Thời Nắng Lịm

Lượt đọc: 96 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NĂM 1973

❊ ❊ ❊

Rồi chiếc xe tải cũng dừng lại và cửa thùng xe phía sau ngửa ra, sập xuống.

Một cái đầu người đội mũ nhà binh xuất hiện. Cái đầu bắt đầu gào thét. Nước bọt sùi lên giữa các kẽ răng, long lanh dưới ánh đèn đường trước khi vỡ bụp.

Phải nói ngay là không thể hiểu cái đầu hét những gì. Một thứ ngôn ngữ lạ lùng, hình như gồm toàn nguyên âm thì phải.

Lại một cái đầu nữa nhô ra, thêm cái nữa và loáng một cái, đã có bốn năm người mặc quân phục đứng hò hét ở mép sau thùng xe. Họ hò hét lộn xộn, người này cố hét to hơn người kia.

Trên thùng xe che vải bạt bắt đầu lục tục. Đám tân binh, người nào vớ túi xắc hay gói bọc người nấy lần lượt từ trên thùng xe nhảy xuống đất. Họ vấp nhau, xô đẩy nhau trong bóng tối. Alexander cũng nhảy. Tay anh chạm xuống mặt đất thô, như kiểu mặt đường pit trong một sân vận động nào đó.

Sang ngày thứ hai anh bắt đầu nghe ra tiếng gào rống có nghĩa gì. Ạy ều ước có nghĩa là chạy đều bước. Còn đơ viii đứ iêm là đơn vị đứng nghiêm. Với nhiều giọng khác nhau.

Ngày thứ ba thì anh đã kịp hiểu mọi câu nói rắc rối có liên quan đến “mông đít”. Anh lệt bệt kia, anh động đậy mông đít anh đi nào hoặc Rồi tôi đá mấy cái vào mông đít anh cho anh biết tay hoặc hay hơn, cũng học để biết, Khi anh chạy, mông đít anh là điểm cao nhất.

Ngày thứ tư họ học bài chính trị đầu tiên: Về chủ nghĩa phát xít mới và chủ nghĩa quân phiệt tại Cộng hòa Liên bang Đức. Ai ngủ gật, phải đứng phạt suốt buổi.

Ngày thứ năm anh nhận được lá thư đầu tiên của Christina. Anh mở thư ngay, đọc luôn trên đường trở về phòng anh trong trại lính. Đọc kỹ lại lần nữa rồi nhét vào túi áo ngực. Buổi tối lên giường ngủ, đọc lần nữa.

Ngày thứ sáu là Chủ nhật. Cứ Chủ nhật thì mọi người được đến chơi ở phòng văn hóa đại đội. Nhưng, phải mặc quân phục xuất trại. Ở phòng văn hóa ai nấy được phép tự pha cà phê mang theo từ nhà.

Alexander không có cà phê mang theo. Anh ở lại phòng. Nằm trên giường, đọc lá thư của Christina đến lần thứ năm, thứ mười, hay thứ mười lăm gì đó. Anh như trút được gánh nặng khi được tin bữa anh lên đường nàng “buồn suốt ngày”. Thấy lo ngại khi biết nàng cuối tuần sẽ đi với bạn gái cùng làm ở thư viện đến hồ Scharmiitzel: để cho “khuây khỏa” chút đỉnh. Anh viết thư trả lời, hơi trách nàng vì chuyện đó, rồi lại xóa lời trách móc đi. Anh viết lại từ đầu. Tả cảnh ngoài cửa sổ: dãy nhà mới xây, phía sau là hàng rào. Anh đã toan viết thêm rằng tiếp đó là bãi tập xe tăng, nhưng lại thấy ngập ngừng không viết thêm, không rõ đấy đã phải là mục tiêu quân sự người ta dặn anh không nói với ai hay chưa. Không biết thư có bị kiểm duyệt không nhỉ?

