Thời Nắng Lịm

Lượt đọc: 56 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NĂM 1966

❊ ❊ ❊

Đúng tháng này mười năm về trước, họ cũng từ Liên Xô về. Vẫn là bầu trời màu trắng sữa như thế này trùm lên các cánh đồng. Chỗ này chỗ kia nhìn kỹ đã thấy cây cối đâm chồi, nhưng nhìn từ xa thì cảnh vật cũng xám xịt hệt như hôm nay vậy, làng mạc cũng chẳng một bóng người và Kurt nhớ lại, qua cửa sổ chiếc xe buýt mi-ni anh đã trân trân nhìn cảnh vật bên ngoài đó ra sao. Hình như đây là quê hương anh thì phải!

Hai người dùng nốt số tiền còn lại trồng răng vàng, mỗi người một chiếc răng cửa, để về đến Đức trông cho đàng hoàng. Ít quần áo lành lặn họ xếp riêng vào một va-li nhỏ, hòng lúc đến nơi còn có ngay đồ tươm tất mà mặc sau chuyến hành trình dài mấy ngày ròng rã. Song, ngay lúc Kurt xuống tàu và nhìn thấy bà Charlotte cùng ông Wilhelm đang đứng chờ trên sân ga, anh bỗng cảm thấy chiếc áo vét-tông nhồi bông và chiếc quần rộng anh mặc sao cũ kỹ, tồi tàn quá, mặc dù trước đó vẫn ngỡ là tạm được. Ông Wilhelm gọi hẳn một chiếc xe buýt loại nhỏ ra đón. Chắc ông tưởng họ nhiều đồ đạc lắm; thế nhưng lúc sắp xếp đồ đạc ở Slava, hai người thấy xem ra chẳng có thứ nào hợp với cuộc sống ở Đức, và của cải của họ teo gọn lại còn hai va-li nhỏ và một chiếc ba-lô. Rốt cuộc, những thứ anh đem từ Liên Xô về lần này còn ít hơn cả những thứ hai mươi năm trước, lúc anh mới mười lăm tuổi, mang từ đây sang đó.

Như thế, lúc về đây, anh đã ba nhăm. Và, mặc dù anh được nhận ngay một chỗ làm ở Viện hàn lâm khoa học (anh vẫn ưa nhấn mạnh là Viện hàn lâm “chính hiệu” để phân biệt rõ với Viện hàn lâm ở Neuendorf) - âu cũng là một cách để đền bù vậy - nhưng những ngày đầu tiên không hề dễ dàng chút nào. Hình như anh là nghiên cứu sinh lớn tuổi nhất từ xưa đến giờ ở Viện thì phải. Sau hai mươi năm ở Nga, tiếng Đức anh nói bị pha khá nhiều. Anh không biết lúc nào nên cười, khi nào nên nói. Trở về từ một thế giới hoàn toàn khác, nơi mà sớm sớm mở mắt ra người ta chửi thề để chào nhau, anh không có được sự tế nhị cần thiết trước người quyền cao chức trọng hơn mình, ấy là chưa kể anh cũng không biết phải hành xử như thế nào trong cuộc tranh chấp tinh vi giữa đồng minh và địch thủ trong hoạt động khoa học xã hội chủ nghĩa. Suốt một năm trời, một vị thủ trưởng của anh cứ nghĩ - cũng chỉ là với ý tốt thôi - cứ giao cho anh việc dịch các văn bản tiếng Nga là đúng nhất. Đến ba năm sau, sếp anh vẫn còn lôi anh đi Moskva cốt chỉ để làm phiên dịch.

Giờ anh lại vừa ở Moskva về. Và, mặc dù anh chưa bao giờ thấy thành phố này bẩn thỉu, thô thiển, căng thẳng như lần này - nào những đường phố dài dằng dặc, nào mấy gã say rượu, nào cánh “cán bộ” mặt mũi đăm đăm, thậm chí tàu điện ngầm lừng danh mà anh xưa nay ít nhiều hãnh diện bởi hồi còn trẻ anh từng tham gia xây dựng vào những ngày thứ Bảy cộng sản - tất tật đều làm anh khó chịu: sự chật chội, sự ồn ào, lối sập cửa như máy chém của mấy cánh cửa tự động (và tại sao các đường tàu điện ngầm khốn kiếp ấy cứ phải nằm sâu cả trăm thước dưới lòng đất mới được chứ, và tại sao, kể cũng lạ, hồi ấy anh không hề thắc mắc chuyện này); rồi trên Quảng trường Đỏ máy ảnh còn tuột khỏi tay anh, rồi trong nghĩa địa Novodevichy, là nơi anh cảm thấy có nghĩa vụ phải ghé thăm, bởi hồi trước anh đã có lần cùng với Irina đến thăm mộ Chekhov và Mayakovsky ở đây, anh dính cơn mưa lạnh tháng Tư, thứ mưa chỉ có ở Moskva, thứ mưa làm chết người như chơi... Đấy, mặc dù mọi thứ đó đều làm anh khó chịu, ghê tởm, nhưng anh cũng không thể không thừa nhận mình cảm thấy hả lòng hả dạ trước sự kính trọng mà mọi người ở xứ này, sau mười năm ròng rã, bỗng dành cho anh, vốn chỉ là một tên cựu tù nhân, một kẻ “bị đày chung thân”.

Lần trước anh còn phải ngủ chung phòng khách sạn với một đồng nghiệp Rumani. Lần này thậm chí người ta còn đón anh ở sân bay, được xếp riêng một phòng đôi ở Khách sạn Bắc Kinh, mặc dù, đúng thật vớ vẩn, phòng không có bồn tắm (là chuyện thường thấy ở các khách sạn hoành tráng thời Stalin). Ông Yerusalimsky lừng lẫy tiếng tăm tỏ ra thán phục cuốn sách anh mới in lắm, đi đâu cũng giới thiệu anh là chuyên gia trong lĩnh vực của anh, rồi cuối cùng còn đích thân đưa anh một vòng thăm thành phố. Và, vừa đi Kurt vừa thầm cảm thấy khoái trá, vì đã không để lộ cho ai biết mọi nơi mọi chỗ đi qua ấy quen thuộc với anh đến mức nào: quảng trường Manezhnaya, khách sạn Metropol và ái chà, trông kìa, cả khu Lubyanka[1]… cơ đấy.

Riêng chuyện lăng nhăng với cô nghiên cứu sinh, lẽ ra anh không nên dính vào thì hơn, Kurt nghĩ bụng, trong lúc chiếc xe Trabbi rì rì lượn qua một thị trấn trông có vẻ là lạ. (Bởi Kurt thường đi xe lửa, cho nên anh vẫn chưa phân biệt được các địa danh ở vùng phía Nam Berlin này.) Mình ngu quá, Kurt tự nhủ, dính chuyện như thế với đồng nghiệp. Vả lại, cô gái nào có lấy gì làm sắc sảo đâu, so với Irina thậm chí còn xấu đến phát ngượng, nhưng ánh mắt đưa đẩy cùng lối liếc mắt của cô ta khiến anh phải chịu thua, không làm sao khác được. Lần đầu tiên Kurt tự hỏi, không biết thói hám gái của anh bắt nguồn từ hoàn cảnh cụ thể (do phần lớn thời trai trẻ của anh đã trôi qua trong trại cải tạo) - với tư cách người mác-xít, anh nghiêng về cách lý giải này hơn - hay đấy là thói bẩm sinh anh kế thừa từ bố anh, người mà bà Charlotte vẫn thường kêu là trai lơ ấy.

- Anh kể đi chứ, Irina giục, chuyến đi thế nào?

- Rất căng, Kurt đáp.

Mà đúng là căng thẳng thật.

