Vẫn như mọi lần vào các chiều thứ Sáu, bà là người cuối cùng còn ở lại.
Từ năm giờ sáng đến giờ bà cứ phải luôn chân chạy đi chạy lại. Trước lúc thùng thư được mở lần đầu trong ngày, bà đọc lại một lần cuối bài đồng chí Hager đặt bà viết. Buổi sáng bà còn phải lên lớp dạy hai lần, mỗi lần hai tiết tiếng Tây Ban Nha. Vừa nghỉ trưa xong là buổi thảo luận về chủ nghĩa hiện thực, xung quanh nền văn học tiến bộ Bắc Mỹ. Giữa chừng thuyết trình, bà chợt nhận ra mình đang lẫn lộn giữa James Baldwin với John Dos Passos.
Tự học! Bây giờ, bốn giờ mười lăm phút chiều, lúc đang dọn lại bàn làm việc, bà sực nhớ ra cái từ ấy.
Đã là tự học thì thôi, đừng xía vào địa hạt chuyên môn khác làm gì. Nửa năm trước, trong buổi họp mở rộng của ban lãnh đạo, tay Harry Zenk đã nói thế, lúc bà xung phong chủ trì một buổi xê-mi-na nhân dịp năm mươi năm cách mạng Mexico.
Bà xếp tập bài kiểm tra sáng nay cho sinh viên trong lớp làm sang một bên rồi lơ đãng tìm cây bút của bà (bút bà có cả trăm cây, nhưng đúng cây đang tìm mới là cây bà thích nhất). Rốt cuộc rồi bà cũng thôi, bức bối, không tìm nữa. Bà đem mấy chén uống trà cáu bẩn sang phòng thư ký, đoạn rửa tay, rửa đến lần thứ tư thứ năm gì rồi mà không hết cảm giác bụi phấn vẫn còn bám ở các kẽ ngón tay. Đoạn, bà kéo cánh cửa cuốn, toan đóng tủ hồ sơ mà cô Lissi, thư ký của bà, để quên không đóng. Cả Lissi cũng chuồn ra về từ bao giờ rồi. Bực một nỗi, cánh cửa cuốn bằng gỗ bị kẹt đâu đó. Bà Charlotte bặm môi bặm lợi bấu tay vào nắm đấm cánh cửa, kéo mạnh xuống. Nắm đấm bật ra. Bà bước gấp ra phòng ngoài, ném xoạch nắm đấm lên mặt bàn giấy cô Lissi rồi viết lên một mảnh giấy: NHỚ BÁO QUẢN GIA. Chấm than.
Song, bà chợt nhớ, tay quản gia mấy hôm trước đã chuồn sang Tây mất rồi. Bà đành chậm rãi vò mảnh giấy, ném vào thùng rác, rồi thả người xuống chiếc ghế Lissi vẫn ngồi. Hai tay ôm gáy, bà nhìn chăm chăm vào bức chân dung Walter Ulbricht[1] treo trên tường; bức ảnh nằm lọt giữa vết mờ để lại trên tường, vốn của một bức ảnh cũ lớn hơn từng treo ở đó.
Thế là tay Harry Zenk sẽ thành hiệu phó cơ đấy.
Miệng bà ợ ra toàn mùi cá. Bà rất ghét ăn cá, bà chỉ ăn vì cần dầu cá thôi.
- Đàn bà chúng mình, cô Gertrud Stiller nói lúc ăn trưa nay, cứ phải gắng sức gấp đôi mới ngoi lên được.
Gấp đôi thế nào, phải gấp ba ấy chứ.
Bà Charlotte đứng dậy, lôi mấy kẹp tài liệu có ghi dòng chữ “chỉ dùng cho công vụ” ra, và vừa nghĩ thầm trong bụng - ai mà biết được còn ai khác sẽ ngó vào đây - bà vừa lấy nốt khỏi ngăn tủ bị hỏng cửa cả mấy tờ báo phương Tây lưu trữ tự đời nào đên giờ nhét hết vào cặp, rồi ra về.
Ngoài hành lang, một chiếc đèn ống bị hỏng, kêu xẹt xẹt.
Trên mấy cánh cửa gỗ vẫn còn rõ nhiều vết cháy rám đen, do lính Nga dạo sau chiến tranh hút thuốc lào cuốn makhorka rồi dụi đầu điếu lên đó mà thành.
Tờ báo tường treo ngay bên cạnh thông báo thắng lợi mới nhất của nền công nghệ và khoa học Liên Xô: Hôm kia, công dân Liên Xô Yuri Gagarin là người đầu tiên trên thế giới đã bay vào vũ trụ.
Trời bên ngoài ấm. Mùa xuân đột ngột kéo về tự lúc nào, bà Charlotte chẳng để ý. Bà tự nhủ đi bộ nốt đoạn đường chừng hai cây xuyên cánh rừng thưa dọc đường xe lửa, cho thư thái một chút, lúc trời đang đẹp thế này. Được vài trăm thước bà đã toát cả mồ hôi. Cái cặp mỗi lúc một nặng. Bà vẫn còn mặc cả chiếc áo len dày bên trong áo măng-tô. Tự dưng hình ảnh thời niên thiếu của bà hiện ra trước mắt, vào một ngày ấm áp, mặc chiếc váy len màu trắng vẫn thường phải mặc vào các ngày chủ nhật, mỗi khi mẹ đưa bà vào vườn hoa Tiergarten, như dạo ấy người ta thường nói, để “đón chào” Hoàng đế. Thế mà lúc Hoàng đế đi ngang, bà còn hắt hơi bắn cả nước mũi nước dãi vào Ngài. Bỗng chốc cảnh tượng dạo đó lại hiện ra rõ mồn một trước mắt bà:
Hoàng đế thoăn thoắt bước đến gần, đi theo Ngài là các hoàng thân và sĩ quan tùy tòng; chiếc áo len dày, quá nóng, đâm vào da ngứa ngáy không chịu được; cái bạt tai như trời giáng của mẹ ngay lúc bà chưa kịp cả mở mắt ra sau khi hắt hơi.
Về đến nhà bà phải chịu phạt, bị nhốt hết ngày trong buồng tối. Trong buồng tối bà bị suyễn suýt chết mà mẹ bà chẳng chút động lòng, hoặc vì tưởng Charlotte giả vờ, hoặc vì thầm mong cho con gái chết ngạt thật. Mẹ bà chả đã có lúc nói với bà hàng xóm: thằng Carl-Gustav nhà tôi mà “bình thường” thì có đem cho con Lotte đi tôi cũng chả tiếc. Và bà Charlotte chợt nhớ lại vẻ mặt tử vì đạo của mẹ bà cùng thánh giá mẹ bà đeo ngoài cổ áo kéo lên cao khi nói như thế.
