Y như mọi khi, cứ vào thứ Sáu, ngày cuối cùng trong tuần, bao giờ nó cũng về đến nhà trước tiên. Chính vì thế mà nó cũng là người đầu tiên lôi chiếc phong bì viền đen khỏi thùng thư, đề gửi Melitta và Markus Umnitzer, mặc dù từ ba năm nay mẹ nó mang họ Greve rồi (mẹ nó chuyến sang mang họ lão Klaus, đâm ra còn độc mình Markus giữ họ Umnitzer ở cái gọi là gia đình mới này).
Chiếc phong bì đập ngay vào mắt nó, bởi trông rất trang nghiêm. Nó không rõ lắm liệu mình có quyền mở thư hay không, nên nó gập đôi phong bì lại rồi nhét vào túi quần sau. Nó còn nhiều việc gấp gáp hơn.
Nó quẳng quần áo bẩn vào buồng tắm, chạy vù lên phòng mình, lôi bộ soundcard vừa mua tại một hiệu máy tính ở Cottbus[1]. Cho chắc ăn, nó xé nhỏ hộp đựng hàng nhét xuống đáy thùng giấy lộn (tất tật những gì dính dáng đến máy tính mẹ nó đều cho là tốn thời gian vô ích). Rồi nó mở tấm chắn chỉ gắn hờ bằng một chiếc vít bên mặt hông thùng máy tính, ấn card vào khe rồi cắm dây cáp nối với bộ khuếch đại stereo, khởi động máy tính và chơi thử trò DOOM[2] một lượt: Kinh thật! Tiếng rên hấp hối của con quái vật nghe phát khiếp. Tiếng súng nổ, tiếng súng ngắn lên nòng lẫn tiếng quái vật gục ngã lúc trúng đạn. Markus bắn vung vít một chập để leo lên được bàn cao hơn, nhưng rồi nó không sao vào được căn phòng bị tụi ma quỷ dưới địa ngục chiếm giữ để lấy chìa khóa leo tiếp nữa lên cao.
Mới thế mà đã năm giờ rưỡi. Mẹ nó thường từ Berlin về đến nhà vào khoảng sáu giờ. Từ dạo làm đồ gốm chẳng ra tiền nữa, mẹ nó lại làm tâm lý ở cửa hàng hoa[3] hay cái gì đại loại thế (cái gì liên quan đến bọn tội phạm phát rồ thì phải). Markus chỉ muốn biến, trước khi mẹ nó về. Trong tủ lạnh, nó thấy có mấy món mẹ để sẵn cho nó, chỉ cần hâm nóng. Chỉ có điều, bên cạnh bếp cũng còn dán mảnh giấy ghi dài dằng dặc những việc mẹ nó dặn phải làm. Nó bèn thôi, chẳng đụng đến thức ăn mà cũng không đọc mảnh giấy dán bên lò. Nó cắt hai lát bánh mì dày cộp rồi đặt pho-mát lên. Vừa ăn bánh, nó vừa loay hoay tìm hộp đựng cần sa giấu đâu đó giữa đống đồ đạc ngổn ngang trong phòng mà mãi chẳng thấy đâu. Trong khi thời gian cứ nhích đầy vẻ hăm dọa đến khắc sáu giờ. Nó đành phết vội chút gel lên tóc rồi rời khỏi nhà.
Từ dạo Bước ngoặt (hay một hai năm sau gì đó) ga tàu S-Bahn Großkrienitz hoạt động trở lại. Chẳng cần mất đến bốn mươi phút đã vào được trung tâm, cũng chẳng cần mất đến hai mươi phút để đến Gropiusstadt ở Nam Berlin - chỗ nhà thằng Frickel. Chỉ buồn cười ở chỗ, Gropiusstadt, nơi mà hồi xưa Markus vẫn từ xa ngóng tới đầy ngưỡng mộ ấy, hóa ra chỉ là một khu dân cư xoàng xĩnh, hay nghèo nàn thì đúng hơn, trong khi Großkrienitz nơi mẹ con nó ở lại biến thành một khu sang trọng ở ngoại ô Berlin. Và, ngôi nhà mẹ nó mua rẻ hồi nào bằng tiền Đông Đức hóa ra lại bở. Từ ngày ông Klaus chuyển đến đây ở cùng, hai người cho sửa sang lại hết, trên mái nhà trồng cả hoa, cùng bao nhiêu thứ nhiêu khê khác. Tiền nong không đáng kể! Bởi lão Klaus bỗng dưng thành chính khách có ghế trong Quốc hội Liên bang! Mục sư Klaus, cái lão mục sư ở nhà thờ Großkrienitz hôm xưa vẫn phân phát thơ ca được nhân bản bằng giấy than ấy, bỗng dưng thành đại biểu Quốc hội - mà có ma mới biết lão ấy còn thành những gì gì nữa - và cứ thứ Hai lại đáp máy bay đi Bonn[4], lương tiền thì vô kể. Mẹ nó cũng làm ra thêm tiền, còn mua cả chiếc Audi màu xám bạc. Trong khi mẹ thằng Frickel gần đây lại bỏ chồng, rồi thất nghiệp và hiện giờ ở chung với con trai trong một căn hộ nhà lắp ghép tại khu Gropiusstadt.