Đúng thế, quả là có chuyện ngày nào anh cũng ở phòng lưu trữ. Rồi chuyện anh phải trình bày bản báo cáo ngoài chương trình tại hội nghị. Chuyện nhà xuất bản ứng trước tiền cho anh, hay chuyện ban biên tập tạp chí yêu cầu anh viết bài. Chuyện Yerusalimsky mời anh ăn cơm, rồi đưa anh một vòng thăm phố xá - mọi chuyện đó đều có thật, thật đến mức thậm chí làm chính anh trong lúc kể lại mọi chuyện cũng tin rằng, bận bao nhiêu việc như thế thì anh còn lấy đâu thời gian để dính chuyện tình ái lăng nhăng nữa chứ.

Chuyện anh nhớ nhà, cũng có thật. Và, chuyện anh đơn độc, giữa bao nhiêu người có thiện cảm với anh nhưng anh chẳng thân với ai. Không thân đến mức anh có thể hỏi họ, dù chỉ là hỏi vòng vo thôi, một số câu hỏi vẫn giày vò anh. Ví như câu, theo ý họ, nguy cơ chủ nghĩa Stalin hồi sinh ở Liên Xô lớn đến mức nào, sau khi nhà cải cách tuy vụng về song dễ mến Nikita Khrushchov bị truất khỏi ghế Tổng bí thư Đảng (không nhờ ông này thì Kurt, “kẻ bị đày chung thân”, chắc chắn vẫn còn ngồi trại đâu đó sau dãy núi Ural).

- Anh có đến thăm nghĩa địa Novodevichy, anh nói.

Irina bảo:

- Anh làm em điếu thuốc.

Đúng ra thì chị nói không đúng giọng, mà lơ lớ: anh lam em đieu thuoc. Kurt đáp:

- Anh lam đieu thuoc cho em đay.

Nói rồi anh châm một lúc hai điếu, một điếu cho Irina, một điếu cho mình. Hít một hơi dài, anh bỗng thực sự cảm thấy kiệt sức, sự kiệt sức anh vừa thề thốt trong câu chuyện anh kể về thành phố Moskva căng thẳng. Anh cảm thấy lành lạnh trong người. Anh lặng lẽ ngắm người vợ đẹp sắc sảo đến mê hồn của mình và, lòng rạo rực ham muốn, thầm nghĩ đến buổi tối nay đang chờ anh.

Sasha nằm lại ở nhà. Hồi trước, nó không để lỡ dịp may nào cùng ra sân bay cho bằng được. Thế nhưng, cái thời nó mong ước trở thành kỹ sư chế tạo máy bay đã qua rồi. Hiện giờ nó chỉ thích dùng máy ghi âm ghi nhạc tân thời do đài RIAS[2] phát và cùng đám bạn bè đáng ngờ lượn lờ chỗ này chỗ nọ đến tận tối mới về. Trong đám này có một cô bạn gái học lớp bên cạnh, trông có vẻ trưởng thành trước tuổi. Nhà con bé thuộc hạng bất hảo, và mới mười hai tuổi, nó đã lồ lộ cặp vú to đáng nể trong chiếc áo len xanh xộc xệch.

Chính thế mà mức độ mừng rỡ của Sasha cũng vừa phải khi nhận món quà Kurt mang từ Moskva về cho nó. Đó là cuốn Moya doroga v kosmos của Yuri Gagarin - Đường vào vũ trụ của tôi.

- Cảm ơn bố, nó hờ hững nói, chẳng buồn nhìn đến quyển sách.

Kurt tự nhủ phải để ý nhiều hơn đến thằng nhỏ. Tiếng Nga nó nói mỗi ngày một ngắc ngứ. Ở trường nó cũng phải cố thêm. Mới đây, nó vác cả điểm ba về nhà. Điểm ba![3] Kurt không nhớ anh có bao giờ bị điểm ba không. Theo Kurt, ai bị điểm ba là thuộc hạng không đứng đắn rồi.

Ở Moskva anh đã mất khá nhiều công tìm quà cho Irina. Mang gì về làm quà cho cô ấy bây giờ? Cô ấy dị ứng với mọi thứ dân gian của Nga. Và, chính Kurt cũng thấy ở đất nước của Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại ấy, thật ra, toàn của vứt đi. Đến phút chót anh đành mua một chai Sovetskoye Shampanskoye. Chờ Sasha lên giường ngủ, anh vừa lôi chai rượu ra vừa luôn mồm xin lỗi không tìm được thứ gì hay hơn. Rồi anh đi tắm. Irina mở chai sâm banh. Và, sau khi hai người đã hơi chuếnh choáng hơi men, chị mới lộ cho anh biết, phòng ngủ đã sửa xong. Mặc dù đã đoán từ trước, anh vẫn bất ngờ, và lại một lần nữa cảm thấy có lỗi với Irina. Đến lạ. Năm năm liền, anh đinh ninh ý định sửa sang phòng ngủ của Irina là phóng đại, suốt năm năm liền anh cố giảm công bớt việc càng nhiều càng hay, và thật lòng mà nói, anh chỉ muốn cho quét vôi mọi thứ thật cẩn thận, là xong. Phải, anh rất vội. Thời gian trôi phí hoài, khiến cuộc đời anh vào guồng quá muộn. Đêm đêm anh bồn chồn, hốt hoảng, hằng ngày anh sốt ruột sốt gan mỗi khi Irina cho phá bức tường nào đấy trong nhà, làm lòi hết cả bấy nhiêu đường ống với dây dẫn ra ngoài để sau đó lại lần lượt xây đắp lại như cũ. Đã đôi lần anh phải sập cửa sầm sầm bỏ nhà đi, sau khi nghe Irina nói đã chi những khoản tiền khổng lồ, chỉ là vì khăng khăng phải mua bằng được đúng cánh cửa này, đúng thứ gỗ này, đúng màu đỏ này mới xong. Nhưng rốt cuộc anh vẫn phải thừa nhận, nhìn chung, Irina có lý, mặc dù, đến là khó hiểu, trong những chuyện nhỏ lặt vặt bao giờ cô ấy cũng sai lè lè.

Căn phòng quả là đẹp tuyệt vời. Thật ra, nó rất đơn sơ, chứa độc chiếc giường đôi, kiểu giường đôi không ngăn ở giữa chẳng bói ra ở toàn đất CHDC Đức này, và chiếc tủ cũ mà lúc đầu Kurt chê, chỉ lắc đầu cười. Sàn nhà trải thảm trắng, ba mặt tường cũng màu trắng, chỉ có mặt ở đầu giường quét màu đỏ gạch. Và, chính trên bức tường này là chiếc gương khổng lồ hình bầu dục, khung mạ vàng chạm trổ tỉ mỉ. Chiếc gương treo giữa hai chiếc đèn to, nghiêng một độ nghiêng mà chỉ thoáng nhìn cũng biết ngay nhằm mục đích gì.

- Không biết lúc làm ở đây, đám thợ họ nghĩ những gì, Kurt lẩm bẩm.

- Họ nghĩ đúng điều họ phải nghĩ thôi, Irina nói rồi nắm tay chồng luồn xuống dưới váy chị đang mặc. Tay Kurt sờ phải một mảng da trần phồng lên ở khoảng giữa quần lót và tất dài.

- Đúng là điên thật, Kurt nói, về sau lúc hai người nằm cạnh nhau trên giường. Vừa mới xong, trong cơn mây mưa, lúc họ nằm lên nhau và ở trong nhau, trong giây lát anh đã có cảm giác như mình được nhân đôi, không phải chỉ trong gương mà nhân đôi thật sự. Anh giải thích cho Irina, trong giây lát, anh tưởng như anh có nhiều tay, nhiều chân, nhiều khui[4]. Cứ khi nào nói tục, họ lại dùng tiếng Nga.