Trường đời là thế. Giả sử không qua thứ trường như thế, thì liệu bà có là bà nữa không? Tụi sinh viên đặt cho bà biệt hiệu Madame “Dứt Khoát”. Tụi nó tưởng đặt như thế sẽ làm bà cáu lắm. Chúng nó nhầm to! Bà dùng cả hai tay xốc cái cặp lên... Không, không, Madame Dứt Khoát không bỏ cuộc, Madame Dứt Khoát sẽ tranh đấu đến cùng. Harry Zenk làm hiệu phó cơ đấy! Chà, cứ để xem thế nào đã nhé!
Ông Wilhelm dĩ nhiên đã lại chui xuống tầng hầm, tức là dưới “trung ương”, như lão vẫn gọi cái hầm rượu cũ lão thuê sửa thành nơi hội họp ấy. Trong nhà tối om, nhất là lúc vừa bước vào, sau khi bị nắng buổi chiều tà chiếu thẳng mặt. Có mỗi bóng đèn trong vỏ ốc, do ông Wilhelm quên không lắp công tắc, là sáng cả ngày lẫn đêm. Đúng là phí phạm. Bà Charlotte tìm mọi cách để bù lại sự phí phạm đó, chẳng hạn bằng cách tránh không bật đèn ở hành lang lúc cởi giày và áo khoác. Bà mò mẫm xỏ chân vào đôi dép đi trong nhà rồi vội vàng leo cầu thang lên gác. Sáu giờ tối, thằng cháu Alexander sẽ đến học tiếng Tây Ban Nha với bà.
Bà đem quần áo sạch từ buồng ngủ vào buồng tắm, để tắm một cái cho thật đã đời. Từ dạo bác sĩ Süß bảo bà bị hen suyễn là do dị ứng bụi bặm trong nhà, bà coi tắm vòi hoa sen như phương thuốc chữa bệnh và cũng không ngần ngại tự cho phép mình hưởng sự xa xỉ ấy nhiều lần trong ngày. Sáng sớm, tất nhiên bà tắm nước lạnh, nhưng buổi chiều và buổi tối thì bà dùng hoa sen nước nóng gội đầu, để mặc nước xối thật lâu từ trên đầu xuống mắt, xuống mũi, khoan khoái rửa ráy khoang mũi, khoang miệng. Ít nhất thì đây cũng là cái lợi của việc Kurt và Irina chuyển đi ở chỗ khác: tránh được cái cảnh đang lúc tắm thì thể nào cũng có ai đấy mở vòi nước ở đâu đó trong nhà, và - do ở làng Neuendorf này vốn nước chảy yếu - nước tắm hoặc sẽ nóng như nước sôi, hoặc sẽ lạnh ngắt như dùng để giội lên trứng luộc ăn sáng vậy.
Tắm xong bà chui ngay vào bộ quần áo lót để sẵn đó, rồi hơi rùng mình đón trước cảm giác lành lạnh sẽ đến lúc rời buồng tắm, bà mặc thêm chiếc áo len cashemere tuy không còn mới để diện nhưng mềm mại và ấm áp. Bà chợt nảy ra ý nghĩ, sau bữa tắm khoan khoái thế này, phải tự thưởng thêm cho mình một chút thảnh thơi nữa là nhắn cho Alexander hôm nay thôi đừng đến, để bà được ngả lưng, xả hơi, cho đến lúc ông Wilhelm từ hầm rượu chui lên ăn tối. Chẳng lẽ bà không đáng được hưởng phần thưởng này sau tuần lễ điên rồ vừa qua à?
Bà xuống phòng khách gọi điện cho Kurt.
- Vâng, được ạ, Kurt đáp. Vậy hẹn mai mẹ nhá.
Hẹn mai là thế nào?
- Làm một vòng xe hơi mà mẹ, Kurt nhắc.
- Trời đất, phải rồi, mẹ vui lắm, bà đáp.
Trong nhà kính trồng hoa thật thoải mái. Bồn phun nước nhỏ kêu rù rù. Độ ẩm không khí ở đây gần như độ ẩm vùng nhiệt đới. Từ ngày bác sĩ Süß mách riêng với bà, độ ẩm cao trị được dị ứng, bà dành phần lớn thời gian vào đây. Nói đúng ra thì trước đây phần lớn thời gian bà cũng dùng để vào đây, có điều bây giờ việc bà vào đây ngồi là có cơ sở khoa học hẳn hoi. Vào những mùa ấm áp trong năm, bà còn ngủ ở đây.
Bà nằm xuống giường, chủ ý không đắp chăn để khỏi ngủ quên. Bà không thích ông Wilhelm bắt quả tang bà ngủ quên. Lúc này huyết áp bà hơi xuống, cho nên dù nhiệt độ trong nhà kính cao ngang nhiệt độ vùng nhiệt đới, bà vẫn thấy lành lạnh. Nhưng bà không thấy khó chịu, thậm chí còn thoải mái, khiến bà nhớ lại những cảm giác nhất định, chôn chặt trong lòng từ lâu. Thôi, tốt nhất cứ để yên đấy, nghĩ thêm nữa ở tuổi bà có lẽ không đứng đắn lắm. Những cảm giác thừa, chẳng để làm gì. Hoàn toàn vớ vẩn. Không biết lão Wilhelm còn nghĩ đến không nhỉ? Nếu không sao lão lại cằn nhằn lúc bà chuyển ra khỏi buồng ngủ của hai người. Dẫu gì thì hai ông bà cũng đã ngủ riêng từ lâu: Ngay trong phòng ngủ chung họ đã kê giường cách xa nhau đến hai thước còn gì. Thế lão muốn gì? Không biết lão có vì thế mà khổ sở không nhỉ? Hay bà chiều lão lần nữa? Thôi, thôi, cứ nhớ đến cốc nước bên chiếc bàn con cạnh giường ngủ của ông Wilhelm là bà đã rùng mình, sực tỉnh. Ngay từ năm 1940 ở Pháp, lúc bị giam trong trại Vernet, ông Wilhelm vì mắc chứng thiếu vitamin C đã rụng gần hết răng, cái nào sót lại thì trên đường đến Casablanca cũng rụng nốt. Lạy Chúa, cái thời đến khổ, bao nhiêu là sợ hãi, bao nhiêu là lộn xộn... Trước mắt bà chợt tối sầm. Bà vừa nghĩ đến tay Zenk, tay này có hàm răng thật hoàn chỉnh. Không, tất nhiên tay Zenk chưa phải nằm trại giam bao giờ. Tay này chưa ở đâu hết. Trừ... ấy là đoán phỏng thế, trong Đoàn Thanh niên Hitler...