Sự đời nó như thế thì Markus biết làm sao. Đến chính nó, từ ngày hai cụ nhà nó tự dưng tiền bạc rủng rỉnh đến giờ, cũng nào có xơ múi gì thêm được đâu. Lão Klaus - gần đây cứ làm như thể lão là bố đẻ nó không bằng - còn bắt Markus phải chi tiêu làm sao đủ trong khoản tiền học nghề của nó thôi, thậm chí còn trừ khoản này khoản nọ, khi nó nhỡ có để quên dụng cụ đồ nghề ngoài vườn hoặc vô ý làm hư hỏng cái này cái nọ. Còn mẹ nó thì lão Klaus cứ nói gì cũng đúng cả. Hai vị còn đi nhà thờ nữa chứ. Và, đương nhiên, hai vị cũng muốn bắt nó cứ Chủ nhật lại cùng đi nhà thờ lắm. Nhưng, nó viện đến quyền tự do tín ngưỡng ghi trong Luật cơ bản[5] thì hai vị phải chịu thôi. Khó chuồn hơn là những buổi gọi là “hội gia đình”; nào ta cùng nhau nấu cái gì chung nào, kiểu như thế. Khiếp nhất là, nào ta cùng nhau đi xem triển lãm nào. Nếu không thì còn thêm cái nạn họp gia đình. Gọi là thế, nhưng thật ra họp để hành hạ nó, vì tội lại không làm tròn nghĩa vụ này nọ, hay vì cái dấu thập ngoặc trong phòng nó. Cái dấu không dính dáng chút nào đến bọn Nazi đâu, mà là từ Ấn Độ sang nhá, đạo Hindu các kiểu nhá. Thế mà đột nhiên hai vị cứ như lên cơn động kinh! Những chuyện như thế làm nó tức phát điên lên được. Thế nhưng mỗi lần gặp thằng Frickel, nó lại thấy áy náy thế nào, như thể nó được nuông chiều, chăm bẵm lắm và cảm thấy phải nói cái gì thật xấu về Großkrienitz cho bạn nó yên lòng. Song, nói nhiều thì sẽ không thể coi là cool được, thành ra thông tin tóm tắt về tuần qua thường chỉ rất ngắn gọn mà thôi:
- Chán đến nôn ra được, Markus nói, lúc hai đứa ngồi trong ngôi chòi xây bằng gạch đã bỏ hoang và lần đầu tiên hút một điếu thuốc lá cuốn cần sa.
Còn thằng Frickel thì bảo:
- Thôi thì kệ, làm một đống lên đấy.
Rồi chìa điếu thuốc cho Markus.
Lát sau, hai thằng Klinke và Zeppelin đến. Thằng Zeppelin nảy sáng kiến, rủ cả bọn đâm thủng bánh xe chiếc Opel cứt thối của một tay người Thổ cứt thối nào đấy định tán tỉnh một đứa con gái cùng lớp nó hồi xưa. Nhưng, một là vì trời còn sáng, hai là vì chiếc Opel không đỗ ở đó, nên thôi. Cũng may, vì tuy Markus ừ ngay - chỉ cốt để tỏ ra mình không phải là cậu ấm - nó cũng thừa biết, làm cái trò ấy chả hơn gì tự sát.
Gần nửa đêm thì chúng nó kéo đến sàn disco Boong-ke. Thằng Zeppelin quen tay hộ pháp gác cửa, mở lối cho cả bọn theo cầu thang đi xuống. Ngay ở đây tiếng nhạc nghe đã ầm ầm. Cái mùi chua chua, khen khét, ẩm ướt, dơ dáy không lẫn vào đâu được của hầm ngầm bốc ngược lên, khó chịu đến mức Markus chẳng muốn hít vào. Song, lúc cánh cửa thép nặng nề vừa mở ra, và tiếng nhạc techno với các loại âm bass như một nắm đấm khổng lồ vô hình giáng thẳng vào người nó, thì không còn thấy mùi vị gì nữa. Chỉ còn độc thứ âm thanh đó và thứ ánh sáng nhờn nhợt cùng đám đông người đang lượn sóng và nhóm nữ vũ công go-go đang nhảy trên bục cao, họ xõa tóc, họ lắc bụng, họ ngoáy mông, ưỡn ngực như muốn đ... nhau ngay tại chỗ, nhưng chắc chắn sẽ chẳng bao giờ chịu đ... với ai, càng không phải với nó, Markus Umnitzer, hay với thằng Frickel ở Gropiusstadt, đến cả với hai thằng Klinke hay Zeppelin cũng không nốt, mặc dù hai thằng đấy hơn nó những hai tuổi, cánh tay còn xăm hình rất ngông.
