉ! Y hệt như mấy bộ phim trinh thám chiếu rạp ấy nhỉ?"

Tôi suýt phải nén một tiếng cười khúc khích khi nghe thốt ra câu đó, bởi từ nãy đến giờ trong lúc Ellery phác họa cái câu chuyện hoang đường này, tôi đã láng mang nhận ra vài triệu chứng của một bộ óc ngập tràn hình ảnh điện ảnh rồi.

"Hồi ở Shelby, cậu hay đi xem phim lắm à?" tôi hỏi.

"Hầu như tối nào cũng xem," Ellery đáp. "Tôi đi xem suốt từ hồi Maggie chưa bước chân vào giới điện ảnh cơ. Bắt đầu đi xem từ năm mươi mười tuổi. Hồi đầu thì tôi cuồng mấy cái thể loại cao bồi miền Tây lắm, nhưng giờ thì chán ngấy rồi. Cứ cho tôi xem một bộ phim hình sự hay ho với những cú lật mặt nghẹt thở trong từng cuộn phim ấy. Dạo này họ chiếu mấy bộ hay tuyệt cú mèo. Hầu như phim nào tôi cũng xem rồi. Đó là lý do vì sao tôi nắm bắt được âm mưu này của Jake Zosco đấy. Nào, đi thôi! Đã chuẩn bị còng tay để xộ khám hắn chưa?"

"À, tôi chẳng bao giờ dùng vòng còng tay trừ khi bất đắc dĩ," tôi bảo. "Tôi đoán là khi thấy hai chúng ta xuất hiện thì hắn sẽ ngoan ngoãn lê bước đi thôi."

Nói thế cũng không quá lời cho lắm. Dĩ nhiên, Jake Zosco đã tích tụ kha khá sự bực dọc trong suốt 36 giờ bị giam cầm đơn độc, nhưng khi Ellery ra lệnh cho hắn giơ tay chịu trói bước ra thì hắn liền ngoan ngoãn tuân theo ngay.

"Lại trò khùng điên gì nữa đây, cái thằng ranh con hỗn láo này?" hắn gặng hỏi.

"Mày sẽ sớm biết nó khùng điên thế nào thôi," Ellery nói. "Mày đang nằm trong tay pháp luật rồi đấy."

"Cái-gi-cơ!" Jake hộc lên. "Chỉ vì một chuyện nhỏ nhặt thế này á? Không—không thể nào có chuyện đó được. Ai buộc tội tao thế hả?"

"Đây có phải mũ của anh không?" tôi nói, chìa chiếc mũ phớt cứng chống mưa đá ra trước mặt hắn. "Phải chứ? Thế thì đúng là anh rồi. Nào, đi thôi. Đi thẳng lên nhà chính."

"Thật là điên rồ hết chỗ nói," hắn càu nhàu phản đối. "Ở Saginaw thì đời nào có chuyện này."

Suốt dọc đường lên đồi, hắn cứ lẩm bẩm càu nhàu nhưng vẫn bước đi. Chỉ đến khi đến gần mức có thể nhìn thoáng qua tất cả mọi người đang ngồi trong phòng khách thì hắn mới khựng lại.

"Cả con vợ Matilda nữa kìa!" hắn thốt lên. "Sao chúng ta không đi lối cửa sau nhỉ?"

"Không có chuyện đó đâu," Ellery vừa nói vừa múa may con dao trên tay. "Mày phải đối mặt với sự thật thôi, cưng ạ."

"Nói hay lắm, Ellery," tôi ngợi khen. "Nhưng nếu cậu không phiền thì tôi nghĩ từ giờ để tôi quản lý hắn thì hơn."

"Chắc chắn rồi," Ellery đáp. "Hắn là tù nhân của anh mà."

"Thế thì mời anh bước vào trong đi, Jake," tôi nói. "Và đừng quên giơ tay lên nhé. Nào!"

Này nhé, đáng lẽ bạn phải chứng kiến cái đám đông đó há hốc miệng ra sao khi bộ ba thảm kịch giật gân của chúng tôi hiên ngang bước vào; Ellery cầm con dao đồ tể một bên; tôi bên kia; và dẫn dắt ở chính giữa là ngài Jake Zosco, hai tay giơ cao quá đầu, chiếc áo khoác dạ tiệc bám đầy bụi bẩn nhàu nát, cùng bộ râu mọc lởm chởm hai ngày chưa cạo trên mặt.