Sang ngày thứ bảy họ đứng trong sân trại, xếp hàng thành đội ngũ (có nghĩa là xếp hàng ba) để đợi cái gì đó (rằng đứng yên và chờ đợi là hai trong số những hoạt động chính của lính tráng thì Alexander đã học được rồi). Anh hơi bị nhức đầu do phải cai cà phê, chiếc mũ sắt đè nặng lên đầu, ba-lô lính nặng lưng, thêm túi đựng mặt nạ chẹn cổ, súng trường quàng vai. Anh vẫn chưa quen với mái tóc cắt cao quá mang tai; gió lạnh như cấu vào tai, luồn xuống và rít lên dưới mũ sắt rộng vành của Quân đội quốc gia nhân dân. Nhưng họ vẫn phải đứng nghiêm, không được phép động đậy. Alexander nhìn gáy người đứng trước, nhìn đôi tai anh ta đỏ rựng, và chắc mẩm anh ta cũng đang có cảm giác giống mình. Anh chợt nghĩ đến Mick Jagger[1]; và tự hỏi, không biết trong lúc mình đang đứng đây, trên bãi luyện quân mang tên Katzenkopf này nhìn chằm chằm vào đôi tai đỏ rựng của đồng đội phía trước thì một anh chàng như Mick Jagger làm gì. Anh láng máng nhớ đến bức ảnh trên một tạp chí phương Tây nào đấy, chụp Mick Jagger đứng trong phòng ngủ của anh ta, mặc áo len xù, quần legging, trông dáng hơi ẻo lả đàn bà, vẻ ngái ngủ, như vừa thức dậy xong. Alexander mường tượng, chắc chỉ giây lát nữa thôi, anh ta sẽ đi vào căn bếp rộng, ngợp ánh nắng để pha cà phê, nếu chưa có ai đã pha sẵn cho anh ta rồi, sẽ ăn bánh mì kẹp pho-mát và nho quả (hay cái gì khác, ai mà biết được bên ấy người ta ăn sáng thế nào) rồi sau đó - trong khi Alexander lăn lê bò toài hay bắn súng trên bãi tập Katzenkopf và tập vượt chướng ngại vật trên cánh đồng này - thì Mick đang gảy gảy đàn ghi-ta, ghi ghi chép chép vài âm điệu, hoặc sẽ leo lên một chiếc xe hơi quái dị nào đó bảo lái xe đưa đến studio để ghi băng một ca khúc mới, một ca khúc anh ta sẽ trình thiên hạ vào một chuyến công diễn nào đó, một chuyến công diễn mà anh, Alexander, sẽ không có mặt, cũng như anh chưa bao giờ có mặt tại buổi biểu diễn nào của Rolling Stones và cũng sẽ chẳng bao giờ có mặt tại buổi biểu diễn nào khác của Rolling Stones cả. Chẳng bao giờ, Alexander nghĩ bụng, trong lúc anh đội mũ sắt và đeo ba-lô Quân đội quốc gia nhân dân trên bãi tập Katzenkopf để nhìn đôi tai đỏ rựng của đồng đội đứng trước mặt, chẳng bao giờ anh sẽ được xem Rolling Stones biểu diễn live, chẳng bao giờ anh được đến thăm Paris hay Rome hay Mexico, chẳng bao giờ đến được Woodstock[2], ngay cả Tây Berlin, nổi tiếng với các cuộc khỏa thân đi biểu tình cũng như nổi loạn sinh viên, với các cuộc làm tình tự do và phong trào đối lập ngoài nghị trường ở đó. Tất tật những thứ đó anh sẽ chẳng được trải qua, anh nghĩ, trong khi một tay hạ sĩ quan tham mưu nào đấy đang tay cầm bản nội quy, miệng giảng giải các xạ thủ phải giữ tư thế nào khi nằm bắn, tức là tư thế nằm chéo so với bia, anh sẽ chẳng được thấy gì, sẽ chẳng được chứng kiến gì, bởi vì giữa đây với đó, giữa thế giới bên này với thế giới bên kia, giữa một thế giới nhỏ bé và chật hẹp bên này, nơi cuộc đời anh sẽ trôi qua đây với thế giới bên kia, một thế giới mênh mông rộng lớn, nơi mà cuộc sống thật sự đang diễn ra, vì giữa hai thế giới ấy tồn tại một đường biên, mà anh, Alexander Umnitzer, sắp tới sẽ còn phải canh giữ nữa kia đấy.

Đó là ngày thứ bảy.

Ngày thứ hai mươi lăm là ngày tuyên thệ. Lễ tuyên thệ diễn ra trên một bãi trống nào đó phía ngoài doanh trại. Diễn văn. Cờ. Trống. Kèn. Rồi họ đọc lời thề đã phải học thuộc lòng trước đó trong nhiều buổi học chính trị. Mấy viên chỉ huy đi xen vào giữa hàng quân để kiểm tra xem lính tráng có thật sự đọc lời thề thành tiếng hay không.

Sau buổi lễ tuyên thệ, lần đầu tiên họ được xuất trại. Christina cùng bố mẹ anh cũng đến. Vừa thấy anh mặc quân phục bước ra, mẹ anh bật khóc. Alexander vội vàng an ủi: anh vẫn khỏe đây mà, làm gì có chiến tranh đâu, thậm chí ăn uống trong doanh trại cũng không tồi.

Cái cảm giác sau gần một tháng mới lại được ôm Christina vào lòng thật là đặc biệt. Nàng bé nhỏ hơn, dịu dàng hơn anh vẫn mường tượng trong ký ức. Toàn thân nàng toát ra hương vị đàn bà làm anh ngây ngất. Alexander hít căng lồng ngực bầu không khí như sôi lên theo mỗi bước đi của người yêu, nhưng tự cảm thấy vướng víu, lố bịch trong bộ quân phục thô thiển, may không đúng cỡ, lại thêm mái tóc như cái nồi đất và chiếc mũ trông đến ngớ ngẩn chụp trên đầu. Chỉ một thoáng thôi, anh có cảm tưởng bắt gặp nét hốt hoảng trên gương mặt Christina khi nhìn bộ dạng anh thế này, nhưng sau đó nàng chuyển ngay sang vẻ mừng vui một cách hơi cường điệu.

Cả nhà đi vào một thị trấn lạ, mang tên Halberstadt, chỗ nào cũng đầy lính cùng người nhà của lính. Hiệu ăn nào cũng ứ đầy khách. Christina nảy ý định ra phía ngoài thị trấn tìm quán án, song khu vực Alexander được phép đi lại khi xuất trại, dĩ nhiên, chỉ khoanh trong Halberstadt. Cả nhà đành ngồi ăn món thịt xào ớt letscho trong một tiệm ăn chật cứng khách chỉ còn độc món letscho ấy. Bà Irina không muốn ăn, chỉ hút thuốc. Trong lúc chờ món ăn dọn ra, mọi người kể chuyện này chuyện nọ: chuyện ông Kurt lại bắt tay viết tiếp cuốn sách dở dang về Lenin trong thời gian lưu vong tại Thụy Sĩ, với hy vọng, khi ông Honecker lên cầm quyển thì cuốn sách chắc sẽ được xuất bản; rồi tin ông Wilhelm lại ốm nặng - Alexander bắt gặp mình đang nghĩ, có lẽ vào dịp đám ma ông Wilhelm anh sẽ được về phép đặc cách; thêm tin bà ngoại Nadya rốt cuộc cũng chịu sang CHDC Đức sống, song, vì thủ tục giấy tờ làm kéo dài hàng tháng, có khi hàng năm, thành ra cả nhà đang lo thời gian chờ đợi ở Slava trôi qua thì chả biết bà có còn sống hay không. Sau đó ông Kurt và bà Irina về trước, để hai con được ở riêng một lúc với nhau.