Lúc bà mở mắt ra, trời đã tối. Trong nhà yên ắng. Bà Charlotte xuyên qua bếp đến cánh cửa hồi xưa dùng làm cửa sau (lối đi từ bếp ra phòng ngoài ông Wilhelm điên điên khùng khùng đem bịt lại, đâm ra giờ, ngay cả khi dọn bữa trưa, cứ phải đi vòng tít ra hành lang). Đứng ở đầu cầu thang, bà ới xuống tầng hầm:
- Ông ơi?
Qua cánh cửa kép của hầm rượu vang hôm xưa vọng ra tiếng cười nói râm ran. Bây giờ đã chín rưỡi tối mà mấy tướng vẫn ngồi dưới đấy. Bà lần cầu thang đi xuống, hy vọng nếu mình xuất hiện, đám kia sẽ tan nhanh hơn. Bà ồn ào mở cửa. Từ trong đám khói thuốc lá mù mịt nhao nhao tiếng chào hỏi có vẻ hơi quá niềm nở, càng khiến bà có cảm giác mình là kẻ xía vào phá đám ở đây. Mấy vị cánh hẩu mọi khi đều có mặt ở đây cả: tay Horst Mählich với một cậu tên Schlinger, một đảng viên còn trẻ vẫn thường làm bà khó chịu vì sự hăng hái quá đáng. Cả gã Weihe, tuy không phải đảng viên, cũng ngồi đây, ngoài ra còn vài ba người nữa bà không quen lắm. Trên mặt bàn bằng gỗ sồi là chiếc gạt tàn đầy ắp tàn thuốc, mấy quyển sổ ghi chép mở ra đầy vẻ quan trọng, và giữa lô tách cà phê và chai Vita-Cola là cái gì đó trông như bản nháp cho một tờ áp phích.
MỘT ĐẦU TÀU HỎA TẶNG CUBA
Phía dưới là hàng chữ Tây Ban Nha viết sai:
LA VIVA REVOLUTION![2]
- Xin lỗi, tôi không muốn quấy rầy đâu, bà Charlotte nói, quyết định rút lui không điều kiện khỏi đây. Thế nhưng bà chưa kịp đóng kín cửa, ông Wilhelm đã nói lớn:
- À, bà này, bà làm giúp chúng tôi vài miếng bánh được không? Mấy đồng chí đây đều đói cả rồi.
- Vâng, để tôi xem còn thứ gì không, bà Charlotte lầu bầu trong miệng rồi leo cầu thang lên trên.
Trong bếp, bà đứng ngây ra một lúc, hơi bối rối trước sự trâng tráo quá mức đó. Nhưng rồi bà cũng như cái máy, lôi chiếc bánh mới nguyên từ ngăn bánh ra (may mà cô giúp việc Lisbeth đã mua sẵn từ trước) cắt thành khoanh. Tại sao bà chịu làm nhỉ? Bà có phải thư ký cho ông ấy đâu? Ít ra bà cũng từng là Viện trưởng!... Không, tất nhiên bà không phải là Viện trưởng. Đáng tiếc cho bà là người ta đã hạ tầm các viện xuống thành các “ban”, cho nên bà, nghe không kêu lắm, chỉ là “trưởng ban” thôi. Nhưng cái đó đâu có làm thay đổi một sự thực là: bà từng là cán bộ, từng lăn ra làm việc như trâu cày ngựa kéo, từng đóng vai trò quan trọng tại một Viện hàn lâm đào tạo các nhà ngoại giao tương lai cho CHDC Đức (Guinea là quốc gia ngoài phe xã hội chủ nghĩa đầu tiên công nhận CHDC Đức về ngoại giao, và tuyên bố công nhận đó chỉ bị rút lại do sức ép từ phía Cộng hòa Liên bang Đức mà thôi nhá!). Bà từng là trưởng ban trong Viện hàn lâm - còn lão Wilhelm đã làm gì nào? Chẳng là gì sất. Lão già về hưu, hưu non nữa là khác... Và có nhẽ - vừa ngây người nhìn chằm chằm vào tủ lạnh xem có thứ gì phết được lên bánh mì không, bà vừa nghĩ, trong lòng tức điên - sau khi lão, vì không kham nổi chân Giám đốc điều hành Viện hàn lâm nên phải thôi việc, nếu chẳng phải bà đã đích thân tất tưởi đến gặp ban lãnh đạo quận, năn nỉ các đồng chí ở đấy ít nhất cũng xếp cho lão một công việc công ích nào đấy, thì có nhẽ lão đã tiêu đời từ lâu. Chính bà đã dỗ dành lão nhận chân Bí thư chi bộ Đảng khu phố, chính bà đã nói ngon nói ngọt khuyên lão coi đây là một nhiệm vụ xã hội quan trọng. Chỉ khổ một nỗi, dần dần lão đâm ra tin như thế thật. Và, còn tệ hơn nữa là hình như nhiều người khác cũng tin như thế thì phải!
Rốt cuộc bà chọn hộp pho-mát dẻo và lọ dưa chuột muối chua rồi bắt tay vào phết bơ lên các khoanh bánh mì bày trên mâm gỗ... Bí thư Đảng ủy khu phố! Chỉ là chân thu Đảng phí của mươi mười lăm cựu chiến binh ngụ trên đoạn từ phố Thälmann đến quảng trường Nạn nhân chủ nghĩa phát xít thôi, chứ có là gì đâu. Thế mà lão Wilhelm làm trò gì? Lão tổ chức các cuộc họp kín gì đó dưới kia, dưới trụ sở “trung ương” của lão, trù tính các “chiến dịch” của nợ gì đó. Như dịp bầu cử địa phương vừa rồi đấy, lão lập đội tác chiến cơ giới, để chờ đến đầu giờ chiều, chở cánh tuyên truyền đến nhà những ai chưa đi bầu, léo nhéo lôi kéo họ đi bầu cho bằng được. Cái bọn của khỉ ấy, xe chúng nó chạy nát hết cả bãi cỏ nhà bà! Bây giờ đến lượt sáng kiến mới của lão đây: đầu tàu hỏa tặng Cuba. Làng Neuendorf có chưa đến mười ngàn dân mà đòi người ta quyên đủ tiền mua đầu máy diesel của nhà máy Karl Marx! Họ đang quyên góp như điên đấy, bọn trẻ thiếu niên tiền phong thu gom phế liệu mang đi bán, dân chúng lại còn phải cóng thêm gì đó nữa cho buổi tombola[3] đình đám, gọi là đỉnh cao của toàn chiến dịch, sẽ diễn ra vào cuối tuần sau tại Câu lạc bộ đoàn kết nhân dân.