Thằng Zeppelin thảy cho nó viên ecstasy. Markus rút tiền trả, rồi uống ngay với Cola (nó không uống ecstasy với rượu được). Nó đứng ngó nghiêng xung quanh một lúc, người lắc lư theo tiếng nhạc và tìm xem có đứa con gái nào vừa tầm nó xơi được không. Càng để ý, nó càng thấy trên sàn nhảy cũng khối đứa thuộc loại siêu. Dần dà chân tay nó cũng đỡ vụng về ngượng nghịu đi. Mặc dù nó không biết nhảy, bởi chưa bao giờ nó biết nhảy cả, giờ nó vẫn cảm thấy thoải mái hơn. Một lúc lâu, nó cảm giác dường như có sự cọ xát vô hình nào đấy với một ả tóc vàng xỉn xỉn, dáng nhỏ con, nhưng khỏe khoắn, mặc chiếc áo dây đã cũ chỉ chực tuột ra để lộ cặp vú con con, tròn trĩnh và rắn chắc. Mắt nó dán vào đấy, ả kia để mặc cho nó nhìn. Ả hầu như không nhìn nó, nhưng cứ mặc cho nó dán mắt vào đấy. Càng nhìn, cơn dục vọng trong lòng nó càng nổi lên, mặc dù nói cho cùng, vú cô ả chẳng to hơn của đàn ông là mấy. Lát sau, ả biến đâu mất, nó đành nhảy một mình, rồi ngừng lại, uống ly bia. Sau đó, nó lại nhảy tiếp, đánh mắt làm tình với một con mặc quần tất rách, mắt như mắt người chết sống lại. Một lúc nào đó, mọi sự đều trở nên vô nghĩa, bỗng dưng nó tự cảm thấy mình rất sexy. Song, chỉ lát sau, lại chẳng cảm thấy gì, chỉ có tiếng nhạc làm nó nghẹt thở. Nó lại gặp ả tóc vàng xỉn xỉn có đôi vú rắn chắc lúc nãy. Hai đứa đưa mắt rủ nhau mua rượu uống và, sau khi uống mỗi đứa hai ly Black Russian thì lôi nhau ra lối đi cạnh nhà xí hôn nhau. Nó khám phá xem vú cô ả to nhỏ thật sự cỡ nào và sờ soạng chút đỉnh ở khoảng giữa hai đùi cô ả, nhưng xem ra, ả chẳng còn gì hơn.
Chẳng rõ ai dúi cần sa vào tay nó. Nó hút cho tan nỗi thất vọng đọng lại trong đầu. Lúc cả bọn kéo nhau ra về, nó chẳng còn biết thời gian sớm muộn ra sao. Nó cũng không thủng, tại sao hai thằng kia cứ sằng sặc cười. Bọn nó đứng chờ mãi vẫn không thấy tàu điện đến. Cái lạnh lặng lẽ luồn vào thân thể vốn nhảy nhót đã hết cỡ, đã qua cơn hứng khởi tột đỉnh, nay đang uể oải xuống dốc. Lúc nó tỉnh dậy trên ghế băng, toàn thân nó, từ đầu đến mông rồi lưng, tất thảy đều đau ê ẩm. Khó nhọc lắm nó mới leo lên được xe điện vừa dừng bến và lúc trở dậy lần sau, nó thấy mình đang nằm trong một căn phòng lạ hoắc, đầu gối lên giày thằng Zeppelin. Họng nó khô không khốc, đau khé. Trong đầu nó, mớ bòng bong cứ như lắc bên này ngả bên kia, đến mức, lúc lần ra buồng tắm, nó mất thăng bằng chỉ chực ngã dúi ngã dụi.
Đến chiều chúng nó ra quán McDonald’s. Tụi nó bây giờ đông hơn, có hai thằng hooligan bạn của Zeppelin, hai thằng hơi lộn xộn, gây chuyện ầm ĩ không ra đâu vào đâu, khiến cả bọn bị đuổi ra khỏi quán McDonald’s này, phải mò đến quán McDonald’s khác, suốt đêm như thế, để rốt cuộc, khoảng sáu giờ, lại đưa nhau đến câu lạc bộ, dự Afterhour[6]. Mọi sự ở đây, nói chung, cũng y hệt hôm qua, chỉ khác ở chỗ lần này Markus không biết làm sao mà, trưa Chủ nhật thức dậy, hay đúng hơn là bị mẹ nó vừa đi nhà thờ về đánh thức, nó đã nằm trong phòng mình ở Großkrienitz rồi.
Nó tắm khá lâu, uống một lúc hai viên aspirin, tống chỗ quần áo trong áo ngoài sặc mùi chua chua, khen khét, ẩm ướt, dơ dáy - mà nó đã cứ thế mặc lên giường ngủ ấy - vào giỏ chứa quần áo bẩn và bước ra căn bếp, vốn đã rộng, sau khi sửa sang, giờ còn rộng thênh thang gấp đôi. Trong bếp, mẹ nó với lão Klaus đang nấu ăn trưa (thật ra là lão Klaus nấu, mẹ nó chỉ được phụ một tay cắt gọt gì đó thôi). Và, mãi đến lúc mẹ nó dúi mấy củ hành và con dao vào tay nó, nó mới sực nhớ đến bức thư trong túi sau cái quần giờ đang nằm gọn trong giỏ quần áo bẩn.
- A, có cái này con quên mất, Markus nói rồi quay trở lại buồng tắm, lôi chiếc phong bì đã nhàu nhò ra khỏi túi quần.
- Có cái thư này họ mới đem đến, nó nói, rồi trao bức thư cho mẹ.
Mẹ nó bỏ con dao xuống, chùi tay vào tạp dề đã rồi mới mở phong bì ra.
- Lạy Chúa, mẹ nó khẽ kêu lên.
Giờ thì lão Klaus cũng cúi xuống đọc thư. Mẹ nó nhìn lão, dò hỏi, nhưng lão không đáp lại. Markus sực hiểu, có ai đó vừa chết.