Hai người được bốn tiếng. Alexander quyết định đưa Christina đi xem doanh trại. Họ vượt qua ngọn đồi rồi đi dọc theo con đường lát bê-tông dẫn thẳng đến bãi tập lái xe tăng và Alexander bắt đầu kể. Về những cuộc hành quân đường trường mang ba-lô dã chiến. Về những vết rộp mọng nước ở bàn chân, những mép thùng đạn sắc như dao cứa vào ngón tay, về những quả lựu đạn tuy chỉ dùng để ném tập nhưng rất nguy hiểm và về chất phóng xạ. Thậm chí với chút kiêu hãnh, anh kể chuyện ở đại đội bạn có người chết ngạt vì bị ói trong mặt nạ phòng độc mà đám sĩ quan huấn luyện không ai hay biết. Song anh cũng cảm thấy - trong lúc Christina nghe chuyện anh kể, khi thì thế a thán phục lúc lại khiếp, lạy Chúa đầy vẻ cảm thông - những chuyện ấy dường như không thật thế nào đó, không phải vì anh vô tình phóng đại, cũng không phải vì anh bất giác thêm muối thêm mắm, mà đơn giản chỉ là cái gì đó ngang phè phè, không phải chuyện anh muốn nói.

Bên trái, đằng sau hàng rào cao bằng gỗ, doanh trại quân Nga hiện ra, so với doanh trại của anh trông có vẻ màu mè, Á châu hơn (hàng rào sơn xanh lá cây, tường nhà quét vôi vàng, mép vỉa hè vôi trắng, ngôi sao ở cổng sơn đỏ còn mới toanh) và phía bên phải, xa xa đằng sau hàng rào dây thép gai là trại huấn luyện tân binh (phẳng lặng, xám xịt, vuông vắn). Alexander đếm thầm từng cửa sổ, toan chỉ Christina biết phòng “của anh” ở đâu, song lại thôi, không đếm nữa. Nhìn cánh cửa sổ thì thấy cái gì? Nhìn ngôi nhà lắp ghép mới xây kia thì làm sao thấy hết cái đần độn ngớ ngẩn của mọi sự ở nơi đây, làm sao thấu hiểu cảm giác một kẻ bị giam hãm, làm sao cảm thông với bao nhiêu chuyện nhỏ nhặt hằng ngày, nào là sự đụng tay chạm chân tối ngày với các đồng đội cùng phòng, nào là các câu chuyện tục tĩu trước khi ngủ, nào là chuyện vắt tất lên ủng để hong cho khô hoặc chuyên xếp hàng sáng sáng với cả trăm thằng đàn ông khác bên các bồn đi tiểu và do đó cùng phải chứng kiến của nhau cảnh lắc lắc, đập đập hay bóp bóp cho giọt nước tiểu cuối cùng rơi ra.

Dẫu sao Christina cũng thấy cảnh tượng doanh trại “không niềm nở” lắm, nhưng nàng đoán ngôi nhà mới xây như thế chắc cũng có cái hay, chẳng hạn, sạch sẽ hơn, vệ sinh hơn.@c

Alexander lặng im không nói gì. Suốt cả đoạn đường về anh lặng thinh, nhất quyết không nói thêm một lời, nhưng cũng gắng làm sao để Christina không nhận ra sự im lặng cố tình đó. Ấy vậy mà lúc hai người ghé vào tiệm ăn uống vội ly cà phê thì anh lại lên tiếng nói. Vừa nói vừa bực với mình, sao mình không câm miệng được, sao vẫn đem những chuyện hong tất, chuyện đi đái đi tiểu kia ra mà kể, vừa hậm hực về chính mình, vừa bực bội thấy Christina, trong lúc anh đang nói, chốc chốc lại xem đồng hồ, và rốt cuộc nói bằng giọng nửa sốt ruột, nửa an ủi khiến anh ngừng bặt:

- Anh xem bố anh đấy, bố từng phải chịu bao nhiêu thứ kinh khủng hơn nhiều ấy chứ.

Anh đưa Christina ra ga. Hết giờ xuất trại mất rồi. Christina đi bên anh, mang theo làn hương cùng mái tóc thiên thần của nàng, bàn tay nàng lạnh ngắt và nàng bước đi từng bước ngắn. Đột nhiên Alexander cảm thấy căm ghét nàng, nhưng đồng thời cũng lại thèm muốn nàng tột bậc. Song nàng đang tan biến đi, đang rời xa anh, tên hèn nhát tóc cạo nhẵn quá mang tai và mặc bộ quân phục thùng thình này, anh phải giữ nàng lại, anh đẩy nàng vào cổng nhà ai đó, chắc mẩm trong đầu nàng cũng đang bị lòng ham muốn của anh lôi cuốn, khi nàng cưỡng lại, anh đinh ninh phải mạnh tay hơn, anh cố xoay người nàng, anh xé toang quần tất nàng đang mặc trên người, song Christina kháng cự với sức mạnh không ngờ, miệng rên rỉ lạ lùng, đến đoạn hai người thở hồng hộc đứng đối diện nhau thì, chỉ một lát sau, Alexander quay người, bỏ đi.