Vừa phết pho-mát dẻo lên bánh mì, bà Charlotte vừa nghĩ, không biết làm cách nào lão thuyết phục được người ta chứ. Bằng lối úp úp mở mở, làm bộ làm tịch của lão. Bằng chiếc mũ bốn mùa của lão. Bà cũng phải thừa nhận lão rất nổi tiếng ở Neuendorf, trên mặt báo, dù chỉ là báo địa phương, lão được nhắc đến luôn. Mọi người đều biết lão, gặp ngoài đường ai cũng chào. Không phải chào bà, chào lão ấy đấy. Người ta kháo nhau những chuyện gì đâu về lão... Lão làm thế nào nhỉ? Không, không ai bảo chính lão tung những chuyện ấy ra. Nhưng bằng một cách nào đấy, có ma mới biết được... Lão chỉ vừa gắn sợi dây thòng lọng của lão lên tường dưới “trụ sở trung ương” làm vật trang trí là các đồng chí trẻ đã tin sái cổ rằng lão vốn là một tay quăng thòng lọng lão luyện. Chỉ cần lão pha Cuba Libre[4] ra mời là ai nấy đều làm như lão quen đích thân Fidel Castro không bằng! Và, nếu lão uống Nescafe theo “kiểu Mexico” (nghĩa là, nào có gì ghê gớm đâu, lão chỉ khuấy bột cà phê với váng sữa một lúc, cho sủi phồng lên) rồi trong khi nhấm nháp cà phê lại hút kèm điếu thuốc lá không đầu lọc papirosa của Nga thì mọi người có mặt đều rõ Wilhelm là người từng gây dựng mạng lưới tình báo viên Liên Xô tại Mexico vậy.
Bà Charlotte nghĩ thầm, chà, họ mà biết chuyện! Bà lặng người trong chốc lát (đúng đang lúc thái mấy quả dưa chuột nhỏ xíu thành những khoanh cũng nhỏ xíu). Lặng người trong chốc lát để nhớ đến Hamburg dạo đó, đến cái gọi là “hoạt động tình báo” của lão Wilhelm. Ba năm liền lão chỉ ngồi trong phòng giấy hút thuốc. Đấy, “hoạt động tình báo” của lão đấy. Ba năm giời đơn độc. Tuyệt không một việc gì hết. Tin tức về các vụ bắt bớ không ngớt lan về, nhưng lão Wilhelm vẫn ngồi yên đấy chờ. Chờ cái gì mới được chứ? Hồi đó họ liều chết để làm gì nhỉ? Bà không biết. Ai nấy chỉ cần biết những gì cần phải biết thôi, lão Wilhelm bảo thế. Còn bà, thay vì cùng bọn trẻ sang Moskva thì bà nằm lại Đức, đóng vai vợ lão, để ngụy trang. Bà đã mừng rỡ đến mức gần phát quýnh lên - chuyện này tất nhiên không thể cho ai biết được - khi mọi việc bại lộ, khiến hai người phải cuống cuồng đánh bài chuồn. Dùng hộ chiếu Thụy Sĩ mới ghê chứ. Trong khi lão Wilhelm giọng Berlin không chệch vào đâu được. Lạy Chúa tôi, tình với báo gì! Đến cả hộ chiếu đàng hoàng cho người ta còn chẳng lo được nữa là.
Bánh biếc gì chán quá. Bánh còn mới nên cứ bết cả ra. Bà Charlotte bực dọc đặt mấy miếng dưa chuột lên bánh, mặc dù càng về cuối, bà càng chắc bà sẽ không xuống hầm rượu lần nữa...
Làm thế nào bây giờ? Bà chợt nhớ ra chiếc máy điện thoại Viện hàn lâm. Vừa mới đây thôi, lão Wilhelm cho dời cái gọi là điện thoại Viện hàn lâm của lão xuống hầm rượu. Máy là máy nội bộ, mà lão Wilhelm, mặc dù ra khỏi Viện đã sáu năm nay, vẫn ngang nhiên sử dụng. Bà dùng máy lẻ Viện hàn lâm của bà gọi vào máy lẻ Viện hàn lâm của lão, để báo với lão, bánh đã dọn trên bàn trong bếp rồi, và - mặc dù đúng lúc đó bụng bà lên cơn đói điên cuồng - bà vẫn đi ngay ra khỏi bếp để tránh phải giáp mặt Schlinger, khi cậu này lên đón mâm bánh xuống.
Độ này bà ăn nhiều, ngủ ít. Đêm đêm, cứ khoảng hai ba giờ sáng là buồn tiểu, bà loạng choạng ngoài hành lang như một đứa trẻ, rụt rè, bé bỏng. Từ lâu, vào cái giờ mẹ bà vẫn gọi là giờ chó sói này, bà hoàn toàn bất lực... Đến nhìn cái vỏ ốc bà cũng thấy ghê ghê, nên bà gắng không nhìn ngang nhìn ngửa, để không phải nghĩ đến cái gì gớm ghiếc nữa. Nhưng lúc ngồi cầu chờ rặn nốt giọt nước tiểu cuối cùng, tự dưng bà lại lo, hay là bài viết của bà không vừa lòng đồng chí Hager, có thể bà đã đi lạc đề và bài báo nói trắng ra là xoàng, nhỏ nhen, bảo thủ chăng...
Sáng ra, mối lo vẫn còn trong đầu, mặc dù trời sáng có làm giảm nhẹ đi chút ít. Tuy thế bà vẫn cưỡng lại được ý muốn cứ nguyên cả váy ngủ chạy ra thùng thư xem tờ ND đã đến chưa. Bà trở dậy như mọi ngày, lần chần tắm nước lạnh, thong thả pha một tách Muckefuck, nước bột mì rang giả cà phê, và làm một lát bánh mì phết bơ, rồi mới đi lấy báo, đem tờ báo - cùng bánh mì lẫn nước giả cà phê - vào nhà kính ở ngoài, thậm chí còn lướt được qua trang đầu đăng tin về những mưu mô tội lỗi của địch ở vùng ranh giới, để cuối cùng mới giở đến trang văn hóa. Và ở đó, có bài của bà!
Không đơn thuần là vấn đề sở thích. Về cuốn tiểu thuyết Đêm Mexico của tác giả Wolfgang Koppe, do Mitteldeutscher Verlag xuất bản. Bài của Charlotte Powileit.
Đây không phải lần đầu bà có bài được đăng; nhưng cũng tuyệt nhiên không phải chuyện thường ngày. Mặc dù, nói cho cùng, bài báo bà đã thuộc làu làu, bà vẫn đọc lại từng chữ, rất thú vị, cùng bánh mì cắt lát và nước bột rang giả cà phê. Lúc này, khi đã in ra, bài báo càng có vẻ rắn rỏi, chắc chắn hơn trước.