Mẹ chìa bức thư cho nó, đúng hơn là tấm bưu thiếp, cũng viền đen, mặt trước không ghi gì hơn ngoài dòng chữ:
Irina Umnitzer
7 tháng 8 năm 1927 - 1 tháng 11 năm 1995
Mẹ ngước mắt nhìn nó. Nó chẳng biết giờ mẹ muốn gì ở nó. Từ đời nào đời nào đến giờ, nó chẳng còn gặp bà nội Irina nữa. Lần chót nó đến thăm ông bà, bà say mèm và suốt buổi cứ khóc như mưa, nhưng lại khăng khăng, nào bà có khóc đâu. Suốt cả buổi bà cứ bám lấy cổ nó mà gọi “Sasha”. Sau lần ấy, nó chẳng đến thăm bà nữa. Thế mà bây giờ... Markus trân trân nhìn dòng chữ ghi họ tên người đã khuất. Họ cũng là họ của nó. Mọi thứ xung quanh, không hiểu sao, chợt biến đi trong giây lát và nó cảm thấy buồn nôn. Nhưng, có lẽ cũng là do tối qua nữa.
Nó trả tấm bưu thiếp cho mẹ nó. Mẹ lật nhìn đằng sau tấm thiếp rồi nói với lão Klaus:
- Lễ mai táng vào thứ Sáu này. Ở phố Goethe.
Mẹ lại nhìn lão Klaus, dò hỏi.
- Này, tôi là tôi không đời nào đến đấy đâu nhé, lão Klaus nói. Đám đảng viên SED già thể nào cũng kéo hết cả đến đấy cho mà xem...
- Bà ấy vốn nào có ở trong đảng ấy đâu, mẹ nó đáp.
- Cô cứ việc đến dự, lão Klaus nói. Rồi nói thêm, giọng nghe có phần còn khó tin hơn: Tôi không phản đối gì hết!
Lúc nấu ăn, lão Klaus với mẹ nó còn nói dăm ba chuyện nữa về bà nội Irina (lẫn tật nghiện rượu của bà), về ông nội Kurt (không biết ông vẫn còn ở trong đảng không) và về cố Wilhelm. Lão Klaus chẳng hề quen cố Wilhelm nhưng lại nói về cố như về một tên tội phạm. Markus cáu lắm, thấy mẹ nó, như mọi khi, cũng tán đồng với lão. Lúc gập khăn ăn màu xanh lục và dựng mấy cây nến cũng màu xanh lục lên bàn, nó nhớ lại lần trên đường đi dự sinh nhật cố Wilhelm, mẹ bảo với lão Klaus, hai mẹ con đi dự sinh nhật bà ngoại. Giờ nó có im, không nói gì, thì chỉ vi không muốn làm bẽ mặt mẹ nó trước mặt lão Klaus thôi.
Trong bữa ăn trưa, lão Klaus lại làm nó khó chịu với chuyện chính trị, đúng hơn là với mấy chuyện cỏn con, lão kể để ra vẻ ta đây quan trọng. Thử hỏi ai màng đến chuyện Thủ tướng Helmut Kohl tuần trước nói gì trong bữa ăn trưa cơ chứ? Hay là chuyện thìa ăn trong nhà ăn của Quốc hội Liên bang bị mất cắp?! Markus bỏ hết ngoài tai, bụng tự dưng thấy đói cồn cào. Hôm nay có món lườn lợn rán ăn với viên rau bi-na trộn bột, nhưng thịt lợn lại có nhồi pho-mát Roquefort. Markus chẳng giấu giếm gì, gạt bỏ chỗ pho-mát ra. Lão Klaus bực ra mặt. Nhưng không nói gì.
Sau đó tự dưng chuyển sang mục “họp gia đình”.
Hóa ra là lại có thư của hãng truyền thông Telekom, nơi nó học nghề, gửi đến. Vẫn chuyện mọi khi, nào trốn học, nào điểm kém. Nhưng dần dần chuyện đâm ra căng thẳng.
- Không phải vì tôi đã lo cho cậu chỗ học này đâu, lão Klaus nói. Thế nhưng, Markus nghĩ bụng, lão muốn nói chính vì lão đã lo cho nó chỗ học ấy.
Nó lại phải ngồi nghe ca khúc đã nhàm, nào cuộc đời, nào nghề nghiệp, và nếu bây giờ cậu không... Chung cuộc, đến lượt nó cần “có ý kiến”.
- Thì đằng nào cũng chỉ là trò bịp bợm, Markus vùng vằng. Mới đầu Telekom bảo sẽ nhận tất vào làm, bây giờ tự dưng giở giọng, chỉ nhận một người thôi!
Lại lão Klaus: thì có thể xin việc chỗ khác. Và, nếu thành tích học tập của nó tốt thì sẽ thế này thế kia. Markus tự hỏi, không biết thành tích học tập của lão Klaus rực rỡ cỡ nào. Lão từng học môn đại biểu Quốc hội chắc? Liệu lão có giải nổi mấy bài tập toán ở trường học nghề không đây? Sin. Cosin. Nó dám chắc lão không làm nổi! Rồi đột nhiên nó phải ngáp một cái, không đừng được, do vừa ăn no, cũng do hai đêm vừa qua nữa, chứ tuyệt nhiên không nhằm nhạo lão Klaus, không như mọi lần. Thế nhưng, mẹ nó đột nhiên nổi khùng, quát ầm lên sao ngáp mà không lấy tay che miệng (cứ làm như sự thể chỉ quan trọng ở chỗ, lúc ngáp có che miệng hay không vậy) và lẽ ra nó phải biết ơn lão Klaus đã tìm được chỗ học cho nó mới đúng, cứ thế tuôn một tràng tràng giang đại hải.