Vào lúc vẫn còn bốc và hai chân vẫn đang quắp ngang lưng chồng, Irina thì thầm vào tai anh:

- Em nghĩ em phải mời cô bạn gái Vera của em đến đây một lần mới được...

Sáng hôm sau Kurt dậy muộn; mãi tám giờ mới dậy. Hôm nay Chủ nhật. Từ nhiều năm nay, do cố tuân theo kỷ luật tự anh đặt ra, Kurt cũng có được thói quen không làm việc vào Chủ nhật, thậm chí anh còn biết mừng mỗi khi được rảnh rỗi vào Chủ nhật nữa kia.

Vẫn mặc nguyên quần áo ngủ và áo choàng tắm, anh bước vào bếp. Đứng ở ngưỡng cửa, anh hào hứng đọc to bài thơ tứ tuyệt anh vẫn thường nặn óc nghĩ ra lúc cạo râu vào các sáng Chủ nhật làm trò cho cả nhà. Bài thơ hôm nay là:

Ta lò dò về tự Moskva

Sức lực tăng như thể gấp đôi ba.

Vui đến mức, lúc cạo râu,

Ta làm thơ cho quý vị khỏi sầu.

Sasha nhăn mặt. Irina cười không thành tiếng, tay rót trà hoa cúc cho anh. Chị bắt anh uống trà hoa cúc trước khi uống cà phê, để dưỡng dạ dày. Chiều vợ, Kurt nghe lời.

Lúc ăn sáng, Irina bảo hôm nay chị phải đi có việc mất một lúc: chả là tay Gojkovic - diễn viên người Nam Tư đóng vai chính trong phim về người da đỏ hãng DEFA muốn dựng - vừa sang đây.

Kurt nín lặng. Vụn bánh mì vướng lại trong cổ. Từ ngày làm việc tại DEFA - anh cũng chẳng hề biết chị làm gì ở đó - Irina vẫn thường làm anh thất vọng kiểu như thế. Hình như chỉ là công việc bán thời gian thôi, nhưng chị vẫn hay làm đến tận nửa đêm hoặc cả vào những ngày cuối tuần. Mà làm không công, bởi rốt cuộc cô ấy sẽ vung tay chi nhiều hơn lương cô ấy nhận. Nghĩ vậy, nhưng Kurt không nói gì. Anh hớp một hớp cà phê, nuốt trôi mẩu bánh. Thì phải rồi, Irina cũng có quyền làm việc. Dù đấy chỉ là một công việc hết sức kỳ quái là ngồi tán chuyện và nhậu vodka với đám diễn viên nào đó ở nhà khách hãng DEFA. Hoặc theo chân gã da đỏ nọ loanh quanh đâu đấy. Anh đã có lần thấy một tấm ảnh chụp gã. Cường tráng ra phết, toàn cơ với bắp. Gã phô mình trần ra chụp ảnh, khiếp thế chứ!

- Thức ăn trưa nay để sẵn cả trên bếp, Irina nói. Khoảng bốn giờ chiều là em về rồi.

Irina vừa đi khỏi, Kurt - vẫn trong bộ quần áo ngủ và áo choàng tắm - lui về phòng làm việc của anh. Anh bật lò sưởi rồi ngồi lên đó. Trong lúc hơi ấm mỗi lúc một tăng dưới mông (chà, lắp lò sưởi ga cũng là ý hay!), anh ngắm nghía cái tủ sách nhập từ Thụy Điển do Irina thông qua mánh mung lắt léo nào đấy (cầu giời không phải là mánh gì phi pháp) sắm cho anh. Năm năm liền anh phải để sách vở trong thùng, chuyển từ phòng này sang phòng khác. Giờ sách xếp trật tự đâu ra đấy. Mỗi lần nhìn tủ sách anh lại thấy khoan khoái thế nào, chỉ mỗi một điều là anh bỗng dưng quên mất tại sao lại xếp quyển sách dạy chữ La-tinh của Krikhatzky, quyển sách nhỏ nhàu nát mà mười năm liền anh cứ lôi theo mình qua hết trại giam này đến trại giam khác ấy, cùng hàng với các công trình của chính anh. Anh lôi quyển sách ra khỏi giá, nhưng không biết xếp vào nơi nào khác (không phải sách tra cứu mà cũng chẳng phải loại chuyên san), anh lại nhét nó vào chỗ cũ.

Đoạn, anh lôi tập các bài thuyết trình cùng tạp chí của các đồng nghiệp Moskva lẫn mảnh giấy ghi số điện thoại và địa chỉ người này người nọ ra sắp xếp lại. Mớ giấy tờ thường dồn lại sau mỗi chuyến đi xa. Tất nhiên, phần lớn là những thứ vớ vẩn, hầu hết các số điện thoại, sau khi đã chép cẩn thận sang sổ điện thoại, anh sẽ chẳng bao giờ gọi; các bản ghi chép đa phần sẽ nằm vất vưởng ít lâu trong phòng này, rồi chờ một thời gian đủ lâu cho phải đạo, anh sẽ lại quẳng đi. Kurt để các bản sao anh nhờ chụp ở phòng lưu trữ sang một bên, những thứ khác anh nhét cả vào thùng giấy lộn. Anh lại lôi mớ giấy ghi số điện thoại và địa chỉ ra rà soát một lượt. Anh cầm một mảnh giấy ghi số nhưng không điền tên ai trên tay. Phải mất vài giây anh mới nhớ ra số này số của ai... và, cũng chỉ trong giây lát, anh toan giữ số này lại, để trả thù thằng Gojkovic kia - nhưng rồi chợt nhớ đến buổi tối hôm qua, đến chiếc gương vàng, đến cảm giác được nhân đôi tuyệt vời và đến lời hứa hẹn Irina rỉ vào tai anh, lời hứa lúc ấy đã khiến lập tức hiện ra một hình ảnh mà hiện giờ đang mồn một tái hiện trước mắt anh. Đúng lúc đó, tiếng chuông reng lên phía ngoài cửa.

Anh nhét vội mảnh giấy vào túi áo choàng tắm rồi đi ra cửa, hình ảnh kia vẫn hiện trước mắt. Đó là hình ảnh từ hè năm ngoái, đi nghỉ bên bờ Biển Đen, họ cùng với Vera ở đấy, dĩ nhiên là tình cờ thôi, bởi vì họ đã bất ngờ gặp Vera ở phòng quá cảnh. Kurt chỉ quen Vera sơ sơ, cô ta vốn là đồng nghiệp cũ của Irina dạo ở phòng lưu trữ Viện hàn lâm Neuendorf, và bây giờ hóa ra lại ở cùng nhóm du lịch với họ; và cũng hóa ra cô ta vừa ly dị chồng và bay một mình đi Nessebar[5]. Và, chính ở đó, trên bãi biển Nessebar nọ, đã xuất hiện hình ảnh ấy, một hình ảnh, cũng như mọi khi, chỉ thoáng qua thôi trong đầu anh, trong khi anh bước mười, mười hai hay mười bốn bước gì đó từ bàn giấy ra đến cửa phòng. Chả là họ, cả ba người, đều lần đầu tiên đến vùng biển phía Nam này và, khi vừa đặt chân lên bãi biển, cả ba đều không ai ngờ cát ở Nessebar nóng đến bỏng chân như thế. Kurt vô tình nhảy chân này sang chân kia, bỏ chân này xuống cát, rút ngay chân kia lên. Hai chị cũng làm y như thế và, bỗng dưng, cả ba đều nhảy tưng tưng, chân này chân kia, một điệu nhảy trông đến là quái đản. Cùng nhảy điệu nhảy đó là cặp ấy của Vera - bằng một cách kỳ diệu nào đó, hay đơn giản chỉ là do thắt lưng áo choàng tắm của cô ta bị tuột - mà lộ ra. Chính cặp ấy thật sự - anh không biết dùng từ nào khác hơn để gọi chúng nữa - chính cặp ấy, to, nõn nà, li ti những tĩnh mạch xanh xanh, vẫn đang còn đung đưa nhảy múa ngay trước mũi anh khi anh đưa tay mở cửa và nhìn thấy trước mắt một khuôn mặt tròn trịa mang nụ cười méo mó. Phải mất một lúc anh mới nhận ra khuôn mặt ấy là của Günther Habesatt, Bí thư chi bộ anh.