Đúng ra đây chỉ là bài phê bình, song, vì nó cũng đề cập đến nhiều vấn đề cơ bản, cho nên họ dành cho bà hẳn nửa trang, nguyên cả sáu cột. Mọi sự liên quan đến cuốn sách của một nhà văn Tây Đức vừa được xuất bản tại một nhà xuất bản CHDC Đức. Cuốn sách rõ tồi, đọc phát bực. Ngay mấy trang đầu bà đã thấy ngao ngán. Câu chuyện một người lưu vong Do Thái quay trở về Đức - về bên Tây Đức - và nhận thấy các tư tưởng phát-xít ở đó vẫn tiếp tục tồn tại. Chuyện có vậy, không hơn không kém. Song, đáng lẽ quay sang CHDC Đức - âu cũng là một phương án đáng để cân nhắc vậy - anh chàng lại trở về Mexico, để sau một chặp lý sự về cuộc sống và cái chết, anh ta tự sát. Câu chuyện hấp dẫn, chữ nghĩa tuyệt vời, tác giả cũng rõ ràng bộc lộ thái độ chống phát-xít. Nhưng rồi cũng chỉ thế thôi, không có gì hơn.
Tuy nhiên, như thế mới chỉ là chuyện nhỏ. Tệ hơn là tác giả mô tả Mexico hoàn toàn sai, như thể chưa sống ở đó bao giờ vậy.
Rằng nhân vật chính là người đồng tính luyến ái, thì nói cho cùng, bà chẳng có gì để phản bác, mặc dù, cái lối người dẫn chuyện Tôi mô tả những cuộc phiêu lưu tình ái của anh ta với một trẻ vị thành niên Mexico - lê thê, nhàm chán, tởm lợm - thì phải nhận bà đã rất khó chịu, vì nó khiến bà nhớ đến anh trai Carl-Gustav của bà.
Lý do chính để bà chê là lý do chính trị. Cuốn sách quá tiêu cực. Sặc mùi thất bại chủ nghĩa. Nó kéo người đọc vào bóng tối, khiến người đọc trở thành thụ động và nhỏ bé, đẩy người đọc vào một thế giới tàn nhẫn, xấu xa; nó không chỉ ra một lối thoát nào cả, bởi vì - theo lời của nhân vật Tôi, người dẫn chuyện - chẳng có lối thoát nào hết. Thật đáng ngạc nhiên là anh ta nhận ra điều đó chính vào lúc ngắm bức tượng nữ thần Coatlicue khổng lồ.
Đáng lẽ phải nhận ra quan hệ biện chứng giữa sự sống và cái chết toát ra từ bức tượng, đáng lẽ nhìn thấy ở đó biểu tượng của một lý tưởng lớn và sự đề cao một dân tộc anh hùng, thì nhân vật Tôi lại đánh giá đây là “tượng đài táo bạo và lạnh lùng nhất tôn vinh sự vô bổ”, là “lời thừa nhận tính xấu xa của sự tồn tại”, khiến anh ta cho rằng, tốt nhất là tránh vào rừng sâu, rối biến.
Không, bà Charlotte đọc và đắc ý với từng lời từng chữ, cuốn sách này không thích hợp để dùng vào việc giáo dục thái độ cởi mở, tinh thần nhân đạo cho giới trẻ. Nó không thích hợp cho việc động viên mọi người chống lại nguy cơ của tai họa bom nguyên tử, nó không thích hợp cho việc xây dựng niềm tin vào tương lai nhân loại và chiến thắng của chủ nghĩa xã hội, và chính vì vậy không thể để nó nằm trên các giá sách của đất nước chúng ta.
Chấm! Hết!
Tách Muckefuck uống đã cạn, lát bánh mì ăn đã hết, chỉ còn lại cảm giác là lạ trong bụng. Lẫn đâu đó trong đống giấy tờ, sách vở của bà, còn tấm ảnh chụp bức tượng Coatlicue dạo nào bà cắt từ tạp chí Siempre ra. Hay của Adrian đưa cho bà nhỉ?
Gần chục năm đã trôi qua, thế mà lòng ham muốn thử xem tác động của bức tượng Coatlicue như thế nào, vẫn còn đó.
Tầng trên bắt đầu rục rịch. Đã tám giờ sáng, ông Wilhelm trở dậy. Tiếng nước chảy ào ào vào bồn tắm. Đúng là ông Wilhelm thường tắm bồn vào buổi sáng và, ngồi trong bồn, ông bật đèn tia cực tím tắm thêm mươi mười lăm phút nữa. Bà Charlotte đem tờ báo nhét trở lại vào thùng thư, cũng có hơi dớ dẩn thật, song niềm kiêu hãnh về bài báo của chính mình làm bà ngường ngượng, và bà muốn để ông Wilhelm như mọi khi tự đi lấy báo và tự đọc đến bài của bà.
Tám giờ mười lăm phút thì cháo yến mạch chín. Ông Wilhelm xuống cầu thang - nghe tiếng chân đi bà biết ông vui. Ông đã kịp đóng bộ, com-lê, cra-vat, chỉnh tề (com-lê thì lúc nào ông chả mặc, thậm chí cả bên trong bộ quần áo bảo hộ lao động). Ông đi thẳng một mạch ra thùng thư lấy tờ ND, nhìn lướt qua trang đầu như mọi khi và trong lúc vừa múc cháo yến mạch, ông vừa buông đôi lời bình. Lời bình hôm nay là:
- Tây Berlin đúng là trò khỉ. Cứ thế này thì phải đóng chặt biên giới lại!
Chỉ nói vớ nói vẩn! Nhưng bà Charlotte không định cãi. Bà im, lặng lẽ múc cháo ăn. Lão thì biết gì về chính sách đối ngoại cơ chứ. Tương quan tứ cường hay Hiệp định Potsdam, lão đều ú ớ hội tề cả. Nghĩ thế trong bụng, nhưng bà lại nói to:
- Tay quản gia cũng bỏ đi rồi.
- Tay Wollmann ấy à?
- Đúng rồi, tay Wollmann, bà đáp.
- Cho quỷ tha hắn đi đâu thì tha, ông Wilhelm lớn tiếng.
Nhưng bọn trẻ! Bà hiểu chứ, chúng nó ăn học bằng tiền của ta, rồi chuồn. Thì phải chốt cửa lại chứ sao nữa!
Bà Charlotte gật gật đầu rồi dọn dẹp, cất bát đĩa đi.
Ăn sáng xong, ông Wilhelm đi đọc ND. Ông ngồi bên bàn giấy. Và, y hệt như hồi ở Mexico, ông đọc kỹ từng bài.