- Nào con có nhờ vả ông ấy đâu, Markus vặc.
Đấy là chuyện đúng trăm phần trăm nhá. Nó chưa bao giờ nhờ lão Klaus lo cho nó chỗ học nghề thợ điện tử ngành truyền thông (đúng ra nó rất muốn thành người chăm nom súc vật, nhưng không được, vì trường học hết chỗ, lẽ ra nó thành đầu bếp, ở đó còn chỗ để học, nhưng không, cứ nhất định bắt nó phải thành thợ điện tử truyền thông cơ).
Song, lẽ ra nó không nói ra điều đó thì hơn. Lúc nào cũng bảo: con phải nói thật! Thế nhưng, nếu nó thật sự nói thật, thì mẹ nó lại la lối, đúng hơn là thử la lối bằng cái giọng chẳng bao giờ bật to ra nổi. Sau một hồi la lối (nội dung chẳng hay ho gì) mẹ nó quay ngoắt người lại và ném đánh xoạch cái túi nhựa tí con lên mặt bàn.
Cần sa. Cỏ. Cái thứ mà Markus tin chắc là nghìn lần vô hại hơn rượu mạnh, chả việc gì mà nổi xung lên thế. Nhưng mẹ nó nổi xung, thành cơn điên thật sự. Con đã hứa không hút thứ đó nữa (thì nó biết nói gì hơn). Thế nhưng, chỉ cái túi nhựa thôi thì cũng chưa thể bảo nó hút cơ mà. Nói cho đúng, cái túi còn nguyên, Markus nghĩ bụng, chứng tỏ điều ngược lại mới đúng. Cơ mà, bây giờ có lý sự cũng chả ăn thua gì.
- Thôi đủ rồi, mẹ nó nói to. Mẹ chán lắm rồi! Con hiểu không, chán lắm rồi, đến tận đây này! Mẹ nó lấy ngón tay đặt ngang mũi.
Thêm vào đấy lại giọng lão mục sư:
- Nếu cậu không biết đường hối cải ngay, Markus ạ, thì lúc nào đấy tôi với mẹ cậu sẽ phải...
- Rõ chán mớ đời, Markus kêu lên.
- Này, con im ngay, mẹ nó hét lên.
- Lão mặt mẹt kia chả có quyền gì dạy con, Markus hét lại.
Đến giờ, rốt cuộc, lão mặt mẹt cũng hét ầm ầm:
- Xéo, lão mặt mẹt quát, xéo ngay!
Markus gói ghém quần áo rồi nhảy tàu cuốn ngay về Cottbus.
Tối Chủ nhật nó ngồi một mình trước máy vô tuyến trong nhà trọ, bật đi bật lại giữa phim hài White Men Cant Jump và bộ phim hình sự Tatort chán ngấy để cuối cùng dừng lại ở phim khiêu dâm kèm chín trăm số điện thoại. Mắt xem phim, nó dùng tay tự thủ dâm một lượt.
Sáng thứ Hai nó đi làm đúng giờ. Tuần này nó được giao làm trợ lý kỹ thuật cho khách hàng và theo chân một anh đồng nghiệp lâu năm hơn ra hiện trường, kiểm tra dây dẫn, xử lý sự cố, đại loại thế. Anh đồng nghiệp tên Ralf, tuổi ít nhất cũng bốn mươi rồi. Trời mưa, tháng Mười một lạnh buốt, ngón tay cóng hết cả lại. Hai người dừng nghỉ bên một quán ăn nhanh. Anh Ralf chiêu đãi nó món currywurst và ly trà nóng. Hai anh em ngồi trong xe, để máy chạy cho ấm. Chán mỗi một chuyện là suốt buổi Ralf cứ nghe thứ nhạc gì vớ vẩn.
Tối thứ Ba, mấy đứa cùng ở nhà trọ với nó đều đủ mặt. Cả bọn rủ nhau mua bia về, vừa uống vừa kể cuối tuần chúng nó kiếm được những em nào. Những chuyện này chả mấy chốc làm Markus ngán tận cổ, nó bèn lui về phòng lên giường ngủ sớm. Nó tự thủ dâm lần nữa (lần này với cô ả tóc vàng xỉn xỉn, vú rắn cứng nọ).
Sang ngày thứ Tư, sau ca làm, nó lang thang trong khu gọi là Trung tâm một lúc, ngó hai ông lái xe con ầm ầm cãi cọ vì chạm nhẹ xe nhau. Sau rồi nó rúc vào một vũ trường, là nơi duy nhất ở đây mở cửa giữa tuần. Chui vào đứng một góc, nó chỉ ngó nghiêng tụi con gái.
Ngày thứ Năm nó cố học ít toán.
Ngày thứ Sáu nó nói với anh Ralf phải về đưa đám bà nội nó. Anh Ralf chở nó ra ga.