- Ra là anh, Kurt nói.

- Anh tha lỗi nhé, Günther đáp, liên tục chân nọ chéo lên chân kia, như thể gã đang cố nín cơn buồn tiểu.

Thế nhưng gã không buồn tiểu. Gã đứng như thế, chân này chéo chân kia một lúc ở giữa phòng, tấm tắc khen ngôi nhà lẫn căn phòng, nhất là khen tủ sách Thụy Điển. Gã không uống cà phê, chỉ xin cốc nước rồi buông người xuống chiếc ghế bành hình vỏ trứng đem từ nhà bà Charlotte sang đây. Toàn bộ thân hình phì nộn của gã lọt vào đó như lọt vào bồn tắm. Trong thâm tâm, Kurt khinh thường những ai quá mập. Günther nhìn chung là một tay dễ chịu, sẵn lòng giúp người khác, không thủ đoạn, nhưng yếu đuối, nhu nhược. Sở dĩ Kurt nghĩ thế là vì Günther, tuy miễn cưỡng (hay tỏ ra vẻ miễn cưỡng), đã chịu nhận giữ chức Bí thư chi bộ. Kurt cũng được đề cử vào chân đó, thế nhưng, đương nhiên rồi, anh không nhận.

Sau khi chẳng buồn nuốt mà há miệng dốc hết cốc nước vào thân mình to lớn của gã, Günther nhìn quanh lần nữa, như thể để xem còn ai khác trong phòng không. Rồi hạ giọng, đầu lắc lư, mắt đảo qua đảo lại, gã nói lý do vì sao gã đến đây tìm Kurt. Thật ra chuyện chẳng có gì ghê gớm, thậm chí vớ vẩn. Số là tay Paul Rohde, một thành viên thuộc loại hay bốc đồng và kém kỷ luật trong nhóm của Kurt đã cho đăng trên Tạp chí khoa học lịch sử bài bình luận về cuốn sách của một đồng nghiệp Tây Đức. Trong sách tác giả phê phán cái gọi là đường lối Mặt trận thống nhất của đảng Cộng sản Đức vào những năm hai mươi. (Thật ra, ai cũng biết, đấy vốn là đường lối chia rẽ, bôi nhọ đảng Dân chủ xã hội và qua đó, đã hỗ trợ cho sự lớn mạnh của chủ nghĩa phát-xít một cách tệ hại.) Rohde lại còn đích thân gửi bài báo cho anh bạn đồng nghiệp Tây Đức kia và chua thêm mấy dòng, xin ông tha lỗi vì tôi phải chê sách của ông, mặc dù cả nhóm đều đánh giá cao cuốn sách, nhưng đáng tiếc là ở CHDC Đức vấn đề về đường lối xây dựng Mặt trận thống nhất còn lâu mới đến lúc được thảo luận công khai...

Gửi những dòng kiểu như thế đến tay một đồng nghiệp Tây Đức thì thật là ngu hết chỗ nói, nhưng... có cái gì đó khiến Kurt không hiểu. Anh lo ngại nghe Günther thuật lại ngọn ngành. Nói tóm lại, lúc đầu ủy ban khoa học Ban chấp hành trung ương đảng SED[6] viết thư yêu cầu kỷ luật nặng đồng chí Rohde. Hình thức kỷ luật sẽ được thông qua trong cuộc họp chi bộ diễn ra ngày mai, thứ Hai. Nhân dịp này – thì anh cũng biết sự thể sẽ thế nào - các đồng nghiệp của tay Rohde kia, đặc biệt là các đồng nghiệp cùng phòng, mà trước hết là Kurt, với tư cách trưởng phòng, sẽ “tự phát” trình bày quan điểm. Chính đó là điều, Günther nói thêm, tôi muốn báo để riêng anh biết trước...

- Này, tôi xin lỗi hỏi anh, sao anh đã biết trước trong thư Ban chấp hành trung ương viết gì?

Günther có vẻ không hiểu câu anh hỏi.

- Thì của Ban chấp hành mà lại, gã đáp.

- Của Ban chấp hành thì sao?

Günther trố mắt, đưa đôi cánh tay mập mạp lên cao, rồi nói:

- Chà.

Chờ Günther đi khỏi, Kurt thay bộ quần áo lao động rồi bước ra vườn. Trời đẹp. Mà trời đã đẹp thì phải tận dụng bằng cách nào đó. Anh lôi chiếc cào ra để cào lá rụng, song chẳng còn tí lá rụng nào, anh lại suy đi tính lại, xem có tỉa cành cây ở đâu được không. Nhưng anh lại do dự, chồi cây đâm hết ra rồi, tỉa cành bây giờ có lẽ đã muộn. Mặc dù đã bỏ ý định tỉa cành, anh vẫn loay hoay mãi một lúc tìm chiếc kéo làm vườn; không thấy kéo đâu, anh lại tìm thấy mấy củ giống hoa tuy-lip và đi tìm chỗ trồng. Anh đi loanh quanh mãi trong vườn mà không tìm ra chỗ nào để trồng hoa. Bụng anh bắt đầu cồn cào dấu hiệu đói bụng. Anh lại nhét mấy củ hoa giống vào chỗ cũ.

Bước vào nhà, anh nghe tiếng nhạc ầm ĩ từ phòng Sasha vọng ra. Nhạc beat. Mới đây anh có loáng thoáng nghe nói đến thứ nhạc này. Anh gõ cửa rồi bước vào phòng con trai. Sasha vặn nhỏ nhạc. Nó đang ngồi bên bàn giấy, máy chạy băng đặt ngay trước mặt, tựa vào máy là quyển sách giáo khoa. Nó đang loay hoay viết gì đó vào vở học bài.

- Ồn thế này, con không làm bài tập được đâu, Kurt nói.

- Bài sinh ấy mà, Sasha nói, tay vẫn mân mê nghịch chiếc thập tự nhỏ bằng bạc gắn trên sợi dây chuyền nó đeo trên cổ.

- Kìa, Kurt hỏi, ra bây giờ con theo đạo à?

- Đâu có, Sasha nói giọng giảng giải, thập tự của dân hippie ấy mà, bố.

Bọn hippie. Anh nghe nói đến bọn này trên truyền hình - truyền hình Tây Đức. Bên ấy hiện giờ hay nhắc đến đám hippie này, bọn người tóc để dài, là bọn người Kurt gắn với thứ nhạc mới này, và rõ ràng là bọn người không chịu làm ăn gì.

- Thế đấy, Kurt nói. Con định thành hippie à?

Sasha cười nhăn nhở.

Kurt quay người, đã định đi ra nhưng rồi lại đứng lại.

- Cả đời tao, anh nói, tao cứ cố dạy mày biết lao động. Thế mà mày...

Bỗng dưng anh nghe chính mình hét tướng lên:

- Thế mà mày định thành thằng hippie! Con trai tao mà thành thằng hippie à!