Trong lúc đó, tiếng là lo việc trong nhà, nhưng thật ra bà Charlotte cứ thấp thỏm chờ ông Wilhelm phát hiện ra bài viết. Bà định dọn dẹp trong bếp, nhưng lại thôi, bụng bảo dạ để cô giúp việc Lisbeth sẽ dọn. Bà đi loanh quanh khắp nhà, trong đầu quẩn quanh với ý nghĩ không biết nên dùng mấy căn phòng vợ chồng Kurt và Irina giờ bỏ trống vào việc gì. Nhìn số đồ gỗ, bà lại nổi cơn tự ái. Chính tay bà mua nhá, cho vợ chồng Kurt và Irina lúc hai người từ Liên Xô trở về, để rồi khi chuyển đi Irina cố ý để lại. Nhưng tự dưng bà lại nghĩ đến tay Zenk. Đúng ra là bà cân nhắc nên thưa chuyện này với ông Hager thế nào, nếu giả sử vài ngày nữa ông ấy gọi điện hỏi bà thật, hay nói cho đúng hơn nữa, bà nên làm thế nào để tuy không cần nói toẹt ra, vẫn khiến ông ấy hiểu rằng bà, vâng, bà tự xem mình mới xứng đáng làm hiệu phó.
Lúc bà xuống nhà, ông Wilhelm đã lại đang lăng xăng trong nhà.
- Ông đọc ND xong rồi à? bà Charlotte vờ hỏi.
- Xong rồi. Đưa cái này đi tombola được không?
Ông cầm trên tay tấm khăn trải bàn, giơ lên cao. Chiếc khăn màu kiểu Mexico, dệt tay, với các hình mẫu rắn rết, đại bàng.
- Không, ông ạ, không đem chiếc khăn ấy đi tombola được.
Lão đọc bài báo chưa nhỉ? Hay lão để sót, không đọc thấy tên mình?
Đúng mười giờ cô Lisbeth đến. Cô này, như mọi khi, cái gì cũng hỏi, có khi năm lần bảy lượt những câu tưởng đã rõ mười mươi... Không cần hút bụi Lisbeth ạ, cứ tôi ở nhà thì không cần nữa... Phải rồi, hôm nay giặt quần áo... Phải, một giờ ăn trưa.
- Này Lisbeth, cô có đọc ND không đấy?
- Cháu đặt báo Märkische Volkstimme rồi ạ.
- A thế à, báo Märkische Volkstimme đấy.
Cơ mà Lisbeth đằng nào cũng đần độn. Nó cứ việc Märkische Volkstimme mà đọc.
Ông Wilhelm lại trở vào, tay cầm con đại bàng bằng sứ do chủ nhà cũ lúc tháo chạy để lại.
Bà Charlotte tròn hai mắt:
- Ai mua thứ này mới được chứ?
- Không phải là mua! Bà không biết tombola là gì à?
Cô Lisbeth hỏi:
- Bác ạ, hôm nay nấu cháo khoai tây hay làm khoai nghiền ạ?
Bà Charlotte mắm môi, thầm đếm đến năm cố nén cơn bực bội để khỏi quát ầm lên.
- Cô muốn làm gì thì làm, tôi chả thiết.
Ba giờ chiều, đúng giờ như mọi lần, Kurt bấm chuông. Bà Charlotte thức dậy sau giấc trưa, đánh bộ đồ màu xám và nhân dịp vui trong ngày, bà kín đáo đeo lên cổ sợi dây chuyền Mexico.
Thằng Alexander đứng cạnh xe đợi, Irina cũng đứng đó, trang điểm lòe loẹt như con vẹt. Song, dĩ nhiên, đó là việc cô ấy.
- Con gái yêu, bà chào Irina. Chào Alexander, bà nói: Nào chú chim sẻ của bà. Chào Kurt, bà chỉ nói: anh Kurt.
Chiếc xe màu xanh da trời, nhỏ tí xíu. Xe Trabant. Cả nhà ngắm nghía chiếc xe tứ bề. Ông Wilhelm cũng mò ra xem.
- Đừng nói gì với ông ấy nhá, bà rỉ tai Kurt.
Tất nhiên ông Wilhelm không biết bà đưa Kurt vay năm ngàn mác mua xe. Quay sang ông Wilhelm, bà làm bộ ngạc nhiên:
- Ra ông đấy à, ông muốn làm một vòng ư?
- Ôi giời, ông Wilhelm đáp, tôi thì giờ đâu mà dự cái trò này.
- Đằng nào xe cũng không đủ chỗ, Kurt nói.
Alexander phàn nàn:
- Áo khoác của cháu ngứa quá.
Ông Wilhelm gõ gõ lên vỏ xe chế bằng chất dẻo rồi lên tiếng giảng giải:
- Sau này rồi xe hơi sẽ chỉ làm bằng chất dẻo.
Bà Charlotte lại quan tâm chuyện khác:
- Vậy lên xe như thế nào đây?
Chiếc xe chỉ có hai cửa.
- Mẹ lên ngồi đằng trước, Kurt nói.
Nhưng bà Charlotte không chịu (ít ra cũng vì lý do an toàn, bởi gì thì gì, Kurt cũng mới học lái xe). Kurt gập ghế phía trước để bà Charlotte lom khom - như thể bò bằng bốn chân - chui vào hàng ghế sau. Chả hiểu ai thiết kế xe thế này, đến cửa xe cũng dè sẻn.
Bà ngạc nhiên thấy Kurt lên ngồi ghế phụ, còn Irina ngồi ghế lái.
- Ai lái vậy?
Cả hai đều quay lại tỏ vẻ ngạc nhiên.
- Con lái, Irina nói.
Thật ra Irina nói là “con láy”. Năm năm sống ở Đức mà tiếng vẫn chỉ trọ trẹ. Làm thế nào cô ấy thi được bằng không biết.
- Áo khoác của cháu ngứa quá, Alexander nhăn nhó.
Đấy là bộ bà Charlotte tặng nó dịp Giáng sinh.
- Làm sao lại ngứa được chứ? bà Charlotte hỏi.
- Ở cổ cháu đây này.
- Cổ cháu còn cổ áo sơ mi cơ mà, bà Charlotte sốt ruột.
- Vẫn ngứa lắm.
- Thôi được rồi, Irina nói, thế thì ta chạy qua nhà cho con thay áo vậy.
Kể ra cũng hơi bực. Thằng nhỏ được nuông chiều quá đáng. Nó thông minh, cởi mở, nhưng với kiểu dạy dỗ thế kia, sau này nó bất hạnh là cái chắc.
- Hồi bà còn tuổi cháu, bà Charlotte định kể Alexander nghe về chiếc váy len ngứa ngáy ngày xưa bà phải mặc vào Chủ nhật hằng tuần mỗi khi mẹ dắt bà vào Tiergarten. Nhưng đúng lúc đó xe nổ máy và toàn bộ cỗ xe kêu rộp rộp như cối xay cà phê.
Irina dừng xe cạnh ngôi nhà trên phố Fuchsbau. Giàn giáo bao quanh ngôi nhà. Để tu sửa ngôi nhà này, Kurt cũng phải mượn bà Charlotte một khoản bộn.