Vẫn chưa đến chín giờ tối. Alexander lại chui vào quán rượu, gọi cốc bia, rồi ly rượu trắng, lại thêm cốc bia, mắt dõi theo cô tiếp viên, ngắm hai bắp đùi được che sơ sài dưới chiếc váy ngắn màu đen. Mặt trong chắc nịch của hai bắp đùi cọ sát sạt vào nhau lúc cô đi qua đi lại trong quán (khác với hai bắp đùi Christina, khoảng giữa còn tách ra một khe hở rộng đút vừa ngón tay). Và, Alexander sẽ chẳng nghĩ ngợi gì mà chồng ngay số tiền lương lính tám mươi mác anh nhận mỗi tháng, cộng bốn mươi mác trợ cấp biên phòng thêm vào khoản tiền bia rượu anh vừa uống, cốt sao được nhét bàn tay vào giữa hai bắp đùi nần nẫn kia của cô tiếp viên quán Harzfeuer ở thị trấn Halberstadt này. Anh gọi thêm cốc bia, dù cốc trước uống chưa hết, hỏi tên cô tiếp viên, biết cô tên Barbel, với một niềm hy vọng mơ hồ anh báo cô biết anh được xuất trại đến hai mươi bốn giờ. Cô ta mỉm cười, hất mái tóc màu nâu xõa xuống mặt ra sau lưng, rồi thu dọn gạt tàn thuốc, nhặt cốc ly bẩn mang vào bếp, lát sau lại đem cốc ly mới đầy bia đầy rượu ra, đi lại với cái vẻ uyển chuyển chắc nình nịch ấy giữa các bàn nước phần lớn toàn lính tráng ngồi, thoắt biến đi đâu đó, rồi lại hiện ra, ném về phía anh, hình như thế, một cái nhìn rất nhanh, đầy hứa hẹn, cười nhe hàm răng như răng thỏ và rốt cuộc, thay vì mang thêm ly rượu trắng nữa, cô mang biên lai đến cho anh, từ chối khoản tiền boa hậu hĩ và nghiêm giọng nhắc, nếu muốn về doanh trại cho kịp giờ thì anh phải lên đường ngay.

Sau đó anh men theo con đường lát bê-tông, trên đầu là bầu trời sao rộng lớn chốc chốc lại nghiêng nghiêng như sắp đổ sập xuống, thịt letscho trong bụng anh chỉ chực ói ra ngoài, còn thì mọi sự chả là gì đối với anh, anh chỉ ngạc nhiên làm sao anh đi đúng về hướng doanh trại thật, làm sao anh tự nguyện trở về nơi ấy, nếu dọc đường anh không bị một chiếc xe hơi chẹt, nhưng không rõ vì lý gì mà nó không chạy tới. Lúc anh nằm xuống giường, mặc dù tối om chẳng nhìn thấy gì mọi thứ quanh anh vẫn quay cuồng, miếng thịt letscho không còn nhịn được nữa bèn ói thốc ra, nhưng thay vì rơi vào cầu tiêu, lại rơi vào một trong hai chục bồn rửa mặt của nhà tắm đại đội. Đến lúc này thì viên sĩ quan trực ban xô đến, lệnh cho Alexander mặc bộ đồ dã chiến lên người (một nhiệm vụ cực kỳ khó nhọc), rồi cả hai đi ra sân trại, Alexander phân trần với viên sĩ quan trực ban rằng anh yêu Christina và hai người gọi nhau bằng “Bonny”, không, không phải Pony, mà là Bonny, như tên một bài hát nó như thế, rồi họ đến chỗ vọng gác, trực ban bắt Alexander cởi thắt lưng lính ra rồi đẩy anh vào một căn phòng nhỏ, trong đó chẳng có gì ngoài chiếc giường đơn, mặt căng lưới lò-xo thép, đến nệm cũng không trải. Cho nên, đúng sáu giờ sáng Chủ nhật, trước khi toàn đơn vị thức giấc, lúc Alexander bị lôi ra khỏi phòng phạt giam để còn kịp dọn bồn rửa mặt bị anh đêm qua nôn thốc nôn tháo làm bẩn thì, soi vào một trong số hai chục chiếc gương buồng tắm, anh vẫn còn thấy vết lưới lò-xo thép hằn rõ trên má phải.

Ngay hôm Chủ nhật ấy anh viết lá thư ăn năn gửi Christina. Song, mặc dù lâu nay nàng vẫn hằng ngày viết thư cho anh, lần này Christina không trả lời, hay ít ra thì hết ngày thứ Ba đến thứ Tư đều chưa thấy thư nàng đâu. Thứ Năm Alexander viết thư dọa chia tay với nàng, song, nếu giữa chừng không có báo động chiến đấu, thì chắc sang thứ Sáu anh đã rút lời đe ấy lại rồi.

Lần đầu tiên họ được phát không chỉ súng suông, mà cả hai băng đạn đầy, mỗi băng ba chục viên đạn thật. Trước lúc xuất quân, viên đại đội trưởng - một gã chân ngắn cũn cỡn và giọng nói the thé - báo tin đơn vị họ nhận nhiệm vụ bọc hậu ở một đoạn biên giới, do một cái gọi là tình huống như sau đã nảy sinh: một quân nhân thuộc quân đội Liên Xô - mang theo súng trường tự động Kalashnikov cùng sáu chục viên đạn thật - lái một chiếc xe buýt Ikarus hình như là đang chạy về hướng biên giới ở đoạn nằm giữa Stapelburg và đỉnh Brocken.

Xe chạy chừng tiếng rưỡi thì họ được rải từng nhóm ba người một ở đâu đó trong rừng. Alexander cùng nhóm với Kalle Schmidt, một gã tay lúc nào cũng run run, và Behringer, một gã trong trại từng nhiều lần quả quyết:

- Bọn khốn ấy mà để tao đến sát biên giới thật, thì tao chuồn ngay!

Ba người nằm phục đâu đó ở một ngã ba đường rừng. Biên giới ở chỗ nào họ không rõ lắm. Tiếng chó sủa phía xa xa. Chẳng mấy chốc trời tối đến nỗi họ chẳng nhìn thấy nhau. Trong rừng chỗ nào cũng nghe tiếng ráng rắc, kèn kẹt, xung quanh nghe toàn tiếng chân bước khiến Kalle chốc chốc lại lên đạn quát hỏi mật khẩu những bóng người vô hình nào đấy, Alexander cũng lên đạn - vì hễ cứ nhìn một lúc lâu vào con đường mờ mờ trong bóng tói kia thì thể nào cũng thấy bóng ma - và lắng nghe từng tiếng động vọng đến từ phía Behringer nằm.