Kurt giật phắt chiếc máy chạy băng. Nó ọc lên một tiếng rồi câm bặt. Kurt hằm hằm bỏ đi, mãi tới lúc vào đến phòng mình anh mới biết đã giật đứt sợi dây điện.

Trong lúc xả vòi hoa sen để tắm - thật ra người anh chẳng dính tí đất đai nào, nhưng đã làm vườn thì lệ thường là sau đó phải tắm - cảnh tượng lúc nãy lại hiện ra trong đầu anh. Anh bực, bực với chính mình, nhưng chính vì thế lại càng cố tìm cách tự bào chữa cho cơn giận vừa qua. Cố nhiên, làm gì đã có nguy cơ Sasha sẽ thành thằng hippie. Song cái lối buông thả của nó, cái thói lười nhác của nó, cái kiểu không thèm màng đến tất cả những thứ mà anh, Kurt đây, vẫn cho là quan trọng và hữu ích... Làm thế nào để thằng nhỏ hiểu, nếu cứ vậy thì mọi sự sẽ ra sao? Chẳng phải nói, nó là thằng thông minh, có điều nó thiếu một thứ gì đấy, Kurt nghĩ bụng. Thiếu một thứ gì đó bên trong đầu nó.

Kurt sực nghĩ đến Krikhatzky, hôm nay thế là lần thứ hai anh nhớ đến cái tên này, và cuốn sách học chữ La-tinh anh từng tha từ trại giam này sang trại giam khác. Anh thoáng nghĩ trong giây lát, xem dùng việc này vào mục đích sư phạm như thế nào. Rằng, thậm chí trong trại cải tạo anh vẫn học chữ La-tinh ư? - đại loại một ý nghĩ như thế lóe ra trong đầu, nhưng anh biết, đó là chuyện vớ vẩn. Ở trong trại, nào anh có học chữ La-tinh để đi thi bao giờ, trong đó anh bị đói. Và, cái đói làm anh hóa đần, đần đến mức đôi lúc anh phải tự hỏi không biết rồi bệnh đần liệu sau này có khỏi không. Cũng chẳng mấy chốc nữa mà thành chứng nan y, anh tự nhủ và trong lúc dùng bàn chải kỳ cọ đôi chân, anh láng máng nhớ đến cái trạng thái kỳ quái, điên điên cuồng cuồng thỉnh thoảng ập đến, nhớ đến giọng nói mỗi lúc một hống hách, rành rọt, lạnh lùng, bất cần và thật là lạ, cứ như nói về người khác: Bây giờ hắn bị lạnh... Bây giờ hắn thấy đau... Bây giờ hắn phải đứng dậy...

Khoan đã. Sai rồi. Dùng bàn chải sau khi tắm nước lạnh là nghi thức buổi sáng nay rồi, giờ anh vô tình lặp lại. Kurt gạt bàn chải ra, ngắm mình trong gương. Đôi lúc anh thấy khó tin là anh vẫn còn đó. Rồi anh hình dung quá khứ như một cái hố sâu, nếu không cẩn thận anh lại rơi vào đấy. Anh bụng bảo dạ, rồi sẽ ghi lại tất cả những thứ đó. Khi nào thời điểm chín muồi.

Anh mặc quần áo rồi đi hâm thức ăn trưa, xúp thịt bò kho với bắp cải tím. Sasha vào phòng ăn, không còn đeo thập tự hippie trên cổ nữa. Nó ngồi vào bàn, lưng còng xuống, mắt nhìn chằm chằm xuống đĩa ăn. Nó dùng nĩa chọc chọc vào bắp cải tím, đút từng miếng nhỏ vào mồm. Nó vẫn giữ thói quen ấy, mặc dù đã mười hai tuổi rồi, cứ ăn riêng từng thứ, ăn hết thịt, đến rau. Song, Kurt quyết định nhịn, bỏ qua không đả động gì đến chuyện đó. Anh cố nói với giọng “hợp tình hợp lý”:

- Bố vẫn để con nghe nhạc gì con muốn, đúng không nào?

Sasha chọc chọc nĩa vào bắp cải tím.

- Đúng không nào? Kurt hỏi lại.

- Vâng, Sasha đáp.

- Có điều, nếu vì thích nhạc beat mà con muốn thành hippie thì bố phải nói với con là các thầy các cô giáo con cấm những thứ ấy là có lý. Ở trường con cũng đeo cái đấy trên cổ à?

Sasha chọc chọc vào đĩa bắp cải tím.

- Bố hỏi, con cũng đeo cái thập tự ấy ở trường à?

- Vâng, Sasha đáp.

Kurt biết, cơn giận lại dâng lên trong lòng anh.

- Chẳng lẽ mày lại ngu thế hả con?

Kurt nhai đúng ba mươi hai lần, đúng y như bác sĩ nội khoa đã khuyên anh, rồi buông dao nĩa khỏi tay, đưa mắt nhìn thằng con trai đang tiếp tục chọc chọc nĩa vào bắp cải tím. Anh ngắm cổ tay mảnh mai của nó (đúng ra là cổ tay bên phải, tay kia khuất sau chiếc đĩa to), nhìn hàng lông mi dày và cong thừa hưởng của mẹ nó (và làm nó rất bực bội, vì trông có vẻ con gái quá), nhìn mái tóc xoăn do anh truyền cho nó (vì mái tóc này mà nó gặp lắm chuyện khó chịu ở trường, do tay hiệu trưởng hết sức trung thành với chế độ bao giờ thấy tóc nó dài quá tai chút ít là lập tức đánh hơi ra ảnh hưởng của văn hóa thanh niên phương Tây đồi trụy). Và, trong lòng anh bỗng dâng trào đến nhức nhối một niềm khao khát được che chở thằng con mình tránh tất cả những gì khôn lường nay mai sẽ còn sập đến với nó.

o0o

Đêm anh bị sôi bụng. Sáng ra Irina bắt anh uống thuốc và chườm ấm bụng. Gần trưa anh thử nhét bình nước nóng dưới áo len, cố viết vài dòng cho cuốn sách về Hindenburg[7]. Rồi đi làm, bụng chỉ óc ách ít nước luộc gà.

Từ ngày Bức tường Berlin dựng lên, đường đến Viện xa hẳn ra. Trước đây tàu điện nhanh S-Bahn chạy thẳng một mạch qua Tây Berlin; với những người không được phép đặt chân xuống các vùng phía Tây đã có các chuyến tàu riêng, không dừng ở các bến nằm giữa phố Friedrich và hồ Griebnitz. Hiện nay, chuyến tàu “Vệ tinh” (Sputnik) phải chạy một vòng rộng quanh Tây Berlin. Để bắt được chuyến này, trước hết Kurt phải lên xe buýt đến ga Drewitz, đi một ga đến ga Bergholz nằm trên tuyến của tàu Vệ tinh. Đi tàu Vệ tinh, nếu mọi sự trôi chảy, anh đến ga Đông rồi nhảy tàu điện nhanh đi thêm mười lăm phút đến phố Friedrich. May là anh chỉ phải đi như thế vài lần trong tuần, bởi vì, mặt hay của nạn thiếu thốn kinh niên tại CHDC Đức là ở chỗ, cả phòng làm việc cũng thiếu nốt, do đó, cán bộ Viện sử học, như người ta thường nói, được chỉ thị dùng phòng làm việc tại nhà riêng. Họp phòng Kurt thường để vào các ngày thứ Hai, đằng nào ai cũng phải đến Viện. Còn không thì anh cố tránh đến Viện, được ngày nào hay ngày đó. Do anh ở Neuendorf, đường xa nhất, cho nên anh toàn xin nghỉ những cuộc họp không quan trọng, thậm chí nghỉ không xin phép hoặc xin phép với lý do chẳng ai kiểm chứng được, kiểu như xe buýt đến chậm, hoặc cáo ốm, đau dạ dày, thứ bệnh, tuy không nói thẳng ra, nhưng anh vẫn biết cách để thiên hạ hiểu anh mang vào thân do phải nằm trại cải tạo. Các thủ trưởng của anh bao giờ cũng gật, dù họ cũng chỉ đoán thôi, chứ không thật sự biết anh từng phải trải qua những gì trong trại cải tạo. Lôi các lý do như thế ra để nghỉ, thật ra, anh cũng chẳng lấy làm bứt rứt chút nào. Ngược lại, mỗi lần trốn được họp hành anh lại mừng có thời gian để làm việc của anh. Với Kurt, cái đáng kể là những trang giấy anh viết ra. Và, xét riêng về mặt này, cứ căn cứ vào số lượng bài báo khoa học được đăng thì anh giữ một kỷ lục không ai phá nổi.