- À, thế ra xe là mua cho Irina đấy, bà Charlotte chờ Irina cùng Alexander chui ra khỏi xe liền cất tiếng hỏi.
- Kìa mẹ, con có chạy được xe đâu. Mẹ cũng biết, con chỉ nhìn một mắt.
Bà Charlotte lặng im. Đúng thế thật, bà quên khuấy chuyện đó. Nhưng, con Irina cần xe làm gì chứ?
- Với lại con sẽ trả lại tiền cho mẹ mà, Kurt nói. Mỗi tháng con tạm trả hai trăm mác, bao giờ tăng lương thì ba trăm.
-Thì ra là thế, bà Charlotte nói và cố nhịn, vâng, cố nhịn, để không buông thêm: Anh trả tiền, cô ấy chạy.
Nhưng Kurt vẫn nói:
- Mẹ, con không hiểu sao mẹ cứ hằn học thế.
- Nào tôi hằn học gì đâu.
- Con nghĩ, Kurt nói, có lẽ mình nên nhân dịp chúng con đã ở riêng để sắp xếp lại mọi chuyện.
- Tôi cũng nghĩ vậy, bà Charlotte nói.
Bà không muốn kéo mãi chuyện này ra. Bà tấm tức vì Kurt xử không phải với bà. Cứ làm như mọi sự đều do bà cả. Thế mà từ lâu chính bà đã cố cải thiện quan hệ với con dâu, nhưng con bà đâu có để ý. Nào bà có bao giờ dám buông lời chê trách Irina, đến cả những trò nhảm nhí, hay thói tiêu pha quá trớn của cô ấy bà cũng chẳng than lấy một lời, ngược lại, thậm chí bà còn đưa cả tiền cho cô ấy sửa sang nhà cửa, mặc dù thật lòng mà nói, bà vẫn thấy nhà với cửa làm gì cho hoang phí. Bây giờ cô ấy lại đòi sắm xe hơi... Nhưng làm thì có chịu làm đâu. Kurt cày tối mặt tối mũi, đã xong bằng tiến sĩ, lại còn ra cả sách, sách tuyệt vời nhá, trong khi Irina trầy trật mãi lớp đào tạo nhân viên thủ thư vẫn chửa xong. Mà xong làm sao được, đến tiếng Đức nói còn chẳng ra hồn.
Những chuyện như thế bà Charlotte chẳng nói ra. Thay vì thế, bà lại hỏi:
- Anh đọc ND chưa ấy nhỉ?
- Con đọc rồi, Kurt đáp. Cả bài viết của mẹ con cũng đọc rồi.
Vừa lúc đó thì mẹ con Irina và Alexander lên xe. Alexander mặc áo len. Bà Charlotte cất tiếng:
- Hồi bà bằng tuổi cháu...
Nhưng cái cối xay cà phê lại lăn bánh. Cái xe đến lạ, ngồi trong đấy, đến nói chuyện với nhau cũng chẳng được; ngồi ghế sau còn bị dồi bên này hất bên kia. Ấy là chưa kể Irina chạy nhanh phát khiếp, ào ào qua ngã tư mà chẳng thèm nhìn sang phải sang trái gì cả.
- Thế không phải để ý đường ưu tiên à? bà Charlotte cố nhã nhặn, hỏi.
Không ai đáp lại bà, có lẽ vì không rõ bà hỏi ai, hoặc vì xe chạy ồn át mất tiếng bà. Bà thôi không hỏi thêm.
Xe chạy đến công viên Sanssouci, cả nhà bảo nhau xuống xe. Nhưng Alexander nhăn nhó:
- Con muốn đi nữa cơ!
- Thì lát nữa mình lại chạy xe quay về mà con, Kurt ôn tồn.
Song thằng con không chịu, nằng nặc đòi: Đi xe cơ!
- Thôi được, ta chạy đến Cecilienhof vậy.
- Đến đấy chỉ thêm được mỗi đoạn, bố mẹ bảo đi xe một vòng cơ mà!
Thật không còn ra thể thống nào nữa. Cả nhà bàn đi tính lại mãi xem có chạy thêm đến quận Bornim hay Neufahrland hay không, rồi mới dứt khoát, chỉ đến cung điện Cecilienhof thôi, nhưng đi vòng vèo cho dài đường ra. Alexander cũng chịu như thế.
- Xe nhà cháu có thùng xăng phụ nhá, nó khoe với bà.
Bà Charlotte gật gù.
Rốt cuộc cũng đến Cecilienhof. Tìm chỗ đỗ xe - cứ như đưa tàu thủy cập bến không bằng. Kurt đỡ bà ra khỏi xe. Đúng là trò leo trèo. Rồi Kurt hỏi:
- Sao? Mẹ thấy xe bọn con thế nào?
- Tuyệt, bà Charlotte đáp.
Thằng Alexander dùng tay áo chùi vết phân chim trên vỏ xe. Bà Charlotte nhịn, không nói gì. Đi một quãng rồi mà Alexander vẫn còn thỉnh thoảng ngoái nhìn chiếc xe. Bà Charlotte chờ đến lúc họ đi khuất một đoạn.
- Hồi bà bằng tuổi cháu bây giờ, bà gắng một lần thứ ba, Chủ nhật nào bà cũng phải theo chân cố nội vào Tiergarten, vì cố có thói quen kỳ quặc muốn đón Hoàng đế thỉnh thoảng vẫn đi dạo ở đấy.
Alexander trố mắt.
- Hoàng đế thật á?
- Chứ sao, bà Charlotte đáp, Hoàng đế Wilhelm đấy. Đôi khi phải chờ hàng tiếng, chả biết rồi Hoàng đế có đến hay không. Và lúc nào bà cũng phải mặc váy len trắng ngứa ngáy kinh khủng. Đúng là ngứa ghê ngứa gớm ấy, bà nói và liếc nhìn gương mặt Alexander xem lời bà có tác động gì đến cháu không.
Chả thấy có tác động gì. Đã thế, Alexander lại hỏi:
- Thế Hoàng đế có đến không ạ?
Irina nói lớn:
- Thôi, mẹ đừng kể chuyện ấy nữa. Nếu hồi xưa mẹ gặp chuyện không may thì bây giờ mẹ chẳng nên bắt người khác cũng gặp chuyện như thế.
- Thế Hoàng đế có đến không ạ? Alexander gặng hỏi.
- Có, bà Charlotte đáp, sau rồi Hoàng đế cũng đến. Cơ mà bà rất ghét ông ấy.
Đến bãi tắm cuối hồ Heiliger hai mẹ con Irina và Alexander kéo nhau đi ném mồi cho thiên nga. Bà Charlotte cùng Kurt ngồi xuống chiếc ghế băng. Gió mát thổi nhè nhẹ, dễ chịu. Tiếng lau sậy xào xạc.