Họ được thả xuống đây lúc bốn giờ chiều. Khoảng mười hai giờ đêm họ nghe tiếng nổ phành phạch quen thuộc của động cơ xe tải Robur đưa người đến thay phiên gác. Tám tiếng, là một ca gác thông thường của lính biên phòng - đây chính là cái đang chờ đợi họ, nếu sau đợt huấn luyện này họ bị chuyển về một đơn vị biên phòng nào đó; tám tiếng mỗi ngày, luân phiên theo ca suốt cả năm trời, và Alexander vẫn chưa thể hiểu làm sao anh có thể chịu đựng nổi chuyện đó, anh còn chẳng biết làm sao để chịu đựng nổi đến lễ Giáng sinh, chịu đựng đến lúc được gặp lại Christina.

Ý nghĩ ấy nảy ra đúng vào lúc tay học viên sĩ quan quên không kiểm tra an toàn khẩu súng của anh. Súng hai cậu kia, Kalle Schmidt và Behringer, là hai người trèo lên thùng xe trước anh, thì anh ta kiểm tra đúng theo quy định. Song lúc đến lượt Alexander thì chiếc xe tải bỗng lùi một chút ra sau, khiến tay học viên sĩ quan phải nhảy sang một bên, và trong lúc anh ta bận vặc nhau với gã lái xe thì Alexander đã trèo lên thùng xe và lặng lẽ ngồi xuống giữa hai cậu kia, kẹp khẩu súng đạn đã lên nòng giữa hai đùi. Anh trù tính, sự thể sẽ là thế này, sau khi chuyện xảy ra thì người ta sẽ không khó nhọc gì để xác minh lại trình tự sự việc, trước hết là do lỗi của lái xe cho nên việc kiểm tra súng đã không được tiến hành, và do súng chưa chốt an toàn và vẫn còn ở trạng thái lên đạn bắn từng viên, nên anh, tân binh Alexander, vì không để ý, hay rất có thể, vì anh sơ ý làm cái gì đó vướng vào cò súng, đã khiến súng cướp cò, xuyên thủng một chỗ nào đấy (mà lúc này anh có thể bình tĩnh chọn) trên cánh tay trái của anh, bởi anh đã “rất vô tình” tựa tay lên họng khẩu Kalashnikov. Ngón tay anh đã đặt lên cò súng, khi chỉ còn vài li ngăn cách anh khỏi tình trạng miễn nghĩa vụ quân sự lâu dài, khi chỉ còn cần một mô đất, chỉ cần mép cổng doanh trại nữa thôi để xe xóc nhẹ, thì đột nhiên Alexander không còn chắc chốt an toàn nằm ở vị trí bắn viên một hay ở vị trí bắn liên thanh, tức là nếu bóp cò, rất có thể súng sẽ làm luôn một lúc hai hoặc ba viên thì thử hỏi còn gì sót lại ở cánh tay anh nữa kia chứ.

Mãi đến lúc giao trả súng, trực ban mới té ngửa ra rằng chẳng những băng đạn vẫn đầy mà đạn cũng đã lên nòng rồi. Cho nên, lúc được lệnh lên gặp đại đội trưởng, Alexander đã đinh ninh thế nào anh cũng bị quạt một trận nên thân, anh cũng chuẩn bị tinh thần để hứng chịu tất tật, thậm chí cả hình phạt nằm áp mặt lên lưới lò xo thép mà ngủ qua đêm. Song, anh ngạc nhiên thấy đại đội trưởng mời anh ngồi, rồi cất tiếng nói bằng một giọng ôn tồn và thân mật, đến mức Alexander suýt buột miệng chữa lời viên chỉ huy: ông nội dượng ạ - nhưng, có lẽ vì anh không gọi ông Wilhelm là ông nội, cả ông nội dượng cũng không nốt, cho nên, cũng may, anh không nói gì. Đại đội trưởng báo tin anh biết đồng chí Wilhelm Powileit, ông nội anh, phải vào bệnh viện vì bị sưng phổi nặng và tình trạng sức khỏe của đồng chí nguy kịch đến mức Alexander phải dũng cảm chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất” có thể xảy ra.

Alexander gật đầu, làm vẻ mặt bàng hoàng, trong khi thực ra trong bụng đang như mở cờ, để đưa tay đón tờ giấy phép.

- Tôi mong đồng chí về còn kịp.

Sáng ra Alexander đã ngồi trên tàu. Anh buồn ngủ lắm, nhưng không muốn ngủ. Anh nhìn ra ngoài cửa sổ, có cảm giác phong cảnh tuy đã khô cằn vào lúc cuối thu nhưng vẫn nhiều màu sắc và đầy đặn thế nào đó, đâu đâu cũng có cái gì đó để nhìn. Làng xóm, bò bê, cây cối, người người thong thả đi dọc phố. Anh thấy cảm động trước thái độ nhã nhặn của nhân viên soát vé, chỉ vì anh ta không la lối mà hỏi vé anh đâu. Anh cũng cảm động trước sự vui vẻ của hành khách, tuy có thể chỉ là vì họ lơ đãng mà nhường bước cho anh và nói chuyện với anh như thể anh là người hết sức bình thường vậy.

Chuyến đi, với hai lần chuyển tàu, kéo dài lê thê. Từ nhà ga chính của Potsdam anh còn phải đi thêm hai mươi phút tàu điện đến khu phố cổ kiến trúc ba-rốc với trục đường chính được sửa sang trong nhiều năm qua (con phố mang tên Klement Gottwald[3], là người đã ra lệnh giết hại Slánský). Song, chỉ cần đi vài bước chệch khỏi trục đường chính, phố xá lại trở lại vẻ bình thường, nghĩa là hư hại, với những ngôi nhà xinh xắn hai tầng ngày xưa, mặt ngoài giờ đã đen đen xám xám và loang lổ ướt do nước mưa nhỏ từ những máng hứng nước thủng lỗ chỗ. Chỗ này chỗ kia thậm chí còn thấy cả vết đạn từ dạo chiến tranh trên tường nhà.