Từ phố Friedrich anh chỉ cần đi bộ thêm năm phút là đến nơi. Viện anh nằm đối diện trường Tổng hợp, chéo bên kia đường Clara Zetkin, xưa vốn là trường nữ sinh, được xây từ thời lập Đế chế[8]. Mặt tiền ngôi nhà ốp sa thạch, qua năm tháng đã đen sạm vì bụi than, và hai mươi năm đã qua vẫn còn lỗ chỗ vết đạn từ những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Đi qua phòng thường trực là bậc thềm hoành tráng dẫn lên tầng lửng, do ban lãnh đạo Viện chễm chệ chiếm hết. Phòng của Kurt nằm ở tầng trên cùng. Lúc anh đến thì căn phòng họp đơn sơ đã chật cứng, mọi người phải lôi thêm ghế từ phòng thư ký sang. Thế nhưng, họ đưa thêm ghế cốt chỉ để ngồi cụm phía sau, trong khi phía trước đối diện với chủ tịch đoàn đang tọa thì số người ngồi thưa hẳn đi.

Đoàn chủ tịch cuộc họp gồm tay Günther Habesatt, Viện trưởng và vị khách từ ủy ban khoa học Ban chấp hành trung ương đảng SED, Günther giới thiệu là đồng chí Ernst. Gã trạc tuổi Kurt. Người không cao to lắm, thấp hơn hẳn so với Günther và Viện trưởng, tóc hoa râm cắt ngắn và bộ mặt có vẻ luôn cười cười cợt cợt.

Sau khi Günther, tư thế cứng đơ, nhưng mắt không láo liên, đọc lời khai mạc và tuyên bố lý do duy nhất của phiên họp, đồng chí Ernst - ngồi kẹp giữa bộ mặt đưa đám của Günther và cái đầu gật gù của Viện trưởng - cất lời thông báo về tình hình thế giới đang mỗi lúc một trở nên phức tạp và cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng trở nên gay gắt. Khác với Günther, đồng chí Ernst nói trôi chảy, hùng hồn. Giọng đồng chí thanh nhưng sắc và mỗi khi cần nhấn mạnh điều gì, lại hạ thấp xuống như để mơn trớn. Kurt bỗng thấy lối nói, hay cái kiểu cách lạ lùng lật lật từng trang sổ tay nhưng mắt không nhìn vào đó của đồng chí này rất quen thuộc. Trong lúc đồng chí này nói về bọn xét lại và bọn cơ hội và khẳng định kẻ thù chính đang nằm trong số đó - khi nói đến kẻ thù chính, giọng đồng chí hạ hẳn xuống - Kurt nhìn thấy anh chàng Paul Rohde. Anh này hình như ngay từ đầu đã ngồi ngay trước đoàn chủ tịch, người trông rúm ró, mặt mũi tái nhợt, mắt nhìn mông lung. Kurt nghĩ bụng, thế là hết đời Paul Rohde, khai trừ đảng, mất việc. Song, anh chợt hiểu, chuyện ở đây không còn là chuyện anh chàng Paul Rohde tội nghiệp nữa. Chuyện ở đây không còn là chuyện bức thư khốn kiếp nào đó. Chuyện đang xảy ra chính là chuyện Kurt e ngại đã từ lâu, nói cho đúng là từ ngày Khrushchov bị hạ bệ (hay thậm chí còn trước cả ngày hạ bệ Khrushchov nữa kia). Các biểu hiện báo hiệu chuyện này đã đầy rẫy, nhưng bây giờ Kurt mới vỡ lẽ, các biểu hiện ấy không đơn thuần chỉ là các biểu hiện mà thôi, sự thể chính là ở đó chứ ở đâu. Ở Đại hội đảng vừa qua, khi người ta mạt sát các nhà văn có ý kiến phê phán, ở chuyện cách chức Bộ trưởng Bộ văn hóa, ở vụ khai trừ Havemann[9] khỏi đảng. Chính nó đấy thôi, nó đã hiển hiện, trong Viện này, hiện thân ở người đàn ông có gương mặt lúc nào cũng như cười cợt này, con người có giọng nói hạ xuống mơn trớn, con người vừa lật lật từng trang quyển sổ tay mà không ngó vào, vừa giảng giải cho mọi người trong phòng họp về vai trò của ngành sử học trong cuộc đấu tranh của thời đại chúng ta cũng như về mối quan hệ giữa tính đảng và sự thật lịch sử.

Phòng họp trở nên yên ắng, một sự yên ắng thậm chí còn không bị tiếng ho húng hắng hay xì xào khe khẽ phá vỡ lúc diễn giả dừng lời. Bây giờ đến lượt Rohde lên tiếng, tự phê bình. Kurt nghe anh khó nhọc phun bài nói đã học thuộc lòng thành từng hồi, từ nào tiếng nấy đều đã bàn định từ trước, Kurt không lạ gì. Anh nghe anh ta nghẹn lời, phút ấp úng kéo dài như vô tận trước khi những chữ hành động... vô trách nhiệm... thù địch... lần lượt xếp thành câu nói.

Sau đó tay Günther mời cử tọa đóng góp ý kiến. Vị trưởng ban “tự phát” giơ tay, cất tiếng phê phán đồng chí Rohde đã làm ông ta hết sức thất vọng, và rồi trong lúc đồng chí Ernst gật gật đầu tán thưởng, ông ta xin lỗi về sự thiếu cảnh giác của chính mình.

Bây giờ đến lượt Kurt, theo thứ tự đã định sẵn. Kurt nhận thấy ngay ai nấy đều đang hướng sự chú ý vào anh. Họng anh khô khốc. Đầu anh trống rỗng. Và, chính anh cũng kinh ngạc về câu nói mình buột ra:

- Tôi không rõ liệu tôi có hiểu đúng sự thể thế nào không.

Đồng chí Ernst nheo mắt, như thể không nhận ra Kurt. Người nhìn vẫn có thể tưởng đồng chí đang mỉm cười, song nét mặt đồng chí chuyển sang vẻ gì đó hơi bần tiện như mặt lợn.

Mọi người đều im lặng trong giây lát, đoạn Günther ghé sang đồng chí mặt lợn nói thì thầm. Trong phòng lặng như tờ, đến mức Kurt cũng nghe thấy Günther thì thào cái gì:

- Đồng chí Kurt tuần trước vừa ở Moskva.

Đồng chí mặt lợn nhìn Kurt, gật gật đầu:

- Đồng chí Kurt ạ, không ai buộc đồng chí phải phát biểu đâu.

Rồi quay ra phía mọi người, đồng chí nói thêm:

- Nào ta có đấu tố ai đâu, các đồng chí nhỉ?

Hắn cười. Ai đó cười theo. Mãi đến khi người tiếp theo phát biểu, Kurt mới biết tay anh đang run run.