- Thế nào, anh thấy bài tôi viết thế nào? bà hỏi, rồi nói thêm: Nhưng đừng có mà hắc quá nhé.
Bà nhận thấy Kurt đang cố lảng.
- Thôi, có thế nào thì cũng tuôn ra. Anh chê bài tôi viết chứ gì?
- Con không hiểu mẹ, Kurt nói, mẹ dính vào chuyện như thế làm gì.
- Sao lại bảo là dính? Mà dính chuyện gì mới được chứ?
Kurt nhìn bà. Bà chợt nhận ra anh chỉ nhìn bà bằng một con mắt, và trong giây lát bà bỗng có cảm giác hối hận, như thể bà có lỗi vì việc đó vậy.
- Mẹ ạ, đây là chiến dịch chính trị, Kurt nói. Một số người đang tính lên gân lên cốt.
- Cơ mà quyển sách quá tệ, bà chống chế.
- Thì mẹ đừng đọc nó nữa.
Kurt chợt khô khan một cách bất thường.
- Không, không, anh Kurt ạ, như thế không được, bà Charlotte nói nhanh. Cả tôi cũng được quyền có ý kiến của tôi chứ. Cả tôi cũng có quyền chê cuốn sách dở và có hại chứ. Mà tôi thấy nó dở và có hại thật; ý tôi là thế và tôi sẽ giữ ý kiến của tôi.
- Đâu chỉ là chuyện cuốn sách đấy hả mẹ.
- Nhưng tôi chỉ nói đến cuốn ấy thôi.
- Không phải đâu, Kurt khăng khăng. Đây là chuyện đường lối, cải tổ hay trì hoãn, dân chủ hóa hay quay về với chủ nghĩa Stalin.
Bà Charlotte sốt ruột đưa tay ôm hai bên thái dương.
- Stalin... Sao tự dưng ai cũng một điều chủ nghĩa Stalin, hai điều chủ nghĩa Stalin thế!
- Con không hiểu mẹ, Kurt nói. Và, dù cố nén, giọng anh vẫn gay gắt khi nói dằn từng tiếng: Thì con trai mẹ bị giết ở Vorkuta đấy thôi.
Bà Charlotte đứng bật dậy, đưa tay ra hiệu Kurt đừng nói nữa.
- Mẹ không muốn con nói thế. Kurt, mẹ không muốn con nói như thế!
Alexander chạy đến, hổn hển báo tin bọn chim hải âu cướp mồi của thiên nga. Rồi nó lại chạy đi.
Kurt im lặng. Bà cũng lặng im.
Tiếng lau sậy xào xạc ở ven hồ.
Cảm giác đầu tiên lúc bà bước vào nhà là cảm giác ngột ngạt, như thể có miếng giẻ cũ kỹ tấp lên mặt lên mũi vậy. Leo cầu thang lên phòng tắm, bà hiểu ngay cảm giác ấy từ đâu ra: ở hành lang tầng trên, Mählich và cậu Schlinger, mỗi tên cầm một cây cọ sơn trong tay đang hì hục bên một tấm áp phích lớn. Và, chắc là để có chỗ phẳng rộng, họ đã cuốn tấm thảm dài trải hành lang lại. Bụi mù mịt.
- Các anh làm gì thế kia, giọng bà rít lên.
- Anh Wilhelm bảo..., Mählich toan cất lời.
- Anh Wilhelm bảo! Anh Wilhelm bảo...! Bà Charlotte hầm hầm.
Vào buồng tắm bà uống ngay một viên Prednisolon chống hen suyễn, làm xong, bà lấy chiếc khăn ẩm che miệng trước khi bước ra hành lang. Hai tên kia đã kịp gọi ông Wilhelm lên tiếp sức.
- Có chuyện gì thế nào, ông Wilhelm hỏi, giọng kẻ cả.
Bà Charlotte không đáp, lách người đi qua dải hành lang hẹp. Bà vô tình đụng phải Schlinger, khiến cậu này mất thăng bằng phải chồm người, giẫm chân lên tấm áp phích vừa sơn, đúng vào chữ revolution viết sai.
- Cái bà này, bà bị làm sao thế!
Bà Charlotte không ngoảnh lại, đi một mạch theo cầu thang xuống tầng dưới. Ông Wilhelm bám theo sau, rồi bước lên trước, ngáng lối vào nhà kính.
- Bà nói giúp tôi xem bà có chuyện gì thế nào?
- Ông ạ, bà Charlotte cố hết sức giữ bình tĩnh. Chắc ông cũng phải biết tôi bị dị ứng bụi trong nhà chứ.
- Sao, bà bảo sao?
- Dị ứng bụi nhà, bà nói.
- Lúc nào bà cũng cái trò ấy, ông Wilhelm cằn nhằn.
Bà Charlotte kéo nhanh cánh cửa nhà kính, đóng lại ngay trước mặt ông, rồi kéo rèm.
Bà ngả lưng xuống giường, nghe tim đập thình thịch và hơi thở hơi khò khè của chính mình. Đầu lưỡi vẫn còn vị đăng đắng của thuốc Prednisolon.
Bà nằm như thế một lúc lâu.
Bồn phun nước kêu rù rù.
Bà chợt nhớ chậu hoa quỳnh, chậu hoa bà để lại cho cửa hàng hoa, không kịp đợi xem hoa nở.
À, còn thêm cái này nữa: hồi ở Mexico, nào bà có bị hen bao giờ.
Đêm hôm đó bà mơ toàn chuyện dữ, nhưng dữ thế nào thì sáng ra bà không còn nhớ nữa. Mà cũng chẳng muốn nhớ lại.
Cả ngày Chủ nhật bà ở nhà, nhặt cỏ dại trong vườn.
Sáng thứ Hai bà nghe thời sự báo tin đội quân do phía Hợp chủng quốc Hoa Kỳ vũ trang vừa đổ bộ vào Cuba.
Đến thứ Tư thì quân đổ bộ bị tiêu diệt.
Không thấy đồng chí Hager gọi điện nữa.
Buổi tombola ông Wilhelm tổ chức thành công rực rỡ. Vị Bí thư Quận ủy đọc diễn văn và đại diện Mặt trận Quốc gia tặng ông Wilhelm chiếc Huy hiệu Danh dự mạ vàng.
[1] Walter Ernst Paul Ulbricht (1893-1973), Chủ tịch Hội đồng Nhà nước CHDC Đức (1960-1973).
[2] Tức “Cách mạng muôn năm”. Viết đúng là: Viva la revolución.
[3] Một hình thức rút thăm trúng thưởng.
[4] Cuba Libre (Cuba tự do): một loại đồ uống pha từ rượu rum và Cola.