Phố Gutenberg, số nhà mười sáu. Chuông hỏng. Cửa vào, như thường lệ, bị khóa chặt. Chả là vì bà Pawlowski sợ lũ mèo của bà bị làm sao. May mắn quá, bà ta tay bế con mèo vừa hay nhìn ra ngoài cửa sổ và cũng nhận ra anh. Mặc dù từ xưa vẫn xem anh là kẻ đột nhập phải chống trả, nhưng lần này bà ta tỏ lòng thương hại, vì chả gì anh cũng đang mặc quân phục đứng trước cửa. Bà đưa tay trỏ trỏ lên tầng áp mái. Qua làn cửa kính anh cũng đọc được môi bà mấp máy nói:

- Để tôi gọi con bé!

Ít giây sau nghe tiếng chìa quay trong ổ khóa và Christina hiện ra ở ngưỡng cửa, đầu tóc hơi rối, tay áo xắn cao và vẫn còn quàng chiếc yếm làm bếp trước ngực.

- À, nàng nói. Độc mỗi một tiếng: à. Đoạn, nàng hất đầu bảo anh theo vào.

Anh thong thả bước theo nàng, hít thở mùi vị quen thuộc ở hành lang tầng dưới (phần mùi mốc, phần nước đái mèo), ngước nhìn với vẻ kính cẩn bể nước tráng men ở hành lang tầng trên, nơi nàng vẫn hứng nước, rồi nối gót Christina leo lên cầu thang xiên xiên và kẽo kẹt dẫn lên tầng áp mái.

Trên đó, lọt giữa hai bức tường khung gỗ bồi đất sét đóng viên là vài ba thước khối không gian của căn phòng áp mái. Căn phòng áp mái của Christina, nhưng cũng là căn phòng áp mái của anh, “địa chỉ nhà riêng” của anh từ khi anh dọn về đây ở trước đó gần một năm (lúc còn là học sinh và bị bố mẹ phản đối), và bây giờ lại là phòng của Christina: Ngay từ giây khắc đầu tiên anh đã có cảm giác, ở đây, anh là khách đến chơi. Thay vì, như anh đã định bụng, cởi phăng bộ quân phục vứt vào góc phòng, anh ngồi xuống một trong hai chiếc ghế xoay là hai chỗ ngồi duy nhất trong phòng, để ngắm Christina. Tay áo xắn cao và yếm buộc bó vào thân, nàng đứng bên tủ lạnh rửa bát đĩa. Anh cố đoán tâm trạng nàng ra sao, thích thú nhìn nàng thành thạo gác đĩa cho ráo nước và chồng mấy chiếc ly lên nhau. Để có nước nóng tráng bát đĩa, nàng cho nước đầy cái ấm nhôm cao rồi cắm que đun nước vào đó. Anh ngắm nàng và có cảm giác động tác nào của nàng cũng khêu gợi niềm ham muốn xác thịt khó lòng cưỡng nổi.

- Anh uống cà phê không?

Alexander không uống cà phê.

Anh thay quần áo xong (anh tự nhủ, quần áo mình còn để đây là điềm hay rồi) thì hai người lên tàu về Neuendorf thăm bố mẹ. Bà Irina hơi thất vọng vì họ không ngủ lại mà còn định đến quán Núi (đúng hơn là chỉ mình Christina muốn đến quán Núi, Alexander thật ra chỉ ao ước, giá được hưởng một buổi tối ấm cúng với riêng nàng thì hơn, song, anh lại nghĩ nàng đòi đi nhảy bằng được là điềm lành: Chính nàng chả bảo đấy thôi, từ hai tháng nay đến giờ nàng chỉ ru rú một mình ở nhà). Bà Irina dọn nhanh bữa tối “gọn nhẹ”. Cả nhà ngồi ăn, đúng hơn là chỉ một mình Alexander ăn. Mặc dù luôn mồm than phiền không được nghe mọi người nói chuyện, bà Irina cứ luôn chân chạy vào bếp rồi lại chạy ra, miệng ngậm thuốc lá và lầu bầu những gì không ai hiểu. Ông Kurt chưa ăn vì còn sớm quá (con biết đấy, dạ dày bố!), còn Christina múc chiếu lệ đôi thìa món xúp hành bà Irina vừa nấu quấy quá xong. Còn độc Alexander chén thả cửa vì cả ngày ngoài chiếc bánh mì kẹp xúc xích anh chưa có gì trong bụng, đã tọng hết cả thịt lợn xông khói lẫn pho-mát Bungari lại còn húp nốt chỗ xúp Christina ăn dở. Vừa ăn, anh vừa dỏng tai nghe mọi người bên bàn lượn từ chuyện này sang chuyện khác. Bắt đầu từ nạn thiếu thốn hàng hóa ở khắp CHDC Đức, thiếu cả hành, sang chuyện khủng hoảng dầu mỏ ở phương Tây (bên ấy, may phước, ra không phải cái gì cũng suôn sẻ), từ đây nhảy sang chuyện chiến tranh Yom Kippur[4] và từ chuyện bọn quốc xã nằm trong hàng ngũ quân đội Nasser[5] sang bộ phim Chiến tranh hai giới (vừa chiếu cách đây không lâu trên truyền hình Tây Đức), nhưng rồi vòng trở lại đề tài của thế giới hiện thực, tức là trở lại thư viện của Christina (ở đấy người ta vừa nhận một anh tỵ nạn người Chile vào làm, anh này từng có mặt lúc Victor Jara[6] bị giết hại) và rốt cuộc, sau khi than phiền chán chê sự đần độn của độc giả thời nay, chuyện chuyển sang cuốn sách tra cứu nào đó về chính trị mà Christina cùng ông Kurt cứ trao lời đổi tiếng đầy vẻ khoái trá, vì trong lần xuất bản mới, tên tuổi người tiền nhiệm của ông Honecker bị gạch sành sanh khỏi cuốn sách, dù trước đó, hầu như trang nào cũng thấy nhắc tên ông ta.