Chính bà Jake là người lấy lại được hơi thở trước tiên và lao bổ vào người đàn ông nhỏ bé của mình với những tiếng kêu gào hoảng loạn: "Ôi, anh Jake! Cuối cùng thì anh Jake của em đây rồi!" Và chỉ một giây sau, đầu hắn đã vướng víu dính chặt vào chuỗi ngọc trai.

Tiếp theo thì Andres Zosco mới định thần lại. "Cái gì thế này, màn cướp bóc à?" hắn hỏi. "Ellery, mày cầm con dao làm gì thế? Chuyện quái gì đang xảy ra thế hả, có ai giải thích xem nào?"

Xem chừng đó là hiệu lệnh dành cho tôi, thế là tôi bước lên phía trước. "Xin lỗi ngài Zosco," tôi nói, "nhưng Ellery đã phát hiện ra một âm mưu động trời."

"Hả?" Zosco ngẩn người há hốc mồm.

"Âm mưu thủ tiêu ông và vợ ông," tôi tiếp lời. "Cậu ta nói anh trai ông — Jake — có nhúng tay vào, cả vợ Jake nữa, rồi gã quản gia, và rất có thể còn khối kẻ khác nữa. Phải thế không, Ellery?"

"Chuẩn luôn," Ellery đáp. "Bọn chúng toàn là bọn trộm cắp gian xảo."

"Đúng là chuyện nhảm nhí hết chỗ nói!" Zosco thốt lên. "Sao—sao cơ chứ, Jake mà dám hại một con ruồi á."

"Khai những gì cậu đã chứng kiến đi, Ellery," tôi nhắc chừng.

"Tôi nghe bọn chúng bàn mưu tính kế," Ellery nói. "Dù sao thì tôi cũng tận mắt thấy Jake và gã quản gia thậm thà thậm thụt thì thầm với nhau. Và chúng lên kế hoạch tụ tập dưới nhà gác cùng với những kẻ khác. Tôi nghĩ gã tài xế người Ý đó cũng là một tên. Nhưng tôi đã đập tan mưu đồ của chúng. Tôi bám theo Jake khi hắn lẻn vào nhà gác rồi khóa nhốt hắn ở trỏng. Sau đó tôi viết thư cho sếp thám tử ở Tổng hành dinh và họ đã cử thám tử này đến giúp tôi tóm gọn bọn chúng." Cậu ta kết thúc bằng một cái phẩy tay đầy đắc thắng.

Và bạn cũng biết thừa là điều đó sẽ khiến anh Robert phải phì cười rồi đấy. "Ồ, thế á!" anh ấy nói. "Thám tử trung sĩ Torchy đây ư!"

Trong khi đó, Andres Zosco cứ trố mắt nhìn người nọ người kia rồi gãi đầu đầy vẻ khó hiểu. "Tôi chẳng hiểu nổi một câu nào ra hồn từ nấy đến giờ," hắn nói. "Chẳng hiểu nổi một chữ. Này Jake, nghe cậu giải trình xem nào. Từ sau bữa tối hôm kia đến giờ cậu đã đi đâu hả?"

Jake tự gỡ mình ra khỏi cái ôm phì nộn rồi bước lên với vẻ đầy ngượng ngùng. "Thì—thì," hắn lắp bắp, "tôi bị nhốt trong cái nhà gác ngốc nghếch đó chứ đâu."

"Cậu bị nhốt á?" Zosco ngạc nhiên hỏi. "Nhưng sao lại thế được chứ? Cậu vào trong đó làm gì cơ chứ?"

"Ái chà, nếu anh nhất thiết phải biết, Andy, thì—thì đó là vì ván bài pinochle," hắn làu bàu càu nhàu. "Chơi một ván bài nhỏ thì đâu phải là tội ác, đúng không nào?"

"Thế còn gã quản gia và những người khác thì sao?" Zosco gặng hỏi.