Khoảng mười một giờ thì nó đến nghĩa trang ở phố Goethe. Hồi xưa, nó với ông bà thỉnh thoảng cũng có đi ngang chỗ này. Nhìn từ ngoài vào, nó vẫn thấy mấy tấm bia hoặc mấy bà già xách bình nước tưới hoa, nhưng nó chưa bao giờ có ý nghĩ rằng phía sau bức tường sắp đổ kia, sau cánh cổng giữa hai cột mốc xiêu vẹo kia, lại có cái gì liên quan đến nó. Khu này đối với nó luôn luôn là một nơi biệt lập, cả về thời gian lẫn không gian, khiến lúc đến gần, nó bán tín bán nghi, chẳng biết có đúng hôm nay người ta chôn bà nội nó ở đây không, mặc dù đây đúng là nghĩa trang thật. Nhưng, trên cái bảng thông báo dầm mưa dãi gió không biết đã bao lâu dựng ở lối vào, có ghi rõ buổi tang lễ hôm nay, đúng mười hai giờ.
Dù chưa xuống dưới không độ, trời vẫn lạnh cóng. Hơi ẩm quẩn quanh trên các nhành cây, xuyên qua mọi thứ, cả mặt đất lẫn không trung, và dần dà xuyên qua nốt cả lớp áo choàng lính của Thụy Điển đã cũ, nó mua ở Berlin trong một cửa hàng bán quần áo theo ký. Markus đi đi lại lại trước cửa nghĩa trang một lúc. Cái quán bên kia đường cửa bị bịt lại bằng mấy tấm ván đóng đinh. Còn độc cửa hàng hoa là mở, loại nhà một tầng thời CHDC Đức đã hư hỏng, cửa sổ phun graffiti nửa vời. Markus bước vào trong. Trong cửa hàng ấm thật, song chị bán hàng hỏi ngay, nó muốn mua hoa gì. Trong đầu nó quả cũng nảy ý định mua hoa viếng bà nội Irina thật, và nó làm bộ ngó nghiêng tìm kiếm, nhưng nó chỉ còn chưa đầy mười mác trong túi. Cho nên, rốt cuộc nó chậc lưỡi, thôi, có lẽ đến quán rượu đằng kia mua cái gì uống cho nóng người thì hơn.
Đi thêm chừng năm trăm thước nữa, nó nhìn thấy một quán rượu mang tên “Pháo đài hòa bình” dưới tầng hầm một ngôi nhà nằm ngay góc phố. Nó là khách duy nhất ở trong quán. Một con chó võ sĩ già, chân mọc túi mỡ to phát khiếp nằm bên cạnh quầy rượu, khe khẽ ngáy. Gã bồi bàn có mái tóc thưa chải ngược ra sau và đeo chiếc khăn bẩn bẩn trên tay, chậm rãi, như trong phim quay chậm, lướt từ đầu này đến đầu kia quán tới chỗ nó, đặt chiếc khay nhỏ đựng tách nước trà, ly rượu rum con con cùng lọ đường trước mặt nó rồi nói “Xin chúc sức khỏe, thưa quý khách!” Markus trút chỗ rượu rum vào tách trà, thêm hai thìa đường vào đó, bởi nó nghĩ thế là đúng điệu. Hơi rượu xông ngay lên đầu nó, và lần đầu tiên từ khi nghe tin bà nội Irina mất đến giờ, nó thấy buồn rười rượi, và nhờ thế, chợt thấy nhẹ nhõm trong lòng, thậm chí còn vui vui là khác. Nó tưởng tượng cảnh lát nữa, ông nội Kurt, bố nó cùng với nó sẽ đứng bên ngôi mộ chôn bà nội Irina. Một cảnh nghẹn ngào không nên lời. Hay còn ông mục sư nào đó đứng bên? Tay cầm ô che mưa, như trong một phim nào đấy nó từng xem. Song, ngôi mộ ấy đâu nhỉ? Hay phải vào bên trong mới thấy?
Lúc nó quay lại nghĩa trang - trước mười hai giờ một chút cho chắc ăn - hơi rum trộn nước trà đã tan biến. Con phố lát đá hòn bỗng dưng đỗ đầy xe con, người người kéo đến từ mọi phía. Ai nấy đều cầm vòng hoa hay bó hoa trên tay. Markus bước theo họ, dọc theo lối đi có trồng cây ở giữa dẫn đến một ngôi nhà nhỏ. Đám đông chen chúc trước ngôi nhà như ở ga S-Bahn giờ cao điểm. Gian phòng bên trong chật cứng người. Cánh cửa gập được mở rộng ra để người đứng bên ngoài cũng có thể ít nhiều thấy những gì diễn ra bên trong. Thế mà vẫn còn nhiều người kéo đến tiếp, đi thành từng đôi, từng nhóm, hoặc riêng lẻ. Markus nhìn các khuôn mặt họ và tự hỏi, có phải đây là các đảng viên cũ lão Klaus nhắc đến không nhỉ: người đàn bà tóc nhuộm, ông diễn viên nó từng thấy trên ti-vi, hay người đàn ông to béo đồ sộ với bộ tóc lởm chởm... Thêm lão già có cái đầu to tướng, mái đầu hung hung xanh xanh kia có phải là lão từng hét ầm ầm đòi nhều rân trủ hôm sinh nhật cố Wilhelm năm nào không nhỉ?
Qua đầu, qua vai những người đứng trước, nó ngó vào bên trong ngôi nhà. Tít trong cùng có dựng một cây thập tự màu đen. Cả hai bên trái phải là mấy chậu trồng cọ mà thậm chí đứng từ xa cũng biết là cọ giả. Phía trước là cái bục diễn giả bằng gỗ, bọc vải đen không được khéo lắm; một nút bấm bị thiếu, khiến mép vải chỗ đấy hơi bung ra. Đoạn, nó nhìn thấy ông nội Kurt nó, đang đứng ở hàng đầu, phía bên phải, mái đầu hoa râm, hói ngay giữa đỉnh, và người đứng sát bên cạnh là ông ấy, bố nó.