Y như trong sách George Orwell vậy, Christina - bởi nàng hiện đang đọc George Orwell - chêm thêm lời bình. Lúc nói vậy, miệng nàng, hay đúng hơn là một bên miệng nàng, hơi nhếch lên, khiến khóe miệng (và chỉ khóe miệng mà thôi) hơi hở, làm hàm răng thoáng lộ ra và tạo cho nàng cái vẻ mỉa mai lạnh lùng nàng vẫn có, mỗi khi nói đến những cuốn Alexander chưa đọc. Rồi cả nhà chợt nhận ra mình quá ham chuyện, quên cả giờ giấc. Bà Irina khao - ngoại lệ đấy nhé - một chuyến taxi. Và, lúc taxi gọi đã đến chờ ngoài đường rồi, lúc Christina cùng Alexander đã ra đến bậc thang bằng đá phía ngoài và hai ông bà Irina và Kurt ôm nhau đứng ở vòm cổng, mỗi người một tay vẫy vẫy theo rồi, họ mới sực nhớ đến ông Wilhelm. Cả nhà hẹn nhau, ngày mai mười một giờ bố mẹ đi cùng bà Charlotte đến đón hai người vào bệnh viện thăm ông.

- Mà này con, con mặc quân phục theo nhá, ông Kurt gọi với theo Alexander.

Alexander đứng sững lại.

- Sao cơ ạ? Mặc quân phục á?

- Ừ, ông Wilhelm muốn vậy.

- Bố không đùa đấy chứ? Alexander hỏi lại.

Anh nhìn ông Kurt. Rồi bà Irina. Rồi Christina. Cả mấy người đều lặng im mất một lát. Đoạn Alexander cất tiếng:

- Chả nhẽ cả nhà đòi con ngày mai đóng quân phục thật à.

- Thôi anh, nào có gì ghê gớm lắm đâu, Christina cất tiếng nói.

- Chắc chỉ lần này nữa thôi, bà Irina nói thêm vào.

- Bố cũng thông cảm mà, ông Kurt nói.

Nhưng anh cũng phải nhớ, nếu không (tức là nếu không phải ông Wilhelm đang hấp hối) anh đã chẳng được nghỉ phép đột xuất thế này. Ngồi trong xe rồi thay quân phục cũng được. Vả lại, bà nội đã mất công đánh điện tín cho trung đoàn trưởng của anh. Ừ, trời đất, chuyện ngu xuẩn hết sức, nhưng con biết ông Wilhelm thế nào rồi.

- Ta đi bây giờ hay cắm trại ở đây ạ? tay lái taxi hỏi kháy.

Anh chị lên xe.

Như mọi khi, một đám đông đứng tụ tập trước quán Núi. Chẳng ai có vé. Mọi người chuyền tay nhau chai vodka. Cả đám lắc lư theo tiếng nhạc rập rình đang từ trong lọt ra ngoài qua các cửa sổ lẫn tường nhà. Alexander cùng Christina đến nơi đúng lúc đang có bản song tấu ghi-ta “No one to depend on”, nghe rầu rầu, cay cú, tuyệt hay, một ca khúc Santana mà ban nhạc Delfine ở đây chơi lại đúng như dân hâm mộ mơ ước, từng nhịp, từng âm, từng khúc, như thể đích thân Carlos Santana đang đứng trên sân khấu vậy. Bản “Fools” của Deep Purple, thậm chí bản “Hey, Joe” theo lối chơi của Jimmi Hendrix cũng vậy, dội từ trong ấy ra y hệt các bản gốc. Lúc nghỉ giải lao, cánh cửa chính mở ra và tay gác cửa - đứng kiễng trên đầu ngón chân, vác bộ mặt lạnh như tiền - bắt đầu cái nghi thức quen thuộc, tức là hắn dùng ngón tay trỏ làm một vòng trên đầu đám đông rồi nói ngắn gọn cậu này, cậu này, và cậu này, chỉ định ba hay bốn kẻ may mắn nào đó được vào bên trong. Đó là một nghi thức lựa chọn mà khách quán Núi ai cũng biết và chấp nhận, bất chấp, hay chính là vì tiêu chuẩn lựa chọn rất mơ hồ vậy.

Vào những lúc như thế Christina không gặp khó khăn bao giờ. Hình như nàng có đầy đủ các điều kiện để hút ngón tay trỏ của gã gác cửa về mình: tóc vàng óng, mắt xanh như làn nước, chiếc áo khoác kiêu kỳ màu xanh xám cũng như bộ váy ni-lông cực ngắn nàng cố tình mở cúc áo khoác để lộ ra, đều là hàng do chị gái nàng bên Tây Đức gửi tặng (và cũng là kết quả trực tiếp của Hiệp định cơ sở giữa CHDC Đức và CHLB Đức). Christina bước ngay đến bên cửa và kéo Alexander theo sau. Bởi từ xưa đến giờ, bao giờ anh cũng lọt được theo nàng vào trong.

Song lần này, gã gác cửa đưa tay ngăn anh với Christina và nói:

- Dừng lại!

- Anh ấy đi với tôi mà, Christina nói.

Nhưng, thay vì chờ gã gác cửa xiêu lòng đổi ý, Alexander đã quay người bỏ đi mất.