"Thì," Jake nói, "bọn họ cũng định tham gia mà. Có chơi pinochle một mình được đâu, đúng không? Và ở một nơi thế này chẳng có quái gì giải trí ngoài mấy ván bida ngớ ngẩn hoặc cái trò đấu giá cầu bài bridge đó, thì một thằng đàn ông phải tìm chút giải trí chứ, đúng không nào? Hồi ở Saginaw, tụi nó đến nhà chơi hầu như tối nào cũng thế — Hoffmeyer rồi Raditz và——"

"Ừ, tôi biết rồi," Zosco chen ngang. "Thế ra đó là âm mưu đấy phỏng, Ellery?"

Ellery biểu lộ thái độ khinh miệt ra mặt. "Hừ!" hắn thốt lên. "Đừng để hắn bịp bợm anh bằng cái câu chuyện câu cá nhảm nhí đó chứ. Hãy hỏi hắn về vụ bỏ thuốc độc từ từ vào cà phê của Maggie đi, rồi vụ trộm trang sức, và—và tất cả những thứ khác nữa."

"Ơ hay, Ellery!" bà Zosco hốt hoảng kêu lên.

"Chẳng lẽ tôi không bắt gặp chị đang sụt sùi khóc lóc à?" Ellery vặn vỏi. "Và chẳng lẽ chị không cứ thừ người ra buồn bã đấy ư?"

"Ôi!" cô ta thốt lên. "Nhưng đó là chuyện trước khi Andy hứa để em đóng vai chính trong bộ phim dài tám cuộn mới của anh ấy, 'Cội Nguồn Bướm Đêm' cơ mà. Dạo này em vui vẻ yêu đời lắm rồi còn gì, phải không Andy cưng?"

"Thuốc độc từ từ!" Zosco lặp lại đầy vẻ sửng sốt. "Trộm trang sức! Âm mưu giết người! Này nhóc, mày nhét mấy thứ nhảm nhí đó vào đầu ở đâu thế hả?"

Nhưng Ellery lúc này chỉ biết cúi gằm cằm xuống đất và lấy mũi giày khều khều.

Tôi lên tiếng: "Tôi đoán là mình có thể làm sáng tỏ bí ẩn đó. Xét về độ cuồng phim ảnh thì Ellery đích thị là tay cừ khôi nhất hạng rồi."

Và đến lượt Zosco há hốc mồm trố mắt ngạc nhiên. Tôi không biết lúc đó hắn có thực sự vỡ lẽ ra điều gì hay không. Hắn đang chuẩn bị thốt ra vài lời bình luận về chủ đề này thì bà Jake lại cất lên một tiếng thét chói tai khác.

"Ơ kìa, anh Jake Zosco!" chị ta thốt lên. "Nhìn anh kìa! Trông có khác gì một tên lang thang không cơ chứ."

"Thì sao nào?" Jake cãi. "Chẳng lẽ đêm qua tôi không ngủ trong chiếc xe cút kít đấy ư?"

Và khi những vị chủ nhà mà bạn sang thăm bắt đầu sa đà vào những lời nhận xét mang tính cá nhân thân mật kiểu đó thì chính là lúc nên lùi bước một cách duyên dáng. Tôi đoán là ngay cả bà Robert cũng quyết định rằng tối nay hình như không phải là thời điểm thích hợp để chơi đàn ống nữa rồi. Trước khi chúng tôi kịp chuồn ra ngoài, họ đã khơi mào câu chuyện về việc nên xử lý thế nào với cậu nhóc Ellery Bean, và với viễn cảnh trước mắt thì có lẽ cậu ta sắp phải khăn gói quả mướp quay về gấp Shelby, Bắc Carolina rồi.

"Em chẳng hiểu làm thế có ích gì nữa," Vee nói. "Em phải nói là cậu ta cần được chữa trị tâm lý gấp mới phải. Ôi trời, cái đầu ngốc nghếch tội nghiệp của cậu ta hình như chỉ chứa toàn những chuyện tội phạm với trộm cắp. Em chẳng hiểu làm sao cậu ta lại thành ra nông nỗi ấy được cơ chứ."

"Em sẽ hiểu thôi," tôi bảo, "nếu em cày nát trọn bộ phim của hãng Zosco."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.