Tay anh vẫn còn run lúc anh biểu quyết đồng ý khai trừ Rohde ra khỏi đảng.

Rồi anh thấy khát. Họp xong, anh xuống tầng dưới để khỏi chen nhau với đám đông đang nhào cả vào toa-lét ở tầng trên. Lúc mở cửa toa-lét nam ở tầng dưới anh chạm ngay trán Rohde. Anh này nhìn Kurt, rồi đưa tay ra bắt.

- Cảm ơn anh, anh ta nói.

- Vì chuyện gì? Kurt ngơ ngác.

Anh chần chừ giây lát rồi mới nắm tay Rohde. Bàn tay lạnh ngắt, ướt át. Kurt thoáng nghĩ, có lẽ anh ta cũng rửa tay rồi.

Trước sáu giờ tối một lát Kurt đã có mặt ở ga Đông, sớm hơn mọi khi. Tàu khởi hành tuy đúng giờ nhưng kẹt lại một ga trước khi đến Bergholz. Trục trặc kỹ thuật, anh nhân viên soát vé trên tàu xin hành khách chịu khó chờ.

Trục trặc kỹ thuật chẳng phải là chuyện bất thường trên tuyến đường này. Nhưng tiếng trò chuyện nho nhỏ của mấy hành khách khác trên tàu bỗng dưng làm anh khó chịu. Anh muốn tập trung nghĩ ngợi, nhưng trên toa tàu chết gí một chỗ này đầu óc anh cũng bí rì rì. Anh xuống tàu, bất chấp cả lệnh cấm, anh vẫn vượt qua bên kia đường ray rồi cứ thế rảo bước đi. Mặc dù trời bắt đầu sẩm tối, nhưng từ đây đến Neuendorf chưa đến chục cây. Anh quen đường ở đây, dạo mùa thu cả nhà đã có lần hái nấm ở quanh đây. Thay vì men theo đường cái phải đi vòng qua một cái làng lân cận, đến Schenkenhorst anh rẽ vào đoạn đường tắt gần hơn. Gì chứ định hướng thì anh quen rồi.

Anh bước khá nhanh, dù do đói bụng đầu gối đã bắt đầu run. Lúc ở ga Đông anh đã định mua miếng currywurst[10], nhưng rồi e dạ dày sẽ đau, anh lại thôi. Bây giờ cảm giác đói cứ thế dần dần tụt xuống khuỷu chân. Người ta gọi đấy là bệnh hạ đường huyết. Chẳng đáng lo. Kurt biết rất rõ cơ thể người ta có thể hoạt động bình thường bao lâu dù bị đói. Rất lâu. Trời kéo đầy mây. Anh vô tình bước nhanh hơn. Dần dần cảnh tượng phiên họp lại hiện ra trước mắt... Gã mặt lợn. Đôi mắt hắn. Giọng nói cao the thé... Nào ta có đấu tố ai đâu... Khỉ thật, thằng cha làm mình nhớ đến ai nhỉ?

Con đường giờ dẫn thẳng vào rừng. Chỗ này tối hẳn so với ngoài đồng trống khiến anh chần chừ. Chả biết có nên đi vòng tránh khu rừng này không? Thế nhưng rừng gì thứ này chứ. Một vạt lưa thưa vài ngọn cây chứ đã là gì. Anh đã bao lần phải xuyên rừng taiga. Đã bao lần anh phải ngủ lại trong rừng taiga! Tuy thế, bây giờ anh vẫn vội đi như chạy. Con đường bỗng cong cong chuyển hướng chạy về phía Đông. Sợ lạc hướng, Kurt ngoặt sang trái và cứ thế đâm thẳng vào bóng đêm, chân bước lên nền đất mùn mềm mềm... Đột nhiên anh nhớ ra:

Phải rồi, Lubyanka. Moskva năm 1941.

Giờ hắn hiện ra rõ trước mắt anh. Giống nhau như lột: cặp mắt ti hí, tóc húi cua và ngay cả cái kiểu dùng tay lật lật từng trang sổ nhưng không nhìn vào đó:

- Anh lên tiếng phê phán đường lối ngoại giao của đồng chí Stalin kia đấy.

Số là, dạo Stalin và Hitler ký kết Hiệp ước hữu nghị với nhau, Kurt viết thư cho anh trai Werner ngụ ý, rồi tương lai sẽ cho thấy kết bạn với một tên tội phạm có lợi gì hay không.

Kết quả là mười năm nằm trại cải tạo lao động.

Vì tội tuyên truyền chống Nhà nước Xô viết và thành lập tổ chức bí mật. Thành viên tổ chức bí mật ấy gồm có anh và anh trai anh.

Tự dưng anh cảm thấy lớp đất mềm mềm dưới chân khó chịu thế nào. Đằng xa nghe như có tiếng cưa xẻ rẹt rẹt, tiếng răng rắc đáng sợ của những thân cây khổng lồ xoay xoay chầm chậm trước khi đổ vật xuống. Và, một lát sau thì các hình ảnh cũng hiện lên, thoáng qua, chẳng ăn nhập gì với nhau: cảnh điểm danh giữa trời lạnh âm ba mươi độ; mái lán gỗ đóng băng sáng sáng, một hình ảnh gắn liền với ký ức về cảnh lộn xộn âm thầm của ngót nghét hai trăm con người trong một lán đang cùng trở dậy, người nào người nấy hôi hám, bởi hơi thở thoát ra từ dạ dày trống rỗng, bởi giẻ quấn chân, bởi mồ hôi, nước tiểu... Thật khó mà tin được chính anh đã trải qua tất tật những thứ đó, rằng anh đã sống sót. Anh lại nhớ đến quyển sách của Krikhatzky anh luôn nhét túi áo ngực mỗi khi đi lao động. Đấy là tài sản cuối cùng của anh, nếu không kể thêm cái thìa. Đấy là bằng chứng cuối cùng rằng đâu đó ngoài kia vẫn còn một thế giới khác. Chính vì vậy anh đã không đổi quyển sách Krikhatzky (làm giấy quấn thuốc lá!) lấy bánh mì, đã tha nó theo mình suốt cái mùa đông 1942-43 thậm tệ ấy, lúc chẳng còn gì để đổi, chẳng còn bánh mì, bởi ai nấy đều phải xực hết, 600 gram nếu đạt định mức, nghĩa là, tính thêm tất cả các hệ số thời tiết xấu vào, cứ hai thằng phải được tám khối gỗ, hạ mười bốn cây mỗi ngày, bằng tay thôi, xẻ thành đống một thước đều đặn, róc hết cành, nếu đạt 90 phần trăm định mức mày được nhận 500 gram thứ bánh mì chẳng ra gì, nhão nhoẹt, mày sẽ đói. Nếu chỉ được 400 gram thì mày không làm nổi định mức 400 gram nữa và cứ thế là xuống dốc, đến lúc nào đó mày khắc có đôi mắt ấy, đôi mắt người ta vẫn có trước khi nằm cứng đơ trên chõng, rồi chúng nó sẽ khiêng mày ra, qua trạm gác, dừng lại đó trong chốc lát để tên gác cổng dụi tắt điếu thuốc cuốn đang hút dở rồi giơ búa, đúng theo quy định của Nội quy, giáng một nhát lên sọ mày...

Kurt dừng lại, đứng tựa vào một thân cây. Cây thông. Cứ ngửi mùi anh biết. Anh nhắm mắt, trán tựa vào thân cây. Các hình ảnh vẫn còn loang loáng, nhưng đầu óc anh dần dần tĩnh lại. Thay vào đó là tiếng gì như tiếng phì phò. Con thú gì à, thú lớn không? Kurt vẫn còn nhớ cách xử lý mỗi khi gặp thú: giả vờ chết. Nằm sấp xuống đất giả vờ chết, và nếu con thú lật ngửa mình ra (bọn gấu chuyên lật mồi như thế) thì phải nín thở. Ngừng hẳn, đừng thở nữa.