Tiếng nhạc vang lên. Nhạc cổ điển, nghe oa oa qua những chiếc loa âm lượng vặn quá nhỏ. Đám đông yên ắng dần, ai nấy cúi đầu, rồi một người đàn bà bước đến bên bục diễn giả bọc vải hơi cẩu thả kia. Thoáng nhìn qua ai nấy đều hiểu ngay bà này không phải mục sư. Bà cất tiếng:
Chị Irina, chị Irina yêu quý, bà ta nói, như thể nói với bà nội Irina vậy, vẫn còn lâu mới đến lúc chia tay. Ý nghĩ ấy cứ muốn lừa phỉnh chúng tôi... Nhưng bà nội đâu mới được chứ?
Markus cố vươn cổ lên nhìn. Phía trước, mọi người đặt vòng hoa lẫn bó hoa thành đống lớn xung quanh một chiếc ghế đẩu màu đen cao ngang đầu gối. Trên đó đặt một cái gì trông như lọ hoa. Thế quan tài đâu ta? Điều khiến nó càng thấy lạ là người đàn bà nọ cứ “chị ơi, chị ơi” mà gọi, như thể bà nội đang ngồi đâu đây trong phòng vậy... Chị luôn luôn đón chào mọi người đến thăm; chúng tôi luôn luôn vui mừng mỗi khi gõ cửa nhà chị... Và, mặc dù biết thừa điều đó thật vớ vẩn, nó vẫn thử nhìn quanh xem, liệu nó có hiểu nhầm cái gì không, liệu bà nội nó có đang ngồi đâu đó ở hàng đầu, cạnh ông nội Kurt nó, hay cạnh ông kia, bố nó. Song, tất nhiên, không có bà nó ở đấy. Ngồi chỗ đó lại là cái con mẹ nọ. Thất vọng, nó nuốt nước miếng đánh ực.
Tôi từng gọi chị là Nausikaa[7], người đàn bà đứng bên bục nói tiếp... Nausikaa là ai mới được chứ? Chịu không biết được... người phụ nữ từ thời cổ xa xưa đến với chúng tôi... Nó thận trọng đưa mắt nhìn quanh: Không biết lão già có mái đầu hung hung xanh xanh kia có hiểu người ta đang nói gì không?... từ các cuộc hành quân, từ nơi lưu đày, từ cuộc di dân vĩ đại. Chính người phụ nữ này đã làm cuộc đời không đáng sống trở thành đáng sống... Cái đầu gật gật... Chị thuộc về cuộc sống ấy, chị Irina ơi. Chị có thể... Cái đầu lại gật gật và Markus đã hình dung ra cảnh nó rút phăng khẩu súng lục bắn gục cái đầu gật gật đần độn kia.
Rồi người đàn bà kia bỗng dưng chuyển sang nói chuyện nấu ăn... nhưng thứ đổ thêm vào xúp không phải là nước suông[8] bà ta nói. Thoạt tiên Markus tưởng nó nghe nhầm. Song, đúng là chuyện nấu ăn thật, ít nhất cũng là chuyện dọn bàn. Bàn ăn do tay chị dọn bao giờ cũng là một công trình nghệ thuật, người đàn bà nói, rồi nhấn mạnh thêm: Bàn ăn chị dọn bao giờ cũng mời mọc khách khứa, hãy ngồi xuống mà chuyện trò.
Bà ta lặng im.
Chị có biết nó quý giá thế nào không?
Lại ngừng một lát.
Chúng tôi đã bao giờ nói với chị điều đó chưa?
Hồi trước, nó nhớ lại, lâu lắm rồi, thỉnh thoảng bà nội làm bánh pelmeni và nó được phép giúp bà. Đến giờ nó vẫn còn nhớ phải làm thế nào. Mới đầu phải cán bột nhào, xong cuốn nó lại như cái dồi. Rồi cắt cái dồi thành từng khúc và trộn qua với bột khô (để không bị dính), nhưng cũng không được nhiều quá (vì còn nhiều công đoạn khác nữa), và trải trở lại thành những miếng bột bánh mỏng, to cỡ lòng bàn tay. Rồi đến đoạn khó nhất... Trong khi giọng nói nhỏ nhẹ của bà không phải mục sư kia bay từ trong ra qua cánh cửa gập và lướt qua người nó, nó chợt cảm thấy như đang đứng trong bếp bà nội nó vậy. Mũi nó đánh hơi thấy mùi vị không thể lẫn vào đâu của bột mì nhào và hành tây, của thịt băm còn tươi, ngón tay cái và ngón tay trỏ nhớ rành rành cái quy trình phức tạp: một thìa cà phê thịt băm cho vào một miếng bột mỏng, gập miếng bột thành hình bán nguyệt, bóp bóp viền xung quanh cho dính vào nhau rồi cuối cùng, gắn hai đầu mặt trăng lưỡi liềm vào nhau thành một thứ trông như cái mũ tí con... Cái mú con, như bà nội nó vẫn nói. Có giúp bà cả trăm lần, bà vẫn phát âm sai, và dù thằng Frickel chẳng bao giờ có mặt ở đấy, Markus vẫn thường hơi ngường ngượng rằng bà nó nói tiếng Đức nghe “Nga” quá.