Chà, sau khi anh đã lại lần nữa làm hỏng hết chuyện, Christian khăng khăng đòi thôi thì, ít nhất cũng ghé quán Hertz uống cốc rượu vang chứ. Họ tìm được chỗ ngồi thật, dù chỉ là chỗ dở hơi nhất, ở ngay giữa lối đi đối diện quầy bánh ngọt. Hai người đành ngồi ở đó uống chai Rosenthaler Kadarka dưới ánh đèn sáng choang. Christina chào hết người quen này đến người quen khác ngồi phía xa. Chốc chốc lại có người bước đến bên bàn họ ngồi, hoặc để giễu cợt mái tóc anh, hoặc để nhã nhặn hay xỏ xiên hỏi thăm anh trước khi bị anh chạy bàn bực bội xua khỏi lối đi. Với ai Alexander cũng cố giữ vẻ mặt phải lẽ, cố giữ gìn để không than phiền, không nổi cáu, không ghen (hay ít nhất cũng không để lộ ra) và dứt khoát không đả động đến chuyện bộ quân phục, bởi vì anh chỉ còn nốt một mục tiêu mà anh cố bằng mọi giá không để trượt.

Trên đường về thậm chí anh còn lấy được vẻ phấn chấn. Anh nhắc Christina nhớ lại chuyện, dạo ấy, lần đầu tiên, hai người đi nhảy ở Kellermann-Haus, sau đó anh đưa nàng về nhà, rối nàng đưa anh ra bến xe điện, rồi anh lại đưa nàng về nhà và nàng lại đưa anh ra xe điện. Và, cũng như dạo ấy, Christina chịu cho anh để tay lên mông nàng, anh cảm nhận thấy sự uyển chuyển của cặp mông nàng, thậm chí anh còn có cảm giác như đang chạm vào lớp ni-lông thô đầy gợi cảm của chiếc váy liền áo nàng mặc dưới áo khoác và, trong khi bầu không khí anh hít vào mỗi lúc một sền sệt, trong đầu anh đã diễn ra đủ các cảnh tượng, nào hai người kéo chiếc váy lên cao làm tình với nhau bên tủ lạnh, hoặc thong thả hơn, trong tiếng nhạc phát ra từ máy quay đĩa và ánh đèn dìu dịu. Song, lúc họ về đến nhà, lò sưởi than đã tắt, bên trong lạnh chẳng khác gì bên ngoài và Christina không chút ngại ngần trút bỏ nhanh xiêm áo để chui tọt vào chăn. Alexander nằm xuống bên nàng, tự cảm thấy ngượng ngùng như lần đầu vậy. Anh hùng hục gắng đến mức tuyệt vọng để sưởi ấm và thọc vào cửa mình nàng. Đến khi anh vừa vào sâu trong nàng, cao trào khoái cảm đã dâng lên ngay nhưng phụt ra yếu ớt.

Sáng ra anh thử lần nữa, ngay lúc còn ngái ngủ, miệng vẫn còn vương hơi rượu và mùi thuốc lá; hai người miết vào nhau và, tuy không nhìn mặt nhau, rốt cuộc, cũng cùng làm nốt đến chung cuộc.

Alexander đốt lửa lò sưởi than, xuống hai tầng cầu thang vào toa-lét và nhân tiện xách xô nước lên, rồi trong lúc Christina soạn bữa ăn sáng, anh chạy đi mua bánh mì con ở hiệu Braune. Họ ăn trứng, uống cà phê trong tách “Bonny”, dù vẫn chưa hề gọi nhau bằng cái tên cưng ấy, và Alexander hỏi Christina có còn yêu anh không.

Thay vì trả lời, nàng lại hỏi, anh còn yêu nàng không. Khi hỏi, mép nàng lại nhếch lên như mỗi khi nàng nhắc đến những sách anh chưa đọc. Alexander chợt nghĩ, có lẽ Christina cũng chẳng đẹp như lâu nay anh vẫn tưởng. Thoáng nghĩ vậy, nhưng anh chẳng vì thế mà hoảng hốt chút nào.

Mười một giờ, anh chẳng nói chẳng rằng khoác bộ quân phục lên người rồi hai anh chị ra đứng chờ trước cửa. Ông Kurt cùng bà Irina đi chiếc xe Lada mới đến. Bà nội Charlotte ngồi ghế sau.

- Chà, chà, thằng cháu tôi, bà nội nói vui vẻ.

- Con thấy chưa, ông Kurt nói.

- Trông nó y hệt thằng lính Đức, bà Irina nói rồi, trước khi nhấn ga, đưa tay gạt nước mắt.

Trong xe nồng nặc mùi da giả còn mới.

Chiếc đồng hồ của xe Lada 1300 chỉ mười một giờ bốn phút.

Hôm ấy là ngày mồng 2 tháng 12 năm 1973.

Alexander còn phải năm trăm mười ba ngày nữa trong quân ngũ.

[1] Ca sĩ chính của nhóm nhạc rock The Rolling Stones.

[2] Thị trấn tại Bethel, New York, nơi diễn ra buổi liên hoan âm nhạc từ 15 đến 18 tháng Tám năm 1969 của phong trào hippie tại Mỹ.

[3] Klement Gottwald (1896-1953), Tổng bí thư Đảng cộng sản Tiệp Khắc (1929-1948), Thủ tướng (1946-1948) và Chủ tịch nước (1948-1953) Tiệp Khắc.

[4] Chiến tranh giữa liên minh Ai Cập và Syria với Israel, diễn ra năm 1973 (từ 6.10 đến 26.10).

[5] Gamal Abdel Nasser (1918-1970), Tổng thống Cộng hòa Ả Rập thống nhất (1954-1970).

[6] Victor Lidio Jara Martinez (1932-1973), ca sĩ, bị quân đảo chính Chile giết hại.

Hoàng Đăng Lãnh dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.