Kurt nín thở và hơi nghiêng đầu sang phải, nhìn ra sau cây thông tới một khoảng trống nhỏ. Nơi đó, cách chỗ anh đứng chừng mươi mười lăm thước là một chiếc xe Trabbi màu xanh da trời đang đung đưa rập ràng khá nhanh theo nhịp.

Trakhayutsya, Kurt nghĩ: chúng nó đ... nhau.

Anh lôi cặp kính ra nhằm kiểm lại biển số xe. Không phải xe Irina. Không phải gã da đỏ. Anh thở phào. Hơi thở gây buồn buồn trong họng và hơi thở dài chuyển thành trận cười sung sướng không thành tiếng. Đoạn anh đánh một vòng khá rộng đầy kính nể tránh chiếc xe đang rập rình kia để đi tiếp.

Trời nhỏ lộp bộp vài giọt nước mưa nhưng không thành hẳn cơn. Phía sông Havel chắc có dông. Giờ Kurt đã lại đi đúng hướng. Không, đây không phải rừng taiga. Chẳng có trại khổ sai lẫn gấu ở đây, trong rừng chỉ có xe Trabbi xanh cùng người đ... nhau trong đó. Đây không phải là bước tiến mới thì là gì, Kurt nghĩ bụng. Và không phải cũng là bước tiến hay sao, khi thay vì lôi cổ mày ra xử bắn người ta chỉ khai trừ mày khỏi đảng? Anh mong chờ cái gì mới được chứ? Chẳng lẽ anh đã quên lịch sử vận động khó nhọc ra sao ư? Đến Cách mạng Pháp cũng còn kéo theo bao nhiêu là hỗn loạn triền miên. Đầu rơi. Máu chảy. Một viên tướng cách mạng tự đăng quang Hoàng đế còn kéo hết cả châu Âu vào cuộc chiến nữa là. Cuộc cách mạng tư sản ấy kéo dài hàng chục năm mới đến đích. Vậy vì cớ gì cách mạng xã hội chủ nghĩa phải diễn ra khác đi? Khrushchov bị hạ bệ. Thì lúc nào đó sẽ lại có một Khrushchov mới. Lúc nào đó sẽ có chủ nghĩa xã hội đúng là xã hội chủ nghĩa, có thể là lúc đoạn đời anh đã kết thúc; một đoạn đời cực kỳ ngắn ngủi trong giai đoạn lịch sử thế giới anh vô tình được chứng kiến và, mẹ kiếp, biết cách tận dụng. Thôi, ít gì cũng là đoạn còn lại sau mười năm khổ sai và năm năm đi đày biệt xứ.

Có tiếng máy nổ lạch xạch sau lưng anh. Chiếc xe Trabbi chạy tới. Kurt bước tránh sang một bên và mặc dù thông thường chẳng bao giờ làm thế, anh đưa tay chào. Tuy đèn pha làm chói mắt chẳng thấy ai với ai, anh vẫn cảm thấy trong lòng dâng trào niềm vui thông đồng với những người lạ ngồi trong xe kia, những kẻ chắc chắn vừa vội vàng phụ tình ai đó.

Mưa chuyển sang nặng hạt. Không trung ngào ngạt mùi mưa và cây cối, lá rừng, pha chút mùi khí thải của xe động cơ hai kỳ. Kurt làm một hơi thở sâu, hít tất tật vào lồng ngực, mũi vẫn còn hướng theo chiếc Trabbi. Và, bỗng dưng anh có cảm giác cái mùi khí thải xe hơi ngòn ngọt ấy có vẻ chính là mùi vị của tội lỗi vậy. Chà, sống ở đời thật tuyệt diệu. Tuyệt diệu, mà cũng thật đáng ngạc nhiên. Và, như đã bao lần vào những giây phút anh lấy làm kinh ngạc mình vẫn còn sống sót ấy, anh lại nghĩ ngay rằng Werner - người anh trai vóc người bé nhỏ của anh, người luôn luôn khỏe mạnh, điển trai hơn... - không còn sống nữa. Song, trong khi mọi lần trước đây, hồi ức về Werner thường kèm theo chút cảm giác ân hận thì lần này cảm giác của anh lại khác hẳn, mới lạ, không giống nỗi ân hận vốn vẫn nằm sâu trong lòng, mà là cảm giác trên lồng ngực, trong cổ họng. Một cảm giác nghèn nghẹn trong họng và lồng ngực mà một lúc sau anh nghĩ là nỗi đau buồn. Nỗi đau không đến nỗi ghê gớm như anh tưởng, và đến lạ, không tách biệt, mà trộn lẫn cùng niềm sung sướng trong lòng anh, trở thành một cảm xúc bao trùm hết thảy. Điều làm anh đau đớn không hẳn chỉ là cái chết, mà đúng hơn là quãng đời Werner không kịp sống. Đồng thời anh cũng thấy được an ủi. Vì anh đã nghĩ, đã nhớ đến Werner, khiến chừng nào mà anh, Kurt đây, còn sống, thì anh trai anh chưa biến mất hẳn khỏi đời này. Vì anh - khác hẳn mẹ anh chỉ bịt tai lại mỗi khi có ai nhắc đến Werner - còn gìn giữ anh trai trong lòng mình, và nhờ thế mà anh ấy không bị hủy diệt hoàn toàn. Đồng thời, trong lúc nước mưa ròng ròng chảy xuống mặt, anh cao hứng hình dung (vâng, hình dung một cách phi khoa học) anh có thể sống thay anh trai, thở thay, ngửi thay, thậm chí - anh nghĩ ngay đến sự nhân đôi thần kỳ tối qua - làm tình thay, và cặp ấy của Vera chợt hiện ra dưới cách nhìn hoàn toàn mới mẻ kia. Đ... thay, Kurt nghĩ bụng, nhân danh người anh trai bị sát hại tự hồi nào.

[1] Quảng trường ở Moskva, nơi có trụ sở chính, nhà tù và phòng hồ sơ lưu trữ của cơ quan mật vụ Liên Xô (KGB) trước đây và Nga (FSB) hiện nay.

[2] RIAS (Rundfunk im amerikanischen Sektor): Đài phát thanh trong vùng quân đội Mỹ kiểm soát, là đài phát thanh do ban quân quản Mỹ lập ra ở Tây Berlin sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đài này hoạt động từ năm 1946 đến 1993.

[3] Điểm 3 theo thang điểm 5 ở Nga và Đông Âu ngày trước.

[4] Tiếng Nga (lóng): dương vật.

[5] Một thành phố của Bungari bên bờ Biển Đen.

[6] Viết tắt từ Sozialistische Einheitspartei Deutschland (đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất Đức), là đảng cầm quyền tại CHDC Đức trước đây.

[7] Paul Ludwig Hans Anton von Beneckendorff und von Hindenburg (1847-1934), Thống chế Đức, Tổng thống Đức vào năm 1925. Hindenburg là người trao quyền lập nội các cho Thủ tướng Đức Adolf Hitler đầu năm 1933.

[8] Đế chế Đức: năm 1871-1918.

[9] Robert Havemann (1910-1982), nhà hóa học CHDC Đức, đảng viên cộng sản, do chống chế độ do đảng SED cầm quyền nên bị quản thúc, cấm hành nghề và khai trừ đảng.

[10] Món xúc xích rán, thái khúc, ăn với xốt cà chua trộn cà-ri.

Hoàng Đăng Lãnh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.