Chiếc ghế chị ngồi giờ để trống, nó nghe bà không phải mục sư nói. Trong giây lát nó cảm thấy nghèn nghẹn trong họng, có lẽ vì nó chợt nhớ chiếc ghế cũ mặt đã sờn trong bếp mà mỗi lần giúp bà làm pelmeni nó vẫn quỳ lên. Nó nghe ai đó đứng bên khóc thút thít, nó lại sực tỉnh.
Nó nhìn mấy cây cọ bằng nhựa.
Nó nhìn cái bục diễn giả bọc cẩu thả bằng vải đen.
Nó cảm thấy đôi chân đau nhói vì lạnh.
Và chúng tôi phải chịu đựng điều đó, bà không phải mục sư nói.
Rồi bà lại dừng.
Nay giờ đã điểm.
Tiếng thút thít mỗi lúc một nhiều. Đến cả cái đầu hung hung xanh xanh cũng lau nước mắt. Song tiếng thút thít xung quanh nó càng tăng, nó càng thấy như mất hết cảm giác vậy.
Đã đến lúc ta phải chia tay.
Im lặng.
Cảm ơn Chị.
Tiếng nhạc lại oa oa vang lên. Bỗng nhiên, không rõ từ đâu, hiện ra một người đàn ông nhỏ bé, trông như một con cá nhỏ bó trong bộ quần áo nhân viên hỏa xa cổ xưa. Trên đầu ông ta đội chiếc mũ của nhân viên hỏa xa có quai đeo, cài chặt phía dưới cằm. Người đàn ông bé nhỏ nhấc cái-gì-đó-trông như-lọ-hoa khỏi bệ đỡ và bê nó trước mặt như bê mâm bánh hay cái cúp, bước đi hết sức chậm rãi. Nhiều người khác nối bước ông ta, trước tiên là bố và ông nội nó. Những người đứng trước cửa tự động dạt ra, tạo thành hai hàng người, khiến nó, Markus, bỗng nhiên đứng ngay đầu một hàng người ấy. Đứng ở đấy gần đến mức nó có thể chạm vào bố nó. Đúng thế, suýt nữa thì nó chạm vào bố nó thật. Nhưng bố nó đi qua mặt nó, mà không nhận ra.
Markus đứng lại ở cửa trông theo đám rước đang mỗi lúc một dài ra. Đám rước đi dọc con đường trồng cây hai bên rồi rẽ phải, và khi người sau cùng khuất hẳn sau lối rẽ, lại ngoặt phải lần nữa. Đoạn, đám rước lại theo chân người đàn ông tí hon đội mũ nhân viên hỏa xa nọ trườn ngược hướng quay về, cho đến lúc người đàn ông dẫn đường dừng chân thì đám rước mới dừng lại. Chỗ này cỏ mới lật lên, còn tươi, thành một dải đất trông như luống rau nhiều rãnh. Trên mấy rãnh đầu tiên hoa đã bày la liệt, và chỗ kia, nơi không còn hoa nữa, là một cái hố đào sâu xuống đất, to vừa đủ cho cái-gì-đó-trông-như-lọ-hoa lọt vào. Và, đúng vào giây phút người đàn ông tí hon cúi mình đặt cái-gì-đó-trông-như-lọ-hoa kia xuống hố, Markus chợt vỡ lẽ hai điều:
Trước hết, nó hiểu vì sao gã đàn ông thắt chặt chiếc mũ hỏa xa gã đang đội bằng quai đeo dưới cằm.
Hai là, nó vỡ lẽ ra cái-gì-đó-trông-như-lọ-hoa kia chính là bà nội Irina của nó.
Trên đường về, trời đổ mưa. Chiếc áo choàng lính cũ nó đang mặc thấm nước nặng trình trịch. Phải một lúc rất lâu, chân nó mới ấm trở lại.
[1] Một trò chơi máy tính, vốn bị cấm phổ biến tại Đức.
[2] Thành phố phía Đông nước Đức, giáp Ba Lan.
[3] Markus nhầm Tloristik” (nghề trồng, bán hoa) với “Forensik” (môn tâm lý học hình sự).
[4] Thành phố thuộc bang Nordrhein-Westfalens, CHLB Đức, là một trong những thành phố cổ nhất nước Đức. Từ năm 1949 đến 1990 là thủ đô không chính thức của CHLB Đức. Sau khi thống nhất, chính phủ CHLB Đức vẫn đặt trụ sở ở Bonn đến 1999.
[5] Có giá trị ngang như Hiến pháp của CHLB Đức, có hiệu lực ở Tây Đức từ năm 1949; từ năm 1990 có hiệu lực trên toàn nước Đức thống nhất.
[6] Vũ trường nhạc điện tử, thường mở sáng sớm Chủ nhật hay thứ Bảy (biến dạng từ tiếng Anh).
[7] Nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, từng cứu vớt và cưu mang Odysseus khi lâm nạn.
[8] Dựa vào thành ngữ: “mời năm người, mười người đến, thì thêm nước vào nồi xúp, đủ mọi người cùng ăn”. Ý nói bà Irina lúc đương thời, vì mến khách, không bao giờ thêm nước mà nấu thêm để mời.